Lời nói đầu 0 NỘI DUNG 1 1. Cơ sở lý luận 1 1.1. Người biểu diễn, cuộc biểu diễn 1 1.2. Mục đích và ý nghĩa của việc bảo hộ quyền của người biểu diễn 2 1.3. Pháp luật quốc tế quy định về quyền của người biểu diễn 4 2. Cơ sở pháp lý 8 2.1. Khái niệm về quyền của người biểu diễn 8 2.2. Đặc điểm quyền của người biểu diễn 9 2.3. Nội dung quyền của người biểu diễn 10 2.4. Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn 15 3. Thực trạng việc bảo hộ quyền của người biểu diễn và định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn 16 3.1. Thực trạng việc bảo hộ quyền của người biểu diễn 16 3.2. Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn 18 KẾT LUẬN 19 Danh mục tài liệu tham khảo 20
Trang 1MỤC LỤC
Lời nói đầu 0
NỘI DUNG 1
1 Cơ sở lý luận 1
1.1 Người biểu diễn, cuộc biểu diễn 1
1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc bảo hộ quyền của người biểu diễn 2
1.3 Pháp luật quốc tế quy định về quyền của người biểu diễn 4
2 Cơ sở pháp lý 8
2.1 Khái niệm về quyền của người biểu diễn 8
2.2 Đặc điểm quyền của người biểu diễn 9
2.3 Nội dung quyền của người biểu diễn 10
2.4 Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn 15
3 Thực trạng việc bảo hộ quyền của người biểu diễn và định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn 16
3.1 Thực trạng việc bảo hộ quyền của người biểu diễn 16
3.2 Định hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền của người biểu diễn 18
KẾT LUẬN 19
Danh mục tài liệu tham khảo 20
Trang 2Lời nói đầu
Trong thời đại ngày nay, nhu cầu vật chất càng được đáp ứng thì nhu cầutinh thần càng được đề cao Các tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tạo rabởi trí tuệ, tâm huyết, sức sáng tạo của mỗi tác giả để đem đến cho cộng đồngmột giá trị nào đó nhằm mục đích chính phục vụ nhu cầu tinh thần của conngười Đa số các tác phẩm muốn đến được với công chúng thì cần có nhữngngười biểu diễn, thể hiện loại hình tác phẩm đó trong các cuộc biểu diễn Quyềncủa người biểu diễn là một trong những quyền liên quan đến quyền tác giả đãđược pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam thừa nhận và bảo hộ sớm hơn so với cácđối tượng sở hữu trí tuệ khác Thực tế có không ít hành vi lợi dụng nhằm kiếmlợi bất chính cho bản thân đồng thời đã xâm phạm tới quyền của người biểudiễn Các quy định pháp luật về bảo hộ quyền của người biểu diễn hiện hành cónhững ưu điểm, hạn chế và cần có những định hướng hoàn thiện gì đê đảm bảoquyền lợi cho những người biểu diễn? Bài tiểu luận sau đây xin được đi sâu vào
nghiên cứu đề tài số 07 “Quyền của người biểu diễn theo quy định của Luật
sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và định hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật” Trong quá trình tìm hiểu, phân tích bài tiểu
luận của em khó tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết nhất định rất mongnhận được ý kiến đóng góp từ phía thầy cô để bài tiểu luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Người biểu diễn, cuộc biểu diễn
Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học có số lượng khổng lồ luônluôn đa dạng về cả nội dung và hình thức thể hiện Mỗi tác phẩm đều có mộtcách thức riêng để đến với đông đảo công chúng Có những tác phẩm được công
bố, phát hành mà cộng đồng có thể trực tiếp tiếp cận nhanh chóng như đọc mộtquyển sách, một bài báo, nhìn ngắm một bức tranh, một bức tượng điêu khắc.Cũng có rất nhiều tác phẩm đến với công đồng thông qua người biểu diễn với sựcảm thụ và thể hiện sáng tạo của riêng mình và khiến tác phẩm đó trở nên vôcùng sinh động, có sức truyền thụ mạnh mẽ và lâu dài hơn Chính vì vậy, dù cáchình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn khôngngừng gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển
Người biểu diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá,lưu giữ và phát triển các tác phẩm có giá trị Mỗi người biểu diễn có phong cáchriêng và sức sáng tạo độc đáo khác biệt vì thế càng làm cho tác phẩm bước lênmột nấc thang giá trị mới tạo nên sự đa dạng, phong phú, hấp dẫn Có thể hiểumột cách khái quát người biểu diễn là một cá nhân, một nhóm người hoặc tổchức thể hiện một tác phẩm nào đó với cảm xúc, phong cách, sức sáng tạo riêng
để truyền đạt nội dung, giá trị của tác phẩm đến công chúng Với sự đa dạng củacác loại hình tác phẩm văn học nghệ thuật thì các loại người biểu diễn cũng đadạng, phong phú không kém Họ thường được gọi chung là nghệ sĩ, bao gồm ca
sĩ, vũ công, diễn viên, nhạc công, danh hài,
Cuộc biểu diễn là nơi mà người biểu diễn thể hiện tác phẩm đó Cuộc biểudiễn có thể có quy mô nhỏ là một tiết mục, một phần, một trích đoạn hoặc cóquy mô lớn như một buổi biểu diễn, một liveshow, một concert Quy mô và tínhchất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người biểu diễn Cuộc biểudiễn có thể chỉ đơn giản có một người chơi một bản nhạc độc tấu, cũng có thể córất nhiều người cùng hợp xướng một bài hát, cùng tham gia một bộ phim, một
Trang 4vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn Để thực hiện một cuộc biểu diễnlớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ nhữngngười trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và
về nguyên tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn đó
1.2 Mục đích và ý nghĩa của việc bảo hộ quyền của người biểu diễn
Không khó để nhận ra người biểu diễn đã đóng góp không nhỏ sức sáng tạotrong quá trình biểu diễn các tác phẩm, mang các tác phẩm đến gần công chúnghơn và tạo cho chúng sức hút riêng biệt, độc đáo Vì vậy các công ước quốc tế,cũng như luật pháp các quốc gia đã thừa nhận và bảo hộ quyền của người biểudiễn
Quyền của người biểu diễn là một trong số những quyền liên quan đượcpháp luật công nhận và bảo hộ Việc bảo hộ các quyền của người biểu diễn cómục đích và ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân người biểu diễn nói riêng và đốivới xã hội nói chung Một mặt, việc bảo hộ quyền của người biểu diễn sẽ thúcđẩy sức sáng tạo, tâm huyết, nỗ lực cho họ không ngừng tạo ra những giá trị chocộng đồng, mặt khác ngăn chặn những hành vi xâm hại đến quyền lợi cơ bảncủa họ Bên cạnh đó, có cơ chế pháp lý rõ ràng và hoàn thiện sẽ tạo điều kiệncho xã hội phát triển văn minh, lành mạnh, phòng ngừa sự bất ổn kinh tế dẫnđến bất ổn an ninh chính trị
Sự phát triển của việc ghi âm, ghi hình đã dần trở thành ngành công nghiệpghi âm, ghi hình, ngành công nghiệp điện ảnh tiên tiến với mức doanh thu hàngnăm lên tới hàng tỷ đô la Đặc biệt gần đây với “cơn lốc” Internet quét qua mọingóc ngách của Trái Đất thì đã góp phần lớn giúp người biểu diễn định hình, saochép và truyền phát cuộc biểu diễn của mình tới đông đảo công chúng, thậm chítoàn cầu một cách nhanh chóng hơn Nhưng, cũng chính những bản sao cuộcbiểu diễn đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng kiểm soát công chúng tiếpcận với cuộc biểu diễn Nếu như đối với buổi biểu diễn trực tiếp chỉ cần thôngqua kiểm soát vé vào cửa là có thể khống chế được lượng khán gải và cách thức
họ tiếp cận buổi biểu diễn, thì nay với vô số bản sao băng từ hay bản lưu dưới
Trang 5dạng điện tử, khả năng kiểm soát và khống chế các cá nhân, tổ chức tiếp cận, sửdụng và khai thác cuộc biểu diễn của người biểu diễn bị thu nhỏ, khả năng thụhưởng thù lao, thu hồi chi phí và đầu tư cho cuộc biểu diễn bị đe doạ
Có thể thấy trên thực tế đã xảy ra không ít những trường hợp như trên Đơn
cử như ca sĩ A tổ chức một liveshow nhỏ nhằm kỷ niệm 10 năm ca hát Nhưng
