Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm , góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Nhận thức được ý nghĩa thực tế đó, em xin áp dụng Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để phân tích tình huống cụ thể sau: “A, B (cùng 17 tuổi) bàn nhau vào nhà C lấy tài sản. A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản. Khi B dắt chiếc xe máy của C ra khỏi cổng (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) bắt giữ. B lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy. Anh T sau đó đã tử vong. Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.”
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
BÀI LUẬN HẾT MÔN
LUẬT HÌNH SỰ
( HP1 )
HỌ TÊN: BÙI PHƯƠNG ANH
LỚP: N11 – TL2
NHÓM: 4
MSSV: 422229
1
Chủ đề số: 2
Trang 2MỤC LỤC
Trang
CHÚ THÍCH TỪ VIẾT TẮT
BLHS
TNHS
CTTP
Bộ luật Hình sự Trách nhiệm Hình sự Cấu thành tội phạm
2
Trang 3M Đ U Ở Ầ
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm1, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Nhận thức được ý nghĩa thực tế đó, em xin áp dụng Bộ luật hình sự 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017 để phân tích tình huống cụ thể sau: “A, B (cùng 17 tuổi)
bàn nhau vào nhà C lấy tài sản A đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản Khi B dắt chiếc xe máy của C ra khỏi cổng (chiếc xe trị giá 30 triệu đồng), thì bị T (hàng xóm nhà C) bắt giữ B lấy dao mang theo trong người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy Anh T sau
đó đã tử vong Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.”
N I DUNG Ộ
1 Phân lo i t i ph m ạ ộ ạ
Trên cơ sở phân loại tội phạm tại khoản 1 Điều 9 BLHS hãy phân loại tội phạm đối với tội trộm cắp tài sản và tội giết người mà B đã thực hiện trong tình huống nêu trên (1,5 điểm)
Tội phạm, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như trên, nhưng những hành vi phạm tội
cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau Do vậy, tại Khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự, tội phạm đã được phân thành bốn nhóm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm
1 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 15/1999/QH10
3
Trang 4trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Sự phân thành bốn nhóm tội như vậy vừa là biểu hiện cơ bản, vừa là cơ sở thống nhất nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Đồng thời là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cụ thể để áp dụng cho từng loại tội phạm xảy ra
Theo khoản 1 Điều 9 BLHS, các nhóm tội phạm được định nghĩa như sau:
“1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây: a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;
c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;
d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình ”2
Theo định nghĩa này, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi dấu hiệu về nội dung và dấu hiệu về hậu quả pháp lí Trong hai dấu hiệu phân biệt các nhóm tội phạm này với nhau, dấu hiệu về nội dung quyết định dấu hiệu về hậu quả pháp lí.3
Trong trường hợp trên, B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản Sau khi lén lút vào nhà C, B đã lấy trộm chiếc xe máy trị giá 30 triệu đồng Khi bị T- hàng xóm nhà C phát hiện, B lấy dao mang theo trong
2 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2017.
3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự VIệt Nam, Phần chung, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr 69-70.
4
Trang 5người đâm một nhát vào ngực T rồi bỏ chạy Anh T sau đó đã tử vong Hành vi của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS
và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS.
“Điều 173 Tội trộm cắp tài sản
…
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Tài sản là bảo vật quốc gia;
g) Tái phạm nguy hiểm
…”
Theo căn cứ trên và tình tiết vụ án thì B phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm a, điểm đ khoản 2 Điều 173 BLHS 2015.
Mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS là 7 năm tù nên theo khoản 2 Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà B thực hiện là tội phạm nghiêm trọng.
“Điều 123 Tội giết người
1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù
từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
5
Trang 6g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn
2 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm
…”
Theo căn cứ trên, B phạm tội giết người theo điểm g, điểm n Khoản 1 Điều 123 và khoản 2 điều 123 BLHS 2015.
Mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 123 BLHS là 15 năm tù nên theo khoản 2 Điều 9 BLHS thì loại tội phạm mà B thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng.
2 Xác đ nh m c ph t tù cao nh t đ i v i B ị ứ ạ ấ ố ớ
Với hành vi phạm tội nêu trên thì mức phạt tù cao nhất mà toà án có thể áp dụng đối với B là bao nhiêu năm tù? (2 điểm)
Trước hết, tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội là trường hợp khi xét xử, Tòa án kết án bị cáo phạm từ hai tội trở lên và khi quyết định hình phạt Tòa án phải quyết định hình phạt đối với từng tội, sau
đó mới quyết định hình phạt chung đối với các tội đó và buộc bị cáo phải chấp hành.4
4
https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t6010-tong-hop-cac-quy-dinh-ve-tong-hop-hinh-phat-trong-bo-luat-hinh-su-2015, Các quy định về tổng hợp hình phạt trong Bộ luật hình sự 2015, Cập nhật ngày 9/9/2017, Truy cập ngày
20/5/2018.
6
Trang 7Cụ thể, tại Điều 55, BLHS 2015 quy định về cách tổng hợp hình phạt Khi xét
xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:
Đối với hình phạt chính: Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không
giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn; Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân; Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình; Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; Và trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác;
Đối với hình phạt bổ sung: Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình
phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết
án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên
Ngoài ra, theo Khoản 1 Điều 103 BLHS: “Khi xét xử cùng một lần người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này
Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội.”
