1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NGA. KIẾN NGHỊ CHO MỘT SỐ MẶT HÀNG CỦA VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG NÀY

77 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát các quy định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu .... Mặc dù trong khi đàm phán gia nhập WTO, Liên bang Nga đã cam kết rằng sẽ

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

-*** -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Thương mại quốc tế

CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀO THỊ TRƯỜNG NGA KIẾN NGHỊ CHO MỘT SỐ MẶT HÀNG CỦA VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG NÀY

Họ và tên sinh viên : Vũ Ngọc Mai

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA VÀ HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT(SPS) 6 1.1 Khái quát chung về thị trường Liên bang Nga 6

1.1.1 Tình hình chính trị xã hội của Liên bang Nga trong thời gian qua 6 1.1.2 Một số đặc điểm chính của thị trường Liên bang Nga và chính sách thương mại của thị trường này sau khi gia nhập WTO 8

1.2 Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS) của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) 18

1.2.1 Sự cần thiết của việc ban hành Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS) 18 1.2.2 Nội dung chủ yếu của Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS) 21

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN BANG NGA 27 2.1 Khái quát các quy định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu 27

2.1.1 Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (VPSS) và khung pháp lý của các quy định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật 27 2.1.2 Quy định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga cho từng nhóm hàng nhập khẩu 30

2.2 Thực trạng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Liên bang Nga 40

2.2.1 Tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Liên bang Nga trong thời gian qua 40

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2.2 Những thách thức đặt ra do các quy định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với một số nhóm hàng xuất khẩu của Việt

Nam 44

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO HÀNG HÓA XUẤT KHẨU VIỆT NAM ĐÁP ỨNG ĐƯỢC QUY ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT CỦA LIÊN BANG NGA 50

3.1 Đối với Nhà nước 50

3.1.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý liên quan 50

3.1.2 Nâng cao vai trò của văn phòng SPS 52

3.1.3 Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến các biện pháp kiểm dịch động thực vật 53

3.1.4 Đào tạo nguồn nhân lực 54

3.2 Đối với các hiệp hội 54

3.2.1 Xúc tiến thương mại 55

3.2.2 Cung cấp thông tin 56

3.2.3 Tăng cường kiểm tra chất lượng hàng hóa và tổ chức các khóa đào tạo cho các doanh nghiệp 57

3.3 Đối với các doanh nghiệp 59

3.3.1 Nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức cho tất cả các thành viên trong từng doanh nghiệp 59

3.3.2 Tham gia các hiệp hội, xây dựng và phát triển các chuỗi liên kết theo từng ngành hàng 60

3.3.3 Áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao chất lượng đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu 61

3.3.4 Đào tạo nguồn nhân lực 62

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 70

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

I Danh mục từ viết tắt tiếng Việt

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

II Danh mục từ viết tắt tiếng Anh

Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

CAC Codex Alimentarius Commission Ủy ban Tiêu chuẩn Thực

phẩm quốc tế

FAO Food and Agriculture Organization

of the United Nations

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

ISO International Standards Organization Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

IPPC International Plant Protection

NAFIQAD National Agro-forestry-Fisheries

Quality Assurance Department

Cục Quản lý Chất lượng Nông Lâm sản và Thuỷ sản

OIE Office International des Epizooties Văn phòng quốc tế về bệnh

dịch động vật

SPS Sanitary and Phytosanitary

Measures

Các biện pháp kiểm dịch động thực vật

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TBT Technical Barriers toTrade Các rào cản kỹ thuật trong

thương mại

VASEP Vietnam Association of Seafood

Exporters and Producers

Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam

VPSS Veterinary and Phytosanitary

Surveillance Service

Cục Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga

WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kim ngạch XNK, cán cân TM của Liên bang Nga 12Bảng 2.1 Các loại bệnh trên động vật bị nghiêm cấm tại Liên bang Nga 32Bảng 2.2 Hàm lượng các chất độc hại tối đa trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang Liên bang Nga 39Bảng 2.3 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Liên bang Nga 43

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Kim ngạch XNK thương mại giữa Việt Nam-Liên bang Nga 2014) 41Biểu đồ 2.2 KNXK thủy sản của Việt Nam sang Liên bang Nga (2007-2014) 45Biểu đồ 2.3 KNXK nông sản Việt Nam sang Liên bang Nga phân theo mặt hàng (2007-2014) 48

Trang 7

(2004-Hoi Can Su FTU (2004-Hoi Can Su FTU (2004-Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 2012, nền thương mại thế giới chứng kiến một sự kiện nổi bật và đáng nhớ khi Liên bang Nga, sau gần 18 năm đàm phán, đã chính thức trở thành thành viên thứ 156 của Tổ chức Thương mại thế giới WTO Việc Liên bang Nga, quốc gia cuối cùng trong G20, tham gia WTO không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế mới cho nước Nga mà còn rất nhiều những triển vọng xuất khẩu cho các đối tác thương mại của quốc gia này Và Việt Nam cũng chính là một trong những đối tác thương mại như vậy của Liên bang Nga

Liên bang Nga là một quốc gia rộng lớn với diện tích chiếm lĩnh 1/6 địa cầu,

có nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới tính theo sức mua và là thị trường rất tiềm năng đối với các nước trên thế giới Nguồn tài nguyên của nước này vô cùng phong phú, nhiều loại đứng đầu thế giới về trữ lượng, như khí đốt (chiếm 25% trữ lượng khí đốt toàn thế giới) Một khi Liên bang Nga gia nhập WTO, hàng hóa của các nước, đặc biệt là hàng tiêu dùng thiết yếu từ thực phẩm, công nghệ phẩm, đồ điện gia dụng, máy vi tính, điện thoại di động đến ôtô, máy bay, do thụ hưởng những lợi thế về thuế, cơ chế điều tiết xuất, nhập khẩu v.v sẽ tràn vào Nga nhiều hơn và với

cơ cấu chủng loại phong phú hơn Bên cạnh đó, hàng hóa do Nga sản xuất cũng sẽ

có cơ hội tiếp cận thị trường các nước ngoài, do không bị ngăn cách bởi những rào cản thuế quan và phi thuế quan, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài và Nga được bình đẳng trong đàm phán các hiệp định thương mại quốc

tế có tính đến lợi ích quốc gia

Là một đối tác có mối quan hệ chính trị lâu dài với Liên bang Nga, hiện nay, Việt Nam đang bắt đầu mở rộng thêm các mối quan hệ thương mại với quốc gia này Năm 2011 là một năm dấu mốc quan trọng trong quan hệ thương mại giữa hai nước khi mà KNXNK hai chiều đã đạt đến gần ngưỡng 2 tỷ Bên cạnh đó, đây cũng

là năm Việt Nam xuất siêu sang thị trường Liên bang Nga tại mức 593,3 triệu USD

Và sự kiện Nga trở thành thành viên của WTO lại càng mở thêm nhiều triển vọng

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam Các năm 2012,2013,2014 lại tiếp tục cho thấy dấu hiệu khả quan và tích cực trong quan hệ thương mại giữa hai nước nghiêng

về phía Việt Nam KNXK của Việt Nam liên lục tăng nhanh và luôn giữ trên mức 1

tỷ USD Với thế mạnh sẵn có, các mặt hàng từ thủy sản và nông nghiệp tiếp tục là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Liên bang Nga Tổng KNXNK của hai nhóm hàng này luôn chiếm khoảng 50% KNXNK hai chiều giữa hai nước Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khi vào các năm 2006, 2008 và vừa mới đây là 2014, các mặt hàng nông sản và thủy sản xuất khẩu của Việt Nam liên tục phải đối mặt với các lệnh cấm nhập khẩu từ phía Liên bang Nga Nguyên nhân chủ yếu mà phía Nga đưa ra là do trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam chứa các chất gây nguy hại cho sức khỏe con người và không đáp ứng các quy định về kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga Mặc dù trong khi đàm phán gia nhập WTO, Liên bang Nga đã cam kết rằng sẽ hài hòa hóa các quy định liên quan đến vệ sinh dịch tễ cũng như kiểm dịch động thực vật của mình cho hàng hóa nhập khẩu với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành, nhưng dường như các quy định của quốc gia này vẫn khắt khe hơn mức cần thiết Vốn dĩ là một thị trường độc lập, Liên bang Nga không công nhận quy định cũng như quy trình kiểm dịch động thực vật của bất kì nước xuất khẩu nào vào thị trường của mình Quốc gia này vẫn duy trì việc cấp phép nhập khẩu cho từng mặt hàng và từng doanh nghiệp, đặc biệt là với các mặt hàng thủy sản và nông sản, dựa trên các quyết định của Cục kiểm dịch động thực vật của nước này – Rosselkhoznadzor(VPSS) Cách thức này đã gây ra rất nhiều trở ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu từ các nước, trong đó có các doanh nghiệp Việt Nam

Với việc thị trường ngày càng được mở rộng, sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp

từ các quốc gia khác nhau vào Nga ngày càng trở nên gay gắt, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản và nông sản Việt Nam tuy có lợi thế tại các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu hay Nhật bản nhưng lại Việt Nam lại không phải là nước xuất khẩu lớn các mặt hàng thủy sản hay nông sản cho Liên bang Nga Thị trường Nga là thị trường có nhu cầu tiêu dùng lớn và rất tiềm năng đối với các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, nếu các mặt hàng của Việt Nam không đáp ứng được những quy định cũng như quy trình kiểm dịch động thực vật của Liên

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

bang Nga thì thị trường này vẫn mãi sẽ chỉ là thị trường tiềm năng đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là những doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản và nông sản

Trên cơ sở là những thực tế trên cùng với những kiến thức được học tập và

tìm hiểu, em đã chọn nghiên cứu đề tài: “ Các biện pháp kiểm dịch động thực vật

Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu vào Nga Kiến nghị cho một số mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này.”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga cũng như những thách thức mà các quy định này đang đặt ra cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng đáp ứng của hàng hóa Việt Nam đối với các yêu cầu kiểm dịch động thực vật mà thị trường Nga đang áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu, để từ đó mở rộng được khả năng thâm nhập vào thị trường tiêu dùng rộng lớn này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các quy định kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Khóa luận nghiên cứu vấn đề chủ yếu liên quan đến

những khó khăn, thách thức mà các quy định này đặt ra cho các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là đối với hai nhóm hàng thủy sản và nông sản

