Khái niệm nuôi bãi: Giải pháp bảo vệ, cải tạo bờ biển bằng các sử dụng các nguồn vật liệu phù hợp để bù đắp cho lượng bùn cát thiếu hụt ở bãi biển theo hướng bổ sung trực tiếp hoặc gián tiếp các vật liệu nuôi bãi bằng cách kết hợp công trình cứng. Bản chất nuôi bãi là giải pháp hạn chế xói lở bằng cách tăng nguồn cung bùn cát cho đoạn bờ hiện hữu đang bị mất cân bằng bùn cát, nguồn cung bùn cát hiện hữu nhỏ hơn so với phần bùn cát bị mất đi bởi các điều kiện gây xói lở (sóng, dòng chảy…), nuôi bãi làm tăng nguồn cung để đoạn bờ bị xói tiến tới điều kiện cân bằng bùn cát.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN, PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC GIẢI PHÁP NUÔI BÃI, CÁC MÔ HÌNH NUÔI BÃI NHÂN TẠO TRÊN THẾ GIỚI
MỤC LỤC
1 Khái niệm, hình thức nuôi bãi 2
1.1 Các hình thức nuôi bãi 2
1.2 Mục tiêu của dự án nuôi bãi 2
2 Các mô hình nuôi bãi nhân tạo trên thế giới 3
2.1 Nuôi bãi tại Đức 3
2.2 Nuôi bãi tại Hà Lan 4
2.3 Nuôi bãi tại Tây Ba Nha 5
2.4 Nuôi bãi tại Đan Mạch 5
2.5 Nuôi bãi tại Mỹ 6
2.6 Nuôi bãi tại Nhật Bản 7
3 Đánh giá các mô hình nuôi bãi trên thế giới 8
3.1 Tần suất và thể tích nuôi bãi 8
3.2 Thông số thiết kế nuôi bãi 10
3.3 Ưu nhược điểm của giải pháp nuôi bãi 11
4 Tình hình nuôi bãi tại Việt Nam 12
5 Tài liệu tham khảo 15
Trang 21 Khái niệm, hình thức nuôi bãi
Khái niệm nuôi bãi: Giải pháp bảo vệ, cải tạo bờ biển bằng các sử dụng các nguồn vật liệu phù hợp để bù đắp cho lượng bùn cát thiếu hụt ở bãi biển theo hướng
bổ sung trực tiếp hoặc gián tiếp các vật liệu nuôi bãi bằng cách kết hợp công trình cứng Bản chất nuôi bãi là giải pháp hạn chế xói lở bằng cách tăng nguồn cung bùn cát cho đoạn bờ hiện hữu đang bị mất cân bằng bùn cát, nguồn cung bùn cát hiện hữu nhỏ hơn so với phần bùn cát bị mất đi bởi các điều kiện gây xói lở (sóng, dòng chảy…), nuôi bãi làm tăng nguồn cung để đoạn bờ bị xói tiến tới điều kiện cân bằng bùn cát
1.1 Các hình thức nuôi bãi
+ Hình thức nuôi bãi thuần túy: Là hình thức nuôi bãi không cần kết hợp với công trình cứng mà bổ sung trực tiếp vật liệu đến bãi biển cần bảo vệ, sự bổ sung này có thể trực tiếp tại vị trí cần nuôi bãi hoặc xa bờ tại vị trí sóng vỡ, ngập nước hoàn toàn, phần vật liệu xa bờ này sẽ được sóng và dòng chảy đưa vào bờ
+ Hình thức nuôi bãi kết hợp với công trình cứng: Áp dụng trong những trường hợp muốn nâng cao hiệu quả nuôi bãi bằng cách sử dụng kết hợp các công trình cứng làm giảm sự mất mát bùn cát theo phương dọc và ngang bờ Giải pháp này lợi dụng tác dụng làm biến hình đường bờ của các dạng công trình khác nhau để đạt được hiệu quả nuôi bãi hiệu quả nhất, các công trình thường ứng dụng kết hợp là các đê ngầm, các
mỏ hàn đơn, chữ L, chứ T hoặc đập mỏ hàn đuôi cá
1.2 Mục tiêu của dự án nuôi bãi
