A. Lời nói đầu 1 B. Nội dung 2 1. Khái quát chung về học nghề theo pháp luật Việt Nam hiện hành 2 1.1. Khái niệm 2 1.2. Nội dung của hợp đồng học nghề 2 1.3. Giao kết hợp đồng học nghề 3 1.4. Thực hiện hợp đồng học nghề 4 1.5. Chấm dứt hợp đồng học nghề 4 2. Thực trạng học nghề của Việt Nam hiện nay 5 2.1. Những kết quả đạt được 5 2.2. Những điểm hạn chế và nguyên nhân 6 3. Sự cần thiết của việc gắn kết bền vững giữa các cơ sở dạy nghề và Doanh nghiệp 9 3.1. Những lợi ích cơ bản 9 3.2 Các hình thức liên kết 9 3.3. Giải pháp 10 C. Kết Luận 12 Danh mục tài liệu tham khảo: 13
Trang 1MỤC LỤC
A Lời nói đầu 1
B Nội dung 2
1 Khái quát chung về học nghề theo pháp luật Việt Nam hiện hành 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Nội dung của hợp đồng học nghề 2
1.3 Giao kết hợp đồng học nghề 3
1.4 Thực hiện hợp đồng học nghề 4
1.5 Chấm dứt hợp đồng học nghề 4
2 Thực trạng học nghề của Việt Nam hiện nay 5
2.1 Những kết quả đạt được 5
2.2 Những điểm hạn chế và nguyên nhân 6
3 Sự cần thiết của việc gắn kết bền vững giữa các cơ sở dạy nghề và Doanh nghiệp 9
3.1 Những lợi ích cơ bản 9
3.2 Các hình thức liên kết 9
3.3 Giải pháp 10
C Kết Luận 12
Danh mục tài liệu tham khảo: 13
A Lời nói đầu
Trang 2Hiện nay, hướng đi của đất nước ta chính là phát triển nền kinh tế tri thức chính vì vậy nên bằng cấp cũng được coi như một sự đảm bảo về công ăn việc làm sau này cho mỗi người Tuy nhiên cũng chính từ việc xuất phát từ ý nghĩ như vậy mà xảy ra tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” trong xã hội hiện nay Những người có trình độ chuyên môn thì không thiếu nhưng những số thợ trình
độ kỹ thuật cao thì lại đang không đủ để đáp ứng yêu cầu về nguồn lao động của
xã hội Cánh cổng trường đại học đúng là một lựa chọn tuyệt vời để các bạn có thể bước vào đời Tuy nhiên nếu chẳng may cánh cổng ấy không dành cho bạn thì bạn vẫn có những lựa chọn khác trong cuộc sống và học nghề là một trong
số đó Lựa chọn con đường học vấn phù hợp với năng lực của bản thân, điều kiện kinh tế của gia đình sẽ là bước đi đúng đắn cho bản thân mỗi người Và học nghề là cách tạo dựng những nền tảng nghề nghiệp một cách nhanh chóng
và chắc chắn nhất Thông qua bài tiểu luận này ta sẽ khái quát về thực trạng vấn
đề học nghề ở Việt Nam hiện nay Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn toàn cảnh
về việc học nghề cũng như có những định hướng cụ thể cho bản thân để phù hợp với nhu cầu xã hội
B Nội dung
1 Khái quát chung về học nghề theo pháp luật Việt Nam hiện hành
1.1 Khái niệm
Hợp đồng học nghề lao động là sự thỏa thuận về quyền lợi và nghĩa vụ giữa người đứng đầu cơ sở dạy nghề với người học nghề, hoặc giữa người sử dụng lao động với người lao động trong trường hợp học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh nghiệp
Khoản 1 điều 62 Bộ luật lao động 2012 quy định : " Hai bên phải ký kết hợp đồng đào tạo nghề trong trường hợp người lao động được đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, đào tạo lại ở trong nước hoặc nước ngoài từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử
Trang 3dụng lao động Hợp đồng đào tạo nghề phải làm thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản "
Như vậy, hợp đồng đào tạo nghề là bắt buộc trong trường hợp người lao động học nghề từ kinh phí của người sử dụng lao động, kể cả là kinh phí do đối tác tài trợ cho người sử dụng lao động
1.2 Nội dung của hợp đồng học nghề
Khoản 2 Điều 62 Bộ luật lao động 2012 quy định:
" Hợp đồng đào tạo nghề phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Nghề đào tạo;
b) Địa điểm đào tạo, thời hạn đào tạo;
c) Chi phí đào tạo;
d) Thời hạn người lao động cam kết phải làm việc cho người sử dụng lao động sau khi được đào tạo;
đ) Trách nhiệm hoàn trả chi phí đào tạo;
e) Trách nhiệm của người sử dụng lao động."