+ Phạm vi thời gian: Khóa luận nghiên cứu các quy định về kiểm dịch động thực

vật của Liên bang Nga trong giai đoạn 2000-2014 và những thách thức mà hàng hóa xuất khẩu Việt Nam sang thị trường này phải đối mặt trong giai đoạn 2004-2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu trên, đề tài dự kiến sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Phương pháp lý thuyết: phương pháp sử dụng trong đề tài này bao gồm thu

thập nguồn tài liệu thứ cấp, từ đó tổng hợp, so sánh, phân tích các quy định kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga

Phương pháp thực tiễn: đề tài sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích

số liệu về tình xuât khẩu hàng hóa các nhóm hàng Việt Nam chịu sự kiểm tra của các quy định kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga; kết hợp phương pháp so sánh

để đưa ra các nhận xét và từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm giúp các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng được cá quy định kiểm dịch này

5 Kết quả nghiên cứu dự kiến

Thứ nhất, làm rõ các quy định về kiểm dịch động thực vật của Liên bang

Nga đối với các mặt hàng nhập khẩu

Thứ hai, làm rõ nguyên nhân tại sao hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vẫn

đang vấp phải các quy định về kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga

Thứ ba, đưa ra một số kiến nghị nhằm tháo bỏ các khó khăn trong việc đáp

ứng các yêu cầu kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm đảm bảo các mặt hàng xuất khẩu Việt Nam đáp ứng được quy định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga

Qua khóa luận này, em xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới TS Vũ Thành Toàn, người đã hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ

em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận này Em cũng xin được gửi lời cảm

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

ơn tới các cán bộ Thư viện Trường Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ em trong quá trình thu thập tài liệu nghiên cứu cho khóa luận

Do trình độ người viết còn hạn chế về mặt lý luận cũng như kinh nghiệm thực tế, khóa luận sẽ không tránh khỏi có những thiếu sót Em rất mong nhận được

sự bổ sung và ý kiến đóng góp từ các thầy, các cô và các bạn sinh viên khác để khóa luận có thể được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Vũ Ngọc Mai

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG LIÊN BANG NGA VÀ HIỆP ĐỊNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT(SPS)

1.1 Khái quát chung về thị trường Liên bang Nga

1.1.1 Tình hình chính trị xã hội của Liên bang Nga trong thời gian qua

Trải dài trên phần lục địa Á - Âu, Liên bang Nga là quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới với tổng cộng 17.075.200km2, dân số 143.5 triệu người, gồm trên 100 dân tộc, trong đó dân tộc Nga chiếm 79,8%, Tác -ta 3,8%, Ucraina 2%, Bashkir 1,2%, Chuvash 1,1%, khác 12,1% (World Bank, 2013) Ngoài ra còn gần 25 triệu người Nga sống ở các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô (trước đây) và gần 2 triệu ở các nước trên thế giới

Liên bang Nga là một nước cộng hòa liên bang với tổng thống được bầu trực tiếp cho nhiệm kỳ 4 năm, là người nắm quyền hành pháp, chỉ định các chức vụ chính quyền cao nhất, bao gồm thủ tướng, người được Đuma quốc gia(Hạ nghị viện của Quốc hội Nga) thông qua Tổng thống có thể thông qua các sắc lệnh mà không cần sự thỏa thuận của Quốc hội và là người đứng đầu Hội đồng quân sự Nga và của Hội đồng An ninh quốc gia Nga

Liên bang Nga là sự hợp thành của một lượng lớn các chủ thể hành chính cấp liên bang, tổng cộng 89 đơn vị hợp thành như vậy Tại Nga có 21 nước cộng hòa trong phạm vi liên bang có mức độ tự trị cao trong phần lớn các vấn đề và gần như tương ứng với khu vực sinh sống của bộ tộc người thiểu số ở Nga Phần còn lại lãnh thổ bao gồm 49 tỉnh và 6 khu, 10 vùng tự trị và 1 tỉnh tự trị Ngoài các đơn vị hành chính này còn 2 thành phố trực thuộc trung ương (mát, sanh) Gần đây nhất, 7 vùng liên bang lớn về diện tích (4 vùng ở châu Âu và 3 vùng ở châu Á) đã được bổ sung như một thể chế hành chính giữa các thể hành chính nói trên và cấp độ quốc gia

Hơn một thập kỷ sau sự sụp đổ của liên Xô năm 1991, Nga vẫn còn đang cố gắng để thiết lập một nền kinh tế thị trường và để thu được sự phát triển bền vững Trong 5 năm đầu, kinh tế Nga đã phát triển không ổn đinh do các cơ quan hành pháp và lập pháp còn nhiều bất đồng trong việc hoàn thiện công cuộc cải cách và các nền tảng công đã khiến quốc gia này phải cần đến sự trợ giúp quốc tế trên diện rộng

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Sau sự tan rã của Liên Xô, sự phục hồi nhỏ của Nga dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường lần đầu tiên diễn ra và khoảng năm 1997 Trong năm đó, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã lên đến đỉnh điểm trong việc phá giá đồng rúp vào tháng 8-1998, làm cho chính phủ vỡ nợ và làm suy giảm trầm trọng mức sống tiêu chuẩn của phần lớn dân chúng Vì thế, năm 1998 cũng đã được ghi nhận như là năm của suy thoái và sự tăng cường rút vốn ra khỏi nền kinh tế Nga

Tuy nhiên đến năm 1999, khi Vladimir Putin lên làm thủ tướng rồi sau đó là Tổng thống, thì nước Nga bắt đầu bước vào thời kỳ ổn định Nhưng khi đó, V.Putin

và chính quyền mới phải kế thừa một di sản kinh tế - chính trị đầy khó khăn Ngày 1/1/2000, khi V.Putin nhậm chức Tổng thống, GDP của Nga giảm 2 lần, kém Mỹ

10 lần, kém Trung Quốc 5 lần; cơ cấu kinh tế lạc hậu, năng suất lao động cực thấp, đặc biệt là sự suy giảm của những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao; mức sống của người dân sa sút nghiêm trọng

Từ năm 2000 đến nay, kinh tế Nga có những bước phát triển vượt bậc Trong giai đoạn 2000-2008, từ quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 22 trên thế giới, Nga trở thành một trong 10 nền kinh tế lớn trên thế giới, GDP năm 2007 đạt trên 1200 tỷ đôla, tăng 8,3 %, sản xuất công nghiệp tăng 6,3%, kim ngạch ngoại thương tăng 20,8 %, đầu tư cơ bản tăng 25,5% Lạm phát từ tốc độ phi mã trong những năm cuối thế kỷ 20 đến năm 2007 còn ở mức 12% Thu nhập thực tế của người dân khoảng 8000USD/năm; thất nghiệp giảm gần một nửa Chính phủ Nga đang triển khai thực hiện 4 chương trình quốc gia về cải thiện nhà ở, giáo dục, y tế và khoa học (khoảng

5 tỷ USD từ ngân sách nhà nước) và đầu tư thích đáng để hiện đại hoá quân đội

Trong hai nhiệm kỳ của mình (2000-2008), Tổng thống V.Putin đã thực hiện chiến lược xây dựng một xã hội “hậu công nghiệp” dựa trên nền kinh tế thị trường

xã hội ở nước Nga Đường lối cải cách của Tổng thống V.Putin là sự tiếp tục công cuộc cải cách kinh tế thị trường và xây dựng xã hội dân chủ mà B.Yeltsin đã tiến hành, nhưng có một loạt điều chỉnh chính sách lớn về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự và đối ngoại Nhìn chung, bước đi và phương pháp tiến hành của Putin thận trọng hơn theo hướng tăng cường điều tiết vĩ mô của Nhà nước và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,duy trì sự ổn định của chính trị để phát triển kinh tế,

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khẳng định rằng ổn định và phát triển kinh tế là nhiệm vụ chủ chốt nhất để đưa đất nước trở lại vị thế “đáng phải có” của mình

Tổng thống Putin đã tập trung vào việc lập lại quyền lực và uy tín của Nhà nước trong bối cảnh đất nước đang đối mặt với nguy cơ mất kiểm soát Đặc biệt là chú trọng thực hiện chính sách cấm các nhà tài phiệt can thiệp vào các công việc chính trị quốc gia và giành lại các phương tiện truyền thông từ tay các nhà tài phiệt

và những hành vi lạm dụng quyền hành của quan chức chính phủ

Nước Nga tiếp tục phát triển kinh tế thị trường nhưng từ bỏ mô hình “chủ nghĩa tự do mới”(được Mỹ khuyến khích thời B.Yeltsin) đồng thời với việc tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô của Nhà nước Nhà nước phải giữ vai trò điều tiết và quản lý có hiệu quả toàn bộ hoạt động của nền kinh tế quốc dân thống nhất, tránh tình trạng phát triển vô chính phủ,buông lỏng quản lý kinh tế vĩ mô Các biện pháp

và chính sách cải cách được tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra cho nền kinh tế Trước hết là kích thích đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện chính sách công nghiệp tích cực theo hướng ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp đi đầu trong ứng dụng tiện bộ khoa học kỹ thuật; xây dựng hệ thống tài chính có hiệu lực, cải cách hệ thống thuế, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách với tư cách là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế nhà nước; xóa bỏ kinh tế ngầm, trấn áp tội phạm kinh tế, tiến tới đưa nền kinh tế Nga tham gia, tích cực chủ động vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới

1.1.2 Một số đặc điểm chính của thị trường Liên bang Nga và chính sách thương mại của thị trường này sau khi gia nhập WTO

1.1.2.1 Các đặc điểm chính và các phương thức thanh toán trên thị trường Liên bang Nga

 Các đặc điểm chính của thị trường Liên bang Nga

Liên bang Nga là một nước lớn, có tiềm năng phát triển kinh tế và là một thị trường nhập khẩu hấp dẫn cho các nhà xuất nhập khẩu từ các nước trên thế giới Với khoảng hơn140 triệu người tiêu dùng, Nga trở thành thị trường nhập khẩu các sản phẩm đồ ăn chế biến sẵn lớn thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc Mức độ tiêu dùng thực phẩm của người Nga tăng khoảng 17% mỗi năm, trong đó khoảng 31% thu nhập là chi tiêu cho đồ uống và thực phẩm Nhập khẩu nông sản của Nga tăng