Dự án nuôi bãi đầu tiên trên thế giới được thực hiện cho dải bờ biển ở Coney Island (1992, Mỹ) và sau đó được phát triển rộng rãi ở các khu vực khác thuộc Mỹ và Châu Âu Nuôi bãi là giải pháp “mềm” nhằm bảo vệ, tôn tạo, mở rộng bãi biển tự nhiên mà không cần sử dụng tới công trình “cứng” hoặc có sử dụng theo hướng kết hợp Một số mục tiêu cơ bản của nuôi bãi như sau [2]:
- Áp dụng cho các dải bờ biển hẹp hoặc đang xói lở mà chiều rộng bãi không đủ
để bảo vệ khu vực phía trong khỏi nguy cơ ngập lụt do sóng bão và nước dâng gây ra
- Xử lý, khắc phục khẩn cấp xói lở gây ra do bão
Trang 3- Giảm thiểu tốc độ xói lở của khu vực nuôi bãi và khu vực phía hạ lưu dự án nuôi bãi
- Xử lý xói lử gây ra do ảnh hưởng bất lợi của việc xây dựng công trình cứng trên diện rộng và trung bình hoặc xử lý và khắc phục xói lở cục bộ xảy ra tại chân công trình cứng
- Mở rộng bãi biển để phục vụ các hoạt động vui chơi, nghỉ dưỡng tại bãi biển
- Tăng cường khả năng bảo vệ của các đụn cát tự nhiên ven biển nhằm chống ngập lụt cho khu vực bên trong trong điều kiện bão và nước dâng
- Duy trì vị trí đường bờ để phục vụ mục đích quản lý, khai thác và sử dụng tổng hợp bờ biển một cách dài hạn và bền vững
- Ứng phó với biển đổi khí hậu và nước biển dâng
2 Các mô hình nuôi bãi nhân tạo trên thế giới
Kỹ thuật nuôi bãi đã được phát triển ở nhiều nước Châu Âu tại những quốc gia
có nền khoa học kỹ thuật biển phát triển tiên tiến Điển hình như Hà Lan, Đức, Pháp, Italia, Đan Mạch, Tây Ba Nha, Anh…là các quốc gia có kinh nghiệm nuôi bãi thành công
2.1 Nuôi bãi tại Đức
Dự án nuôi bãi đầu tiên được thực hiện ở Đức vào năm 1951, tại Nordemy và được nhân rộng tới hơn 130 dự án nuôi bãi tại 60 địa điểm khác nhau trên dải bờ biển của đất nước trong việc bảo vệ và hạn chế xói lở các bờ biển cát Kết quả đạt được, nâng tổng thể tích vật liệu nuôi bãi ở Đức lên tới trên 50 triệu m3
Do điều kiện tự nhiên và xã hội khác nhau giữa các bang nên tồn tại các chính sách khác nhau về việc áp dụng nuôi bãi trong việc bảo vệ bờ biển [2]:
- Nuôi bãi chống xói cục bộ tại chân tường chắn sóng thẳng đứng và kè mái nghiêng Giải pháp này được thực hiên chủ yếu ở Norderny, Sylt Amrum Theo thống kê, từ năm 1962 đến 1996, tổng chiều dài bờ biển áp dụng giải pháp này ước chừng khoảng 10 km, tổng khối lượng vật liệu nuôi bãi sử dụng vào khoảng 11.5 triệu m3
- Nuôi bãi để tăng chiều rộng, chiều cao bãi biển và chiều rộng các đụn cát tự nhiên Việc làm này có tác dụng tăng cường khả năng bảo vệ tự nhiên của bãi biển và đụn cát dưới ảnh hưởng của sóng bão Tại Sylt, người ta đã sử dụng 22 triệu m3 cát để tăng cường 30 km đụn cát dọc bờ biển từ năm 1983 đến 1996
Trang 4- Nuôi bãi xa bờ tại vị trí của các bar cát ngầm Cách thức nuôi bãi này có hai mục tiêu Thứ nhât, giảm năng lượng sóng tại khu vực gần bờ bởi việc làm cho sóng vỡ sớm tại vị trí của bar cát ngầm; thứ hai, vật liệu nuôi bãi này sẽ được vận chuyển dần vào bờ trong điều kiện chiều cao sóng đủ nhỏ và chu kỳ đủ lớn vào các mùa không phải là mùa biển động