Bên cạnh đó, trong những trường hợp đặc biệt, nội dung chủ yếu của hợp đồng học nghề có sự thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế Trường hợp học nghề theo hình thức kèm cặp tại doanh nghiệp, ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, trong hợp đồng học nghề phải thỏa thuận thêm nội dung về tiền lương của người học, như: mức lương trả cho người học và thời điểm bắt đầu trả lương Khoản 2 Điều 61 Bộ luật lao động 2012: " Trong thời gian học nghề, tập nghề, nếu người học nghề, tập nghề trực tiếp hoặc tham gia lao động làm ra sản phẩm hợp quy cách, thì được người sử dụng lao động trả lương theo mức do hai bên thoả thuận." Như vậy mức lương trả cho người học nghề do hai bên thỏa thuận tùy thuộc vào mức độ làm lợi của người lao học cho doanh nghiệp, nhưng không được thấp hơn 70% mức lương cấp bậc của công việc đó
1.3 Giao kết hợp đồng học nghề
Trang 4Điều kiện chủ thể giao kết hợp đồng học nghề:
+ Đối với người học nghề:
Thông thường người học nghề phải từ 14 tuổi trở lên, có đủ sức khỏe đáp ứng yêu cầu của nghề theo học Trong trường hợp người sử dụng lao động tuyển người vào học nghề, tập nghề để làm việc cho mình, thì người học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề Tuy nhiên, ở một số ngành nghề nhất định, theo danh mục do nhà nước quy định, tuổi học nghề có thể dưới 14
Bên cạnh điều kiện trên, trong một số trường hợp cụ thể có phạm vi cấm được đặt ra cho người học nghề Ví dụ: người bị nhiễm HIV/AIDS không được tham gia học nghề có khả năng lây nhiễm cho người khác nhắm bảo về sức khỏe người học nghề, người dạy nghề và lợi ích chung của xã hội
+ Đối với cơ sở dạy nghề:
Các cơ sở dạy nghề được phép thành lập khi đáp ứng các điều kiện nhất định, bao gồm: điều kiện nội dung và điều kiện thủ tục Điều kiện nội dung bao gồm: có trường sở, khả năng tài chính, thiết bị dạy lí thuyết, thực hành phù hợp với nghề, trình độ và quy mô đào tạo; có đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đủ số lượng, Điều kiện về thủ tục được thể hiện ở việc thành lập, đăng ký hoạt động của cơ sở theo quy định của pháp luật
Riêng đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ khác ( không thành lập trung tâm dạy nghề ) khi tiến hành các hoạt động dạy nghề sẽ dễ dàng được chấp nhận với những điều kiện linh hoạt
Nguyên tắc giao kết hợp đồng:
Giống như các hợp đồng khác, việc giao kết hợp đồng học nghề phải tuân thủ theo đúng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và không trái pháp luật
Trình tự giao kết hợp đồng:
Trang 5Quá trình giao kết hợp đồng học nghề thường diễn ra theo 3 bước: Đề nghị giao kết hợp đồng, thỏa thuận các nội dụng liên quan đến hợp đồng, giao kết hợp đồng
1.4 Thực hiện hợp đồng học nghề
Các bên thực hiện hợp đồng học nghề theo đúng quyền lời và nghĩa vụ đã giao kết Không được vi phạm hay làm trái, hợp đồng học nghề này chịu sự ràn buộc của các quy phạm pháp luật, đảm bảo hợp đồng được thực hiện đúng như các bên đã giao kết
1.5 Chấm dứt hợp đồng học nghề
Hợp đồng học nghề có thể chấm dứt trong các trường hợp: hết hạn hợp đồng, khóa học kết thúc, người học nghề đi thực hiện nghĩa vụ quân sự, hai bên cùng thảo thuận chấm dứt hợp đồng hoặc một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng Khi hợp đồng học nghề chấm dứt, cần xác định quyền lợi và trách nhiệm các bên (phụ thuộc chủ yếu vào việc chấm dứt hợp đồng là hợp pháp hay trái pháp luật)
2 Thực trạng học nghề của Việt Nam hiện nay
2.1 Những kết quả đạt được
Thứ nhất, về mạng lưới cơ sở dạy nghề: Nhìn chung, hệ thống cơ sở dạy
nghề công lập từng bước được nâng cấp và tăng dần về quy mô và chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao động theo các cấp trình độ đào tạo Tính đến hết năm 2015 cả nước có 1.467 cơ sở dạy nghề, gồm 190 trường Cao đẳng nghề, 280 trường Trung cấp nghề, 997 Trung tâm dạy nghề và hơn
1000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề, tăng 3,5% so với năm 2010 Đã có 45 trường công lập được lựa chọn để ưu tiên, tập trung đầu tư thành trường chất lượng cao vào năm 2020, đồng thời Bộ đã phê duyệt quy hoạch 26 nghề cấp độ quốc tế, 34 nghề cấp độ ASEAN và hơn 130 nghề cấp độ quốc gia
Trang 6Thứ hai, Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề: Nhìn chung, các
giáo viên và người tham gia dạy nghề cơ bản đảm bảo về chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm dạy nghề
Thứ ba, Số lượng học viên không ngừng tăng lên: Cùng với sự phát triển
các cơ sở dạy nghề, số lượng học viên học nghề cũng không ngừng tăng lên Kết quả tuyển sinh học nghề trong 5 năm (2011 - 2015) được 9.171.371 người, trong đó Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề chiếm 12,2 %; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng chiếm 87,8 % Năm 2015, tuyển sinh đạt được 1.979.199 người, trong đó Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề chiếm 10,6 % Tỷ lệ này giảm 4,7 % so với năm 2014 Mặc dù kết quả tuyển sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 chưa đạt mục tiêu Chiến lược phát triển dạy nghề đề ra, song kết quả tuyển sinh của giai đoạn này tăng 18% so với giai đoạn 2006 - 2010 (tăng 7.773.887 người)
Thứ tư, Chất lượng học viên sau đào tạo nghê: Theo báo cáo của 63
tỉnh/thành phố, năm 2015, tỷ lệ học sinh học nghề tốt nghiệp có việc làm đạt khoảng 70% Nhiều trường có những nghề trên 90% học viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp Một số nghề có số lượng học viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp chiếm tỷ lệ cao (đối với các nghề có số lượng học viên tốt nghiệp lớn hơn 500 người) như: Kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò (94%), Kỹ thuật cơ điện mỏ hầm lò (94%), Hàn (91%), Công nghệ dệt (87%), Công nghệ hóa nhuộm (85%);
Kỹ thuật xây dựng (86%), Lâm sinh (82%); May thời trang (81%), Kỹ thuật dược (81%); Nguội sửa chữa máy công cụ (79%); Nghiệp vụ nhà hàng (77%) Nói chung, chất lượng đào tạo nghề cho các khu công nghiệp nói riêng từ bước được nâng lên, thể hiện qua kết quả tốt nghiệp và tìm được việc làm sau đào tạo
2.2 Những điểm hạn chế và nguyên nhân
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định nhưng chất lượng nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn tụt hậu so với nhiều nước trong khu vực, mất cân đối
Trang 7nghiêm trọng về trình độ đào tạo, cơ cấu và giới; tình trạng thất nghiệp của lao động có bằng cấp cao ngày càng nhiều
Thứ nhất, chất lượng lao động còn yếu kém: Việt Nam đang trong quá
trình thực hiện chiến lược phát triển đất nước, từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và tăng cường sức cạnh tranh, nên đòi hỏi chất lượng lao động phải cao với một cơ cấu hợp lý hơn Trong khi đó, công tác đào tạo nghề vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, nhu cầu của các thành phần kinh tế để có thể sẵn sàng tham gia hội nhập Hằng năm, mặc dù với hơn 1 triệu lao động trẻ
