1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUYỀN các dân tộc THIỂU số THEO PHÁP LUẬT QUỐC tế và PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ dân CHỦ NHÂN dân lào

99 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 915,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quyền của các dân tộc thiểu số (DTTS) thuộc quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thƣơng đƣợc ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng, nhƣ: Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948; Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966; Tuyên ngôn về bảo vệ nhân quyền của những ngƣời thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992; Hiến chƣơng LHQ… Pháp luật về quyền các dân tộc thiểu số của Lào đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp đạo luật cao nhất của nƣớc CHDCND Lào, Bộ luật Dân sự, Luật Gia đình Lào, Luật Phát triển và bảo vệ phụ nữ Lào… Tuy vậy bên cạnh những ƣu điểm, những mặt tích cực và thành công, pháp luật của Lào về quyền các dân tộc thiểu số cũng còn một số khiếm khuyết, nhƣợc điểm, bất cập cần khắc phục: Lào là một quốc gia đa dân tộc với nhiều nhóm dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở những vùng, miền núi điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất còn nhiều khó khăn, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, chƣa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số còn bất cập; trình độ dân trí, ý thức pháp luật của ngƣời dân tộc thiểu số còn hạn chế. Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó khăn, sự chƣa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội ở vùng dân tộc thiểu số

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VILAYCHANH THAO

QUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ DÂN CHỦ

NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VILAYCHANH THAO

QUYỀN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO PHÁP LUẬT QUỐC

TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Mã số: 60380108

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ ĐỨC LONG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng say mê học hỏi và yêu mến đất nước, con người Việt Nam, tác giả luận văn đã rất vinh hạnh được học tập tại Trường Đại học Luật Hà Nội Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến tập thể cán bộ, giảng viên Khoa Luật quốc tế và Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là TS VŨ ĐỨC LONG đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

VILAYCHANH THAO

Trang 4

T i xin cam đoan, đây là c ng trình nghiên c u c a t i, c s h trợ c a giáo viên hướng dẫn hoa học và các đ ng nghiệp Các số liệu nêu trong luận văn là trung th c Nh ng ết luận hoa học c a luận văn chưa được ai c ng bố trong bất c ng trình nào

XÁC NHẬN CỦA

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

TS VŨ ĐỨC LONG

TÁC GIẢ LUẬN VĂN TỐT

NGHIỆP

VILAYCHANH THAO

Trang 5

Trang

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC

THIỂU SỐ

5

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số trên thế giới 10 1.1.3 Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Lào 14 1.2 Nội dung các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của các dân

Trang 6

thiểu số 39 2.3 Phạm vi quyền của các dân tộc thiểu số trong luật quốc tế 42 2.4 Các quyền cơ bản của thành viên dân tộc thiểu số 45 2.4.1 Quyền có quốc tịch, được xác định dân tộc 45

2.4.5 Quyền đối với văn hoá, phong tục tập quán, ngôn ngữ 51 2.4.6 Quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng hoặc tôn giáo 52

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ DCND LÀO VỀ QUYỀN

CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Trang 7

3.3.1 Những giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

3.3.2 Những giải pháp nhằm về cơ chế thực thi pháp luật đảm bảo

3.3.3 Những giải pháp về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền của các

Trang 8

6 UDHR : Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948

7 ICCPR : Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyền của các dân tộc thiểu số (DTTS) thuộc quyền của nhóm xã hội dễ

bị tổn thương được ghi nhận trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng, như: Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966; Tuyên ngôn về bảo vệ nhân quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992; Hiến chương LHQ…

Pháp luật về quyền các dân tộc thiểu số của Lào được ghi nhận trong Hiến pháp đạo luật cao nhất của nước CHDCND Lào, Bộ luật Dân sự, Luật Gia đình Lào, Luật Phát triển và bảo vệ phụ nữ Lào… Tuy vậy bên cạnh những ưu điểm, những mặt tích cực và thành công, pháp luật của Lào về quyền các dân tộc thiểu

số cũng còn một số khiếm khuyết, nhược điểm, bất cập cần khắc phục: Lào là một quốc gia đa dân tộc với nhiều nhóm dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở những vùng, miền núi điều kiện cơ sở hạ tầng vật chất còn nhiều khó khăn, hệ thống pháp luật còn chồng chéo, chưa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số còn bất cập; trình độ dân trí,

ý thức pháp luật của người dân tộc thiểu số còn hạn chế Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó khăn, sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật để tuyên truyền, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị xã hội ở vùng dân tộc thiểu số;

Cần nghiên cứu pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số của quốc tế

và Lào (có liên hệ với Việt Nam) để khẳng định những thành công và chỉ ra những nhược điểm, bất cập nhằm khắc phục, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này Những kinh nghiệm của quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu số mà cộng đồng quốc tế đã áp dụng rất thành công trong hoạt động viện d n, sử dụng những quy định của pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số cùng với những tiền đề thuận lợi cho khả năng áp dụng quy định của pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho Lào trong quá trình bổ

Trang 10

sung và hoàn thiện pháp luật Những kết quả nghiên cứu về quyền của các dân tộc thiểu số của luận văn theo pháp luật quốc tế và pháp luật của nước Cộng hoà DCND Lào góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của nhà nước cùng toàn thể xã hội trong việc ghi nhận và đặc biệt là việc bảo vệ, bảo đảm cho các quyền của các dân tộc thiểu số được thực hiện trong cuộc sống một cách nghiêm chỉnh

có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn

Thông qua việc tìm hiểu, tác giả nhận thấy cần thiết có một công trình nghiên cứu một cách tổng thể và tương đối toàn diện về việc ghi nhận và thực hiện các quyền của dân tộc thiểu số một cách có hệ thống; từ đó, xem xét và đưa

ra những phương hướng và giải pháp cụ thể ngoài góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của nước Cộng hoà DCND Lào trong lĩnh vực này còn góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của xã hội đối với việc bảo đảm và bảo vệ các quyền của các dân tộc thiểu số, tạo những điều kiện cần thiết nhất để xây dựng một xã hội bình đẳng giữa các cộng đồng dân cư, cộng đồng các dân tộc cùng phát triển giàu mạnh và phồn vinh

Từ những lý do đã nêu trên, cho thấy việc lựa chọn đề tài: “Quyền các dân tộc thiểu số theo pháp luật quốc tế và pháp luật Cộng hoà dân ch nhân dân Lào” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học là hết sức cần thiết cả

về phương diện lý luận và thực tiễn, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền con người của Nhà nước Lào trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

DTTS và quyền của DTTS là một đề tài tuy không mới, tuy nhiên việc nghiên cứu đề tài này hầu như còn hạn chế, nhất là nghiên cứu dưới góc độ tiếp cận từ luật pháp quốc tế Các nghiên cứu hiện nay chủ yếu dưới dạng các bài viết, các bài tham luận tại các hội thảo trong và ngoài nước

Ở Việt Nam – một quốc gia có trình độ lập pháp tiên tiến, cũng có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị: Một số vấn đề về người thiểu số trong luật quốc

tế, Vũ Công Giao, Hà Nội năm 2001; Luật Quốc tế về quyền của nhóm xã hội

dễ bị tổn thương, Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội, năm 2010; “Hoàn thiện pháp

Trang 11

luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số”, Nông Thị Kiều Diễm, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014; “Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế và Việt Nam”, Lê Xuân Trình, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015…

Ở Lào, các nhà nghiên cứu cũng có một số công trình nghiên cứu có giá trị Thí dụ như, Luận văn thạc sĩ luật học của Hong Sa Đy Đa Phét năm 2005:

“Pháp luật về quyền của cộng đồng dân tộc thiểu số - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” – trường Đại học Quốc Gia Lào; Luận văn thạc sĩ của Phon Sa Ly:

“Hoàn thiện pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào”, năm 2007 – Khoa Luật Học viện n ninh nhân dân Lào Tuy nhiên chưa có công trình pháp luật của các nhà khoa học Lào nghiên cứu một cách tổng thể và tương đối toàn diện về việc ghi nhận và thực hiện các quyền của dân tộc thiểu số theo pháp luật quốc tế và pháp luật của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Các nghiên cứu và các ý kiến nêu trên chưa nhiều nhưng đã có những cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, có những giá trị khoa học nhất định, là nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các nội dung về quyền của các dân tộc thiểu số của nước Cộng hoà DCND Lào Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này còn có những vấn đề chưa được đề cập một cách đầy đủ và toàn diện hoặc

có đề cập nhưng mức độ nghiên cứu chưa sâu

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu các điều ước quốc tế quy định về các nhóm quyền của DTTS, cũng như các chủ trương, chính sách, pháp luật của Lào đối với DTTS