- Nuôi bãi dưới dạng chuyển cát nhân tạo tại các vị trí xói lở do ảnh hưởng của các công trình bảo vệ bờ biển khác nhau như khu vực hạ lưu kè mỏ hàn, khu vực hạ lưu của công trình cảng biển…
Các hình thức nuôi bãi trình bày kể trên chính thức được chính phủ Đức phê duyệt trong luật bảo vệ bờ biển Ngoài ra, các địa phương còn xây dựng thêm các quy định riêng về nuôi bãi sử dụng cho mục đích du lịch
Việc tiếp cận định hướng bảo vệ bờ biển tại nước này theo hướng giải pháp mang tính chất mềm và bền vững về mặt môi trường thay vì sử dụng công trình cứng như trước đây đã được nhận thức khá sớm (năm 1990) Hầu hết các dự án nuôi bãi được thiết kế với chu kỳ 5-7 năm Nuôi bãi cao và nuôi bãi trên toàn bộ mặt cắt ngang
là hai dạng được sử dụng chủ yếu ở Đức, ngoài ra các giải pháp nuôi bãi xa bờ cũng được sử dụng Giải pháp nuôi bãi tại Đức được áp dụng tại các vị trí xói lở mạnh hoặc cho dự án đặc biệt, cần khôi phục bãi biển một cách nhanh chóng Với hơn 50 năm kinh nghiệm trong việc thực hiện các dự án nuôi bãi, giải pháp bảo vệ bờ biển một cách chủ động bằng giải pháp nuôi bãi với các chu kỳ lặp lại phù hợp trở thành công
cụ hữu ích trong các giải pháp bảo vệ bờ biển ở Đức
2.2 Nuôi bãi tại Hà Lan
Nuôi bãi tại Hà Lan được áp dụng từ năm 1970, trong giai đoạn này khoảng
200 dự án nuôi bãi được thực hiện 35 vị trí khác nhau, lượng vật liệu sử dụng tới 110 triệu m3 Từ sau khi chính sách về bảo vệ và bảo tồn bờ biển được ban hành vào năm
1990, nuôi bãi nhân tạo được xem là giải pháp chính trong các giải pháp bảo vệ bờ biển tại Hà Lan
Đặc biệt tại Hà Lan, vị trí đường bờ được xác định dựa trên thể tích cát đo được nhờ số liệu đo đạc mặt cắt ngang bãi biển hàng năm hơn là dựa trên vị trí đường bờ được quan trắc tại mực nước biển trung bình Vì vậy, nuôi bãi được thế kế với mục
Trang 5đích bù lại sự mất mát bùn cát gây ra bởi các quá trình động lực học bờ biển trong khoảng thời gian nhất định Lượng vật liệu nuôi bãi được tính bằng cách nhân lượng bùn cát mất đi hàng năm với chu kỳ nuôi bãi, sau đó lượng vật liệu tính toán lại được công trừ 10- 20% để xét tới hiệu suất của dự án nuôi bãi
Cao trình nuôi bãi được xác định dựa trên số liệu khảo sát thực tế hàng năm nhờ việc đo đạc mặt cắt ngang trên toàn bộ dải bờ biển Hà Lan suốt từ năm 1965
2.3 Nuôi bãi tại Tây Ba Nha
Tây Ba Nha là quốc gia có nguồn thu rất lớn từ các hoạt động du lịch biển, hầu hết các dự án nuôi bãi ở Tây Ba Nha là các dự án mở rộng bãi biển phục vụ cho hoạt động du lịch, giải trí, một phần nhỏ cho mục đích chống ngập lụt và xói lở Do vậy, nuôi bãi tại Tây Ba Nha có vai trò đặc biệt quan trọng Hình thức nuôi bãi được áp dụng chủ yếu là nuôi bãi thuần túy, một số rất ít có sử dụng kết hợp với đập chắn sóng
xa bờ để hạn chế năng lượng sóng
Nuôi bãi tại Tây Ba Nha được áp dụng từ năm 1983 với hơn 600 dự án được thực hiên tại gần 400 vị trí dọc bờ biển, nâng tổng lượng vật liệu nuôi bãi lên tới 110 triệu m3
2.4 Nuôi bãi tại Đan Mạch
Bờ biển Đan Mạch dài khoảng 7400 km, trong đó vùng bờ Biển Bắc chịu tác động lớn của sóng gió là vùng biển bở và được ổn định bằng việc trồng
cỏ trong thời gian cách đây khoảng 100 năm, trong thời kỳ đó các cảng và hệ thống kè mỏ hàn được xây dựng đã gây ra sự xói lở nghiêm trọng ở phía hạ lưu, tính đến năm 1982 sự xói lở này làm cho các đụn cát biến mất hoặc suy giảm trong chiều dài gần 50 km bờ biển Trước tình thế đó, chính phủ quyết định bắt đầu thực thi chiến lược bảo vệ bờ biển (1982) Trong đó, tăng cường khả năng bảo vệ của các đụn cát được xem là giải pháp bảo vệ bờ biển chủ yếu, tại những nơi mà giải pháp này không khả thi thì hệ thống kè biển được xây dựng để giữ đụn cát, tại những khu vực không cho phép xói lở thêm nữa thì dự án nuôi bãi được thực hiện kết hợp với xây dựng đê ngầm song song với bờ có chức năng
Trang 6ngăn cát, giảm sóng để nâng cao hiệu quả của nuôi bãi, kể từ đó thể tích vật liệu nuôi bãi không ngừng được tăng lên Tính đến năm 1998, tổng thể tích vật liệu nuôi bãi sử dụng cho các bờ biển thuộc Biển Bắc là 31 triệu m3 Khoảng 97% các dự án nuôi bãi được thực hiện tại các bờ biển thuộc Biển Bắc nơi mà các đụn cát là yếu tố chính bảo vệ các vùng đất thấp bên trong khỏi ngập lụt Các
dự án này được thực hiên theo chính sách được ban hành vào năm 1982
Nuôi bãi ở đây được sử dụng dưới các dạng: xử lý trực tiếp xói lở đang xảy ra, tăng cường đụn cát, mở rộng bãi biển mang tính chất bảo vệ Tại những dải bờ mà đụn cát hiện hữu quá yếu hoặc không còn khả năng bảo vệ thì đụn cát mới được xây dựng Lưu ý rằng, bãi biển đủ rộng với đủ thể tích bùn cát là yếu tố hữu hiệu để chống lại sự xói lở đụn cát và bảo vệ chân các công trình cứng
2.5 Nuôi bãi tại Mỹ
Mỹ là quốc gia đi đầu trên thế giới trong kinh nghiệm, số lượng dự án cũng như thể tích vật liệu nuôi bãi đã sử dụng(Bacco,1999), đây là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện dự án nuỗi bãi (1992)
Nuôi bãi ở Mỹ được áp dụng chủ yếu dưới các hình thức:
- Áp dụng cho các bãi biển hẹp hoặc đang xói lở trong đó chiều rộng bãi không
đủ để bảo vệ cơ sở hạ tầng bờ biển bên trong dưới tác động của bão
- Mở rộng bãi biển để phục vụ phát triển du lịch, giải trí,
- Phòng chống xói lở do các công trình xây dựng ở ven bờ gây ra
- Chống xói chân và xói cục bộ xung quanh kết cấu cứng
- Tăng cường khả năng bảo vệ của đụn cát
- Nuôi bãi có kết hợp sử dụng công trình cứng làm tăng hiệu quả nuôi bãi
Không chỉ ứng dụng nuôi bãi tại dải bờ biển, các dự án được thực hiện tại khu vực cửa sông ứng dụng giải pháp nuôi bãi cũng mang lại kết quả tốt, tạo nguồn cung cấp bùn cát cho các dải bờ biển ở phía hạ lưu một cách tự nhiên nhờ dòng vận chuyển dọc bờ
Các dự án nuôi bãi được chia sẻ về kinh phí giữa chính phủ và địa phương Hệ số lợi ích/ chi phí (B/C) được tính toán dựa trên lợi ích về giảm thiểu sự phá hoại các kết cấu cứng và cơ sở hạ tầng có do việc tăng chiều rộng bãi biển bảo vệ Chức năng giảm
Trang 7sự phá hoại do bão được đánh giá dựa trên việc sử dụng các mô hình tính toán cho các cơn bão thiết kế Do đó chức năng của nuôi bãi ở đây thiên về chức năng bảo vệ trực tiếp hơn là chiến lược có tính chất dự phòng cho cả hệ thống như ở Hà Lan Hệ số B/C được tính toán tùy theo đặc thù từng vùng và được đánh giá một cách riêng biệt, thông thường các dự án được hỗ trợ từ ngân sách quốc gia có hệ số B/C > 1, mặc dù vậy một
số dự án thỏa mãn yêu cầu này vẫn không được hỗ trợ tài chính do các lý do lien quan đến chính trị và ngân sách dự phòng Bởi vậy, quản lý bờ biển một cách tổng thể và thống nhất trên toàn nước Mỹ còn rất khó thực hiện Thực tế cho thấy một số bang tự chuẩn bị nguồn kinh phí cho các dự án nuôi bãi, đặc biệt là Florida
2.6 Nuôi bãi tại Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc đảo với gần 30000 km đường bờ biển Do các đặc thù về địa hình, địa chất, cơ sở hạ tầng, dân cư bám sát bờ biển với yêu cầu bảo vệ cao do vậy các công trình bảo vệ bờ biển được xây dựng trong thời gian trước đây chủ yêu sử dụng kết cấu cứng Thời gian gần đây do ảnh hưởng các hoạt động thủy điện, nguồn bùn cát cung cấp cho các sông giảm mạnh gây ra sự thiếu hụt bùn cát nghiêm trọng đối với dải bờ biển làm xói lở bờ biển
Nuôi bãi ở Nhật chủ yếu nhằm mục đích khắc phục hậu quả xói lở và phát triển dịch vụ du lịch hơn là mục đích quản lý tổng hợp vùng bờ dài hạn
Phương pháp thiết kế nuỗi bãi được chia thành 2 loại: Nuôi bãi tĩnh, nuôi bãi động Nuôi bãi tính nhằm mục tiêu chính là giữ cho vật liệu nuôi bãi không bị vận chuyển ra khỏi khu vực dự án Giải pháp nuôi bãi này được áp dụng cho các bãi biển nhỏ hoặc các dự án lấn biển và thường kết hợp với công trình cứng có chức năng giữ vật liệu
Nuôi bãi động áp dụng tại các bờ biển dài và có kích thước hạt bùn cát thay đổi lớn, vật liệu nuôi bãi vừa góp phần ổn định bờ biển tại vị trí nuôi bãi vừa đóng vai trò
là nguồn cung cấp cho khu vực đang thiếu cát phía hạ lưu mà không được nuôi bãi Phương pháp này mềm mài và hài hòa với quá trình tự nhiên
3 Đánh giá các mô hình nuôi bãi trên thế giới
Trang 83.1 Tần suất và thể tích nuôi bãi
Bảng 3.1 So sánh số dự án, tần suất và khối lượng nuôi bãi tại Châu Âu tính đến năm
2002 [2]
Tên nước Thể
tích vật
Số lần nuôi
Số vị trí nuôi
Thể tích vật liệu nuôi bãi
Thể tích vật liệu trung
Số lần nuôi bãi/
Bảng 3.2 So sánh suất nuôi bãi trung bình năm ở các nước [2]
Tên nước Suất nuôi bãi trung bình
năm(10 6 m 3 )
Tên nước Suất nuôi bãi
trung bình
Bảng 3.3 So sánh chi tiết các thông số nuôi bãi giữa các nước
Thông số so sánh Phá
p
Italy a
Đứ c
Hà Lan
Tây Ba Nha Anh
Đan Mạch Mỹ
Tổng chiều dài bờ biển dạng cát sỏi
Vtb vật liệu nuôi bãi/ 1m dài bờ biển
Vtb vật liệu của tất cả các dự án nuôi bãi
Số lần nuôi bãi trung bình/ 1 dự án
Chu kỳ nuôi bãi trung bình
6.1 31.8
19.