ra nhập thị trường lao động, nhưng công tác đào tạo vẫn tồn tại nhiều yếu kém kéo dài, dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực vẫn không được cải thiện đáng kể, nhiều nghề xã hội có nhu cầu nhưng ít người học Tỷ lệ thất nghiệp của lao động qua đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng vẫn tiếp tục gia tăng Tỷ lệ lao động
có chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu xã hội, nhất là đối với các KCN, KCX thấp
Thứ hai, công tác phân luồng học sinh sau trung học nhiều năm qua vẫn
yếu kém, chưa khắc phục được tâm lý sính bằng cấp, coi nhẹ học nghề trong xã hội; các trường đại học cao đẳng tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, “vét” hầu hết học sinh sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, làm cạn kiệt nguồn tuyển sinh học nghề Tình trạng thiếu hụt giáo viên dạy nghề có khả năng dạy cả lý thuyết và thực hành vẫn phổ biến tại hầu hết các cơ sở dạy nghề, nhiều trường không tuyển sinh được nên số giáo viên dôi dư khá nhiều Thiết bị dạy nghề thiếu, lỗi thời, thậm trí không sử dụng được trong đào tạo thực hành Chất lượng đào tạo trong nhiều cơ sở dạy nghề thấp, không đáp ứng yêu cầu các doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động phải đào tạo lại gây tốn kém và lãng phí cho xã hội và người dân
Thứ ba, công tác dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển
kinh tế - xã hội chưa tốt, chưa sát với nhu cầu nhân lực ở từng lĩnh vực, ngành,
Trang 8các khu vực kinh tế và các địa phương; việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo thiếu tính khoa học
Thứ tư, hệ thống giáo dục chưa thống nhất, chia cắt đã kéo dài nhiều năm
nhưng chưa được giải quyết Quy mô phát triển quá nóng, dẫn đến tình trạng 5 năm gần đây không đủ nguồn tuyển vào các trường, nhiều cơ sở đào tạo nghề không có người học
Thứ năm, thiếu tính liên thông trong hệ thống giáo dục và đào tạo cũng
như trong việc công nhận trình độ; chưa có sự gắn kết hai chiều giữa các cơ sở đào tạo với các KCN, KCX; giữa các cơ sở đào tạo nghề với các trường phổ thông; giữa giảng dạy và nghiên cứu, phục vụ sản xuất; giữa các cơ sở đào tạo với nhau
Thứ sáu, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất còn rất nhiều hạn chế, yếu kém
không theo kịp yêu cầu của thực tế Số lượng các chương trình mới còn quá ít, nhất là những chương trình đạt chuẩn khu vực và thế giới; nhiều trường vẫn dạy theo chương trình cũ chưa cập nhật kiến thức, nên không đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp
Thứ bảy, năng lực của các cơ quan quản lý còn yếu kém, thiếu cơ chế
tương tác giữa các cơ quan có chức năng kiểm soát, đánh giá, thẩm định chất lượng với các cơ sở đào tạo Công tác và cơ chế quản lý còn nhiều vướng mắc, thiếu đồng bộ, chia cắt Chưa kiên quyết đóng cửa các cơ sở đào tạo yếu kém và
vi phạm nghiêm trọng các quy định trong đào tạo
Thứ tám, chưa có cơ chế và cơ quan chuyên trách kiểm định chất đào tạo,
cấp giấy phép hành nghề cho lao động qua đào tạo, làm cho thị trường lao động hoạt động thiếu lành mạnh và khó kiểm soát chất lượng đào tạo Chưa có khung trình độ quốc gia theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế để yêu cầu các cơ sở đào tạo phải từng bước thực hiện
Trang 9Thứ chín, chính sách tài chính đối với công tác đào tạo lạc hậu, kém hiệu
