Thực trạng thất nghiệp theo trình độ tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng NinhQuan hệ cung cầu trên thị trường lao động ngày càng căng thẳng. Thất nghiệp và nhu cầu việc làm đang trở thành sức ép cho các cấp chính quyền huyện Ba Chẽ. Số người thất nghiệp là số chênh lệch giữa lực lượng lao động và số người có việc làm.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường và bước vào hội nhập kinh tế thì nền kinh tế trong nước phải vận động cùng với xu hướng của nền kinh tế thế giới Một khi kinh tế thế giới rơi vào suy thoái hay khủng hoảng thì Việt Nam cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng và thực
tế những năm gần đây đã chứng minh điều đó Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu và hồi phục chậm như hiện nay, vấn đề lao động, việc làm và thất nghiệp đang là một vấn đề chính sách vĩ mô bức xúc Khi nền kinh tế rơi vào suy giảm, người lao động Việt Nam gặp nhiều khó khăn và rủi ro do những hạn chế về hiểu biết và trình độ
kỹ thuật Năng suất lao động thấp so với lao động các nước trong khu vực và trên thế giới nên khả năng phản ứng và chống đỡ các cú sốc bên ngoài chậm và yếu Khủng hoảng kinh tế thế giới thời gian qua với những tác động tiêu cực của nó đến thị trường lao động có thể coi là phép thử để phản ánh được thực trạng và năng lực của thị trường lao động nước ta
Cho đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu về lao động và việc làm ở nước ta nhằm đưa ra các biện pháp và chính sách giảm thất nghiệp, tạo việc làm cho người lao động Mặc dù vậy, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm vẫn trong tình trạng báo động Đảng và nhà nước ta luôn coi việc đảm bảo việc làm đầy đủ cho người lao động là mục tiêu hàng đầu trong bình ổn thu nhập và giải quyết các vấn đề xã hội có liên quan
Chính vì vậy, việc giảm thất nghiệp trong tình trạng hiện nay đang là thách thức lớn đối với các nhà lập chính sách
Trang 2nói chung cũng như các cấp chính quyền huyện Ba Chẽ nói riêng.Do vậy, em xin chọn đề tài “Thực trạng thất nghiệp theo trình độ tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.”
Để hoàn thành bài tiểu luận này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới … người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình viết bài Trong thời gian làm bài, do sự hạn chế về thời gian và tài liệu tham khảo, bài viết không thể tránh khỏi những sai sót, vì vậy, rất mong quý thầy cô góp ý để bài tiểu luận ngày càng được hoàn thiện hơn Em xin trận trọng cảm ơn!
Bài làm của em gồm 3 phần :
1.Cơ sở lý luận về thất nghiệp theo trình độ
2 Thực trạng về thất nghiệp theo trình độ tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
3 Một số giải pháp
1. Cơ sở lý luận
Trang 31.1. Một số khái niệm
Cung lao động là khả năng tham gia thị trường lao động (cả về
số lượng và thời gian) của những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động trên thị trường lao động
Lực lượng lao động là số người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm
Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc
Người thất nghiệp là người lao động có khả năng lao động đang chưa có việc làm nhưng mong muốn và đang tìm việc làm
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là hệ thống kiến thức tổng hợp, kiến thức chuyên môn kỹ thuật hay kiến thức đặc thù để đảm đương các vị trí, chức vụ trong sản xuất- kinh doanh
1.2. Phân loại theo trình độ
1.2.1. Lao động chưa qua đào tạo:
Là những người không học qua các trung tâm nghề, qua các trường lớp mà vẫn làm dựa vào việc tiếp thu, học hỏi hoặc kinh nghiệm để làm việc
1.2.2. Lao động có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại
học:
Một người được coi là người có trình độ “Sơ cấp”, nếu trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã được đào tạo và được cấp chứng chỉ là sơ cấp hoặc dạy nghề dưới 3 tháng
Một người được coi là người có trình độ “Trung cấp”, nếu trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã được đào tạo và được cấp bằng là trung cấp chuyên nghiệp hoặc trung cấp nghề
Trang 4Một người được coi là người có trình độ “Cao đẳng”, nếu trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã được đào tạo và được cấp bằng là cao đẳng hoặc cao đẳng nghề
Một người được coi là người có trình độ “Đại học trở lên”, nếu người đó đã được đào tạo và được cấp bằng đại học, thạc sỹ hoặc tiến sỹ
1.3. Ảnh hưởng của thất nghiệp theo trình độ tới phát triển
kinh tế - xã hội
Thất nghiệp nói chung và thất nghiệp theo trình độ nói riêng đều gây ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể:
1.3.1. Thất nghiệp tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm
phát
Thất nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là
sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế- xã hội Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái- suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến (bờ vực) của lạm phát
1.3.2. Thất nghiệp ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của
người lao động
Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình
họ sẽ khó khăn Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại
để chuyển dổi nghề nghiệp, trở lại thị trườgn lao động; con cái
họ sẽ khó khăn khi đến trường; sức khoẻ họ sẽ giảm sút do
Trang 5thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chan nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…
1.3.3. Thất nghiệp ảnh hưởng đến trật tự xã hội…
Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống… tăng lên: hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lên như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…; Sự ủng
hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm… Từ đó, có thể có những xáo trộn về xã hội, thậm chí dẫn đên biến động về chính trị
2. Thực trạng về thất nghiệp theo trình độ tại huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh:
2.1. Khái quát về địa phương:
Trung tâm của huyện Ba Chẽ cách trung tâm thành phố Hải Phòng 23 km, cách Hà Nội 79 km Trên địa bàn huyện có quốc
lộ 5 và đường sắt Hà Nội-Hải Phòng chạy qua Ngoài ra còn có tỉnh lộ 188, tỉnh lộ 186 Sông Kinh Môn và sông Rạng thuận tiện
để vận chuyển hàng hoá đi các địa phương khác như Hải Phòng, Quảng Ninh
Huyện Ba Chẽ có diện tích khoảng 608 km2 Dân số của huyện
Ba Chẽ ít nhất Quảng Ninh Tính đến năm 2017, dân số của huyện rơi vào gần 60 nghìn dân
2.2. Thực trạng thất nghiệp tại huyện Ba Chẽ:
Quan hệ cung cầu trên thị trường lao động ngày càng căng thẳng Thất nghiệp và nhu cầu việc làm đang trở thành sức ép cho các cấp chính quyền huyện Ba Chẽ
Số người thất nghiệp là số chênh lệch giữa lực lượng lao động
và số người có việc làm
Bảng 1: Quy mô dân số NNL tại huyện Ba Chẽ
Trang 6Đơn vị tính: Người
Dân số từ 15 tuổi trở lên 43.903 45.688 51.464
Lao động có việc làm 31.256 35.566 44.355
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Ba Chẽ)
Từ bảng số liệu trên, ta có thể thấy dân số tăng 9.179 người (từ
2013 là 48.367 người đến năm 2017 là 57.546 người) Lực lượng lao động đông, chiếm hơn 50% LĐ vừa là một thuận lợi, vừa sẽ là một khó khăn trong việc giải quyết nhu cầu của việc làm của NLĐ đối với chính quyền Số lượng lao động thất nghiệp có dấu hiệu giảm nhưng vẫn còn chậm Cụ thể, năm
2013 số LĐ thất nghiệp là 6.116 người, năm 2015 là 5.692 người và năm 2017 là 4.299 người Các cấp chính quyền huyện
Ba Chẽ đã giải quyết khá tốt nhu cầu việc làm của người lao động, giám bớt nỗi lo gánh nặng cho xã hội trong tương lai
Bảng 2: Cơ cấu việc làm trong các ngành kinh tế tại huyện Ba
Chẽ
Đơn vị tính: %
Công nghiệp
Dịch vụ
Trang 7Tổng 100 100 100
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Ba Chẽ)
Ba Chẽ là huyện thuần nông, đang dần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá Do vậy, tỉ lệ lao động trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp còn rất cao, chiếm 83,63% tính đến thời điểm năm 2017 Cũng vì vậy, thất nghiệp mang tính thời vụ, bán thất nghiệp là chủ yếu Thiếu việc làm ở huyện Ba Chẽ do nguồn lao động ngày cang tăng nhanh trong khi đó, diện tích đất canh tác chỉ có giới hạn làm cho tỉ lệ diện tích canh tác theo đầu người giảm mạnh
Theo tính toán của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ninh, thời gian thiếu việc làm của lao động huyện Ba Chẽ trong một năm, nếu quy ra có thể lên tới con số hơn 15.000 lao động Đây là một sự lãng phí về nguồn lực lao động rất lớn ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội 2.3. Thất nghiệp theo trình độ tại huyện Ba Chẽ
Bảng 3: Tỉ lệ thất nghiệp phân theo trình độ chuyên môn
kỹ thuật năm 2017 tại huyện Ba Chẽ
Trình độ Số lao động
(Người) Tỉ lệ thất nghiệp (%)
Đã qua đào tạo nghề
Trung học chuyên
Cao đẳng, Đại học trở
Trang 8(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Ba Chẽ)
Từ bẳng 3, ta có thể thấy phần lớn số ngườibthaats nghiệp thuộc lực lượng lao động chưa qua đào tạo chiếm 63,93% Do họ không có tay nghề và trình độ chuyên môn kỹ thuật nên rất khó khăn để tìm kiêm một công việc ổn định với mức lương cao Do đời sống khó khăn nên một bộ phận dân di cư từ các vùng núi, các xã nghèo lên thị trấn để tìm việc Vì không có trình độ nên họ chie có thể làm những công việc nậng nhọc mang tính nhất thời Điều đó càng thêm gánh nặng thất nghiệp tại huyện Ba Chẽ.