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khoảng 150% từ năm 2005 và tăng 19% trong năm 2010 so với năm 2009 (World trade atlas, 2009) Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, người dân Nga ngày càng tiếp xúc nhiều với phong cách sống Tây hóa Sự thay đổi trong phong cách sống này dẫn đến sự tăng nhanh nhu cầu về các loại thực phẩm có tính tiện lợi cao

và có lợi cho sức khỏe của người dân Nga Vì vậy những loại thực phẩm được Nga nhập nhiều gồm có: sữa chua, thủy hải sản, gia cầm, hoa quả tươi Các loại thực phẩm này cần được chế biến sẵn và sẵn sàng cho bữa ăn, tránh mất nhiều thời gian

sơ chế cho phụ nữ Nga ngày càng có xu hướng bận rộn với công việc, ít thời gian dành cho cho bữa ăn truyền thống của gia đình như trước đây Các loại thực phẩm như gạo, mì, cà phê, và đồ uống được mua với số lượng lớn còn các loại rau quả được mua hàng ngày

Thị trường Nga là một thị trường lớn với dân số đông, trải dài trên một diện tích rộng lớn và cùng với đó, tình trạng phân hóa giàu nghèo diễn ra ngày càng sâu sắc Những người có thu nhập cao tại quốc gia này ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng thực phẩm mà họ tiêu thụ Các vấn đề như thành phần các chất phụ gia, phẩm màu hay thời hạn sử dụng của thực phẩm đều là những tiêu chí quan trọng trong việc lựa chọn thực phẩm đối với những người thuộc tầng lớp thu nhập này tại Nga Điều này đồng nghĩa với việc, các sản phẩm thương hiệu quốc tế được lựa chọn nhiều hơn vì chúng được coi là có mức độ an toàn thực phẩm và chất lượng cao hơn sản phẩm nội địa Trong khi đó, những người dân có mức thu nhập trung bình và nghèo phải hết sức tính toán trong chi tiêu, chỉ có khả năng thanh toán đối với những hàng hóa phẩm cấp thấp hơn Hơn thế nữa, các loại thực phẩm đông lạnh đang ngày càng trở nên phổ biến và được ưa chuộng nhiều hơn tại các thành phố lớn như St Petersburg và Moscow

Có thể thấy, nhu cầu hàng hóa trên thị trường Nga vô cùng phong phú, đa dạng về chất lượng, giá cả cũng như mẫu mã, bao bì sản phẩm, trong đó nhu cầu về hàng chất lượng trung bình và không cao lắm vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao, do đó hàng hóa của nhiều nước đang phát triển có nhiều thuận lợi để thâm nhập

Nhu cầu của thị trường Nga rất lớn nhưng các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa xuất nhập khẩu tại Nga lại chưa đáp ứng được và có một số đặc điểm sau:

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Số lượng các công ty tham gia xuất nhập khẩu lớn: theo quy định của Chính phủ Liên bang Nga, các công ty có số vốn 13.500 USD trở lên được trực tiếp kinh doanh, giao dịch xuất nhập khẩu Vì thế, số lượng công ty XNK của Nga tăng lên nhanh chóng Tình trạng trên, một mặt, tạo ra những điều kiện vô cùng thuận lợi cho các hoạt động ngoại thương, do hình thành nên một mạng lưới xuất-nhập-bán buôn-bán lẻ hết sức rộng rãi; mặt khác, cũng gây không ít khó khăn cho các công ty đối tác nước ngoài trong việc tìm kiếm được những đối tác Nga thực sự có đủ độ tin cậy, đặc biệt là những công ty trước đây quen buôn bán với Nga trên cơ sở các Nghị định thư của Chính phủ như các công ty của Việt Nam

- Tình trạng thiếu vốn của các công ty thương mại Nga: các công ty thương mại của Nga hầu hết còn non trẻ, do mới thành lập hoặc là kết quả của quá trình tư nhân hóa, quy mô không lớn, cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn chung còn nghèo nàn, thiếu vốn kinh doanh Bởi vậy, trong kinh doanh ngoại thương,các công ty Nga thường tranh thủ chiếm dụng vốn của các đối tác thông qua hình thức nhận bán ký gửi hoặc bán hàng nhân tiền trước, mua hàng trả chậm Tuy nhiên, hình thức buôn bán này chứa đựng nhiều rủi ro vì các công ty Nga rất dễ bị phá sản hoặc kéo dài thời gian trả nợ do gặp phải những khó khăn bất thường về tài chính Chính vì thế, các công ty nước ngoài thường thuê các ngân hàng hoặc các công ty tài chính có uy tín bảo lãnh để hạn chế bớt rủi ro trong kinh doanh

- Cạnh tranh gay gắt trên thị trường: Tình trạng thiếu hụt hàng hóa từ những mặt hàng thiết yếu như nông sản thực phẩm, hàng tiêu dùng cho nhân dân cho đến các thiết bị máy móc để đổi mới ngành công nghiệp tại thị trường Liên bang Nga đang khiến các nước chú ý tới và đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hóa của nước mình sang thị trường này Mặc dù, Nga là thị trường tự do và có dung lượng lớn nhưng việc gia tăng nhanh các công ty xuất nhập khẩu kể cả trong nước cũng như nước ngoài đang khiến cho tính cạnh trạnh của thị trường này ngày càng trở nên gay gắt

và quyết liệt hơn Nhiều công ty đã tích cực xây dựng các chiến lược kinh doanh, cách thức buôn bán thích hợp với môi trường kinh doanh của Nga như ký gửi hàng hóa, xây dựng trung tâm thương mại…Bên cạnh đó, Chính phủ của nhiều nước cũng giúp đỡ các công ty của mình thâm nhập vào thị trường Nga thông qua các hình thức bảo lãnh tín dụng, thậm chí trợ giá hàng xuất Khẩu Do đó, nhiều công ty,

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đặc biệt là các công ty của Mỹ, EU Trung quốc đã cạnh tranh thắng lợi, tạo lập được những kênh phân phối riêng và có chỗ đứng trên thị trường Liên bang Nga

 Các phương thức thanh toán hiện nay trên thị trường Liên bang Nga Hiện nay, trên thị trường Liên bang Nga đang áp dụng nhiều phương thức thanh toán cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa Tuy nhiên, phương pháp thanh toán

mở tín dụng thư (L/C) được áp dụng phổ biến trong buôn bán thế giới lại ít được sử dụng là Nga Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho các công ty xuất nhập khẩu nước ngoài đang hoặc có kế hoạch kinh doanh hàng hóa với các công ty thương mại của Nga Các phương thức thanh toán hiện nay thường được sử dụng tại Nga bao gồm:

- Bán hàng nhập khẩu tại kho hàng đặt ở Nga (kho ngoại quan): Phương thức này cho phép các nhà XNK tổ chức bán hàng, thu tiền về nhanh (có thể thu bằng đồng rúp hoặc bằng đồng đô la mỹ) ngay tại kho hàng của nhà xuất khẩu Tuy nhiên, phương thức này đòi hỏi phải có một hệ thống kho hàng, cơ sở vật chất – kỹ thuật tương đối vì phải tổ chức bảo quản hàng hóa trong một thời gian nhất định Hiện đang có một số công ty của một số nước như Trung Quốc, Thụy Điển, Ba Lan… áp dụng phương thức này

- Bán hàng cho thanh toán chậm hoặc trả trước đối với hàng mua: Trong quan

hệ buôn bán với Nga, thông thường các công ty nước ngoài cho các công ty Nga trả chậm từ 3 đến 6 tháng đối với hàng nhập khẩu vào Nga và ứng tiền trước đối với hàng xuất khẩu Phương thức này đòi hỏi các bạn hàng của Nga phải có tiềm lực mạnh về tài chính cũng như sự bảo lãnh từ phía công ty tài chính, ngân hàng Vì thế, thông thường chỉ có các hãng, công ty lớn của các nước EU, Mỹ… mới có đủ điều kiện để áp dụng phương thức này Các công ty của Việt Nam ít vốn, lại chưa

có được sự bảo lãnh nên khó có thể áp dụng hình thức thanh toán nói trên

Các phương thức thanh toán hiện tại của Nga là một trong những vấn đề ảnh hưởng khá lớn đến quan hệ thương mại giữa các nước với Nga, trong đó có Việt Nam Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga thường gặp phải khó khăn trong thủ tục thanh toán Rất nhiều doanh nghiệp Nga chuyên kinh doanh nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thường không mở L/C mà chọn phương thức thanh toán trực tiếp, tức là bên mua đặt cọc 20-30% và sẽ trả 70-80% còn lại sau khi

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nhận được hàng Phương thức thanh toán này gây rủi ro cao cho các doanh nghiệp xuất khẩu, vì có khả năng không thể thu được tiền hàng hoặc bị thanh toán chậm trễ Bên cạnh đó, các ngân hàng của Nga không dễ cho mở L/C, đồng thời phí mở L/C rất đắt, ngân hàng Việt Nam lại chưa có chế độ hỗ trợ cho doanh nghiệp trong bán hàng trả chậm cho Nga Song dù vậy, Nga vẫn là một thị trường xuất khẩu rất tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam, phù hợp với cho các loại hàng hóa xuất khẩu thế mạnh trong nước Ngược lại, phía Việt Nam lại có nhu cầu rất lớn về nguyên, nhiên, vật liệu như phân bón, sắt thép, xăng dầu… là những mặt hàng có thế mạnh của Nga Do đó, hàng hóa của hai nước không ở thế cạnh tranh với nhau

và hoàn toàn có điều kiện bổ sung cho nhau

1.1.2.2 Hoạt động ngoại thương và chính sách thương mại của Liên bang Nga sau khi gia nhập WTO

 Hoạt động ngoại thương

Hoạt động ngoại thương của Liên bang Nga đã có tốc độ phát triển khá nhanh, đóng góp lớn vào quá trình phát triển kinh tế của nước Nga