số lượng vé hạn chế đồng thời giá vé cao vì thế mà rất nhiều người muốn xembuổi liveshow đó đã không có cơ hội trực tiếp xem buổi biểu diễn Vì vậy, đã cónhững người vào được bên trong và quay lại cuộc biểu diễn và phát tán ra bênngoài Nếu ban tổ chức và ca sĩ đó đồng ý thì không có vấn đề gì Tuy nhiên, đaphần không đơn vị tổ chức nào muốn xảy ra trường hợp này vì nó ảnh hưởngnghiêm trọng đến việc kinh phí họ đầu tư và chi phí họ mong muốn thu lại Vìvậy yêu cầu bảo hộ quyền của người biểu diễn càng trở nên bức thiết Trong đó,
ca sĩ người Mỹ Beyonce đã đi tiên phong trong việc yêu cầu người hâm mộ củamình đến xem buổi biểu diễn không sử dụng bất kỳ phương tiện ghi âm, ghihình nào, tắt điện thoại, camera
Hơn nữa, việc bảo hộ quyền liên quan, trong đó có quyền của người biểudiễn, góp phần củng cố và hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền tác giả Khi quyềncủa người biểu diễn được bảo hộ, người biểu diễn nhận được thù lao tương xứngvới công sức đã bỏ ra trong quá trình thể hiện, truyền bá tác phẩm sẽ càng nỗ lựctruyền tải các sản phẩm sáng tạo của các tác giả, nâng cao giá trị của các tácphẩm Đồng thời khi biểu diễn các tác phẩm, người biểu diễn trước tiên phảituân thủ các nghĩa vụ xin phép và trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy địnhcủa pháp luật, khi đó tác giả được thụ hưởng các quyền mà pháp luật cho phép.1
1.3 Pháp luật quốc tế quy định về quyền của người biểu diễn
1.3.1 Công ước Rome 1961
Công ước Rome năm 1961 là công ước quốc tế đầu tiên về bảo hộ quyềnliên quan Sau đó các hiệp định khác đã ra đời để bảo hộ từng đối tượng củaquyền liên quan, trong đó có Hiệp định về cuộc biểu diễn và bản ghi âm WIPO
11 Hoàng Hoa, Quyền của người biểu diễn, theo trang web http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?
option=com_content&view=article&id=872&catid=51&Itemid=107
Trang 6(WPPT) ra đời năm 1996 Việt Nam có tư cách thành viên của công ước này từngày 01/3/2007 Công ước Rome là cơ sở cho việc xây dựng các quy định phápluật về bảo hệ quyền liên quan của rất nhiều các quốc gia, trong đó có cả ViệtNam.
Tại Điều 3 Công ước Rome đã định nghĩa : “người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người khác đóng vai diễn, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc thể hiện các tác phẩm văn học và nghệ thuật” Có thể
thấy định nghĩa này mang tính liệt kê đã bao hàm rất nhiều chủ thể có thể làngười trực tiếp thể hiện một tác phẩm để trở thành người biểu diễn Tùy từngloại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật mà có đối tượng chủ thể biểu diễn riêngnhư bản nhạc, bài hát thì là ca sĩ, nhạc công, kịch bản thì là diễn viên,
Trên tinh thần bảo hộ mọi cuộc biểu diễn, một khi chúng được tổ chức haydiễn ra trong thực tế, đặc biệt gắn với tính chất “động” thể hiện rõ trong hoạtđộng của người biểu diễn, Điều 4 Công ước Rome nói về đối xử quốc gia dànhcho người biểu diễn giữa các nước thành viên không nói về tiêu chí quốc tịch,chỉ nói về tiêu chí địa điểm hay không gian biểu diễn – để yêu cầu mỗi nướcthành viên dành sự đối xử quốc gia cho người biểu diễn khi khi cuộc biểu diễncủa họ diễn ra ở một nước thành viên khác.2
Điều 4 Các buổi biểu diễn được bảo hộ Các tiêu chuẩn gắn với người biểudiễn:
“Mọi nước ký kết đều dành sự đối xử quốc gia cho những người biểu diễn, nếu bất kỳ một trong các điều kiện sau đây được đáp ứng:
a) Buổi biểu diễn được thực hiện trong một nước thành viên khác.
b) Buổi biểu diễn được định hình vào một bản ghi âm, mà bản ghi âm đó được bảo hộ theo Điều 5 của Công ước này.
c) Buổi biểu diễn không được định hình vào một bản ghi âm nhưng lại được phát trong một buổi phát sóng được bảo hộ theo Điều 6 của Công ước này.”