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, diễn giải, chứng minh, đối chiếu, so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa

Trang 12

5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số ở CHDCND Lào

- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:

a) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền của các dân tộc thiểu số theo pháp luật quốc tế và pháp luật CHDCND Lào;

b) Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số ở nước CHDCND Lào

6 Những đóng góp mới của Luận văn

- Luận văn nghiên cứu một cách tổng thể các vấn đề lý luận cơ bản về quyền của các DTTS trên bình diện pháp luật quốc tế và pháp luật của nước CHDCND Lào;

- Luận văn nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật thực định của Lào về quyền của các DTTS;

- Luận văn đề xuất các giải pháp cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về quyền của các DTTS ở CHDCND Lào

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương là :

Chương 1 Những vấn đề lý luận về quyền của các dân tộc thiểu số

Chương 2 Quyền của các dân tộc thiểu số theo quy định của luật pháp quốc tế

Chương 3 Thực trạng pháp luật Cộng hòa DCND Lào về quyền của các dân tộc thiểu số và các giải pháp đề xuất

Trang 13

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Dân tộc thiểu số là một vấn đề mang tính thời sự được pháp luật quốc tế

và pháp luật Lào quy định tương đối cụ thể Tuy nhiên nội hàm “dân tộc thiểu số” rất phong phú và phức tạp Do đó, trước khi đi vào phân tích các quy định của pháp luật quốc tế và Lào về quyền của các dân tộc thiểu số, chúng ta cần phải làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền của các dân tộc thiểu số như sau:

1.1 Khái niệm dân tộc thiểu số

1.1.1 Khái niệm dân tộc

Dân tộc là tên chỉ cộng đồng người hình thành và phát triển trong lịch sử, sau khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và xuất hiện nhà nước1 Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua trải qua các hình thái cộng đồng đồng từ thấp đến cao như bộ lạc, bộ tộc Những thành viên trong thị tộc gắn bó với nhau bằng quan hệ huyết thống Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn Sản xuất phát triển thì bản thân con người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như- ngôn ngữ, văn hoá vật chất (thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hoá tinh thần (thể hiện thành ý thức và các hình thái ý thức) Hình thức của cộng đồng người cũng có sự tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên những tộc người và những dân tộc khác nhau như- chúng ta thấy hiện nay Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử (lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho trình độ văn minh đã đạt được Văn hoá của các dân tộc có những nét chung giống nhau (thí dụ như- đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công nghiệp), nhưng cũng có những nét

1 Phạm Huy Châu (2007), “Về hái niệm dân tộc và ch nghĩa dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 11 (198), tháng 11

– 2007

Trang 14

đặc thù gọi là tính cách dân tộc hay bản sắc dân tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ưu thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của văn hoá nhân loại

Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt, dân tộc được định nghĩa là cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hoá và tính cách2

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, dân tộc là sản phẩm lâu dài của lịch sử3

Trước dân tộc là các hình thức cộng đồng như: thị tộc, bộ tộc, bộ lạc Do đó, dân tộc còn được hiểu là một cộng đồng dân cư hình thành từ một bộ tộc hoặc từ sự liên kết của tất cả các bộ tộc sống trên cùng một vùng lãnh thổ4

Sự phát triển của xã hội loài người gắn liền với Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội có giai cấp đầu tiên được hình thành Phạm vi thống trị của nhà nước

có thể không trùng với thị tộc, bộ lạc, bộ tộc Có nhà nước một bộ tộc, cũng có nhà nước nhiều bộ tộc, sắc tộc Sự xuất hiện nhà nước đã góp phần rất quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy sự thống nhất về kinh tế

và văn hoá, mở rộng giao lưu giữa các bộ tộc… Dưới tác động của các quan hệ mới; đặc biệt là quan hệ giao lưu về kinh tế, khuôn khổ chật hẹp của bộ tộc không còn thích hợp cho sự phát triển Những nhân tố khách quan trên đây đã thúc đẩy quá trình hình thành một cộng đồng người mới thay thế bộ tộc, đó là sự xuất hiện của dân tộc Trong quá trình phát triển của xã hội loài người kể từ khi Nhà nước xuất hiện, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã d n tới sự ra đời và phát triển của các dân tộc tư bản chủ nghĩa Theo cách hiểu về Dân tộc tư bản chủ nghĩa của J.V Stalin: Dân tộc là khối cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về tiếng nói, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế và về hình thành tâm lý, biểu hiện trong cộng đồng về văn hóa5

Khi CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các đế quốc thực hiện chính

2 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, trang 247

3 Nông Thị Kiều Diễm (2014), "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay", luận văn thạc sĩ luật học, khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, tr6

Trang 15

sách vũ trang xâm lược, cướp bóc, nô dịch Vấn đề dân tộc trở nên gay gắt và từ

đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa Bên cạnh đó, Dân tộc hình thành đã thực

sự tạo ra động lực cho sự phát triển Đấu tranh chống lại sự nô dịch và áp bức dân tộc chính là đấu tranh vì sự phát triển và tiến bộ chung của nhân loại Do đó, Dân tộc là loại hình của cộng đồng người xã hội hiện đại (xã hội chiếm hữu nô

lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản, XHCN) Theo đó, rõ ràng có nhiều loại dân tộc: dân tộc Chiếm nô, dân tộc Phong kiến, dân tộc Tư bản, dân tộc Xã hội chủ nghĩa

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất và cũng thường xuyên có sự l n lộn, đó là dân tộc (Nation/Quốc gia) và dân tộc (Ethnic/Tộc người) Tuy nhiên,

có thể lý giải hai khái niệm này như sau:

Nghĩa thứ nhất: Dân tộc (Nation/Quốc gia) là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc

Nghĩa thứ hai: Dân tộc (Ethnic/Tộc người) là một cộng đồng mang tính tộc người, có chung một tên gọi, một ngôn ngữ, được liên kết với nhau bằng giá trị sinh hoạt văn hóa tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức là chung một khát vọng cùng chung sống, có chung một số phận thể hiện ở những ký ức lịch sử Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, một cộng đồng sinh hoạt kinh tế, có thể ở các quốc gia dân tộc khác nhau6

Như vậy, khái niệm dân tộc – tộc người (Ethnic/Tộc người) không phải bao giờ cũng trùng hợp với khái niệm dân tộc (Nation/Quốc gia) theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lý bằng bộ máy nhà nước Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như- trường hợp Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc (nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và phát triển hơn trong

6 Xem thêm Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.217-218

Trang 16

lịch sử) Trong thực tế,có trường hợp những người cùng một dân tộc nhưng lại sống phân tán ở những quốc gia khác nhau Trong lịch sử, các dân tộc hình thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống l n trình độ phát triển Đã có nhiều dân tộc tự phát liên kết với nhau, hoà nhập vào nhau hoặc đồng hoá, thôn tính l n nhau Xu thế lịch sử của dân tộc là cần có nhà nước để bảo vệ lãnh thổ của mình Ý thức về chủ quyền lãnh thổ phát triển thành

ý thức quốc gia dân tộc hay chủ nghĩa yêu nước Bản thân nhà nước, đến lượt

nó, lại có tác động trở lại củng cố sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất nhiều dân tộc trong biên giới của mình Bộ máy nhà nước trung -ương tập quyền của nhà Tần ở Trung Quốc chẳng hạn, khi ban hành luật pháp thống nhất trong cả nước, bắt mọi người cùng viết một kiểu chữ, cùng đi một cỡ xe (thư đồng văn, xa đồng quỹ) đã đẩy nhanh sự cố kết của dân tộc Hán ngay từ trước Công nguyên7

- Có chung các đặc điểm văn hóa;

- Có cùng ý thức dân tộc hay là tự giác dân tộc

Ở Lào, khái niệm “dân tộc” chưa được định nghĩa một cách cụ thể Nhưng tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập trong Báo cáo Chính trị của Đảng

Trang 17

Nhân dân cách mạng Lào: “…Nói thứ ngôn ngữ chung, cùng chung những đặc điểm chung thống nhất về sinh hoạt văn hóa, có tinh thần và ý thức cùng một dân tộc”

Ở Việt Nam, tiêu chí xác định dân tộc bắt đầu được đề cập từ 1960 Năm

1973 tại Hà Nội đã tiến hành hai cuộc Hội thảo khoa học (vào tháng 6 và tháng 11) Các hội thảo đã thống nhất lấy dân tộc (tộc người) làm đơn vị cơ bản trong xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam Ba tiêu chí để xác định dân tộc/tộc người, được thống nhất sử dụng9

:

- Có tiếng nói chung (ngôn ngữ mẹ đẻ),

- Có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hóa (đặc trưng văn hóa),