Bảng 1.1 Kim ngạch XNK, cán cân TM của Liên bang Nga

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

gần 70 tỷ USD Xuất khẩu trong năm 2009 giảm do tác động của cuộc khủng hoảng kin tế - tài chính nhưng lại tăng trở lại trong các năm tiếp theo: xuất khẩu 2010 tăng 32% so với năm 2009, năm 2011 tăng 30% so với năm 2010; nhập khẩu năm 2010

và 2011 đều tăng 30% so với năm trướcc cán cân thương mại của Nga luôn trong tình trạng xuất siêu, thặng dư thương mại cũng tăng đều trong giai đoạn từ năm

2007 đến năm 2010 và luôn duy trì ở mức trên 100 tỷ USD Năm 2011, cán cân thương mại của Liên bang Nga vượt ngưỡng 200 tỷ USD, tại mức 210,9 tỷ USD Các năm 2011,2012,2013 KNXK của Liên bang Nga luôn đạt trên 500 tỷ USD, tuy nhiên cũng giống như KNNK, trong các năm này, KNXNK cũng như cán cân thương mại của Nga có tăng nhưng tăng khá chậm và không nhiều Năm 2014 còn chứng kiến sự sụt giảm ở cả KNXK và KNNK của Liên bang Nga Nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm này, một phần quan trọng, là do những ảnh hưởng từ việc bất

ổn chính trị của Ukraina và quan hệ căng thằng giữa Nga với các nước châu Âu từ nửa cuối năm 2014

Dầu và các sản phẩm liên quan đến dầu chi phối xuất khẩu của Nga ngay cả trong giai đoạn Xô viết, và cho đến nay, nó còn giữ vai trò quan trọng hơn Năm

2014, dầu, khí đốt tự nhiên và các dạng nhiên liệu khác chiếm 64,8% xuất khẩu của Nga

Bạn hàng quan trọng nhất của Nga tính đến nay vẫn là Liên minh châu Âu (EU) với 27 thành viên Trong năm 2008, xuất khẩu của Nga sang EU chiếm 53% (hầu hết là năng lượng), nhập khẩu từ EU chiếm 45% Tiếp đến là Trung Quốc, chiếm 6% KNXK và 14% KNNK vào Nga năm 2008 Đến năm 2011, tỷ trọng xuất khẩu của Nga sang EU giảm xuống còn 48,4%; nhập khẩu từ EU cũng giảm còn 43,4 % nhưng EU vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Nga Vị trí thứ hai tính đến năm 2011 vẫn là TQ, với tỷ trọng xuất khẩu của Nga sang thị trường này tăng lên 7,3% và nhập khẩu từ TQ cũng tăng lên 16,9% (Vũ Duy Vĩnh, 2013) Đối tác thương mại lớn thứ ba của Nga là Ukrainaa, một trong số các nước thuộc nhóm SNG

 Chính sách thương mại của Liên bang Nga

Chính sách thuế

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo đối tượng, tính chất của hàng hóa và theo tính chất của loại thuế, hiện nay, ở Liên bang Nga đang áp dụng một số loại thuế sau đây:

+ Thuế suất nhập khẩu:

Kể từ sau khi gia nhập WTO, Nga bắt đầu tiến hành giảm thuế nhập khẩu và

gỡ bỏ một số hàng rào phi thuế quan cho hàng hóa của các thành viên WTO theo cam kết Để phù hợp với các cam kết gia nhập WTO, Nga áp dụng Hệ thống ưu đãi thuế quan của Liên minh Hải quan dành cho các nước kém phát triển và đang phát triển 152 Quốc gia sẽ được hưởng chính sách này khi xuất khẩu hàng hóa vào Nga với thuế suất 0% đối với nhóm các mặt hàng ưu đãi Theo lộ trình thuế nhập khẩu của Nga, thuế nhập khẩu đối với nhiều mặt hàng của Việt Nam sẽ được giảm ngay như hàng điện máy và thiết bị, dệt may, chè, thủy hải sản

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, Nga chia các nước ra làm 5 nhóm với 4 mức thuế suất thuế nhập khẩu khác nhau:

- Nhóm nước có Quy chế Tối huệ quốc (MFN) với Nga được hưởng mức thuế suất nhập khẩu cơ sở công bố thuộc nhóm này có 127 nước trên thế giới được hưởng thuế suất nhập khẩu cơ sở

- Nhóm nước không có quy chế MFN với Nga phải chịu thuế suất gấp đôi thuế suất cơ sở công bố

- Nhóm nước đang phát triển được hưởng mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi bằng 75% thuế suất cơ sở công bố Theo quy định này, hiện có 104 quốc gia đươc hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi

- Nhóm nước kém phát triển được miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu vào Nga + Thuế suất nhập khẩu ưu đãi được áp dụng với tất cả các mặt hàng trừ khoảng 40 mặt hàng , trong đó có một số mặt hàng như: nước quả, nước uống (kể cả nước khoáng; bia và cồn các loại; thuốc lá và xì gà; quần áo, khăn, găng tay và vải bằng nguyên liệu tổng hợp; giày bằng cao su và vật liệu tổng hợp; máy tính và IKD máy, máy xử lý thông tin và phụ tùng;…

+ Thuế nhập khẩu đặc biệt được áp dụng đối với một số mặt hàng Nga không khuyến khích nhập khẩu và hàng xa xỉ với mức thuế/thuế suất rất cao

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

+ Hàng hóa nhập khẩu vào Liên bang Nga, sau khi chịu thuế nhập khẩu và thuế nhập khẩu đặc biệt đối với một số hàng hóa, còn phải chịu thuế trị giá gia tăng (VAT) Hàng viện trợ nhân đạo và hàng trả nợ được miễn thuế VAT

+ Bên cạnh thuế nhập khẩu theo giá trị (%), Nga còn áp dụng thuế tối thiểu nhập khẩu do tình trạng lậu thuế, khai man giá trị nhập diễn ra rất nghiêm trọng Theo đó, thuế đối với hàng nhập khẩu không chỉ tính dựa trên thuế suất nhập khẩu

và phải căn cứ vào mức thuế tối thiểu

+ Thuế tối thiểu nhập khẩu quy định mức thế tối thiểu phải nộp trên một đơn

vị số lượng hay trọng lượng Thuế tối thiểu nhập khẩu tuy đã phần nào ngăn chặn được hiện tượng gian lận thương mại và thực hiện bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng đã đẩy giá hàng nhập khẩu lên quá cao đã làm giảm thu nhập thực tế của người dân và dẫn đến tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường

Chính sách phi thuế quan

Vào cuối năm 1993, chính phủ Liên bang Nga bắt đầu quá trình cải cách hoạt động ngoại thương bằng việc tự do hóa phần lớn lĩnh vực nhập khẩu của quốc gia này Chính phủ quyết định xóa bỏ các rào cản phi thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng nhập khẩu, tuy nhiên vẫn yêu cầu các loại giấy phép vì lý do an toàn và sức khỏe của người dân Mọi hạn chế về số lượng đối với nhập khẩu hàng hóa, từng bước giảm hạn ngạch nhập khẩu theo kế hoạch tập trung, tiến đến bãi bỏ hạn ngạch

và giấy phép xuất khẩu đối với tất cả các loại hàng hóa, trừ các nguyên liệu chiến lược, bãi bỏ những đặc quyền khu vực đối với một số mặt hàng xuất khẩu Cho đến trước năm 1996, sự kiểm soát của chính phủ Liên bang Nga trong lĩnh vực nhập khẩu đã gần như không còn

Trên thực tế, cho đến nay, Nga chưa áp dụng một cách có hệ thống biện pháp cấp hạn ngạch nhập khẩu đối với một số mặt hàng như may mặc, hải sản, … như các nước EU, G7 , hoặc hạn chế, ngừng nhập khẩu như nhiều nước đang phát triển

áp dụng Tuy nhiên, ở từng thời điểm, Nga đã áp dụng một số biện pháp bảo hộ mậu dịch mang tính chất phi thuế quan nhằm mục tiêu bảo vệ thị trường trong nước Mặt khác, trong tiến trình gia nhập tổ chức WTO, để thực hiện cam kết minh bạch hóa chính sách phi thuế quan, ngày 14/4/1998 Tổng thống Nga V.Putin đã ký Luật về các biện pháp bảo vệ lợi ích của Liên bang Nga trong hoạt động ngoại

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thương Theo đạo luật này, từ năm 1998, Nga sẽ áp dụng các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch nhập khẩu hoặc hạn chế nhập khẩu, các biện pháp chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ khác nhằm bảo vệ các ngành kinh tế của đất nước trước sự cạnh tranh của nước ngoài cũng như đối phó với sự phân biệt đối xử của một số nước đối với hàng xuất khẩu của Nga và đảm bảo cân bằng cán cân thương mại

Việc nhập khẩu đa số hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, phương tiện giao thông vận tải, máy kéo, hàng lương thực – thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ chơi trẻ

em phải có giấy chứng nhận phù hợp do cơ quan chức năng có thẩm quyền của Liên bang cấp trên cơ sở xét nghiệm, giám định mẫu hàng Thủ tục này phải được thực hiện trước khi thông quan Đối với một số mặt hàng dược phẩm, phải do cơ quan giám định y tế thử nghiệm, có khi kéo dài tới hằng năm Giấy chứng nhận phẩm chất của cơ quan giám định quốc tế có uy tín, như SGS, có thể thay thế giấy chứng nhận phù hợp vào Nga

Hàng hóa nhập khẩu vào Nga phải có chỉ dẫn bằng tiếng Nga, trong đó ghi rõ tên hàng, thành phần chất lượng, hướng dẫn sử dụng, ….trên bao bì(nếu có diện tích nhỏ), hoặc đính kèm theo mỗi đơn vị sản phẩm Cụ thể, đối với mặt hàng lương thực – thực phẩm, các chỉ dẫn này bao gồm:

- Tên sản phẩm, dạng sản phẩm;

- Nước xuất xứ;

- Công ty sản xuất;

- Trọng lượng hay thể tích sản phẩm;

- Các thành phần chính của sản phẩm (bao gồm cả phụ gia thực phẩm)

- Giá trị dinh dưỡng (calo, vitamin – đối với các sản phẩm có tác dụng trị liệu, thực phẩm, thực phẩm dùng cho trẻ em)

- Ngoài ra còn phải ghi rõ thời hạn sử dụng, điều kiện bảo quản, phương pháp chế biến, hướng dẫn và yêu cầu về sử dụng, bao gồm cả các chỉ dẫn về các trường hợp không được sử dụng hay sử dụng có mức độ sản phẩm này(Customs Union Commission, 2011)