Như vậy, tổng hợp hình phạt của 2 tội phạm mà B thực hiện ( tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều
7
Trang 8123 BLHS ), mức phạt tù cao nhất mà tòa án có thể áp dụng đối với tội trộm cắp tài sản do B thực hiện là 7 năm tù, đối với tội giết người là 15 năm
tù Tổng hợp hình phạt của hai tội là 22 năm tù Nhưng, vì B 17 tuổi nên B
sẽ bị phạt tù có thời hạn không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định, căn cứ vào Khoản 1 Điều 101 BLHS:
“Điều 101 Tù có thời hạn
Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định như sau:
1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình , thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;
…”
Dựa vào căn cứ trên, mức phạt tù có thời hạn mà tòa án có thể áp dụng đối với B là tù có thời hạn 16 năm 6 tháng Mức phạt tù mà tòa án có thể áp dụng đối với B đã thỏa mãn điều kiện được quy định tại các điều 101, điều
103 và điều 55 BLHS.
3 Xác đ nh đ tu i ch u trách nhi m hình s ị ộ ổ ị ệ ự
Giả sử B mới 15 tuổi thì B có phải chịu TNHS về tội giết người và tội trộm cắp tài sản trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (2 điểm)
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên,
kể cả khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Người chưa thành niên là người chưa phát triển một cách đầy đủ về tâm - sinh
lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ cũng còn hạn chế nên dễ bị
8
Trang 9kích động, dụ dỗ, lôi kéo và việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội Do đó, Nhà nước luôn có chính sách đặc biệt khi áp dụng các chế tài hình sự đối với họ và yếu tố đầu tiên
và quan trọng nhất trong vấn đề này là độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.5
Căn cứ Khoản 2 Điều 12 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
“Điều 12 Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
…
2 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178,
248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Như vậy, vì những hành vi phạm tội của B cấu thành tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS, tội giết người theo khoản 2 Điều 123 thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, cho nên nếu B 15 tuổi thì B không phải chịu TNHS về tội trộm cắp tài sản theo Khoản 2 Điều 173 mà chỉ phải chịu TNHS về tội giết người do
cố ý theo Khoản 2 Điều 123.
4 Xác đ nh đ ng ph m ị ồ ạ
A có bị coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Tại sao? (1,5 điểm)
Đồng phạm là những người cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm như: cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong CTTP (là người thực hành), thực hiện hành vi chủ mưu, chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm (là người tổ chức), người thực hiện hành vi kích động,
dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm (là người xúi giục); tạo điều kiện
về tinh thần hay vật chất cho người khác thực hiện tội phạm (là người giúp sức)
5 Trần Văn Cường, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong bộ luật
hình sự năm 2015, Tạp chí dân chủ và pháp Luật, Số 6/2016.
9
Trang 10Khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ
cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự cùng tham gia của những người đồng phạm khác Cùng cố ý trong đồng phạm được thể
hiện trên hai phương diện về lý trí và ý chí Về lý trí: mỗi người đồng phạm đều
nhận thức được tính chất nguy hiểm đối với hành vi của mình, nhận thức được tính chất nguy hiểm của những người đồng phạm khác, thấy trước được việc gây
ra hậu quả chung của hành vi phạm tội đó Về ý chí: những người đồng phạm
khi thực hiện hành vi đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra.6
Dựa vào căn cứ pháp luật đó là Điều 17 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
“Điều 17 Đồng phạm
1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm
2 Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm
3 Người đồng phạm bao gồm người tổ chưc, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm
Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm
Người giúp sức là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm
4 Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành.”
6 Hoàng Hữu Sỹ - VKSND huyện Chi Lăng, http://vienkiemsatlangson.gov.vn/trao-doi-nghiep-vu/1093/mot-so-van-de-ve-dong-pham-trong-vu-an-hinh-su.htm#.Wwu4xTSFPIU, Một số vấn đề về đồng phạm trong vụ án
hình sự, Cập nhật ngày 11/7/2017, truy cập ngày 20/5/2018.
10
Trang 11A và B có đủ điều kiện chủ thể đó là năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự Họ có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi cũng như đủ tuổi (để chịu trách nhiệm hình sự phải từ đủ 14 tuổi trở lên)
Theo em, ở đây A không được coi là đồng phạm với B về tội giết người trong tình huống nêu trên vì A không biết trước và không dự liệu là cùng B thực hiện hành vi giết người Trước đó, A và B chỉ bàn với nhau về việc vào nhà C để trộm cắp tài sản A đã đứng ngoài canh gác cho B dùng kìm cộng lực phá khóa và vào nhà C lấy tài sản Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm cùng có lỗi cố ý Ngoài ra, đối với những tội có mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó 7 Vì vậy, A chỉ là đồng phạm với B trong tội trộm cắp tài sản theo Khoản 2 Điều 173 Còn hành vi giết người là do chính B tự thực hiện, ngoài ra không có ai tổ chức, xúi giục hay giúp sức cho hành vi đó của B.
K T LU N Ế Ậ
Qua những phân tích trên, ta từng bước xác định được các yếu tố, đặc điểm của tội phạm trong một tình huống cụ thể Đó chính là nền tảng trong việc xác định sự thật của vụ án, một trong những yếu tố để thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm các quyền cơ bản của những con người trong xã hội
7 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự VIệt Nam, Phần chung, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr 17-198
11