1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về lực lượng sản xuất và quá trình xây dựng lực lượng sản xuất trong thời kì đổi mới Việt Nam

11 201 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 16,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin đã định nghĩa: Lực lượng sản xuất là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biến giới t

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trước năm 1986, nền kinh tế nước ta rất lạc hậu và thấp kém so với nhiều nước khác trên thế giới Nhưng từ sau năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế của nước ta đã có khởi sắc và từng bước phát triển Việt Nam đang trong thời kì quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa Do đó việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật là một vấn đề tất yếu và cần thiết Việc xây dựng nó phải gắn liền với quá trình phát triển lực lượng sản xuất Bởi lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất kĩ thuật cho mỗi hình thái kinh tế xã hội Sự phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh

tế xã hội Chính vì vậy, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về lực lượng sản xuất và quá trình xây dựng lực lượng sản xuất trong thời kì đổi mới Việt Nam” làm bài tập lớn học kì để đi sâu vào

tìm hiểu

NỘI DUNG

I Quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về lực lượng sản xuất

1 Khái niệm lực lượng sản xuất

Có nhiều cách định nghĩa về lực lượng sản xuất Theo giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác–Lênin đã định nghĩa: Lực lượng sản xuất

là tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần tạo thành sức mạnh thực tiễn cải biến giới tự nhiên theo nhu cầu sinh tồn, phát triển của con người

Trang 2

2 Kết cấu của lực lượng sản xuất

- Lực lượng sản xuất của một xã hội là sự kết hợp giữa người lao động và

tư liệu sản xuất

● Người lao động: là chủ thể của quá trình lao động sản xuất với kinh nghiệm, kỹ năng, tri thức lao động của họ

● Tư liệu sản xuất gồm:

+ Tư liệu lao động: có công cụ lao động (nông cụ, dây chuyền, máy móc,

…) và tư liệu phụ trợ (bao gồm các phương tiện dùng để chuyên trở, bảo quản hàng hoá, nguyên vật liệu,…)

+ Đối tượng lao động là những vật có sẵn trong tự nhiên và những vật không có sẵn trong tự nhiên do con người tạo ra hoặc chế biến, được con người

sử dụng trong quá trình sản xuất

- Các yếu tố đó không thể tách rời nhau mà quan hệ hữu cơ với nhau.

Trong đó:

+ Người lao động là bộ phận quan trọng nhất của lực lượng sản xuất

+ Trong tư liệu sản xuất thì công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất, nó quyết định trình độ chinh phục tự nhiên của con người

- Trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, tri thức khoa học công nghệ

đóng vai trò ngày càng to lớn Sự phát triển của khoa học công nghệ gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển Ngày nay, khoa học công nghệ đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành “lực lượng sản xuất trực tiếp” của xã hội Chúng có mặt ở tất cả mọi thành phần của lực lượng sản xuất: trong tư liệu sản xuất, trong con người Có thể nói: khoa học công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại

- Các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất tác động qua lại lẫn nhau, đặc

Trang 3

biệt là với vai trò của người lao động đã khiến cho lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất trong mỗi phương thức sản xuất của mỗi xã hội

II Quá trình xây dựng Lực lượng sản xuất trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam

1 Vài nét về thực trạng lực lượng sản xuất trước năm 1986 ở nước ta

Trước năm 1986, nước ta vốn là một đất nước thuộc địa nửa phong kiến, lại phải chịu hậu quả nặng nề do hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Chính vì vậy, kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng gặp nhiều khó khăn hơn, lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp kém và chưa có điều kiện phát triển Cụ thể

Yếu tố con người: Lực lượng lao động tuy dồi dào do tốc độ tăng dân số

nhanh sau chiến tranh, nhất là thời kỳ 1954-1984 nhưng trình độ người lao động rất thấp, hầu hết không có chuyên môn tay nghề, phần lớn lao động chưa qua đào tạo Không những thế do cơ chế quản lý tập trung sản phẩm làm ra theo chỉ tiêu dù tốt hay xấu đều được phân công hết nên kỹ năng của công nhân không được phát huy, tay nghề bị mai một đi và công nhân không có tính sáng tạo Lao động tập trung chủ yếu ở các ngành nông nghiệp (năm 1980 chiếm 69,84%, năm 1985 chiếm 72,26%), lao động sản xuất dựa trên chủ yếu là kinh nghiệm do cha ông để lại Còn các ngành khác, kĩ năng cũng như tri thức lao động rất kém Trường dạy nghề cũng rất hiếm, chỉ rải rác ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn,…