quả, lãng phí, không tạo được môi trường cạnh tranh lành mạnh thúc đẩy các cơ
sở đào tạo phải đổi mới toàn diện, mạnh mẽ để đáp ứng yêu cầu và nhu cầu của
xã hội
Thứ mười, vai trò và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn trong việc bảo
đảm quyền và nghĩa vụ của người lao động ở một số KCN, KCX còn hạn chế, yếu kém, chưa thực sự bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của công nhân, dẫn đến đời sống vật chất và tinh thần, việc làm của công nhân gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, quan hệ lao động trong các doanh nghiệp nảy sinh những vấn đề phức tạp
Tất cả những yếu kém, bất cập nêu trên dẫn đến tỷ lệ học sinh được đào tạo nghề vẫn còn thấp, chất lượng đào tạo nghề không bảo đảm, tỷ lệ thất nghiệp cao Chất lượng lao động trong các KCN, KCX vẫ còn thấp và bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém
3 Sự cần thiết của việc gắn kết bền vững giữa các cơ sở dạy nghề và Doanh nghiệp
3.1 Những lợi ích cơ bản
Thứ nhất, đối với nhà trường (NT) NT được tổ chức tuyển dụng tư vấn về
việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương trình đào tạo Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho người học Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chung Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời điểm hiện tại và tương lai NT nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú cho người học, từ đó nâng cao uy tín của NT trước những yêu cầu của thhị trường lao động đa dạng và luôn biến động NT tạo được tiếng vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối liên kết bền
Trang 10vững giữa NT và DN NT có thể tăng cường tính tự chủ về nguồn tài chính cũng như cơ sở vật chất ở hiện tại và tương lai
Thứ hai, đối với doanh nghiệp (DN) DN luôn yên tâm có một đội ngũ
nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu Đồng thời DN ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì qua thời gian thực tập chính là thời gian sinh viên thể hiện năng lực, DN đánh giá khả năng, năng lực, phẩm chất của sinh viên Nói cách khác là DN có thêm quyền và cơ hội lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được bài toán nan giải về nhân lực Được phép đánh giá chất lượng đào tạo (phát huy mặt mạnh khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của NT
3.2 Các hình thức liên kết
Trong thời gian qua công tác đào tạo nghề đã bước đầu có sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong dạy nghề Người học nghề được học những nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp Các kiến thức và kỹ năng nghề mà người học tiếp thu được đáp ứng được lợi ích của cả người học và người sử dụng lao động Người học nghề ngoài việc học lý thuyết nghề, được thực tập ngay trên các máy móc, thiết bị đang sử dụng tại doanh nghiệp, do đó
có thể vận dụng được những kiến thức đã học, đồng thời nâng cao được kỹ năng nghề Việc liên kết đào tạo này đã làm tăng mối quan hệ hiểu biết giữa nhà trường và doanh nghiệp Cơ sở đào tạo tiết kiệm được chi phí đầu tư cho việc mua sắm trang thiết bị dạy thực hành và người học có thể tiếp thu bài học nhanh hơn Về phía doanh nghiệp có thể sử dụng được ngay lực lượng lao động này sau khi tốt nghiệp
Việc doanh nghiệp tổ chức đào tạo - dạy nghề cho lao động dưới các hình thức khác nhau đang ngày càng trở nên phổ biến và có tác dụng tích cực nâng cao trình độ tay nghề và chất lượng lao động Các doanh nghiệp tổ chức dạy