Quy định bắt buộc các sản phẩm nhập khẩu vào liên bang Nga phải có chỉ dẫn bằng tiếng Nga góp phần ngăn chặn các sản phẩm kém chất lượng được đưa

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

vào Nga và bảo vệ người tiêu dùng Tuy nhiên yêu cầu này ít nhiều cũng làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm ngoại cùng loại

Hàng hóa sẽ được áp mã thuế nếu có dẫn chiếu đầy đủ về người bán hàng và người mua, điều kiện giao hàng, thống kê hàng hóa có kèm theo đơn giá từng mặt hàng và tổng giá trị hàng hóa, mức chiết khấu (theo điều kiện chiết khấu trong hợp đồng và hóa đơn), điều kiện giao hàng và các điều khoản bắt buộc khác của hợp đồng ngoài ra, còn có các chứng từ về chủng loại, chất lượng, điều kiện và thời hạn giao hàng Nếu thiếu một trong các chứng từ về chủng loại, chất lượng, điều kiện và thời hạn giao hàng Nếu thiếu một trong các chứng từ đã nêu trên, cơ quan hải quan

có quyền từ chối áp mã thuế hàng nhập khẩu

Đối với hoạt động xuất khẩu, Liên bang Nga cũng thuộc các nước bị áp đặt các chế độ hạn chế nhập khẩu Trong điều kiện đó, xuất khẩu của Nga sang các nước chủ yếu được điều chỉnh bằng các công cụ hành chính, bao gồm các quy định

về hạn chế, ngăn cấm trực tiếp thông qua việc cấp giấy phép xuất khẩu và những biện pháp tương tự

Gần đây nhất, bắt đầu từ tháng 1/2012, Hải quan Nga bắt đầu thực hiện quy chế Doanh nghiệp ưu tiên (AEO) căn cứ theo Lệnh số 1877 về Quy chế hành chính của Hải quan Nga trong thực hiện quy chế AEO và Lệnh số 1914 về Mẫu thỏa thuận ký giữa cơ quan hải quan Nga và AEO

Theo quy định, những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và đảm bảo các tiêu chí là “thành viên tích cực trong hoạt động kinh tế đối ngoại” đều có thể tham gia miễn phí chương trình để được hưởng quy chế AEO Một số tiêu chí để doanh nghiệp được công nhận là “thành viên tích cực trong hoạt động kinh tế đối ngoại” như sau:

- Có thời gian tham gia hoạt động từ một năm trở lên tính đến thời điểm đăng

kí với cơ quan hải quan tham gia chương trình AEO

- Có hệ thống kế toán, kiểm kê hàng hóa có thể đối chiếu số liệu trình bái với

cơ quan hải quan và số liệu hoạt động kinh tế đối ngoại

- Có cơ sở để xác nhận số thuế hải quan nộp trong quá trình hoạt động tương đương một triệu euro/năm

- Không thuộc diện thiếu/ nợ thuế theo quy định luật pháp Nga về thuế và phí

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Không thuộc diện đang làm thủ tục xin phá sản

- Trong doanh nghiệp không có những cá nhân liên quan đến tội phạm hình sự

về kinh tế

Khi được hưởng quy chế AEO, doanh nghiệp sẽ được hưởng một số ưu đãi hải quan, như: có thể tạm lưu giữ hàng tại kho của chính doanh nghiệp, có thể xuất hàng trước khi khai báo hải quan, có thể làm thủ tục hải quan ngay tại kho của doanh nghiệp, được hưởng những thủ tục khai báo hải quan đơn giản hóa…

Có thể thấy Liên bang Nga là một thị trường tương đối tự do, xét về phương diện các hàng rào phi thuế quan, so với các nước khác trên thế giới Hiện tại, ở Nga, các biện pháp hạn chế về số lượng hoặc ngừng nhập khẩu hầu như chưa được áp dụng, trong khi ở các nước phát triển có tới 30% hàng lương thực, thực phẩm, 13% năng lượng khoáng sản và khoảng 10% hàng xa xỉ bị hạn chế về số lượng nhập khẩu

1.2 Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS) của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO)

1.2.1 Sự cần thiết của việc ban hành Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS)

1.2.1.1 Sự ra đời của Hiệp định SPS góp phần điều tiết vấn đề về kiểm dịch động thực vật nhằm bảo vệ sức khỏe con người

Sự bùng nổ dịch bệnh lở mồm long móng và bệnh bò điên vào những năm 80 của thế kỉ XX ở nước Anh đã nhanh chóng trở thành chủ đề bàn thảo tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và một số thành viên WTO đã phải thông qua các biện pháp hạn chế thương mại Một số nước cấm nhập sản phẩm thịt có xuất xứ từ Cộng đồng Châu Âu Australia, Ác-hen-ti-na, Canada, Hàn Quốc, New Zealand và Mỹ đã

áp dụng lệnh cấm nhập khẩu thịt từ Bun-ga-ri, Croatia, Cộng hoà Séc, Estonia, Hungary, Lát-vi-a, Ba Lan, Ru-ma-ni, Slo-va-ki-a và Slo-ve-nia

Những quan ngại về sức khoẻ và an toàn của người tiêu dùng và các chính phủ cùng lúc khuyến khích các biện pháp cản trở thương mại nhằm bảo vệ công nghiệp trong nước với những luận điệu thương mại và pháp lý, đe doạ cấm vận, lo ngại về sức khoẻ, đạo đức, vấn đề về chủ quyền, luật pháp

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hàng loạt các cụm từ được sử dụng phổ biến trong thời gian này như “an toàn lương thực”, “đánh giá rủi ro”, “xác định mức độ bảo hộ hợp lý của các biện pháp kiểm dịch động thực vật”, “nguyên tắc phòng ngừa”, “tính tương đồng của các biện pháp kiểm dịch động thực vật”, “hài hòa hoá các qui định về kiểm dịch động thực vật” và khả năng truy nguyên Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động

thực vật là trọng tâm thảo luận cả trong và ngoài khuôn khổ WTO

Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật định nghĩa tiêu chuẩn

về vệ sinh, dịch tễ rất rộng, bao gồm tất cả các biện pháp tác động tới thương mại quốc tế và các biện pháp áp dụng nhằm bảo vệ đời sống, sức khoẻ của con người, động thực vật trong phạm vi lãnh thổ của mỗi thành viên WTO trước những nguy

cơ từ bên ngoài Đó là nguy cơ sâu bệnh, bệnh tật từ động, thực vật, nguy hại đến sức khoẻ do các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, hoá chất độc hại và bệnh tật xuất phát từ các chất hữu cơ trong thức ăn, đồ uống có ga và thức ăn cho gia súc

Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật là một trong số rất ít các biện pháp hoặc trực tiếp đem lại lợi ích hoặc trực tiếp gây hại cho người tiêu dùng Vì lẽ đó, qui định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật phức tạp hơn, và xét về khía cạnh kinh tế khó có thể áp dụng công thức phân tích chi phí - lợi ích để đánh giá hiệu quả của các qui định này Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật

cụ thể hơn, qui định chặt chẽ hơn nhiều hiệp định khác của WTO và đặc biệt là GATT 1994

Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật thừa nhận nhu cầu thiết thực bảo vệ động, thực vật và cuộc sống, sức khoẻ con người trong khi thương mại nông nghiệp đang ngày càng phát triển (phần lớn là kết quả của Hiệp định Nông nghiệp) Hiệp định về Các biện pháp Kiểm dịch động thực vật ghi nhận thực tế là các thành viên WTO có thể duy trì các mức độ bảo vệ khác nhau, nhưng mục đích cuối cùng là giảm thiểu các khác biệt này bằng cách thúc giục các thành viên WTO

áp dụng tiêu chuẩn có cơ sở khoa học

1.2.1.2 Hiệp định SPS được ban hành nhằm bổ sung những vấn đề nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TBT

Bên cạnh Hiệp định SPS, một hiệp định khác cũng không kém phần quan trọng trong WTO và rất được các nước trên thế giới quan tâm trong lĩnh vực thương

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

mại quốc tế đó là: Hiệp định đa phương về các rào cản kỹ thuật trong thương mại –

Technical barriers to Trade (TBT) Ra đời năm 1979 sau vòng đàm phán Tokyo,

được đưa ra và chỉnh sửa tại vòng đàm phán Uruguay năm 1995, Hiệp định TBT nhằm đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy trình đáng giá sự phù hợp sẽ không tạo ra những trở ngại không cần thiết cho thương mại Hiệp định này đưa ra các yêu cầu kỹ thuật liên quan đến các đặc điểm của sản phẩm như là chất lượng, hình dạng, độ an toàn hay kích thước cũng như các yêu cầu về việc đóng gói

và nhãn mác Các tiêu chuẩn được phân định rõ việc tuân thủ theo là bắt buộc hay

tự nguyện Hiệp định TBT khuyến khích các nước sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế

đã có sẵn nhưng nó không yêu cầu các nước phải tăng hay giảm mức độ các quy định và tiêu chuẩn nội địa của mình theo các điều chỉnh tiêu chuẩn hóa quốc tế Tuy nhiên, các biện pháp nhằm đảm bảo cho sự an toàn sức khỏe con người, động vật, thực vật cũng như bảo vệ môi trường lại không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TBT Nói cách khác, Hiệp định TBT không đưa ra các quy định về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật mà các nước đang thi hành để bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp trong nước và sinh vật sống trước các loại côn trùng và dịch bệnh xâm nhập vào lãnh thổ bởi các hàng hóa nhập khẩu Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến sự ra đời của Hiệp định SPS Các biện pháp của hiệp định SPS được đưa ra nhằm bảo vệ con người cũng như động vật trong lãnh thổ nước nhập khẩu trước các nguy cơ từ các chất phụ gia , chất gây ô nhiễm , độc tố , hay sinh vật gây bệnh , trong thực phẩm , đồ uống và thức ăn chăn nuôi; ngăn chặn sự hình thành cũng như gia tăng các loại côn trùng