Trang 9Thông qua số liệu thống kê về tần suất nuôi bãi và lượng vật liệu sử dụng nuôi bãi giữa các quốc gia cho thấy có sự khác nhau rõ rệt (Bảng 3.1), có thể thấy rằng Tây
Ba Nha và Hà Lan sử dụng giải pháp nuôi bãi nhiều nhất Tuy nhiên, nuôi bãi ở Hà Lan được thực hiện với quy mô lớn còn ở Tây Ba Nha thì nổi bật về số lượng dự án nhưng về quy mô thì nhỏ hơn Hà Lan
Thông tin về suất nuôi bãi tại một số nước được tổng hợp tại Bảng 3.2 cho thấy tổng suất nuôi bãi hàng năm của các nước khoảng 28 triệu m3 Đặc biệt thấy rằng giá trị này chỉ xấp xỉ bằng suất nuôi bãi tại Mỹ
Tại Hà Lan, có tới 51.2% chiều dài của toàn bọ bờ biển dạng mềm được nuôi bãi, trong khi đó ở Mỹ khoảng 0.6 %, một số nước khác ở Châu Âu như Pháp, Italia con số này cũng khá nhỏ (Bảng 3.3) Như vậy, cho thấy rằng hoạt động nuôi bãi ở các nước là khá nhỏ so với tổng chiều dài bờ biển có thể nuôi bãi, ngoại trừ Hà Lan
Về thể tích vật liệu nuôi bãi sử dụng hàng năm (Bảng 3.3) cho tháy giá trị này ở
Hà Lan và Tây Ba Nha khoảng 40 m3/m/năm, các nước còn lại bằng khoảng ¼ giá trị trên
Về chu kỳ nuôi bãi cho thấy rằng, chu kỳ nuôi bãi ở các nước như Hà Lan, Tây
Ba Nha, Pháp, Đan Mạch vào khoảng 5 năm, trong khi các nước Italia, Đức vào khoảng 25 năm Lượng vật liệu sử dụng trong một dự án nuôi bãi tại Pháp và Đan Mạch nhỏ hơn nhiều so với Hà Lan và Tây Ba Nha
3.2 Thông số thiết kế nuôi bãi
Các tham số dung trong quá trình thiết kế đã được so sánh và tổng hợp tại Bảng 3.3 Do sự phức tạp và đa dạng của điều kiện thực tế, bởi vậy việc đánh giá các tham
số ở trên chỉ mang tính chất tương đối Mỗi quốc gia có quan điểm thiết kế riêng, chẳng hạn Italia quan tâm nhiều đến các thông số thiết kế về mặt lý thuyết, Hà Lan thiên về thiết kế dựa trên kinh nghiệm của các dự án đã thực hiện, theo đó việc thiết kế
ở Hà Lan mang tính thực tế và hiệu quả hơn Tuy vậy, quá trình thiết kế kinh nghiệm như Hà Lan đòi hỏi hệ thống và quá trình quan trắc, đánh giá các dự án một cách đồng
Trang 10bộ lâu dài, việc lựa chọn các tham số đầu vào của quá trình thiết kế cũng như xác định các tham số thiết kế phù hợp cần dựa vào điều kiện cụ thể từng dự án
Trong các nước đã được khảo sát và đề cập tới trong các mục trên, có sự khác biệt đáng kể trong các vấn đề sau:
- Giải pháp kỹ thuật và các bước đánh giá
- Chiến lược quản lý tổng thể bờ biển
- Khuôn khổ pháp lý và tài chính của dự án nuôi bãi
Những điểm khác biệt cụ thể như sau:
- Chỉ có Hà Lan và Đan Mạch có chương trình đánh giá tổng thể một cách nghiêm túc và được quy định rõ ràng trong khung pháp lý
- Hà Lan, Đức, Đam Mạch và Anh có xây dựng một chiến lược dài hạn cho các hoạt động dọc bờ biển của quốc gia
- Tây Ba Nha có xây dựng cơ sở lý luận khá tốt cho các chiến lược bảo vệ vào phát triển bờ biển dài hạn nhưng bị hạn chế bởi vấn đề nguồn vật liệu nuôi bãi phù hợp
- Tây Ba Nha, Italia, Pháp áp dụng nuôi bãi theo hướng chính là phát triển du lịch
và xử lý xói lở cục bộ, vấn đề nuôi bãi không được chú trọng là một giải pháp bảo vệ bờ mang tính chất dài hạn và tổng thể
- Việc phân chia trách nhiệm và quyền hạn giữa Bộ Môi Trường và Bộ Các Vấn
Đề Công Cộng không rõ ràng dẫn tới khó khăn trong quản lý các dự án nuôi bãi tại Italia
Tuy nhiên có thể biết rằng tại các nước kể trên, hiện đều có xu hướng hạn chế dần việc sử dụng các kết cấu cứng trong bảo vệ bờ biển mà thay vào đó là ứng dụng các giải pháp mềm Giải pháp nuôi bãi được phổ biến ở Hà Lan và Tây Ba Nha trong công tác bảo vệ bờ biển, điều này được thể hiện qua lượng vật liệu nuôi bãi hàng năm của hai nước này
Về chu kỳ nuôi bãi, cho thấy có sự khác biệt giữa các nước Các nước như Italia, Đức nuôi bãi với chu kỳ khoảng 25 năm, trong khi đó các nước khác nuôi bãi với chu kỳ khoảng 5 năm Sự khác biệt về chu kỳ nuôi bãi có thể do mục đích