- Có ý thức tự giác nhận mình cùng một dân tộc

Trên thế giới, dân tộc (tộc người) được dùng với nhiều thuật ngữ như: Dân tộc bản địa (Thổ dân, dân bản xứ), dân tộc thiểu số, dân tộc đa số Ở Việt Nam và Lào hiện nay, nhiều thuật ngữ đã và đang được dùng để nói về dân tộc ở Việt Nam và dân tộc Lào như: "dân tộc Việt Nam", “dân tộc Lào”; "các thành phần dân tộc Việt Nam", “các thành phần dân tộc Lào”; "cộng đồng các dân tộc Việt Nam", “nhân dân các bộ tộc Lào”; "dân tộc đa số" và "dân tộc thiểu số" Trong một số bài viết của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ tịch Kay sỏn Phomvihane đã dùng các thuật ngữ này nhằm bao quát cả hai nghĩa dân tộc – quốc gia (Dân tộc Việt Nam, Dân tộc Lào) và dân tộc - tộc người (dân tộc Kinh, Tày, Giao, H’mông, Nùng; nhân dân các bộ tộc Lào Thâng, Lào Lùm, Lào Sú ) Tùy vào từng hoàn cảnh mà dân tộc Việt Nam cũng như dân tộc Lào được hiểu theo mỗi nghĩa khác nhau, nhưng phổ biến nhất v n dùng để nói đến các thành phần dân tộc trên đất nước Việt Nam và đất nước Lào

Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm “dân tộc” nhưng nhìn chung các khái niệm hiện nay trên thế giới đều thừa nhận dân tộc là một cộng đồng dân cư và giống nhau ở những điểm như sau:

- Thứ nhất, cộng đồng về lãnh thổ;

9 Nông Thị Kiều Diễm (2014), "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay", luận văn thạc sĩ luật học, khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.8

Trang 18

- Thứ hai, cộng đồng về kinh tế;

- Thứ ba, cộng đồng về ngôn ngữ;

- Thứ tư, cộng đồng về văn hoá, về tâm lý

Cộng đồng về lãnh thổ, cộng đồng về kinh tế, cộng đồng về ngôn ngữ, về văn hoá, tâm lý và tính cách là bốn đặc trưng không thể thiếu của mỗi dân tộc

Đó chính là những yếu tố có mối quan hệ nội lực mạnh mẽ Nó vừa kết dính dân tộc thành một khối vừa tạo ra động lực để liên kết và phát triển cho mỗi quốc gia dân tộc Với những đặc trưng trên, dân tộc hình thành thường gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản, song cũng

có những dân tộc hình thành không gắn với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản (Việt Nam và Triều Tiên là một ví dụ)

Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề dân tộc - quốc gia, dân tộc

- tộc người Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả không có tham vọng đi sâu vào phân tích khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc - quốc gia,

mà nhìn nhận phạm trù dân tộc theo nghĩa dân tộc - tộc người

Từ những phân tích ở trên, tác giả luận văn cho rằng khái niệm dân tộc

cần phải được hiểu theo nghĩa đơn giản là: “một cộng đồng dân cư thống nhất

về mặt lãnh thổ, kinh tế, ngôn ngữ, văn hoá và tâm lý”

1.1.2 Khái niệm dân tộc thiểu số trên thế giới

Cho đến nay, chưa có bất cứ văn kiện quốc tế nào của Liên Hợp quốc đưa

ra định nghĩa “Dân tộc thiểu số”

Các nhà nghiên cứu nhân chủng học cho rằng DTTS gồm 2 thành phần: DTTS có nguồn gốc lịch sử (minorités historiques) là tập thể tộc người đã có mặt trên vùng lãnh thổ từ lâu đời mà người ta thường gọi là dân tộc bản địa (peuples autochtones); DTTS di cư (minorités immigrées) là những người nước ngoài sang định cư tại một quốc gia đã có chủ quyền10

Vào năm 1977, trong Báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đưa ra định nghĩa

10 Lê Xuân Trình (2015), Quyền của người dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật quốc tế và Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.17

Trang 19

về người thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình như sau: "là một nhóm người, xét về mặt số lượng, ít hơn phần dân cư còn lại của quốc gia, có vị thế yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một nước- có những đặc trưng về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc ngôn ngữ khác so với phần dân cư còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ Tuy nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ người thiểu số đã bị một số quốc gia có tư tưởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này v n chưa thể đi đến một định nghĩa chính thức về người thiểu số Các quốc gia Bắc Mỹ và Nam Mỹ là các quốc gia ủng hộ việc hợp nhất giữa người thiểu số vào cộng đồng chung, các quốc gia Châu Âu có tư tưởng đồng hóa người thiểu số, các nước Đông Âu lại thể hiện sự quan tâm đến việc bảo vệ người thiểu số, nên tất cả các luồng ý kiến không thể đi đến thống nhất, cho đến vào năm 1984, Ủy ban nhân quyền đã yêu cầu Tiểu ban về vấn đề người thiểu số định nghĩa thuật ngữ người thiểu số, để định nghĩa thuật ngữ này với mục đích giới hạn, thu hẹp phạm vi đối tượng là người thiểu số, nhằm mục đích tạo sự đồng thuận của nhiều quốc gia, một thành viên của Tiểu ban này là ông Julet Deschenes người Canada đã đưa ra một định nghĩa về người thiểu số như sau:

"Một nhóm các công dân của một quốc gia, tạo thành thiểu số về số lượng

và có vị thế không chiếm ưu thế trong quốc gia đó, mang những đặc trưng về chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ phân biệt với nhóm thuộc đa số dân cư, có một

ý thức thống nhất giữa các thành viên, một động cơ rõ rệt cho dù là mặc định bởi một ý nguyện tập thể nhằm tồn tại với mục tiêu là đạt đến sự bình đẳng với đa số dân cư, cả trên phương diện pháp luật và thực tiễn"

Tuy nhiên định nghĩa này lại không bao gồm (i) Cư dân bản địa; (ii) Người không phải công dân nước sở tại và (iii) Người thuộc thành phần đa số nhưng bị áp bức Theo đó, định nghĩa này đã giới hạn về phạm vi những đối tượng về người thiểu số, do đó nó không thể bao quát đầy đủ nội hàm của “dân tộc thiểu số”

Trang 20

Tòa án Công lý quốc tế thường trực (PCIJ) đưa ra định nghĩa về dân tộc thiểu số: cộng đồng thiểu số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc một địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ l n nhau và có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng d n, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tinh thần và truyền thống của chủng tộc họ11

Đại hội đồng LHQ đã thông qua thuật ngữ “dân tộc thiểu số” trên cơ sở dựa vào quan điểm của Gs Francesco Capotorti (đặc phái viên của LHQ) đã đưa

ra vào năm 1977: “Dân tộc thiểu số là thuật ng ám chỉ một nh m người: a Cư trú trên lãnh thổ c a một quốc gia c ch quyền mà họ là c ng dân c a quốc gia này; b Duy trì mối quan hệ lâu dài với quốc gia mà họ đang sinh sống; c Thể hiện bản sắc riêng về ch ng tộc, văn h a, t n giáo và ng n ng c a họ; d Đ tư cách đại diện cho nh m dân tộc c a họ, mặc dù số lượng ít hơn trong quốc gia này hay tại một hu v c c a quốc gia này; đ C mối quan tâm đến vấn đề bảo

t n bản sắc chung c a họ, bao g m cả yếu tố văn h a, phong tục tập quán, t n giáo và ng n ng c a họ”12

Trong cuốn từ điển của trường Đại học Cambridge, Vương quốc nh, dân tộc thiểu số (ethnic minority) được định nghĩa: “Một nhóm người thuộc một chủng tộc hoặc quốc tịch cụ thể sống trong một quốc gia hoặc vùng có nhiều người thuộc chủng tộc khác hoặc quốc tịch khác”13 Tuy vậy, định nghĩa này đã không khái quát được tiêu chí để phân biệt khái niệm dân tộc thiểu số và dân tộc

đa số

Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam định nghĩa: “dân tộc thiểu số là dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đ ng nhất trong một nước c nhiều dân tộc” 14

Định nghĩa này đã khắc phục được hạn chế trong

13 Cambridge University Press, Cambridge dvanced Learner’s Dictionary & Thesaurus, tr 413

14 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, trang 247

Trang 21

cuốn từ điển của đại học Cambridge Tuy nhiên, khái niệm dân tộc thiểu số này chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà không phản ánh đúng và đầy đủ bởi vì một dân tộc có thể là thiểu số ở một quốc gia có nhiều dân tộc nhưng lại là dân tộc chiếm đa số ở quốc gia khác (ví dụ, dân tộc Kinh – những người Việt Nam ở Lào là dân tộc thiểu số nhưng ở Việt Nam lại là dân tộc chiếm đa số, dân tộc Lào ở Lào chiếm đa số nhưng ở Việt Nam lại chỉ là dân tộc thiểu số)