22 Kiều Thị Thanh, Sách chuyên khảo “Hội nhập quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam”, Nxb.
Chính trị-Hành chính, Hà Nội, 2013, tr.124.
Trang 7Từ đó, tại Điều 7 của Công ước Rome đã quy định về Bảo hộ tối thiểu dành cho người biểu diễn bao gồm quyền ngăn cấm việc phát sóng hoặc truyền phát
tới công chúng, định hình buổi biểu diễn chưa được định hình, sao chép bản ghibuổi biểu diễn mà không có thoả thuận
1.3.2 Hiệp định về cuộc biểu diễn và bản ghi âm WIPO (WPPT) 1996
Tại Điều 2 của Hiệp định WPPT một lần nữa nêu lên định nghĩa về người
biểu diễn cũng bằng cách thức liệt kê các chủ thể: “là diễn viên, ca sĩ, nhạc
công, vũ công, và những người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, thể hiện, diễn xuất hoặc biểu diễn khác các tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật hoặc những thể hiện tác phẩm văn học dân gian” Định nghĩa này nêu cụ thể hơn định nghĩa tại
Điều 3 Công ước Rome Tuy nhiên, nếu hiểu tác phẩm văn học dân gian là mộtloại thuộc tác phẩm văn học nghệ thuật thì định nghĩa này có nêu thừa?
Là chủ thể của quyền liên quan, người biểu diễn có thể là chủ sở hữu đốivới cuộc biểu diễn nếu họ tự đứng ra tổ chức cuộc biểu diễn đó Họ có đầy đủcác quyền nhân thân và quyền tài sản mà tại Hiệp định WPPT quy định là quyềntinh thần tại Điều 5, quyền kinh tế tại Điều 6 Người biểu diễn có 4 quyền kinh
tế độc quyền, gồm quyền làm bản sao; quyền phân phối; quyền cho thuê; quyềncung ứng Quyền làm bản sao là quyền cho phép sao chép trực tiếp hoặc saochép gián tiếp bản ghi âm dưới bất kì phương thức hoặc hình thức nào Quyềnphân phối là quyền cho phép cung cấp cho công chúng bản gốc hoặc bản sao củabản ghi âm, thông qua việc bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu khác Quyềncho thuê là quyền cho thuê thương mại công cộng bản gốc hoặc bản sao của bảnghi âm được xác định theo luật quốc gia Quyền cung cấp là quyền cho phépphân phối công cộng, thông qua phương tiện phát sóng, truyền cáp hoặc theocách thức mà công chúng có thể tiếp cận tại bất kì địa điểm, thời gian do họ lựachọn Quyền này bao hàm cả việc cung cấp qua mạng Internet
Hiệp ước còn quy định 3 quyền kinh tế độc quyền của người biểu diễn đốivới cuộc biểu diễn phi định hình sống, gồm: quyền phát sóng trừ trường hợp tái
Trang 8phát sóng; quyền truyền thông công cộng, trừ biểu diễn để phát sóng; quyềnđịnh hình Hiệp ước còn quy định quyền tinh thần của người biểu diễn; quyềnđòi được xác định là người biểu diễn và quyền phản đối bất kì sự cắt xén, bópméo hoặc sửa đổi khác có thể phương hại tới uy tín của người biểu diễn.
Tại Khoản 1 Điều 17 quy định về Thời hạn bảo hộ: “Thời hạn bảo hộ dành cho người biểu diễn theo Hiệp ước này kéo dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 50 năm, tính từ khi kết thúc năm mà buổi biểu diễn đã được định hình trong bản ghi âm.” Trong khi đó, Công ước Rome quy định thời hạn bảo hộ phải kéo
dài ít nhất cho đến khi kết thúc thời hạn 20 năm, tính từ khi kết thúc năm cuộcbiểu diễn được định hình (trường hợp cuộc biểu diễn không được định hình thìtính từ khi nó được tiến hành)
1.3.3 Pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới về quyền của người biểu diễn
Trên phương diện pháp lý các quốc gia, trước khi công ước Rome được kýkết các nước Anh, Australia, Hoa kỳ và một số nước khác bảo vệ quyền lợi củanhà sản xuất bản ghi âm dựa vào quy dựa vào quy định của luật bản quyền vàsau đó áp dụng quy tắc này để bảo vệ quyền lợi của người biểu diễn, do cuộcbiểu diễn của họ thường được định hình thông qua sản phẩm của nhà sản xuấtbản ghi âm Trong khi đó tại các nước như Pháp, Đức và nhiều nước châu Âukhác bảo vệ quyền lợi của chủ thể này theo chế độ quyền kề cận với, hay liênquan đến quyền tác giả dựa trên cơ sở lập luận rằng về cơ bản các sản phẩm củacác chủ thể này không phải là sáng tạo cá nhân mà là sự kết hợp giữa việc sửdụng tác phẩm văn học nghệ thuật của tác giả với phương tiện kỹ thuật, do vậy
sự bảo hộ dành cho các đầu tư của họ phải đồng thời đảm bảo tôn trọng cácquyền của tác giả
Giống như mọi khái niệm pháp lý, khái niệm người biểu diễn không chỉbiến đổi theo thời gian mà còn có những khác biệt theo phạm vi lãnh thổ Phápluật các nước tùy thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ năng lập pháp
đã có những điều chỉnh trong việc đưa ra khái niệm người biểu diễn và cuộcbiểu diễn, cũng như điều kiện để được bảo hộ quyền của người biểu diễn
Trang 9Một số nước đã coi cuộc biểu diễn là một sản phẩm sáng tạo độc lập vàngười biểu diễn hưởng các quyền riêng biệt Ví dụ, Luật Bản quyền, Thiết kế và
sáng chế năm 1988 của Anh quy định Quyền của người biểu diễn: “độc lập với bất cứ quyền tác giả, quyền nhân thân đối với tác phẩm được biểu diễn hay bất
kỳ bộ phim, bản ghi âm, chương trình phát sóng hoặc chương trình cáp nào có trong buổi biểu diễn và bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào khác ” Luật Bản quyền
Đài Loan cũng khẳng định người biểu diễn trình diễn tác phẩm hoặc các thể hiệndân gian được bảo hộ độc lập Việc bảo hộ quyền của người biểu diễn khôngảnh hưởng đến quyền tác giả của tác phẩm gốc Trong khi nhiều nước khác nhậnđịnh người biểu diễn chỉ đơn thuần trình diễn lại tác phẩm, mức độ sáng tạo thấphơn so với các tác phẩm thông thường, do đó cho người biểu diễn được hưởngquyền đối với buổi biểu diễn của mình ở cấp độ thấp hơn dưới dạng quyền liênquan.3
2 Cơ sở pháp lý
2.1 Khái niệm về quyền của người biểu diễn
Trên cơ sở khái niệm người biểu diễn của Công ước Rome, Điều 16 Luật
Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 (sau đây viết tắt là Luật SHTT) liệt kêcác tổ chức, cá nhân được bảo hộ quyền liên quan theo pháp luật Việt Nam,
trong đó quy định trực tiếp người biểu diễn gồm: “diễn viên, ca sĩ, nhạc công,
vũ công và những người khác trình bày tác phẩm văn học, nghệ thuật” Trong
đó nếu người biểu diễn tự mình đầu tư tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật đểthực hiện cuộc biểu diễn thì họ là người biểu diễn đồng thời là chủ sở hữu quyềnliên quan đối với cuộc biểu diễn đó Nếu do người khác đầu tư tài chính, cơ sởvật chất kỹ thuật để thực hiện cuộc biểu diễn đó thì chủ sở hữu quyền liên quan
là tổ chức, cá nhân đầu tư 4
Tại Khoản 3 Điều 4 Luật SHTT đưa ra khái niệm: “ Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân
33 Hoàng Hoa, Quyền của người biểu diễn, theo trang web http://www.cov.gov.vn/cbq/index.php?
option=com_content&view=article&id=872&catid=51&Itemid=107
4 4 Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2017, tr 79.