Tư liệu sản xuất, nhất là công cụ lao động thời kỳ này còn thô sơ, lạc hậu,

đơn giản, thủ công như cày, cuốc, thau tát nước, cối xay gạo,… Trong nông nghiệp sử dụng sức người là chủ yếu, theo hình thức “con trâu đi trước cái cày theo sau” Trong công nghiệp, máy móc, thiết bị rất ít và lạc hậu và cũ kĩ Các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực sử dụng công cụ lao động giản đơn và cũng

Trang 4

dùng sức lực của người công nhân là chính Hơn nữa công nhân phải sử dụng

đủ công cụ và đủ mọi chi tiết để hoàn thành sản phẩm có nghĩa là một công nhân có thể phải đứng ở nhiều khâu để sản xuất hoàn chỉnh một sản phẩm (trình độ chuyên môn hoá thấp) Đây chính là chịu ảnh hưởng sự bưng bít của

cơ chế kế hoạch hoá tập trung và sự cấm vận của Mỹ Sự phân hoá phát triển của công cụ lao động cũng có sự khác nhau giữa các vùng miền Các tư liệu sản xuất phụ trợ cũng rất lạc hậu, thô sơ Phương tiện chuyên trở chủ yếu là xe thồ, xe ngựa, xe đạp,… Đối tượng lao động chủ yếu là từ tự nhiên – yếu tố đang mất dần lợi thế trong nền kinh tế tri thức Tuy nhiên khoảng những năm

1975, cũng đã có những bước tiến bộ nhỏ lẻ Ở tại Vĩnh Phú (Vĩnh Phúc xác nhập Phú Thọ) cung cấp một số tư liệu sản xuất phục vụ phát triển tiểu thủ công nghiệp như máy đột dập, máy cưa, máy sát sắn, đáp ứng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng và phục vụ quốc phòng

Nhìn chung, trước đổi mới lực lượng sản xuất ở Việt Nam rất thấp kém, lạc hậu và phát triển không đều Đặt ra yêu cầu bức thiết phải phát triển lực lượng sản xuất về mọi mặt để nền kinh tế mới phát triển

2 Quá trình xây dựng lực lượng sản xuất từ năm 1986 đến nay

2.1 Những thành quả đạt được

Từ khi đổi mới cho đến nay lực lượng sản xuất đã không ngừng phát triển trên tất cả các yếu tố

Yếu tố người lao động: người lao động nước ta không ngừng được nâng

cao về cả chất lượng và số lượng Năm 2015 lực lượng lao động cả nước ước đạt 54,32 triệu người, tăng 11,7 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2014, tăng 3,2 triệu so với năm 2010 (có nghĩa là trung bình mỗi năm trong giai đoạn này tăng 764 nghìn lao động) Về chất lượng lao động, nếu như năm 1966, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo là 12,3% thì đến năm 2015 tỷ lệ lao động đã

Trang 5

qua đào tạo năm 2015 đạt 38,5% (tăng 26,2%) Hệ thống trường dạy nghề ngày càng được mở rộng, tính đến hết năm 2015 cả nước có 1.467 cơ sở dạy nghề, gồm: 190 trường cao đẳng nghề; 280 trường trung cấp nghề và 997 trung tâm dạy nghề, tăng 3,5% so với năm 2010 Ở Việt Nam những năm gần đay đội ngũ tri thức tăng nhanh, chỉ tính riêng số sinh viên cũng đã cho thấy sự tăng nhanh vượt bậc Năm 2003-2004 tổng số sinh viên đại học và cao đẳng là 1.131.030 sinh viên đến năm 2007-2008 tăng lên 1.60.484 sinh viên Đến năm

2014-2015, quy mô sinh viên đã lên tới 2.363.94 (trong đó sinh viên đại học là 1.824.328, sinh viên cao đẳng là 539.614) Số trí thức có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ cũng tăng nhanh Ngoài ra, năng suất lao động năm 2015 tăng 23,6% so với năm 2010 Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động) Tính theo giai đoạn, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng 4,2%/năm Với những nỗ lực tăng năng suất lao động thời gian qua góp phần không nhỏ thu hẹp dần khoảng cách tương đối của năng suất lao động Việt Nam với các nước Bên cạnh đó, đã có

sự thay đổi cơ cấu theo ngành nghề: Giảm tỉ trọng lao động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp, tăng tỉ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ nhưng còn chậm Nguyên nhân là do kết quả của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Tư liệu sản xuất: Máy móc các trang thiết bị hiện đại ngày càng được sử

dụng rộng rãi trong tất cả các ngành kinh tế Trong nông nghiệp, các loại máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt, máy phun thuốc trừ sâu, máy cày, máy xới, máy gặt đập liên hoàn,… đã xuất hiện và đưa vào sử dụng rộng rãi Theo thống kê

Trang 6

của ngành chuyên môn năm 2014: ở đồng bằng sông Cửu Long, tính đến nay

cả đồng bằng sông Cửu Long có trên 7.000 máy gặt đập liên hợp và trên 3.500 máy gặt xếp dãy,…Cùng với đó chất lượng các loại giống cây trồng vật nuôi cũng ngày được nâng cao Chỉ nói riêng đến cây trồng, trong giai đoạn 2006

-2012, Viện đã được công nhận 391 giống cây trồng mới (trong đó, 121 giống công nhận chính thức, 270 giống công nhận tạm thời); 19 kỹ thuật tiến bộ và

27 biện pháp kỹ thuật khác được công nhận thử nghiệm trong hầu hết các lĩnh vực Chỉ riêng ở phía Bắc, thành tựu nổi bật nhất là chọn tạo thành công và phát triển trên diện rộng bộ giống lúa ngắn ngày và lúa thơm năng suất cao, chất lượng gạo cao hơn so với giống lúa thuần Trung Quốc Một số giống nổi bật là AC5, PC6, HT6, SH14 Xét về hiệu quả kinh tế, chỉ tính giống mới cho năng suất tăng 10% thì diện tích trên đã làm tăng thêm khoảng 350 ngàn tấn thóc, tương đương 1,2 ngàn tỷ đồng/năm Trong công nghệp, việc ứng dụng những công nghệ mới cũng được đẩy mạnh như ứng dụng kĩ thật các hệ thống sản xuất tự động, ứng dụng các nguyên liệu sinh học vào sản xuất, sử dụng năng lượng mới như năng lượng mặt trời, năng lượng gió,…

Gần 30 năm đổi mới, nhiều công trình lớn của đất nước được xây dựng và

đi vào hoạt động như thủy điện (Yaly, Sơn La, Tuyên Quang,…), công nghiệp dầu khí (khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, khí điện đạm Phú Mỹ,…); hiện đại hóa ngành khai thác than và khoáng sản; công nghệ thông tin và viễn thông; giao thông,… Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) vững chắc: năm 2000 tăng gấp 2,07 lần năm 1990, năm 2010 tăng gấp 3,26 lần năm 2000 Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể: năm 1986 là 202 USD,

2001 là 417 USD, 2006 hơn 600 USD, năm 2008 là 1.000 USD, vượt qua ngưỡng nước nghèo, năm 2010 là 1.168 USD, 2013 là 2.000 USD

Tóm lại, lực lượng sản xuất hiện đại đã có nhiều thay đổi với nhiều bước

Trang 7

phát triển, nhiều tính chất đặc biệt Song tính chất tiêu biểu nhất đó là vai trò quan trọng của khoa học trong sự phát triển của lực lượng sản xuất Nó đang và

sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Nó chính là tiền đề ra đời những ngành mới, máy móc mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới Sự thâm nhập ngày càng sâu khoa học đã làm cho lực lượng sản xuất không ngừng phát triển

2.2 Hạn chế trong quá trình xây dựng lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay

Yếu tố người lao động: Bên cạnh sự đổi mới đáng mừng của công cụ lao

động thì lại lòi ra những khó khăn, bất cập mới đó là công nhân phần lớn với tay nghề thấp kém đã không đủ trình độ để sử dụng máy móc, công cụ lao động hiện đại vì vậy chưa phát huy được hết công suất máy móc Số công nhân bậc 1 bậc 2 chiếm 51% so với tổng công nhân, số công nhân bậc cao cũng chưa có tay nghề thực tế tương xúng với cấp bậc Riêng số công nhân kỹ thuật hoặc số cán bộ kỹ thuật trung cấp đã tăng lên về số lượng nhưng cũng còn quá ít so với yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân; có sự mất cân đối giữa cán bộ đại học, cán bộ trung học và công nhân kĩ thuật; tư tưởng trọng đại học, lơ trường nghề đã tạo ra sự mất cân đối trong đào tạo nhân lực xã hội dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ Hệ thống giáo dục, định hướng nghề nghiệp vẫn còn nhiều bất cập Việt Nam đang thiếu lực lượng lao động có tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao Đội ngũ lao động quản lý chưa được đào tạo để có được những

kĩ năng quản lý hiện đại; chưa được trang bị kiến thức quản lý kinh tế, quản trị kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường Kỹ năng nghề nghiệp còn thấp (khoảng 18%) Thái độ chấp hành kỷ luật lao động của công nhân còn kém, công nhân chưa quen với tác phong công nghiệp Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thấp so với các vùng lân cận chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (nguồn: nhandan.com.vn) Bên cạnh đó năng suất lao động ở Việt Nam tuy đã tăng nhưng so với các nước

Trang 8

thì vẫn còn rất thấp và tăng chậm So với các nước Inđônêxia, Malaysia và Thái Lan, năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn hàng chục lần Cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo và cơ cấu vùng miền trong các lĩnh vực kinh tế ngày càng mất cân đối nghiêm trọng Tóm lại, hiện nay, quan niệm về chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực trong các khu vực kinh tế ở nước ta đã lạc hậu

so với quan niệm của nhiều nước trên thế giới

Tư liệu sản xuất: Tuy đã có sự ứng dụng và phát triển nhưng nhìn chung

công cụ lao động nước ta vẫn còn rất lạc hậu so với thế giới Máy móc phục vụ cho sản xuất vẫn còn chậm cải tiến, chủng loại máy móc nhìn chung khá nghèo nàn Tư liệu sản xuất còn thua kém thế giới cả về chất lượng lẫn quy mô và phân hoá giũa các vùng Số lượng vẫn còn hạn chế Theo ông Phan Huy Thông: Đồng bằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất của cả nước, có tổng diện tích gieo trồng khoảng 3,8 triệu ha đất nông nghiệp với 2,8 triệu hộ làm nông nghiệp, nhưng số hộ có máy kéo hiện nay chỉ đạt tỉ lệ 62 hộ mới có 1 máy Các máy gieo sạ, thu hoạch chỉ đạt từ 60 đến 75% tổng diện tích toàn vùng Máy gặt đập liên hợp, máy sấy chỉ đạt hơn 38 đến 50% Đặc biệt ở các khâu cấy, làm cỏ, phun thuốc có độ cơ giới hóa rất thấp chưa được 10% Mặt khác đó các doanh nghiệp vẫn còn yếu thế trong việc trang bị thiết bị máy móc hiện đại Có đến 70% thiết bị máy móc thuộc thế hệ những năm 60-70, trong

đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần 50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ phận, chắp vá thiếu đồng bộ Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên 20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm có 27% Thời gian qua, liên tiếp xảy ra sự cố hỏng máy tàu cá trên biển đặt ra câu hỏi lớn về chất lượng các con tàu Theo báo Lao Động, hiện nay, nhiều ngư dân vẫn sử dụng những con tàu hết đát để đi biển Chỉ riêng tại Khánh Hòa có hơn 1000 tàu đánh bắt xa bờ thì 90% là sử dụng máy cũ Với giá mua máy cũ chỉ bằng một 1/2 đến 2/3 máy mới, nhiều ngư dân "kib ên trì" sử

Trang 9

dụng máy cũ để tiết giảm kinh phí Đi kèm với thực trạng này nguy cơ thiệt hại

về người và tài sản là không thể lường hết được khi sử dụng máy cũ đang lênh đênh trên biển

Mặt khác, đối tượng lao động vẫn chủ yếu là có sẵn trong tự nhiên Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã chỉ ra: Công nghiệp Việt Nam có

sự phát triển, song vẫn chủ yếu là khai thác tài nguyên và gia công

2.3 Nguyên nhân và một số phương hướng giải quyết

➢ Nguyên nhân của những hạn chế: Thứ nhất, công tác đào tạo và phát

triển nhân lực ở các doanh nghiệp rất ít được quan tâm chỉ có một số ít doanh nghiệp nhận thức được vai trò của đào tạo và phát triển, còn hầu hết các doanh nghiệp bỏ lơi công tác này Tình hình phổ biến là nhiều nơi cắt giảm chi phí đào tạo, hình thức đào tạo nghèo nàn, công tác nâng bậc ít được thực hiện Việc học ở các trường lớp chính quy còn nặng nề hình thức, bằng cấp còn chưa thực

sự có hiệu quả về sử dụng cán bộ chưa tạo ra được động lực về vật chất để thúc

đẩy người lao động tham gia đào tạo Thứ hai, mức độ áp dụng cơ giới hóa

trong sản xuất nông nghiệp còn chậm do nhiều nguyên nhân như: Đối với các tỉnh phía Bắc do điều kiện địa hình đồng ruộng không bằng phẳng, cơ sở hạ tầng về thuỷ lợi chưa hoàn toàn chủ động, ruộng nhỏ lẻ, manh mún, bình quân diện tích mỗi mảnh ruộng chỉ tăng từ 1 sào/mảnh lên 3 sào/mảnh (360 m2/sào) việc dồn điền đổi thửa còn rất chậm, sản xuất tự phát Công nghệ chế tạo máy trong nước còn nhiều hạn chế, chủng loại máy còn nghèo nàn, chất lượng máy còn ở mức thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất Nhà nước chưa có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích nông dân trong việc đầu tư mua sắm máy phục vụ cho sản xuất; máy móc nông dân mua sắm đều là máy nhập khẩu từ nước ngoài giá thành cao nên nhiều nông dân có nhu cầu nhưng vẫn chưa được tiếp cận do nông dân không có tài sản để thế chấp ngân hàng

➢ Một số phương hướng giải quyết:

Trang 10

+ Về yếu tố người lao động: Nâng cao trình độ người lao động bằng cách phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo nghề, nhằm đẩy mạnh phát triển nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng, đặc biết là kỹ năng thực hành Tập trung đào tạo các ngành nghề mà nền kinh tế, xã hội đang cần Đưa ra các chính sách thay đổi tình trạng mất cân đối giữa các nguồn nhân lực, phân bố đồng đều trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học, từ đó giải quyết tình trạng thừa thầy thiếu thợ Tuyên truyền thay đổi quan niệm trọng bằng cấp Tổ chức giáo dục định hướng nghề nghiệp cho học sinh Quan tâm đúng mức, xây dựng đội ngũ trí thức chất lượng, hiệu quả

+Về tư liệu sản xuất: Xuất phát từ thực trạng máy móc của các doanh nghiệp nước ta hiện nay, đòi hỏi tất yếu các doanh nghiệp phải đổi mới máy móc thiết bị mới có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường, theo kịp thế giới Thực hiện tốt chính sách “đi tắt đón đầu”, cần chú trọng ưu tiên việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ đã được thế giới thừa nhận và trở thành lực lượng sản xuất xã hội trực tiếp mang lại năng suất lao động cao; khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các quỹ ứng dụng khoa học và đổi mới công nghệ, có sự hỗ trợ của Nhà nước Tập trung đổi mới hoạt động khoa học - công nghệ theo hướng gắn kết quả nghiên cứu với địa chỉ ứng dụng mà chúng ta đã nêu từ chục năm nay Đặc biệt, cần đổi mới cơ chế quản lý khoa học - công nghệ, trao quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng đối với các chương trình, đề tài, đề án để các nhà khoa học dành thời gian tập trung cho công tác nghiên cứu

Ngày đăng: 01/04/2019, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w