Sự khác nhau giữa các điều khoản của Hiệp định SPS với các điều khoản của Hiệp định TBT bao gồm ba khía cạnh chính Khía cạnh thứ nhất, trong khi TBT yêu cầu quy định sản phẩm phải dựa trên Nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) thì SPS lại cho phép các nước thành viên được đưa ra những yêu cầu khác nhau về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật đối với thực phẩm, động vật và các sản phẩm thực vật có nguồn gốc từ các quốc gia khác nhau, với điều kiện rằng các biện pháp đó “không

tự ý hoặc vô căn cứ phân biệt đối xử giữa các nước có điều kiện ưu thế giống hoặc tương tự nhau” Nguyên nhân cho việc này chính là sự khác biệt trong khí hậu, côn trùng hoặc các dịch bệnh và điều kiện an toàn thực phẩm Khía cạnh thứ hai, các

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

điều khoản của SPS cho phép một cách rõ ràng chính phủ các nước được lựa chọn không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế Việc các tiêu chuẩn quốc gia khắt khe hơn so với quốc tế là điều được cho phép Tuy nhiên nếu sự khắt khe đó dẫn đến một sự hạn chế lớn hơn cho thương mại, chính phủ nước đó sẽ bị yêu cầu để đưa ra các cơ

sở khoa học cho các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật của mình, hoặc phải chứng minh được rằng tiêu chuẩn quốc tế không đáp ứng được mức độ bảo vệ sức khỏe của nước họ Và cuối cùng, Hiệp định SPS đưa ra nguyên tắc Phòng bị và cho phép các nước thành viên thông qua các biện pháp SPS trên “cơ sở tạm thời”, trong các trường hợp mà “những chứng cứ khoa học liên quan bị thiếu” bằng việc xem xét các “thông tin cần thiết” mà các nước có sẵn, từ những thành viên khác hoặc từ các tổ chức quốc tế liên quan Tuy nhiên theo tuyên bố Rio (1992), việc này

có thể dẫn đến các “đe dọa nghiêm trọng hoặc thiệt hại không thể cứu vãn” Chính bởi những thiệt hại nghiêm trọng có thể gây ra do sự lan tràn của sâu bọ và dịch bệnh từ việc trao đổi thương mại về động thực vật cũng như các sản phẩm có nguồn gốc từ chúng, hiệp định SPS phải kết hợp một cách chặt chẽ nguyên tắc Phòng bị

1.2.2 Nội dung chủ yếu của Hiệp định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật(SPS)

1.2.2.1 Mục tiêu của Hiệp định SPS

Trong khi Hiệp định về Nông nghiệp đưa ra hàng loạt các hạn chế và cam kết cho việc thâm nhập thị trường, hỗ trợ nội địa, và bảo hộ xuất khẩu thì các điều khoản của hiệp định SPS lại cung cấp các hướng dẫn cho chính phủ trong việc thực thi các biện pháp kỹ thuật Hiệp định SPS đưa ra các điều kiện theo đó các cơ quan quản lý quốc gia có thể ban bố và thi hành các tiêu chuẩn, có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới thương mại quốc tế, về an toàn và sức khỏe Đặc biệt nó áp dụng cho bất kì biện pháp nào được thông qua với mục đích:

- Bảo vệ các loài động thực vật trong lãnh thổ nước thành viên trước nguy cơ

từ việc thâm nhập cũng như bùng phát của các loại côn trùng, bệnh dịch, các vật chủ mang theo bệnh dịch hoặc gây ra bệnh dịch,

- Bảo vệ sức khỏe của con người và động vật trong lãnh thổ nước thành viên trước nguy cơ từ các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, chất độc hại và các mầm bệnh

có trong thực phẩm, đồ uống và thức ăn chăn nuôi,

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người trong lãnh thổ nước thành viên trước nguy cơ bệnh dịch từ các loài động vật, thực vật hoặc các sản phẩm, sự thâm nhập hoặc bùng phát các loại côn trùng,

- Bảo vệ hoặc hạn chế các thiệt hại trong lãnh thổ nước thành viên từ sự thâm nhập hoặc bùng phát các loại côn trùng,( Peter Van den Bossche,2008)

Mục tiêu của Hiệp định SPS là để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của nước nhập khẩu có liên quan đến vấn đề an toàn sức khỏe quốc gia nhưng không đồng thời tạo ra các lỗ hổng cho các nước né tránh các quy định tự do hóa thương mại của Hiệp định Uruguay Hiệp định SPS đưa ra cả hai yêu cầu về nội dung và thủ tục với mục đích là để ngăn ngừa các quy định về an toàn thực phẩm, sức khỏe động thực vật trong việc trở thành các cản trở thương mại quốc tế và bị sử dụng cho các mục đích bảo hộ sản xuất

1.2.2.2 Yêu cầu của Hiệp định SPS đối với các nước là thành viên của WTO

Các quyền và nghĩa vụ cơ bản đối với các nước thành viên khi tham gia hiệp định này được quy định trong khoản 2 bao gồm những yêu cầu sau:

- Hướng dẫn xây dựng các biện pháp SPS căn cứ vào các tiêu chuẩn chỉ dẫn, các khuyến nghị quốc tế và được các tổ chức sau xây dựng:

+ Ủy ban dinh dưỡng Codex

+ Văn phòng quốc tế về bệnh dịch động thực vật

+ Các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan hoạt động trong khuôn khổ Công ước bảo vệ Thực vật quốc tế

+ Bất kỳ tổ chức quốc tế nào do Ủy ban về SPS của WTO ủy quyền

- Tham gia đầy đủ vào hoạt động của tổ chức quốc tế nêu trên nhằm thúc đẩy việc hài hòa hóa các biện pháp SPS trên bình diện quốc tế

- Tạo cơ hội cho các bên liên quan ở các nước thành viên khác góp ý cho dự thảo các tiêu chuẩn nếu các tiêu chuẩn đó không có cơ sở là các tiêu chuẩn quốc tế, hoặc đi chệch khỏi các tiêu chuẩn quốc tế hoăc không có tiêu chuẩn quốc tế liên quan

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Chấp nhận các biện pháp SPS của nước xuất khẩu nếu các biện pháp đó đạt cùng mức độ bảo vệ SPS và khi có thể, vào các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về tính tương đương của các biện pháp kiểm dịch động thực vật cụ thể

1.2.2.3 Khái quát về một số tiêu chuẩn quốc tế và tổ chức quốc tế liên quan đến Hiệp định SPS

Theo quy định tại Hiệp định SPS, các nước thành viên WTO có nghĩa vụ bảo đảm rằng các biện pháp SPS mà họ áp dụng là “dựa trên các tiêu chuẩn, khuyến nghị, hướng dẫn quốc tế” nếu đã có các tiêu chuẩn, khuyến nghị hay hướng dẫn liên quan của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế nhất định Những tổ chức quốc tế được WTO công nhận có các tiêu chuẩn liên quan chặt chẽ với Hiệp định về các biện pháp Kiểm dịch động thực vật (SPS), mà các nước thành viên phải tuân thủ hoặc tham khảo trong việc soạn thảo các quy định kiểm dịch động thực vật quốc gia bao gồm:

- Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế (Codex Alimentarius Commission) trong lĩnh vực an toàn thực phẩm;

- Văn phòng quốc tế về bệnh dịch động vật (International Office of Epizootic) trong lĩnh vực sức khỏe động vật;

- Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (International Plant Protection Convention) trong lĩnh vực sức khỏe thực vật;

- Các tổ chức quốc tế khác có liên quan mà tất cả các thành viên WTO đều có thể tham gian (các tổ chức này sẽ do Ủy ban SPS xác định) trong các lĩnh vực khác (Trung tâm WTO, 2009);

Một khi đã trở thành thành viên của WTO và tham gia vào Hiệp định SPS, các thành viên được yêu cầu tham gia các tổ chức nêu trên để nhằm xây dựng lên các quy định và tiêu chuẩn về kiểm dịch động thực vật cho quốc gia mình Tuy nhiên, các quy định hay tiêu chuẩn riêng của mỗi không gia không phải bắt buộc thực hiện theo đúng các quy định mà các tổ chức này đưa ra Các thành viên chỉ phải đưa vào những quy định quốc tế mang tính bắt buộc vào trong quuy định riêng của quốc gia, các quy định còn lại chỉ mang tính chất tham khảo

Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế (Codex Alimentarius Commission - CAC)

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế là một cơ quan liên chính phủ, thành lập vào năm 1963 dưới sự đồng tài trợ của hai tổ chức thuộc Liên hợp quốc: Tổ chức Sức khỏe thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) Mỗi năm, Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế sẽ tiến hành họp mặt một lần tại Rome hoặc Geneva (trước đây các cuộc họp được diễn ra 6 tháng một lần) Nhiệm

vụ chính của CAC là thực hiện chương trình Hợp tác giữa WHO và FAO về các tiêu chuẩn thực phẩm, với mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và thúc đẩy sự công bằng trong thương mại thực phẩm Ủy ban có trách nhiệm đưa ra các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và thương mại nông nghiệp, các quy tắc thực hành và giới hạn tối đa cho các chất phụ gia, chất gây ô nhiễm, dư lượng thuốc trừ sâu và thuốc thú ý, cho 169 chính phủ tham gia nhằm dự thảo các quy định quốc gia riêng của họ Công việc này được thực hiện thông qua một mạng lưới ủy ban, bao gồm đại diện đến từ các quốc gia thành viên Ủy ban này được chia thành: Ủy ban về các vấn đề chung, như về vấn đề nhãn mác sản phẩm lương thực, và Ủy ban hàng hóa,

ví dụ về vấn đề sữa và các sản phẩm sữa Năm 1999, Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế thành lập ba lực lượng liên chính phủ về lĩnh vực công nghệ sinh học, thức ăn chăn nuôi và nước hoa quả Công việc kỹ thuật được tiến hành thông qua sự hợp tác với các cơ quan khoa học, như là Ủy ban chuyên ngành về phụ gia thực phẩm (JECFA) và Ủy ban hỗ trợ chuyên nghành về dư lương thuốc bảo vệ thực vật (JMPR), trong khi sáu Ủy ban khu vực của Codex đảm bảo việc phối hợp và thúc đẩy các nhu cầu thuộc khu vực Cuối cùng, sẽ có một Ủy ban chấp hành theo dõi hoạt động của toàn bộ Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế Ủy ban Codex và các lực lượng đặc nhiệm được thành lập bởi chính phủ nước chủ nhà, quốc gia trả tiền cho các chi phí hoạt động của các cuộc họp