Trang 10đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa ” Như vậy bằng việc liệt kê quyền liên
quan, luật đã chỉ rõ khái niệm quyền của người biểu diễn, đó là một trong nhữngloại quyền liên quan, là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn Như
đã đề cập ở phần trên người biểu diễn có thể là cá nhân một người, một nhómngười hoặc một tổ chức Còn chủ sở hữu của cuộc biểu diễn có quyền đối vớicuộc biểu diễn có thể chính là người biểu diễn hoặc một chủ thể khác
Quyền của người biểu diễn không được nêu ra một cách rõ ràng mà đượcthể hiện qua các quy định pháp luật về các quyền nhân thân và quyền tài sản cụthể Quyền của người biểu diễn và quyền biểu diễn là hai khái niệm riêng biệt.Quyền của người biểu diễn thuộc phạm vi quyền liên quan Còn quyền biểu diễn
mà chính xác là quyền biểu diễn công cộng là một trong những quyền tài sảncủa chủ sở hữu quyền tác giả Quyền này được quy định tại điểm b khoản 1 điều
20 Luật SHTT và được giải thích rõ hơn tại khoản 1 điều 21 Nghị định 22/2018/NĐ-CP, theo đó quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng do chủ sở hữuquyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện biểudiễn tác phẩm một cách trực tiếp hoặc cho phép người khác thực hiện biểu diễntác phẩm một cách trực tiếp hoặc thông qua các bản ghi âm, ghi hình hoặc bất
kỳ phương tiện nào mà công chúng có thể tiếp cận được
2.2 Đặc điểm quyền của người biểu diễn
Là một dạng của quyền liên quan, quyền của người biểu diễn mang nhữngđặc điểm cơ bản của quyền liên quan, đó là:
- Hoạt động của các chủ thể quyền liên quan chính là hành vi sử dụng tácphẩm đã có
Hoạt động của chủ thể quyền liên quan là hành vi sử dụng tác phẩm đã có,
đó là một sự sử dụng đặc biệt, mang tính sáng tạo nghệ thuật nhất định có tínhchuyên nghiệp cao, là cầu nối đưa tác phẩm đến với công chúng Hoạt độngsáng tạo nghệ thuật làm phát sinh các quyền mà pháp luật sở hữu trí tuệ bảo hộ
Trang 11cho người ca sĩ chính là việc trình bày các ca khúc đã được sáng tác, với ngườinhạc công đó là sự thể hiện những bản nhạc đã được viết bởi các nhà soạn nhạc.
- Đối tượng quyền liên quan được bảo hộ khi có tính nguyên gốc
Tính chất này của đối tượng quyền liên quan được xem xét trên hai phương
diện chủ yếu sau: Thứ nhất, tính nguyên gốc được xác định trên cơ sở lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của chủ thể Thứ hai, tính nguyên gốc của quyền
liên quan còn được thể hiện ở việc quyền liên quan chỉ được xác định theo cácđối tượng của quyền liên quan được tạo ra lần đầu tiên
- Quyền liên quan chỉ được bảo hộ trong thời hạn nhất định, kể cả cácquyền nhân thân
- Quyền liên quan được bảo hộ trên nguyên tắc không làm phương hại đếnquyền tác giả
Trong quá trình sử dụng tác phẩm, các chủ thể của quyền liên quan vẫnphải tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả củatác phẩm mà họ sử dụng theo quy định pháp luật như mọi chủ thể có hành vi sửdụng tác phẩm khác
2.3 Nội dung quyền của người biểu diễn
Khi thỏa mãn các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng cácquyền đối với với cuộc biểu diễn của họ Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệViệt Nam, quyền của người biểu diễn gồm có quyền nhân thân và quyền tàisản Điều 29 Luật SHTT quy định người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì
có các quyền nhân thân và các quyền tài sản, nếu không đồng thời thì ngườibiểu diễn có các quyền nhân thân, chủ đầu tư có quyền tài sản đối với cuộc biểudiễn
2.3.1 Quyền nhân thân
Khoản 2 Điều 29 Quyền nhân thân gồm hai quyền sau đây:
- Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát sóng cuộc biểu diễn.