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc DTTS là thuật ngữ chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; Xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc (như đã phân tích ở trên); Kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó DTTS luôn gắn với một quốc gia và là một bộ phận của quốc gia có chủ quyền

Ở Việt Nam, khái niệm DTTS được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật cũng như trong công tác nghiên cứu, học tập và trong hoạt động thực tiễn Thuật ngữ này cũng được sử dụng chính thức trong Hiến pháp, luật và văn bản dưới luật Nghị định 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc đưa ra khái niệm tại K2, Đ4 "DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; K3, Điều 4: "Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng số dân của cả nước theo điều tra dân số quốc gia"

Ở Lào, khái niệm DTTS được quy định trong Nghị định số 18/2013/NĐ –

CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ, chăm sóc người dân tộc thiểu số trong các lĩnh vực kinh tế, y tế và giáo dục ngày 15 tháng 8 năm 2013 Theo đó, Điều

3 quy định: “DTTS là một cộng đồng dân cư trong đó có các bộ tộc Lào có số dân ít hơn so với cộng đồng dân cư có các bộ tộc có số dân nhiều hơn chiếm đa

Trang 22

số trên phạm vi toàn lãnh thổ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào”; “DTĐS là cộng đồng dân cư trong đó có số dân nhiều hơn 50% tổng số dân của các cộng đồng dân cư khác trên phạm vi toàn lãnh thổ nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào”

Có thể thấy các khái niệm đưa ra không hoàn toàn giống nhau Điều này cho thấy tính chất phức tạp của vấn đề dân tộc thiểu số trên thế giới Tổng hợp những thuộc tính được nêu ra từ các định nghĩa trên và nội dung các văn kiện quốc tế có liên quan về vấn đề dân tộc thiểu số, có thể thấy, về mặt khách quan, dân tộc thiểu số có những đặc điểm: về số lượng (ít, thiểu số khi so sánh với nhóm đa số cùng sinh sống trên lãnh thổ); về vị thế xã hội (là nhóm yếu thế trong xã hội thể hiện ở tiềm lực, vai trò ảnh hưởng của nhóm tới đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở lãnh thổ nơi họ sinh sống); về bản sắc (có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục, tập quán); về vị thế pháp

lý (có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi họ đang sinh sống) Về mặt chủ quan, nhóm cộng đồng có ý thức bảo tồn truyền thống văn hóa của mình15

Từ những sự phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng: “Dân tộc thiểu số

là một cộng đồng dân cư thuộc một chủng tộc hoặc quốc tịch cụ thể chiếm số

ít hơn sống trong một quốc gia hoặc vùng có nhiều người thuộc chủng tộc khác hoặc quốc tịch khác chiếm đa số”

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Lào

Nước Lào, trước đây còn gọi là Vương quốc Lạn Xạng, “Lạn” tiếng Lào

là triệu, “Xạng” là voi Được mệnh danh là Miền đất Triệu Voi, Lào nằm ở nơi giao hội của hai nền văn minh vĩ đại và hùng mạnh nhất Châu Á là Ấn Độ và Trung Hoa, người dân Lào đã hấp thụ những phong tục và tín ngưỡng của hai nền văn minh ấy để hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc của riêng mình hết sức độc đáo Do đó, Lào là quốc gia đa dạng về chủng tộc,bao gồm 49 dân tộc thuộc 149 chủng tộc khác nhau Nếu dựa trên các tiêu chí về ngôn ngữ, dân tộc

15 Lừ Văn Tuyên (2015), Quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Tạp chí

Lý luận chính trị số 10-2015

Trang 23

Lào được chia làm những nhóm chính: Nhóm dân tộc nói tiếng Mon – Khmer; nhóm dân tộc nói tiếng Palaungic; nhóm dân tộc nói tiếng Khmuic; nhóm dân tộc nói tiếng Tibeto-Burman; Nhóm dân tộc nói tiếng Hmong-Mien; nhóm dân tộc nói tiếng Lao -Tai16 Trong báo cáo về công tác dân tộc Lào năm 2015, của

Uỷ ban dân tộc Lào thì Dân tộc Lào bao gồm 49 dân tộc thuộc hơn 114 bộ tộc sinh sống trên lãnh thổ Lào với 4 nhóm ngôn ngữ chính: Nhóm dân tộc nói ngôn ngữ Lào – Tay; nhóm dân tộc nói ngôn ngữ Mon-Kmer; nhóm dân tộc nói ngôn ngữ Mong – Yao; Nhóm dân tộc nói ngôn ngữ Chin – Tibet17 Trong phương pháp nghiên cứu Lào học, để thuận tiện cho nghiên cứu dân tộc học, các nhà sử học Lào thường phân chia ra làm ba nhóm người chính là Lào Lùm (Loum), Lào Thơng và Lào Sủng cùng chung sống trên một lãnh thổ thống nhất18 Người Lào Lùm, hoặc Lào ở vùng đất thấp, chiếm đa số trong dân số - 66% - và bao gồm một số nhóm dân tộc đã bắt đầu di chuyển từ bắc vào bán đảo Đông Nam Á khoảng 1.000 năm trước Tất cả tiếng Lào Lùm nói ngôn ngữ của gia đình Tai-Kadai - ví dụ như Lào, Lue, Tai Dam (Người Đen) và Tai Deng (Người Đỏ) Nhóm người Lào Loum thích sống ở vùng thung lũng thấp và sản xuất nông nghiệp cơ bản trên lúa gạo Người Lao Thâng, hay trung du Lào, có nguồn gốc

từ Nam Dương đã di cư về phía bắc vào thời tiền sử Là người trồng lúa, họ đã phải di dời vào vùng cao bằng việc di cư của Lào Lùm và vào năm 1993 chiếm khoảng 24% dân số cả nước Sự khác biệt về văn hoá và ngôn ngữ giữa các nhóm của Lào thâng lớn hơn nhiều so với những người ở Lào Lùm hoặc Lao Sủng, hoặc ở vùng cao Lào Người Lào Sủng chiếm khoảng 10% dân số Các nhóm này là những người nói tiếng Miao-Yao hoặc Tibeto-Burmese, những người tiếp tục di cư vào Lào từ phía bắc trong vòng hai thế kỷ qua Tại Lào, các nhóm cao nguyên sống trên đỉnh hoặc trên sườn núi phía Bắc, nơi chúng trồng lúa và ngô trên đồng ruộng Một số ngôi làng đã được tái định cư tại các địa điểm đất thấp kể từ những năm 1970 Người Hmong là nhóm Lào Sủng có số

16 Xem thêm về Dân tộc Lào, tại địa chỉ: https://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ethnic_groups_in_Laos , ngày truy cập 12 tháng 06 năm 2017

17

Uỷ ban dân tộc Lào (2015), Ethnic of Lao, NXB Chính trị quốc gia Lào, trang 13

18 Phu Kham Lenin (2004), Quá trình hình thành và phát triển c a Vương quốc Lào qua các thời , Nxb.Quốc

gia, trang.191-192

Trang 24

dân đông nhất, với những ngôi làng trải dài khắp vùng cao của tất cả các tỉnh phía bắc Miên (Yao), kha, Lahu, và các nhóm khác có liên quan là số lượng nhỏ hơn đáng kể và có xu hướng nằm ở các khu vực khá giới hạn ở phía Bắc… DTTS ở Lào có số dân không đồng đều, trong đó dân tộc Lào hay Lào Lùm chiếm đa số khoảng 3,6 triệu người, có dân tộc chỉ gồm vài trăm người : rem (500 người), Chut (450 người) của nhóm Mon – Kmer, tuy vậy, với quan điểm tất cả mọi dân tộc, dù ít, dù nhiều, lịch sử hình thành sớm hay muộn hay di cư từ nhiều vùng, nhiều quốc gia khác nhau đều được thừa nhận là chủ nhân của nước Lào

bật, làm tăng cường sức mạnh nhân dân các bộ tộc Lào trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước là điều kiện cơ bản để Đảng Nhân dân cách mạng Lào

và Nhà nước Lào thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ

Thứ hai, về địa bàn cư trú: Dân cư các DTTS ở Lào phân bố không đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhưng không cư trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa số Khu vực cư trú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, ven sông Mekong, thậm chí ở đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới là địa bàn chiếm tới 2/3 lãnh thổ quốc gia và có vị trí chiến

Trang 25

lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng Đặc điểm xen kẽ giữa các dân tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để tăng cường sự hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều kiện học hỏi những tri thức mới, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc Nhưng mặt khác, đặc điểm sống xen kẽ này làm cho các dân tộc kém phát triển hơn dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc của dân tộc mình

Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Lào có trình

độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau Một số DTTS như dân tộc Khơme, Chăm, Việt Nam là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng bằng, đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển như: Viêng Chăn, Luang Pha Băng, Bolykhamsai, lại sinh sống xen kẽ với đa số người dân tộc Lào nên có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội, Một số dân tộc khác như dân tộc Arem, Aheu, Kasseng, Katu, Khmu tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu thốn hơn nhưng phần lớn đã thoát khỏi cuộc sống lạc hậu và đói nghèo Một số DTTS rất

ít người như dân tộc Jeng cư trú ở tapu, dân tộc Chut cư trú ở tỉnh Khammouane, dân tộc Tum ở Bolykhamsai lại có đời sống vật chất rất khó khăn, thiếu thốn, lạc hậu, thậm chí v n còn lối sống di canh, di cư và mới đang dần chuyển sang lối sống định canh, định cư tự cung, tự cấp Trình độ phát triển của các DTTS không đồng đều bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, cả chủ quan và khách quan, chủ yếu do tập quán văn hóa lâu đời và tư duy cố hữu, chậm thay đổi, cộng thêm vào đó là địa bàn đi lại xa xôi, khó khăn, tài nguyên tuy phong phú nhưng lại khó khai thác, đất đai sản xuất vừa thiếu vừa khô cằn, năng lực quản lý nhà nước và năng lực chuyên môn của cán bộ công tác tại vùng dân tộc phần lớn vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý, tổ chức, thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước vào thực tiễn, nhất là tại cấp cơ sở những nguyên nhân nhân này nếu không được nhìn nhận đúng đắn, giải quyết phù hợp, kịp thời sẽ làm cho đời sống của các DTTS ngày càng tụt hậu, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo giữa miền xuôi với miền ngược, giữa DTTS với dân tộc đa số, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến định hướng phát triển bền vững của Nhà nước Lào

Trang 26

Thứ tư, về bản sắc văn hóa: Các DTTS ở Lào đều có những nét riêng biệt

về văn hóa, tạo nên một nước Lào với nhiều mầu sắc phong phú, đa dạng về văn hóa, các DTTS ở Lào đều có ngôn ngữ riêng của dân tộc mình, một số ít DTTS

có chữ viết riêng, có nền văn hóa mang bản sắc riêng, thể hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày, thông qua lễ hội, Tết, thông qua trang phục từng dân tộc, phong tục tập quán trong cưới hỏi, ma chay, dỗ, thông qua tín ngưỡng thờ cúng, tâm linh

1.2 Nội dung các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu số

Như đã phân tích ở trên, quyền của các dân tộc thiểu số là một vấn đề mang tính thời sự và còn nhiều quan niệm khác nhau Do đó, việc thúc đẩy và bảo vệ quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ sẽ góp phần vào sự ổn định chính trị và xã hội của các quốc gia

Hầu như tất cả các quốc gia đều có một hoặc nhiều nhóm thiểu số sinh sống trên lãnh thổ của mình, những đặc trưng về chủng tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo của họ làm cho họ khác biệt so với phần dân cư đa số Quan hệ hoà thuận giữa các nhóm thiểu số với nhau và giữa các nhóm thiểu số với các nhóm đa số

và sự tôn trọng bản sắc của mỗi nhóm là tài sản quý báu tạo nên sự đa dạng về chủng tộc và văn hoá của xã hội loài người Điểm c, Điều 55, Hiến chương Liên

hợp quốc khuyến khích: “S t n trọng và tuân th triệt để các quyền và các t

do cơ bản c a tất cả mọi người h ng phân biệt ch ng tộc nam n , ng n ng hay t n giáo” Điều 1, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp quốc (1948) quy định: “Mọi người sinh ra t do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, c lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” Điều 2

Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Liên hợp quốc cũng quy định: “Ai cũng được hưởng nh ng quyền t do ghi trong bản Tuyên Ng n này h ng phân biệt đối xử vì bất c lý do nào, như ch ng tộc, màu da, nam n , ng n ng , t n giáo, chính iến hay quan niệm, ngu n gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất c thân trạng nào hác” Vì vậy, nội dung quy định của pháp luật quốc tế về

Trang 27

quyền của các dân tộc thiểu số phải dựa trên sự bảo vệ các quyền đặc biệt và các nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử

Trước đây, việc bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số không nhận được nhiều sự quan tâm của Liên hợp quốc như là các quyền có tính chất cấp thiết Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đã có một sự quan tâm ngày càng cao đến các vấn đề của các dân tộc thiểu số khi những căng thẳng về tôn giáo, chủng tộc, dân tộc ngày càng lớn đe doạ các cơ cấu chính trị, kinh tế, xã hội cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia Bên cạnh đó, việc đáp ứng những nhu cầu của các dân tộc thiểu số, việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số được tôn trọng phẩm giá và được bình đẳng với tất cả các dân tộc đa số và giúp đỡ họ tham gia vào quá trình phát triển chung còn góp phần làm giảm những căng thẳng, xung đột về quyền và lợi ích giữa các nhóm và các cá nhân trong xã hội Đây là những yếu tố chính nhằm bảo đảm hoà bình và sự ổn định

Mặt khác, cũng có quan niệm cho rằng, nếu như các quy định về không phân biệt đối xử được thực hiện một cách hiệu quả và nghiêm túc, thì các quy định về các quyền của các dân tộc thiểu số là không cần thiết Tuy nhiên, quan điểm này sớm chứng tỏ là không phù hợp Bởi vì, Marx và Engels cho rằng chỉ

có ở chủ nghĩa cộng sản mới tồn tại một cấu trúc kinh tế – xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập một xã hội phi nhà nước, không giai cấp, bình đẳng, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất và tài sản nói chung Chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của xã hội loài người, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản “Chủ nghĩa cộng sản thuần túy” theo Marx và Engels nói đến một xã hội không có giai cấp, không có nhà nước và không có áp bức, mà trong đó các quyết định về việc sản xuất cái gì

và theo đuổi những chính sách gì được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá trình quyết định ở cả hai mặt chính trị và kinh tế19 Chế độ xã hội chủ nghĩa là giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa cộng sản Trong giai đoạn này, những mâu thu n giữa cá nhân và xã hội v n còn tồn

19 Trần Nam Tiến (2015), “Chủ nghĩa cộng sản”, Trang điện tử Nghiên cứu quốc tế, ngày truy cập 03/06/2017

Trang 28

tại20 Do đó, người ta thấy rằng v n cần thiết phải có những biện pháp tiếp theo

để bảo vệ tốt hơn quyền của các dân tộc thiểu số khỏi sự phân biệt đối xử và để tăng cường bản sắc của họ

Sự phân biệt đối xử đã bị ngăn cấm trong một số văn kiện quốc tế liên quan; trong đó hầu hết, chứ không phải tất cả, nhằm vào các hoàn cảnh mà trong

đó những nhóm thiểu số và cá nhân thành viên của các nhóm có thể bị từ chối sự đối xử bình đẳng Phân biệt đối xử được giải thích là “áp dụng bất cứ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế hoặc thiên vị dựa trên bất kỳ cơ sở nào như về chủng tộc, màu da… ngôn ngữ, tôn giáo… dân tộc hoặc nguồn gốc xã hội… nơi sinh hoặc các yếu tố khác, với mục đích nhằm làm tổn hại hoặc vô hiệu hoá bất kỳ người nào được thừa nhận, hưởng thụ hoặc thực hiện, trên cơ sở bình đẳng, tất cả các quyền và tự do” Việc ngăn ngừa sự phân biệt đối xử đã được định nghĩa là “… ngăn ngừa bất kỳ hành động nào phủ nhận việc các cá nhân hoặc nhóm người được đối xử một cách bình đẳng” Từ sự phân tích trên, có thể thấy nội dung quyền của các dân tộc thiểu số trong các quy định của pháp luật quốc tế về sự phân biệt đối xử phải dựa trên cơ sở giới tính, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, dân tộc và nguồn gốc xã hội, vị thế, nơi sinh và các yếu tố khác

Mặc dù, quyền của các dân tộc thiểu số được cộng đồng quốc tế công nhận và đảm bảo thực hiện trong phạm vi quốc gia và trên phạm vi toàn cầu đã đạt được nhiều thành tựu Nhưng trong xu thế toàn cầu hoá, sự biến đổi khí hậu theo chiều hướng tiêu cực, sự khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên đặc biệt

là nguyên nhiên liệu hoá thạch nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người, sự chạy đua vũ trang, tình trạng khủng bố, xung đột khu vực ít nhiều có ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện các quyền của các dân tộc thiểu

số trên thế giới như là chịu sự đối xử bất công trên các phương diện chính trị, xã hội, văn hoá, kinh tế Kết quả là các quyền đặc biệt của các dân tộc thiểu số đã được quy định Cộng đồng quốc tế đề ra các biện pháp trong điều khoản bổ sung

về không phân biệt đối xử trong các văn kiện quốc tế về quyền con người

Trang 29

Về mặt lý luận, các quyền đặc biệt không phải là những đặc quyền nhưng chúng được quy định để tạo điều kiện cho các tộc người thiểu số có thể bảo tồn những bản sắc, đặc trưng và truyền thống của họ Các quyền đặc biệt chỉ quan trọng trong việc đảm bảo sự đối xử bình đẳng chỉ khi các dân tộc thiểu số có thể

sử dụng ngôn ngữ riêng của họ, được hưởng lợi ích từ những dịch vụ mà họ tự

tổ chức cũng như được tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế của quốc gia thì

họ mới có thể đạt được vị thế của những nhóm đa số Sự khác biệt trong việc đối

xử với các nhóm xã hội và các cá nhân thuộc các dân tộc thiểu số sẽ được xoá

bỏ nếu họ được bảo đảm sự bình đẳng và những lợi ích như những nhóm đa số trong cộng đồng Do đó, rất cần phải có những quy định của pháp luật quốc tế về

sự bảo vệ quan trọng cho các cá nhân thuộc các dân tộc thiểu số trong việc thụ hưởng các quyền bao gồm việc thừa nhận họ là những con người trước pháp luật, được bình đẳng trước toà án, được bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, cũng như các quyền quan trọng khác về tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do hội họp Tất nhiên, sự bình đẳng về các quyền nêu trên phải bảo đảm một sự cân bằng giữa các quyền của những người thuộc các dân tộc thiểu số được duy trì, phát triển bản sắc và những đặc trưng của họ và những nghĩa vụ tương ứng của các quốc gia đã đề cập đến việc bảo vệ

sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập về chính trị của các quốc gia

Các quyền của các dân tộc thiểu số trong quy định của pháp luật quốc tế không những chỉ gắn bó mật thiết mà còn bổ sung cho các quyền con người đã được thừa nhận rộng rãi và đã được bảo đảm trong các văn kiện quốc tế Theo

đó, nội dung các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu

số phải bao gồm: sự bảo vệ cuộc sống và những đặc trưng về dân tộc, chủng tộc, văn hoá, tôn giáo và ngôn ngữ; có quyền hưởng thụ đời sống văn hoá, thể hiện

và thực hành tín ngưỡng của riêng các dân tộc thiểu số cũng như sử dụng ngôn ngữ của riêng họ trong đời sống riêng tư cũng như công cộng; có quyền tham gia vào đời sống cộng đồng và các hoạt động văn hoá, tôn giáo, kinh tế, xã hội;

có quyền tham gia vào các quyêt định có ảnh hưởng tới họ ở cấp độ quốc gia và khu vực ; có quyền thiết lập và duy trì những tổ chức của riêng họ; có quyền

Trang 30

thiết lập và duy trì các mối quan hệ hoà bình với các thành viên khác của dân tộc

họ và với những người thuộc các dân tộc thiểu số khác, cả trong phạm vi quốc gia và ngoài biên giới quốc gia; được tự do thực hiện các quyền của họ, dưới hình thức cá nhân hay cùng với những thành viên khác trong cộng đồng, mà không bị phân biệt đối xử

Các quyền đặc biệt của các dân tộc thiểu số chỉ có thể được đảm bảo thực hiện bởi sự tận tâm thiện chí của các quốc gia Do đó, để bảo vệ và thúc đẩy các quyền của các dân tộc thiểu số, luật quốc tế cần phải bổ sung thêm các nhóm biện pháp như: tạo những điều kiện thuận lợi để giúp các dân tộc thiểu số có thể biểu hiện những đặc trưng và phát triển nền văn hoá, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán và truyền thống của họ; cho phép các dân tộc thiểu số có những cơ hội bình đẳng để học tiếng mẹ đẻ hoặc có những thiết chế để học tiếng mẹ đẻ; khuyến khích những tri thức về lịch sử, truyền thống, ngôn ngữ và văn hoá của người thiểu số hiện v n duy trì ở các vùng họ sinh sống và đảm bảo rằng các thành viên của các dân tộc thiểu số đó có các cơ hội bình đẳng trong việc tiếp nhận những tri thức chung của xã hội; cho phép họ tham gia vào tiến trình kinh

tế và phát triển của quốc gia, vùng lãnh thổ và khu vực mà họ sinh sống; xem xét những nhu cầu chính đáng của người thuộc các dân tộc thiểu số trong các chính sách và chương trình phát triển của quốc gia cũng như trong việc hoạch định và thực hiện các chương trình hợp tác và trợ giúp Nội dung của các quy định pháp luật quốc tế về việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số cũng không thể thiếu những quy định về sự hợp tác giữa các quốc gia trong các vấn

đề liên quan đến quyền và các lợi ích chính đáng của các dân tộc thiểu số Bởi

vì, thông qua việc trao đổi, giao lưu, hợp tác với các quốc gia khác mà một quốc gia có thể nắm bắt, thông tin và học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đó trong việc đảm bảo thực hiện và xây dựng pháp luật quy định về quyền của các dân tộc thiểu số

Để các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu số được đảm bảo thực hiện theo lẽ công bằng trên thực tế và không bị vi phạm tuỳ tiện từ bất cứ cá nhân, tổ chức nào đòi hỏi luật quốc tế phải có các quy định chặt

Trang 31

chẽ về những thủ tục báo cáo thực thi, thủ tục khiếu nại, tố cáo, thủ tục tố tụng Theo đó, những thủ tục báo cáo là những quy định về việc cam kết trình báo định kỳ của các quốc gia thành viên công ước về quyền con người nói chung và quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng trong việc thực hiện các nghĩa vụ của

họ, đặc biệt là trong việc chuyển hoá hệ thống pháp luật và các hoạt động lập pháp, hành pháp của quốc gia cho hài hoà với những quy định của các điều ước quốc tế và các biện pháp khác để đảm bảo thực hiện quyền con người, trong đó

có các quyền cụ thể của các dân tộc thiểu số Các thủ tục khiếu tố về những vi phạm quyền con người, bao gồm những vi phạm các quyền cụ thể của các dân tộc thiểu số cũng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những quy phạm pháp lý cho phép các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ngăn ngừa kịp thời sự phân biệt đối xử và bảo vệ quyền và lợi ích của các dân tộc thiểu số Chủ thể của những khiếu tố có thể là cá nhân hoặc nhóm là nạn nhân vi phạm; hoặc nhóm người trực tiếp chứng kiến hay có những hiểu biết đáng tin cậy về những vi phạm như vậy; hoặc các quốc gia cũng có thể khiếu tố về việc một quốc gia khác không tuân thủ đầy đủ những nghĩa vụ được quy định trong pháp luật quốc

tế mà các quốc gia cùng là thành viên

Như vậy, nội dung các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu số phải bao gồm các quy định cụ thể và rõ ràng về quyền của các dân tộc thiểu số Những quyền này bao gồm các quy định tự do cá nhân, bình đẳng, không phân biệt đối xử, và các quyền đặc biệt của người thiểu số Các quy định về quyền này cần phải được các quy định khác để tăng cường và thúc đẩy thực hiện quyền của các dân tộc thiểu số về thiết lập các cơ chế, vị trí vai trò của các tổ chức, cá nhân, sự cam kết của các quốc gia trong việc bảo vệ, giám sát việc bảo đảm các chuẩn mực về các quyền của các dân tộc thiểu số

1.3 Nội dung các quy định của pháp luật Lào về quyền của các dân tộc thiểu số

Quyền và lợi ích của các dân tộc thiểu số ở Lào đã được Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước Lào quan tâm từ rất sớm: “nhân dân các bộ tộc Lào

đã đoàn kết, chung sức, chung lòng trong kháng chiến, nay lại cùng nhau xây

Trang 32

dựng đất nước Lào tươi đẹp và phồn thịnh… Đảng và Nhà nước có trách nhiệm tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng dân tộc thiểu số”21 Từ Đại hội III năm 1982 đến Đại hội X năm 2016 của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, chính sách dân tộc đã được Đảng Nhân dân cách mạng Lào đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa VIII đã ra nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc Đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng Nhân dân cách mạng Lào về vấn đề này trong kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Nhân dân cách mạng Lào luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng Lào

Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của chủ tịch Kay sỏn Phom vi hẳn về vấn đề dân tộc, Đảng Nhân dân cách mạng

Lào đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với nội dung cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn ết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” Trải qua các thời kỳ cách

mạng, công tác dân tộc đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp cách mạng chung của đất nước Trên cơ sở đánh giá toàn diện vấn

đề dân tộc và xuất phát từ yêu cầu của tình hình mới, Nghị quyết khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Lào Lần đầu tiên, vấn đề dân tộc được xác định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài có tính xuyên suốt trong toàn bộ tiến trình phát triển của cách mạng Lào, đồng thời Đảng Nhân dân cách mạng Lào còn xác định đây là vấn đề cấp bách Đây là luận điểm rất quan trọng thể hiện tầm nhìn chiến lược và tư duy đổi mới trong bối cảnh quốc gia và quốc tế của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong thời kỳ đổi mới Tiếp đó, Nghị

21 Kay Sỏn Phom Vi Hẳn, Chính sách dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh và phồn vinh, Tạp chí điện tử Viêng Chăn times, ngày truy cập 02 tháng 06 năm 2017

Trang 33

quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào Khoá IX về công tác dân tộc đã khẳng định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay là: “Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của nhân dân các bộ tộc Lào, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước” Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong

sự nghiệp cách mạng của nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Việc xác định vị trí của vấn đề dân tộc của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trên chính là xuất phát từ đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc ở Lào và coi đó là bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển đất nước Đây là cơ sở rất quan trọng để từ đó định ra các nguyên tắc cũng như chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng và Nhà nước Lào về vấn đề dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa

và hội nhập quốc tế Lênin đã từng chỉ rõ: “những sai biệt về mặt dân tộc và quốc gia giữa các dân tộc và các nước, những sai biệt này sẽ còn tồn tại lâu dài ngay cả sau khi nền chuyên chính vô sản được thiết lập trong phạm vi toàn thế giới” Điều đó cho thấy chừng nào còn có sự khác biệt về dân tộc thì dân tộc v n tồn tại và v n còn cơ sở xã hội và thực tiễn cũng như nguy cơ tiềm ẩn mâu thu n dân tộc và xung đột dân tộc, do đó, vấn đề dân tộc v n tiếp tục đặt ra

Nghị quyết chỉ rõ, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đoàn kết các dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn để giành lại nền độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân các bộ tộc Lào Trong công cuộc đổi mới, đoàn kết các dân tộc nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, các dân tộc ở Lào được làm chủ vận mệnh của mình trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đó chính là cơ sở để Lào thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng Nhân dân cách mạng Lào

Nghị quyết cũng chỉ ra rằng, trong công cuộc xây dựng đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá để Lào trước năm 2030 cơ bản trở thành

Trang 34

nước công nghiệp phát triển, có nền kinh tế hiện đại, vị thế của Lào trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao thì trong giai đoạn này ngoài chính sách thúc đẩy đoàn kết dân tộc cần phát huy cao độ tinh thần tương trợ giúp đỡ l n nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc và được coi như là một nguyên tắc suyên suốt toàn

bộ quá trình phát triển kinh tế - xã hội: Nguyên tắc này xuất phát từ một thực tế lịch sử là sự phát triển không đều giữa các dân tộc khi Lào bắt tay vào xây dựng đất nước trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội ở Lào cho thấy, sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội như đã phân tích ở trên của bài luận văn là một đặc điểm lớn Nghị quyết phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội ở Lào đồng thời chỉ ra rằng, tương trợ giúp đỡ l n nhau là sự giúp đỡ của dân tộc này với dân tộc khác, không phải là

sự giúp đỡ một chiều Tương trợ giúp đỡ l n nhau vừa là yêu cầu, vừa là mục tiêu của sự phát triển, vì sự phát triển bền vững của cộng đồng quốc gia dân tộc

Đó cũng chính là bản chất của chính đảng vô sản Để thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước và hệ thống chính trị rất quan trọng Trong các văn kiện của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nguyên tắc tương trợ được bổ sung các thành tố tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, cùng tiến bộ Có thể coi đây là một nguyên tắc đối với vấn đề dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Lào hiện nay

Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng phân tích và chỉ ra rằng: “Bình đẳng là cơ

sở để đoàn kết, nhân dân các bộ tộc Lào đều là bộ phận hợp thành của dân tộc Lào ,đoàn kết là biểu hiện thực hiện bình đẳng và tương trợ giúp đỡ nhau là điều kiện để thực hiện bình đẳng và đoàn kết” Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở Lào

Các nội dung cơ bản trên đây chính là cơ sở để các nhà làm luật Lào thể chế hóa thành nội dung quy định pháp luật về quyền các dân tộc thiểu số và triển khai thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

Bên cạnh tính giai cấp thì nội dung các quy định của pháp luật Lào về quyền của các dân tộc thiểu số phải phản ánh đúng và phù hợp với điều kiện

Trang 35

kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số Lào: quyền được sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình, tự do tư tưởng, tôn giáo, quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc sức khoẻ, quyền được hưởng an sinh xã hội… Các dân tộc thiểu số ở Lào chủ yếu tập trung sống ở vùng cao (Lào Thâng – người Lào vùng cao) nơi có điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng còn nhiều thiếu thốn và khó khăn do đó nội dung của pháp luật về quyền của các dân tộc thiểu số phải bảo đảm quyền không phân biệt đối xử, quyền bình đẳng dân tộc, bảo đảm các quyền của các dân tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng trong việc đập tan các âm mưu “diễn biến hòa bình”, lợi dụng vấn đề dân tộc để gây rối loạn, ly khai của các thế lực thù địch Ngay từ thời dựng nước, Lào đã là quốc gia đa dân tộc, có nhiều truyền thống bản sắc văn hoá vô cùng đa dạng và phong phú Các dân tộc thiểu số ở Lào gồm 48 dân tộc ít người, chiếm khoảng gần 40% dân số cả nước So với Việt Nam (Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số) chỉ chiếm 13.8% dân số thì số lượng các dân tộc thiểu số ở Lào trên tổng số dân cả nước là tương đối lớn Theo kết quả điều tra dân số của Tổng cục thống kê Lào năm 2008, cả nước Lào có

149 nhóm thuộc 49 chủng tộc, nói 59 ngôn ngữ khác nhau Do đó, nội dung quy định của pháp luật Lào về quyền của các dân tộc thiểu số là phải đảm bảo tạo điều kiện giữ gìn bản sắc văn hoá của các dân tộc thiểu số và được Nhà nước hỗ trợ để phát triển về mọi mặt

Ngoài ra, Lào là thành viên của các công ước: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Lào gia nhập năm 2007); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 (Lào gia nhập ngày 13 tháng 05 năm 2007); Công ước về Bảo vệ và Thúc đẩy sự đa dạng của văn hóa (Lào gia nhập

25 tháng 10 năm 2007) Công ước Quốc tế về Xoá bỏ mọi hình thức Phân biệt chủng tộc (CERD) (Lào kế thừa tư cách thành viên của chính quyền cũ 1974 và trực tiếp ký kết gia nhập ngày 5 tháng 10 năm 1981); Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CED W) (Lào gia nhập ngày 14 tháng

08 năm 1981), Công ước về Quyền trẻ em (CRC) (Lào gia nhập ngày 08 tháng

05 năm 1991), Tuyên bố Nhân quyền SE N (tiếng nh: SE N Human Rights Declaration, viết tắt là HRD) là văn bản tuyên bố chung về nhân quyền

Trang 36

của các nước SE N trong khuôn khổ Hội nghị cấp cao SE N lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012 với

sự chấp thuận và ký kết của lãnh đạo 10 nước thành viên SE N trong đó có Lào… Bên cạnh các điều ước đa phương, Lào còn tham gia ký kết hiệp định song phương: Hiệp định hợp tác tiêu chuẩn cơ bản giữa UNICEF và Chính phủ Lào về quyền trẻ em (ngày 23 tháng 08 năm 1995) Có thể nói đây là mức độ cam kết rất cao của Lào về thực hiện quyền con người trong đó có quyền của các dân tộc thiểu số, kể cả so với nhiều quốc gia phát triển, thể hiện nỗ lực rất lớn của Lào trong điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn

Với việc ký kết và tham gia vào các điều ước quốc tế nêu trên và đảm bảo việc thực hiện các điều ước quốc tế có hiệu quả đòi hỏi tiến hành nội luật hoá các quy phạm của điều ước quốc tế về quyền của con người trong đó có quyền của các dân tộc thiểu số vào pháp luật trong nước của các nhà làm luật Lào Nội luật hoá là quá trình đưa nội dung các quy phạm điều ước quốc tế vào nội dung của quy phạm pháp luật trong nước thông qua việc xây dựng, ban hành (sửa đổi,

bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành mới) văn bản quy phạm pháp luật trong nước để

có nội dung pháp lý đúng với nội dung của các quy định của điểu ước đã được

ký kết hoặc gia nhập) Mục đích nội luật hoá không phải là để khẳng định hiệu lực pháp lý của điều ước bởi vì dưới góc độ pháp lý quốc tế, hiệu lực của một điều ước quốc tế nhất định không bị chi phối bởi việc nó đã được nội luật hoá hay chưa Nghĩa vụ thực hiện điều ước quốc tế có liên quan mật thiết đến vấn đề chuyển hoá (nội luật hoá) các điều ước quốc tế vào pháp luật trong nước Mục đích cơ bản của vấn đề chuyển hoá là bảo đảm thuận lợi cho việc thực hiện các điều ước quốc tế Hiện nay, pháp luật Lào chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Lào đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, qua nghiên cứu Hiến pháp, các văn bản pháp luật có liên quan (Bộ luật Dân sự, Tố tụng dân sự, Hình

sự, Luật Lao Động, Luật Quốc tịch) sẽ được phân tích ở chương 3 của luận văn, Nhà nước Lào đang từng bước thực thi tổng thể những biện pháp về cải cách thể chế, cải cách hành chính và đặc biệt là cải cách hệ thống tư pháp trong đó có

Trang 37

hoạt động xây dựng, ban hành, bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật và nội luật hoá các quy phạm điều ước quốc tế nhằm thúc đẩy việc tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của người dân về các quyền con người nói chung, quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng và nội dung các công ước quốc tế về quyền con người, quyền của các dân tộc thiểu số mà Lào là thành viên Qua đó, nhận thức

về quyền con người, quyền của các dân tộc thiểu số, về nội dung của các điều ước quốc tế về quyền con người, quyền của các dân tộc thiểu số được nâng cao

rõ rệt, kể cả đối với các cán bộ ở trung ương, địa phương cũng như của người dân

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về quyền của các dân tộc thiểu số cũng như khái niệm dân tộc, dân tộc thiểu số, đặc trưng cơ bản của các dân tộc thiểu số ở Lào Từ đó giúp cho việc làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận quyền của các dân tộc thiểu số, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng

đã trình bày nội dung các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Lào về quyền của các dân tộc thiểu số Có thể thấy rằng, trong quá trình hội nhập quốc

tế sâu rộng ngày nay, việc tham gia và thực hiện nghiêm túc các cam kết, điều ước quốc tế về quyền con người nói chung và quyền của các dân tộc thiểu số nói riêng có một ý nghĩa hết sức quan trọng, đóng góp vào việc thực hiện chủ trương nhất quán về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người nói chung và quyền các dân tộc thiểu số nói riêng, đồng thời hỗ trợ cho quan hệ của Lào với các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế, góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh của đất nước trong cộng đồng quốc tế

Trang 38

CHƯƠNG 2 QUYỀN CỦ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ THEO QUY ĐỊNH CỦ PHÁP

LUẬT QUỐC TẾ

2.1 Nguồn pháp luật quốc tế về quyền của các dân tộc thiểu số

Đến nay, cộng đồng quốc tế đã có hàng trăm văn kiện quốc tế ở cấp độ toàn cầu và khu vực về nhân quyền nói chung, trong đó có nhiều văn kiện quốc

tế ghi nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền của người DTTS Ở cấp độ toàn cầu, trong khuôn khổ LHQ, phải kể đến các văn kiện sau:

- Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (Tuyên ngôn nhân quyền, UDHR) được Đại hội đồng LHQ thông qua theo nghị quyết số 217 (II) ngày 10/12/1948 Nghị quyết đã được thông qua với 48 phiếu thuận, 0 phiếu chống và

8 phiếu trắng

UDHR là văn kiện nền tảng trong lĩnh vực nhân quyền UDHR gồm lời nói đầu và 30 điều khoản, ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, các quyền con người cơ bản được quy định và bảo vệ ở cấp độ toàn cầu Ngay tại lời nói đầu của UDHR đã công nhận rằng các phẩm giá và quyền bình đẳng của tất cả các thành viên trong gia đình nhân loại chính là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới Bên cạnh đó, UDHR cũng nhấn mạnh rằng các thành viên của LHQ cam kết thúc đẩy và tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người UDHR sẽ tác động và ảnh hưởng đến các quốc gia trong cộng đồng quốc tế trên các khía cạnh đạo đức và chính trị Bên cạnh đó, với các giá trị, chuẩn mực cơ bản được ghi nhận trong UDHR được chia sẻ bởi tất cả các thành viên của cộng đổng quốc tế UDHR còn được xem như là một phần của tập quán pháp quốc tế Lời

mở đầu, UDHR đã ghi nhận: “ Tuyên ngôn thế giới về nhân quyển là chuẩn mực chung cho tất cả các dân tộc và các quốc gia phấn đấu đạt tới " Đáng chú

ý, Điều 1 của UDHR nêu rõ cơ sở triết lý của quyền con người: Mọi người sinh

ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền Họ được phú cho lý trí và lương tri để đối xử với nhau trên tình anh em Điều 2 của UDHR quy định: Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do nêu trong Tuyên ngôn,

Trang 39

không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiện hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, nòi giống hay các tình trạng khác Hơn nữa, không được đặt ra sự phân biệt dựa trên địa vị chính trị, pháp lý hoặc quốc tế của quốc gia hoặc lãnh thổ mà một người tuỳ thuộc vào, dù đó là lãnh thổ độc lập, quản thác, không có hoặc bị hạn chế về thẩm quyền Như vậy, UDHR đã thiết lập các nguyên tắc cơ bản của Luật Nhân quyền quốc tế - Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử Những nguyên tắc này là nền tảng cho việc thực hiện các quyền và tự do cơ bản của con người được quy định trong Tuyên ngôn, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc ghi nhận và thực hiện quyền của nhóm người dễ bị tổn thương, trong

đó có DTTS

- Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước này được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết 2200 (XXI) ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 Công ước gồm 53 điều, cùng với

02 Nghị định thư về Các vấn đề khiếu nại của công dân và về Huỷ bỏ án tử hình Công ước là sự mở rộng và cụ thể hóa các quyền bắt nguồn từ UDHR (các điều

từ 1 đến 21)

Điều 1 của Công ước ghi nhận quyền tự quyết của các dân tộc "Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triền kinh tế, văn hóa và xã hội" Việc ghi nhận quyền dân tộc tự quyết ngay tại điều 1 của Công ước đã nhấn mạnh giá trị, tầm quan trọng của các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới được đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền tự quyết của mình Điểm đáng chú

ý ở quy định này là cần phân biệt quyền dân tộc tự quyết với quyền của nhóm người thiểu số (trong đó có DTTS) Quyền của nhóm người thiểu số không thuộc phạm vi của quy định này Điểm đặc biệt của ICCPR là có một điều khoản riêng quy định về quyền của người thiểu số về dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ- Điều 27: Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền

Trang 40

được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ Có thể nói rằng Điều 27 là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ các quyền nói chung của những nhóm người thiểu số trong đó chú ý các quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng như trong nhấn mạnh của Công ước

- Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 Công ước này được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết số 2200 (XXI) ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 3/1/1976 Lào gia nhập ngày 13 tháng 05 năm 2007 Công ước được chia làm 5 phần và có 31 điều khoản Công ước là văn kiện quốc tế toàn cầu đầu tiên đề cập trực tiếp đến các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội

Mặc dù không có điều khoản riêng biệt về quyền của người thiểu số như trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, ICESCR tiếp tục khẳng định việc thực hiện các quyền trong Công ước trên cơ sở nguyên tắc không có

sự phân biệt đối xử nào - Khoản 2- Điều 2: Các quốc gia thành viên cam kết bảo đảm rằng các quyền được nêu trong Công ước này sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc các địa vị khác

- Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về chủng tộc hoặc dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ năm 1992, được Đại hội đồng LHQ thông qua theo Nghị quyết 47/135, ngày 18/12/1992 Có thể thấy đây là văn kiện riêng biệt quan trọng của LHQ đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo Tuyên bố này là văn kiện không ràng buộc về mặt pháp lý đối với các quốc gia thành viên, mà chủ yếu dựa vào sự tự giác tuân thủ của các quốc gia Ngay khi thông qua Tuyên bố, LHQ đã không ngừng tăng cường phổ biến những quy định trong Tuyên bố Các tổ chức chuyên môn và các cơ quan khác trong hệ thống LHQ được khuyến khích trợ giúp việc thực hiện các quyền

đã được ghi nhận trong Tuyên bố này LHQ đã tích cực trong việc thiết lập những cơ chế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức và cơ quan

Ngày đăng: 01/04/2019, 11:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w