Để một tiêu chuẩn mới về thực phẩm được Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế thông qua, trước hết nó cần phải trải qua một quy trình gồm tám bước, dành thời gian cho các thành viên đưa ra ý kiến, tuy nhiên việc này không được kéo dài quá năm năm Các tiêu chuẩn được thông qua sẽ được áp dụng trong Ủy ban Tiêu chuẩn Thực phẩm quốc tế Với việc các hiệp định của WTO có hiệu lực, các tiêu chuẩn của Codex được coi như là các tiêu chuẩn tham khảo hợp pháp cho sự an toàn và chất lượng thực phẩm

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

 Văn phòng quốc tế về bệnh dịch động vật (Office International des Epizooties – OIE)

Được thành lập năm 1924, Văn phòng quốc tế về bệnh dịch động vật là một

tổ chức liên chính phủ, có trụ sợ đặt tại Paris, có nhiệm vụ trong việc ngăn chặn và kiểm soát sự lan tràn của các loài động vật và các căn bệnh có nguồn gốc từ động vật Sứ mệnh của tổ chức này là thúc đẩy sự minh bạch và hiểu biết về vấn đề sức khỏe độn vật thế giới, thu thập, phân tích và cung cấp các thông tin khoa học thú y

Tổ chức OIE phát triển các tiêu chuẩn và hướng dẫn cho 164 nước thành viên nhằm chống lại sự thâm nhập của dịch bệnh và các tác nhân gây bệnh khác trong trao đổi thương mại hàng hóa có nguồn gốc động vật nhưng đồng thời cũng tránh các rào cản thương mại không hợp lý

Các tiêu chuẩn của OIE do các chuyên gia khoa học quốc tế từ các nước thành viên phát triển Các chuyên gia này nhóm họp trong các Ủy ban Chuyên ngành và các nhóm nghiên cứu với sự trợ giúp của mạng lưới gồm 162 phòng thí nghiệm và trung tâm phối hợp Năm ủy ban khu vực thực hiện nghiên cứu các vấn

đề do cơ quan thú y địa phương đưa ra và thúc đẩy các hoạt động hợp tác ở mức độ khu vực Sự thống nhất ý kiến của cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Tổ chức OIE, Ủy ban Quốc tế, sẽ là quyết định thông qua cho mọi tiêu chuẩn, hướng dẫn và các khuyến nghị về sức khỏe động vật

 Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế (IPPC)

Công ước Bảo vệ thực vật Quốc tế (IPPC) là một tổ chức hiệp ước quốc tế nhằm đảm bảo phối hợp và hành động hiệu quả để ngăn ngừa sự lan tràn của các loài côn trùng từ thực vật và các sản phẩm có nguồn gốc thực vật, đồng thời đưa ra các biện pháp thích hợp nhằm kiểm soát chúng Tổ chức Công ước Bảo vệ thực vật Quốc tế được điều hành bởi một ban Thư ký,làm việc tại trụ sở của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO) tại Rome Ban Thư ký này có trách nhiệm đối với việc hợp tác giữa các chương trình hành động nhằm hài hòa hóa toàn cầu các biện pháp kiểm dịch thực vật Một mạng lưới các tổ chức bảo vệ thực vật, từ khu vực cho đến quốc tế, sẽ đảm bảo cho việc thi hành các biện pháp này Năm 1997, Công ước đã thông qua sửa đổi bổ sung trên phạm vi rộng, phản ánh những vấn đề tạm thời của kiểm dịch thực vật và vai trò cũng như mối quan hệ giữa IPPC với Hiệp định Kiểm

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

dịch động thực vật (SPS) Một Ủy ban lâm thời về các biện pháp kiểm dịch thực vật, bao gồm các đại diện từ các tổ chức Bảo vệ Thực vật quốc gia (NPPOs) và các thành viên của tổ chức FAO, chịu trách nhiệm thi hành Công ước Hàng năm, Ủy ban lâm thời này sẽ nhóm họp với ban Thư Ký nhằm chỉ đạo cho các chương trình hành động, đưa ra các ưu tiên trong việc xây dựng các tiêu chuẩn và sự hài hòa hóa các biện pháp kiểm dịch thực vật, xem xét việc bảo vệ thực vật trên thế giới và thông qua các tiêu chuẩn Nhiệm vụ chính của ban thư ký là phát triển Tiêu chuẩn quốc tế cho các biện pháp kiểm dịch thực vật (ISPMs), cung cấp và hỗ trợ thông tin cho giữa các bên liên quan và cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật Sự phù hợp của các tài liệu do ban Thư ký soạn thảo sẽ được xem xét và kiểm tra hàng năm bởi Ủy ban Tiêu chuẩn lâm thời, bao gồm các chuyên gia về kiểm dịch thực vật trên toàn thế giới

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN BANG NGA

2.1 Khái quát các quy định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với hàng hóa nhập khẩu

2.1.1 Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (VPSS) và khung pháp lý của các quy định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật

2.1.1.1 Sự ra đời và hoạt động của Cơ quan kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (VPSS)

Cục Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga là cơ quan hành pháp Liên bang, thực hiện các công việc trong vấn đề kiểm soát và giám sát thuộc lĩnh vực khoa học thú y Cơ quan này cấp phép và các chứng nhận cho hàng hóa xuất khẩu,

nó kiểm soát việc sử dụng thuốc trừ sâu và các chất hoa học nông nghiệp, việc duy trì sự màu mỡ của đất đai Bên cạnh đó, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm cho việc lựa chọn các thành tựu, bảo hộ, tái tạo và việc sử dụng các nguồn động vật trên cạn cũng như dưới nước Đồng thời nó cũng thực hiện chức năng trong việc bảo vệ dân

cư khỏi các dịch bệnh lây nhiễm từ động vật Cục Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga hoạt động dưới sự điều hành của Bộ Nông nghiệp Liên bang Nga

Hoạt động của Cục Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga được thực hiện theo qui định của Hiến pháp Liên bang Nga, Luật Hiến pháp của Liên bang, Luật Liên bang, các quyết định của Tổng thống và Chính phủ Liên bang Nga, các Hiệp định Quốc tế của Liên bang Nga, các đạo luật quy chuẩn của Bộ Nông nghiệp Liên bang Nga và các đạo luật hiện hành

Cục Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga thực hiện chức năng một cách trực tiếp và thông qua các ban ngành địa phương, phối hợp với các cơ quan thẩm quyền Liên bang, các thể chế tự trị, các liên đoàn và các tổ chức khác

Các mặt hàng có nguồn gốc động thực vật khi nhập khẩu vào thị trường Liên bang Nga cần phải được Cục kiểm dịch Liên bang Nga kiểm duyệt và thông qua theo các quy định kiểm dịch hiện hành trước khi được cấp phép nhập khẩu vào thị trường Các nhà nhập khẩu hàng hóa trong nước cũng cần phải đề nghị Cục kiểm dịch cấp giấy phép nhập khẩu Sau đó, họ sẽ phải chuyển giấy phép này cho người

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

xuất khẩu để người xuất khẩu có thể yêu cầu chính quyền nước sở tại cung cấp cho

họ giấy chứng nhận xuất khẩu về kiểm dịch Giấy chứng nhận này yêu cầu các văn bản sau (bằng tiếng Nga, và thường do người nhập khẩu cung cấp cho Cục kiểm dịch Liên bang Nga): Hợp đồng thương mại, hóa đơn, vận tải đơn, giấy chứng nhận thú y, giấy chứng nhận xuất sứ và nhãn mác sản phẩm hoàn chỉnh(United States International Trade Commission, 2008) Các sản phẩm sẽ được lấy mẫu kiểm tra, nếu được thông qua, giấy chứng nhận được cấp sẽ được sử dụng cho nhiều chuyến hàng nhập khẩu khác được vận chuyển do phương tiện nước ngoài đã được cấp phép và có giá trị trong vòng một năm

2.1.1.2 Khung pháp lý và cách thức ban hành các quy định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga

Liên bang Nga là một trong những thành viên của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm Codex quốc tế (CAC) và Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) Các quy định về thực phẩm và thương mại đã được đổi mới đồng bộ với chính sách hội nhập khi Liên minh Hải quan bao gồm Liên bang Nga, Belarus, Kazakhstan được hình thành, cũng như khi Liên bang Nga gia nhâp Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2012)

Các vấn đề chung liên quan đến việc bảo vệ sức khỏe con người đặc biệt là tránh khỏi các nguy cơ dịch bệnh từ thực phẩm mà thuộc phạm vi của Hiệp định kiểm dịch động thực vật (SPS) sẽ được xử lý theo Đạo luật về Vệ sinh và Phúc lợi Dịch tễ dân số (1999), Luật Thú y (1993), Đạo luật về Kiểm dịch thực vật (2000), Đạo luật về Chất lượng và An toàn vệ sinh thực phẩm (2000), Đạo luật về Bảo vệ quyền lợi Người tiêu dùng (1992) Toàn bộ các Đạo luật trên đã đều được sửa đổi

và bổ sung năm 2011 Các Đạo luật khác có liên quan đến các sản phẩm thực phẩm bao gồm: Đạo luật về quy định Kỹ thuật (2002, sửa đổi năm 2011), Đạo luật về Quy định bang trong việc sản xuất và xử lý chất Ethyl, các loại Rượu mạnh và các sản phẩm chứa cồn (1995, sửa đổi năm 2011), Đạo luật về quy định kĩ thuật đối với Sữa

và các sản phẩm Bơ (2008, sửa đổi năm 2010) và Đạo luật về các quy định kĩ thuật đối với các loại đồ uống từ trái cây và rau củ (2008)

Cùng với các Đạo luật trên và các Quyết định của Ủy ban Liên minh Hải quan (về Sự hài hòa các đạo luật pháp lý của Liên minh Hải quan đối với các Biện