2.4 Tác động của thất nghiệp theo trình độ đến cung lao động: Thất nghiệp theo trình độ ảnh hướng rất lớn tới cung lao động cho thị trường lao động Giả sử thị trường lao động không có nhiều biến đổi Đường cung bằng đường cầu, ta sẽ thấy có hai trường hợp:
2.4.1. Tỉ lệ lao động có trình độ đã qua đào tạo và có chuyên
môn kỹ thuật cao tăng thì chất lượng nguồn cung lao động sẽ tăng.
(Chị gửi em bản vẽ chị chụp nhé, đường này chị ko biết làm trong word)
Theo hình vẽ , đường tổng cung là cố định, chất lượng lao động là đường đường đi lên Chất lượng nguồn nhân lực đã qua đào tạo càng lớn thì chất lượng cung lao động càng cao Nó chứng tỏ rằng chính quyền huyện Ba Chẽ thực hiện và áp dụng các chính sách kích thích, nang cao nhận thức của người lao động để giúp họ có một cuộc sống đầy đủ hơn, giúp họ có thể tùm được một công việc ổn định với mức thu nhập cao, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống mức thấp nhất có thể.
2.4.2. Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo tăng thì chất lượng nguồn
cung lao động giảm.
(hình vẽ) Theo hình vẽ, đường tổng cung lao động là cố định, chất lượng nguồn nhân lực là đường dốc xuống Chất lượng nguồn nhân lực càng thấp chứng tỏ chất lượng nguồn nhân lực chưa qua đào tạo càng thấp và làm ảnh hưởng đến chất lượng cung lao động
Trang 9Điều đó cho ta thấy các cấp chính quyền chưa kích thích và nang cao nhận thức của người dân về tác hại của thất nghiệp ảnh hưởng tới kinh tế, chính trị, xã hội.
2.5. Đánh giá:
2.5.1. Mặt được:
1) Cung lao động đã và đang dần cải thiện về chất lượng và cơ cấu lao động Giá cả sức lao động đã phần nào phản ánh được mối quan hệ cung – cầu và giá trị sức lao động
2) Chính quyền địa phương phố hợp với các ban ngành liên quan đã, đang và sẽ quan tâm hoen nữa tới việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực bằng cách phổ biến, nhân rộng tấm gương học tốt, làm tốt trong các doanh nghiệp trên địa bàn huyện, tuyên truyền, định hướng nghề nghiệp và phổ biến pháp luật lao động, chính sách tạo việc làm để nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là những đối tượng lao động còn trẻ
3) Hiện nay trên địa bàn huyện đang thực hiện nhiều dự án mở thêm các trường sơ cấp, trung cấp dạy nghề để nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động
4) Hệ thống cơ sở hạ tầng cho thị trường lao động được quan tâm và đầu tư nhiều hơn
2.5.2. Tồn tại:
1) Bộ Luật Lao động và các văn bản pháp lý khác chưa được hoàn thiện
2) Dự án mờ thêm các trường sơ cấp, dạy nghề tiến triển hết sức chậm chạp do nhiều nguyên nhân
3) Mâu thuẫn giữa nhu cầu giải quyết việc làm rất lớn voeis trình độ quản lý về mặt pháp lý trong lĩnh vực việc làm chưa phù hợp với cơ chế mới Hệ thống giải quyết việc làm cho cả những người lao động trình độ thấp và trình độ cao vẫn còn phôi thai, non yếu
Trang 104) Những bất cập ngày càng lớn giữa quy mônchung và cấu trúc cung – cầu lao động trên thị trường lao động Không chỉ
ở Ba Chẽ mà trên phạm vi cả nước, cung lao động, đặc biệt
là nguồn nhân lực chưa qua đào tạo, đang vượt quá cầu và
dự báo sẽ còn tiếp tục vượt trong tương lai
5) Hệ thống định hướng nghề nghiệp đào tạo và đào tạo lại khongo theo kịp với những đòi hỏi mới của sự phát triển kinh
tế - xã hội, không tương thích với quá trình cải tổ số lượng và chất lượng đào tạo
6) Cư dân Ba Chẽ chiwa sẵn sàng cho cuộc sống và lao động trong điều kiện thị trường Trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng được những đòi hỏi của nên kinh tế thị trường, nhất là thời kỳ hội nhập với thế giới, do đó tỷ lệ gia tăng thất nghiệp càng cao
7) Hệ thoings dịch vụ giới thiệu việc làm chỉ mới được thành lập
và chất lượng còn chưa cao, chưa có một cấu trúc tổ chức được kiện toàn hoàn thiện, chưa đảm bảo được trang bị vật chất cần thiết và đội ngũ án bộ chưa đồng bộ
2.5.3. Nguyên nhân:
1) Ba Chẽ vẫn là một huyện nghèo , khả năng huy động và đáp ứng nhu cầu kinh phí hỗ trợ đối với các hoạt động phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế
2) Tư duy và nhận thức về thị trường lao động trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đầy
đủ , còn bị ảnh hưởng của tư duy cũ trong nền kinh tế kế hoạch hoá , tập trung quan liêu , bao cấp trước đây trong hoạch định chính sách thị trường lao động, đặc biệt , chưa có nhận thức rõ và đúng về vai trò trách nhiệm của nhà nước ( trong tôt chức , hỗ trợ và điều tiết thị trường lao động) cũng như của các chủ thể khác trên thị trường lao động dẫn đến
Trang 11chưa có chính sách, dự án hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực còn
bỏ ngỏ hoặc đang thực hiện nhưng tiến đôn còn chậm chạp 3) Tổ chức bộ máy quản trị thị trường lao động còn phân tán , chồng chéo , một số thiết chế của thị trường lao động chưa được đur mạnh như thiết chế đại diện các bên trong quan hệ lao động , thiết chế thoả ước lao động tập thể , thiết chế tổ chức quan hệ ba bên,
4) Đội ngũ định hướng nghề nghiệp yếu cả về chất và lượng nên chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của lực lượng lao động
5) Hệ thống dịch vụ giới thiệu việc làm được lập ra nhưng chỉ mang tính hình thức, chưa thực sưj làm tốt vai trò và nhiệm
vụ của mình trọng việc kết nốt cung cầu lao động, giữa lao động và các doanh nghiệp trên địa bàn
3. Giải pháp:
1) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người lao động về cách lựa chọn ngành nghề, trình độ đào tạo phù hợp với khả năng và nhu cầu của TTLĐ; nâng cao nhận thức về đào tạo
và tự tích luỹ toàn diện về trình độ chuyên môn (lý thuyết nền tảng, kiến thức thực tế và kỹ năng làm việc), ngoại ngữ,
kỹ năng mềm để nâng cao khả năng tìm việc làm Đồng thời, nâng cao nhận thức của khối doanh nghiệp về sự cần thiết phải hợp tác và hỗ trợ cơ sở đào tạo
2) Đẩy mạnh công tác phân luồng, định hướng giáo dục tiếp cận nghề nghiệp cho học sinh ngay từ cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để góp phần hình thành đội ngũ nhân lực theo quy mô, cơ cấu nghề nghiệp, trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu cơ cấu nhân lực cần sử dụng của TTLĐ
3) Tăng cường điều tra, khảo sát, dự báo và đẩy mạng công tác
kế hoạch… để thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực sát thực
tế, theo từng giai đoạn, ngành nghề, trình độ đào tạo