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

pháp Vệ sinh, Dịch tễ và Kiểm dịch thực vật với các tiêu chuẩn quốc tế, năm 2011

và các Quy định Kỹ thuật trong Liên minh Hải quan, năm 2010) sáu Quy định Kỹ thuật (TRs) liên quan đến việc di chuyển tự do của các khối hàng hóa nông-công nghiệp giữa các nước thành viên CU (trong tổng số khoảng 11 Quy định Kỹ thuật được chuẩn bị cho công-nông nghiệp) đã được ban hành trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2012 Các quy định trên được đưa vào các đạo luật và văn bản pháp

lý phù hợp với các yêu cầu của Liên minh Hải quan Tại Liên bang Nga, rất nhiều các Nghị quyết liên quan đã được thông qua như là Sự phê chuẩn về các quy định trong việc Kiểm soát Vệ sinh và Thời gian kiểm dịch tại các trạm kiểm tra nẳm ở Biên giới của Liên bang Nga (2011); các Yêu cầu Vệ sinh An toàn thực phẩm và Dinh dưỡng (2002, sửa đổi năm 2011); các Yêu cầu An toàn đối với các chất Phụ gia thực phẩm, các loại gia vị và các phương tiện hỗ trợ kĩ thuật (2012); các Yêu cầu chung đối với việc Cung cấp thông tin có liên quan đến thực phẩm cho người tiêu dùng (2003, sửa đổi năm 2009); Mức độ an toàn của một số loại thực phẩm đặc biệt, bao gồm thực cho các chế độ giảm cân và hạn chế dinh dưỡng (2012); Quá trình sản xuất Thực phẩm (2011); và các Yêu cầu vệ sinh cho các chất thực phẩm hữu cơ (2008) Năm 2008, Liên bang Nga đã phê duyệt các Yêu cầu cho các sản phẩm thực phẩm hữu cơ do đó một sản phẩm được phép đề nhãn hiệu “hữu cơ” chỉ khi mà chúng được sản xuất, vận chuyển, lưu trữ, bốc xếp và phân phối theo đúng các yêu này

Cục Kiểm dịch Động thực vật Liên bang (VPSS hay Rosselkhoznadzor), dưới sự điều hành của Bộ Nông nghiệp, có trách nhiệm đối với việc kiểm soát thú y

và kiểm dịch thực vật trong lãnh thổ cũng như biến giới bên ngoài Liên bang Nga với các nước trong Liên minh Hải quan Cục Liên bang về bảo vệ Quyền người tiêu dùng và sức khỏe con người, thuộc bộ Sức khỏe và Phát triển xã hội (Rospotrebnadzor), có trách nhiệm về việc kiểm soát vệ sinh dịch tễ tại Liên bang Nga dù rằng cơ quan này không nằm tại biên giới Tuy nhiên, cơ quan này có quyền đưa ra các lệnh cấm việc vận chuyển và buôn bán các loại thực phẩm không phù hợp với các quy định pháp lý Đối với các sản phẩm vận chuyển thông qua Kazakhstan hoặc Belarus trước khi đến Liên bang Nga thì các biện pháp kiểm soát thú y và kiểm dịch thực vật, bao gồm cả việc kiểm tra giấy chứng nhận hợp lệ để

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

được vào lãnh thổ Liên bang Nga, sẽ được thực hiện lần lượt tại các biên giới bên ngoài Liên minh Hải quan Cục Liên bang về Quy định Kỹ thuật và Đo lường (Rosstandart hay Rostekhregulirovaniye), thuộc Bộ Công nghiệp và Thương mại ,quản lý việc đánh giá, quy trình và dịch vụ sản phẩm để xem xét sự tuân thủ của của các sản phẩm đó theo tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn chứng nhận

Các cơ quan thuộc các bang cũng tham gia vào quy trinh kiểm dịch nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm Các thành viên của Liên minh Hải quan sẽ luôn kiểm tra mức độ tuân thủ theo các quy định của hàng hóa vào lãnh thổ các nước và các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm của Liên bang Nga

Các sản phẩm và nhãn hiệu của chúng phải tuân theo các quy định trong Quy định và quy tắc về Vệ sinh (SanPiN); tiêu chuẩn quốc gia (GOSTs); các Yêu cầu vệ sinh về An toàn thực phẩm và dinh dưỡng Các tiêu chuẩn của GOST đang được xem xét lại nhằm thống nhất với các tiêu chuẩn ISO về thực phẩm và các quy định mới của SanPin đã được thông qua bởi Liên minh Hải quan từ năm 2010 đến 2012 Cục Kiểm dịch động thực vật liên bang Nga luôn liên tục cập nhật những danh mục sản phẩm yêu cầu giấy phép kiểm dịch nhập khẩu và chứng nhận kiểm dịch thực vật đối với phần lớn các loại thực phẩm nông nghiệp và thực phẩm chế biến

2.1.2 Quy định về Các biện pháp kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga cho từng nhóm hàng nhập khẩu

Kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Liên bang Nga chấp thuận thực hiện theo các nghĩa vụ bắt buộc của Hiệp định về việc Áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) Liên bang Nga nhấn mạnh cam kết trong việc đảm bảo rằng tất cả các biện pháp kiểm dịch động thực vật của quốc gia này,

dù được thông qua bởi chính phủ nước này hay các cơ quan có thẩm quyền của Liên minh Hải quan (CU), sẽ đều dựa trên các tiêu chuẩn và các hướng dẫn quốc tế trừ một số biệt pháp quy định khắt khe hơn khi có sự đánh giá rủi ro Nga cũng cam kết thêm rằng các biện pháp không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế cũng sẽ không được

áp dụng nếu như không cung cấp được cho các nước thành viên của WTO các bằng chứng khoa học cụ thể của biện pháp đó theo Hiệp định SPS Bên cạnh đó, Liên bang Nga cũng đặc biệt xác nhận rằng các biện pháp kiểm dịch động thực vật được thông qua đều tuân thủ chặt chẽ các điều khoản liên quan đến vấn đề chống phân

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

biệt đối xử của Hiệp định SPS Quốc gia này hoàn toàn đồng ý với quan điểm rằng các biện pháp kiểm dịch động thực vật không nên bị sử dụng như là một công cụ để hạn chế thương mại quốc tế

2.1.2.1 Các quy định đối với nhóm hàng có nguồn gốc động vật (bao gồm thủy sản)

Theo quy định kiểm dịch động thực vật của Liên bang Nga đối với các mặt hàng nhập khẩu có nguồn gốc từ động vật (bao gồm thủy sản), nguyên liệu thực phẩm tươi sống phải cung cấp được đầy đủ những thông tin bắt buộc về việc sử dụng các loại thuốc nhằm kiểm soát sinh vật kí sinh ngoài hoặc các loại bệnh trên động vật và gia cầm, các hóa chất xử lý trang trại và cơ sở vật chất của khu vực chăn nuôi cũng như ngày sử dụng cuối cùng của chúng Trong quá trình sản xuất các nguyên liệu thực phẩm tươi sống, nếu việc sử dụng các chất phụ gia, các chất kích thích tăng trưởng, dược phẩm, thuốc dùng để điều trị cho gia súc và gia cầm không được thông qua các biện pháp kiểm tra vệ sinh dịch tễ, đăng kí theo các quy trình đã được quy định thì các sản phẩm trên sẽ đều bị cấm nhập khẩu và sử dụng trong lãnh thổ Liên bang Nga Quy trình kiểm tra vệ sinh dịch tễ đối với thịt và sản phẩm thịt, cá, động vật thân mềm, động vật lưỡng cư, bò sát và các sản phẩm chế biến từ chúng về sự xuất hiện của các tác nhân gây bệnh của ký sinh trùng sẽ được tiến hành tuân thủ theo các quy tắc vệ sinh dành cho việc kiểm soát ký sinh trùng và thông số ký sinh trùng an toàn

2.1.2.1.1 Các sản phẩm và nguyên liệu thịt tươi sống

Thịt và các nguyên liệu thịt tươi sống từ các loài động vật được xuất khẩu vào thị trường Liên bang Nga cũng như lãnh thổ các nước thành viên thuộc Liên minh Hải quan sẽ phải tuần thủ theo quy trình kiểm dịch thú ý trước khi giết mổ; thịt, đầu và nội tạng của chúng sẽ được tiến hành kiểm tra ngay sau đó Thịt và các nguyên liệu thịt tươi sống phải được công nhận phù hợp cho con người sử dụng

Trên thân của con vật phải có dấu của cơ quan kiểm dịch thú y ghi tên hoặc

số của nhà máy sản xuất nơi mà con vật đó được giết mổ và đóng gói thịt Các sản phẩm thịt chế biến sẵn phải được đóng dấu trên bao bì Các nhãn nhận dạng phải được đính kèm một các chắc chắn trên bao bì và bao bì chỉ có thể được mở ra khi nhãn nhận dạng bị xé rách

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Thịt và các nguyên liệu thịt tươi sống phải lấy từ các con vật khỏe mạnh được nuôi dưỡng trên các trang trại hoặc các khu vực có quản lý riêng biệt, và không mắc những loại bệnh sau:

Bảng 2.1 Các loại bệnh trên động vật bị nghiêm cấm tại Liên bang Nga

(Nguồn: Customs Union Commission, Decision No.317)

Bệnh Ngứa - tuân

thủ theo các khuyến nghị của tổ chức Sức khỏe động vật thế giới

Bệnh sốt lợn châu Phi

- trong suốt 36 tháng cuối cùng tại khu vực nuôi dưỡng và quản lý

Bệnh Than - trong

suốt 20 ngày cuối

cùng tại khu nuôi

dưỡng

Dịch tả trâu bò -

trong suốt 24 tháng cuối cùng tại lãnh thổ của nước xuất khẩu hoặc khu vực quản lý

Dịch tả - trong suốt 36 tháng cuối tại khu vực nuôi dưỡng hoặc 6 tháng của quá trình loại bỏ kể từ ngày giết mổ của con vật bị ảnh hưởng

Bệnh Mụn nước -

trong suốt 24 tháng cuối cùng ctaij khu vực nuôi dưỡng và quản lý hoặc 9 thángkhi quá tình loại

bỏ được thực hiện

Bệnh Viêm màng phổi

- trong suốt 24 tháng cuối cùng

Bệnh Lao - trong

suố 6 tháng cuối cùng tại khu vực nuôi dưỡng

Bệnh sốt lợn cổ điển -

trong suốt 12 tháng cuối cùng tại khu vực nuôi dưỡng và quản lý

Bệnh Lao trên bò -

trong suốt tháng cuối cùng tại khu vực nuôi dưỡng

Bệnh giun xoắn - trong

trường hợp không có các trường hợp được ghi nhận về bệnh này trong suốt ba tháng tại khu vực nuôi dưỡng

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm