Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ ---***--- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Thương mại q
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Thương mại quốc tế
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỨNG PHÓ VỚI CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ CỦA LIÊN BANG NGA ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 6
1.1 Khái niệm và các hình thức hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Các hình thức 8
1.2 Tác động của các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế tới hoạt động thương mại quốc tế 25
1.2.1 Tác động tích cực 25
1.2.2 Tác động tiêu cực 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ CỦA LIÊN BANG NGA VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM 29
2.1 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng của Việt Nam vào thị trường Nga 29
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu 29
2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu 30
2.1.3 Phương thức xuất khẩu 37
2.2 Thực trạng áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam 38
2.2.1 Quy định về giấy phép nhập khẩu 39
2.2.2 Quy định về chứng nhận nhập khẩu 40
2.2.3 Áp giá hải quan 41
2.2.4 Quy định về hồ sơ xuất nhập khẩu 42
2.2.5 Quy định về tạm nhập 43
2.2.6 Quy định về thương mại điện tử 44
2.2.7 Quy định về kiểm dịch động thực vật 44
2.2.8 Quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hóa 46
2.2.9 Quy định về bao gói, nhãn mác 48
2.2.10 Quy tắc xuất xứ 48
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.3 Tác động của các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga đối với một
số mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam 50
2.3.1 Tác động tới hàng thủy sản 50
2.3.2 Tác động tới hàng dệt may 52
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU VIỆT NAM ỨNG PHÓ VỚI CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ CỦA LIÊN BANG NGA 55
3.1 Những nguồn lực chủ yếu giúp doanh nghiệp xuất khẩu ứng phó với biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế 55
3.1.1 Các nguồn lực nội tại của doanh nghiệp 56
3.1.2 Nguồn lực liên kết nhà nước – doanh nghiệp 56
3.1.3 Các nguồn lực liên kết khác 58
3.2 Những khó khăn mà doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam trong việc ứng phó với các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga 58
3.2.1 Nhân lực 58
3.2.2 Cơ sở vật chất và trình độ kỹ thuật 60
3.2.3 Các tiêu chuẩn của Việt Nam còn khá cách biệt so với các tiêu chuẩn quốc tế60 3.2.4 Công tác quản lý chất lượng chưa cao 61
3.2.5 Khả năng quản trị chuỗi giá trị còn non yếu 62
3.2.6 Nhận thức chưa tốt về tầm quan trọng của việc đáp ứng các quy định của thị trường Nga 62
3.3 Một số giải pháp giúp doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam ứng phó với các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Liên bang Nga 63
3.3.1 Nhóm giải pháp từ phía Chính phủ 63
3.3.2 Nhóm giải pháp từ phía Hiệp hội doanh nghiệp 69
3.3.3 Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp 71
KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết
tắt
Giải nghĩa Tiếng Anh Giải nghĩa Tiếng Việt
1 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á
2 ADP Anti - Dumping Practices Hiệp định chống bán phá giá
3 AoA Agreement on Agriculture Hiệp định nông nghiệp
4 ASEAN Association of South – East
Asian Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam
Á
5 CE European Conformity Tiêu chuẩn Châu Âu
6 CIF Cost, Insurance and Freight Tiền hàng, phí bảo hiểm, cước
9 EU European Union Liên minh Châu Âu
10 FSB The Federal Security
Service of the Russian Federation
Sở An ninh Liên bang Nga
11 GATT General Agreement on
Tariffs and Trade
Hiệp định chung về thuế quan và
14 HACCP Hazard Analysis and
Critical Control Point
Phân tích Mối nguy và Kiểm soát
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
16 ICO International Coffee
Organization
Tổ chức cà phê thế giới
17 IECEE International
Electrotechnical Commission (Standard) for Electrical Equipment
Tiêu chuẩn của Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế về các thiết bị điện
18 IECQ International
Electrotechnical Commission Quality
Tiêu chuẩn của Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế về chất lượng điện
22 Nafiqad National ago – forestry and
fisheries quality assurance
Tổ chức hợp tác và phát triển
kinh tế
24 RoO Rule of Origin Hiệp định về xuất xứ hàng hóa
25 RUB Russia Ruble Tiền tệ của Liên bang Nga
26 SA 8000 Social Accountability 8000 Tiêu chuẩn về lao động và trách
Hiệp định về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng
29 SG Agreement on Safeguards Hiệp định về biện pháp tự vệ
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
30 SPS Sanitary and Phytosanitary
Measures
Hiệp định về các biện pháp vệ sinh động thực vật
Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương
33 TRCU Customs Union Certificate Giấy chứng nhận của Liên minh
35 USD United States Dollar Đô la Mỹ
36 UNCTAD United Nations Conference
on Trade & Development
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
37 VASEP Vietnam Association of
Seafood Export and Producer
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
38 VCCI Vietnam Chamber of
Commerce and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
39 VPSS Veterinary and
Phytosanitary Surveilance Services (Russia)
Cục kiểm dịch động thực vật
Liên bang Nga
40 WB World Bank Ngân hàng thế giới
41 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH VẼ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Liên bang Nga các năm 2010 - 2014 30 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vào Liên bang Nga phân theo các ngành hàng năm 2014 32 Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên bang Nga các năm 2010 - 2014 33 Biểu đồ 2.4: Kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang Liên bang Nga các năm 2010 - 2014 34 Biểu đồ 2.5: Kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang Liên bang Nga các năm
2010 – 2014 35 Biểu đồ 2.6: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Liên bang Nga các năm 2010 - 2014 36
HÌNH VẼ
Hình 3.1: Các nguồn lực chủ yếu cho doanh nghiệp 55
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển và tác động sâu rộng tới nền kinh tế các quốc gia khiến cho việc liên kết sức mạnh giữa các nước để hợp tác phát triển trở thành vấn đề tất yếu hiện nay Việt Nam không phải là một ngoại lệ Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy quan hệ hợp tác phát triển với nhiều nước, nhiều khu vực và Tổ chức trên thế giới Điển hình, năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO, đánh dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế Năm 2010, Việt Nam tuyên bố tham gia Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) với tư cách là thành viên đầy đủ và đã hoàn tất đàm phán với một số đối tác quan trọng như Mỹ và Nhật Bản vào cuối năm 2014 Ngày 15/12/2014, Việt Nam và Liên minh Hải quan gồm 3 nước Nga, Belarus và Kazakhstan đã ký Biên bản thỏa thuận về việc kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan (VCUFTA) Có thể nói, tất cả các sự kiện trên đều đem đến cho Việt Nam cơ hội rất lớn trong việc xuất khẩu hàng hóa ra thị trường thế giới
Bên cạnh các đối tác kinh tế lớn như Mỹ và EU, Nga cũng là một thị trường xuất khẩu tiềm năng của Việt Nam Tháng 8/2012, Liên bang Nga chính thức trở thành thành viên thứ 156 của WTO Theo đó, Nga cam kết giảm mức thuế bình quân của tất cả các hàng hóa xuống còn 7,8% so với mức 10% của năm 2011 Việt Nam cũng là một trong số những nước đang phát triển được hưởng ưu đãi thuế quan GSP từ Nga Năm 2014, Mỹ và EU đã ban hành lệnh cấm vận với Nga do tình hình bất ổn chính trị ở Ukraine Vì thế mà Nga cũng có xu hướng nhập khẩu hàng hóa từ các nước khu vực Châu Á Mặt hàng Nga nhập khẩu chủ yếu là các mặt hàng Việt Nam có lợi thế so sánh như dệt may, thủy sản, cà phê, chè, giày dép các loại Trong những năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nga không ngừng tăng
và cơ cấu mặt hàng xuất khẩu cũng phát triển nhanh chóng, đa dạng Tuy nhiên, tổng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Nga trong những năm gần đây mới chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Điều này chưa tương xứng với mối quan hệ lâu dài giữa Nga và Việt Nam trong nhiều năm qua
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới xuất khẩu của Việt Nam vào Nga chưa xứng với tiềm năng nhưng một trong số đó phải kể tới các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế ở Nga cũng rất phức tạp Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam đang rất thiếu thông tin về thị trường này Thị trường Nga mặc dù có dễ tính hơn thị trường Mỹ và
EU hay Nhật Bản nhưng các quy định và tiêu chuẩn mà Nga đặt ra đối với hàng nhập khẩu rất khác so với các tiêu chuẩn thế giới Theo thống kê của Tổ chức cảnh báo thương mại toàn cầu (GTA) năm 2013, Nga đã ban hành các biện pháp bảo hộ thương mại nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác, chiếm khoảng 20% tổng số các biện pháp bảo hộ thương mại được xác định trên toàn thế giới hiện nay
Từ năm 2008 trở lại đây, hàng thủy sản Việt Nam liên tục bị Nga áp dụng các biện pháp cấm nhập khẩu do không đạt chuẩn Năm 2014, do ảnh hưởng của lệnh cấm vận từ Mỹ và EU, nguồn hàng nhập khẩu của Nga trở nên khan hiếm nên Nga mới chuyển hướng mở cửa cho hàng thủy sản Việt Nam Dù có thể đây không phải lý do duy nhất Nga mở cửa cho hàng thủy sản Việt Nam nhưng có thể thấy, thủy sản và hàng nông sản Việt Nam nói chung, hàng dệt may, da giày, những mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu sẽ trở thành đối tượng mà các biện pháp bảo
hộ phi thuế của Nga chú ý tới Đây là một dấu hiệu cho thấy nguy cơ gia tăng các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga với hàng Việt Nam trong tương lai
Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: "Một số giải pháp nhằm ứng phó với
các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Liên bang Nga đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam" với mục đích đưa ra một số nhận định và phương
hướng giải quyết cho vấn đề này
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế không phải là một thuật ngữ mới
mẻ trong nghiên cứu chính sách thương mại quốc tế của các quốc gia Đơn cử có thể kể tới nghiên cứu của PGS.TS Bùi Xuân Lưu – Nguyễn Hữu Khải trong "Giáo trình Kinh tế ngoại thương", TS Đào Thị Thu Giang với "Biện pháp vượt rào cản
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam", Bộ Thương mại (2004) nay là Bộ Công Thương "Nghiên cứu các rào cản trong Thương mại quốc tế và đề xuất các giải pháp với Việt Nam" Nhưng nghiên cứu cụ thể về biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Liên bang Nga thì còn rất khiêm tốn Nổi bật trong số đó phải kể tới Luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Đặng Hùng Sơn "Chính sách thương mại quốc tế của Liên bang Nga và khả năng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga" (Hà Nội, 2012) Tuy nhiên, công trình trên mới chỉ dừng lại
ở nghiên cứu tổng thể các rào cản trong chính sách thương mại quốc tế của Liên bang Nga mà chưa cụ thể hóa các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế và tác động của nó tới hàng xuất khẩu Việt Nam hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu
Tác giả thực hiện đề tài này với mục đích có cái nhìn toàn diện về các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế, hiểu được thực tiễn áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế mà Liên bang Nga áp dụng với hàng hóa Việt Nam và tác động của chúng tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang Nga Từ đó, có thể tìm ra những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải để đề xuất một vài nhóm giải pháp giúp các doanh nghiệp ứng phó với các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế mà Liên bang Nga áp dụng với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu nằm trong lĩnh vực thương mại hàng hóa giữa Nga và Việt Nam và một số nước có liên quan
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề tài, tác giả tập trung giải quyết 3 nội dung sau:
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về các biện pháp phi thuế quan, hàng rào phi thuế quan và các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Nghiên cứu tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nga, thực tiễn áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế của Nga đối với hàng nhập từ Việt Nam và tác động của chúng tới xuất khẩu của Việt Nam vào Nga
- Phân tích những nguồn lực và khó khăn của doanh nghiệp trong việc ứng phó với các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế để từ đó đưa ra các nhóm giải pháp phù hợp
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình khóa học đã công bố
- Thu thập, tổng hợp, phân tích số liệu thống kê từ Tổng cục hải quan Việt Nam
- Tra cứu tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau như văn bản pháp luật, sách báo, các trang web của cơ quan hữu quan Việt Nam cũng như Liên bang Nga, và nêu lên quan điểm cá nhân
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Để hoàn thành đề tài này, tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của TS Vũ Thành Toàn Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới sự hướng dẫn, dìu dắt của Thầy cô Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội trong suốt 4 năm học vừa qua!
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do tính phức tạp của vấn đề, do hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm cũng như thời gian nghiên cứu nên khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp từ phía Thầy
cô để khóa luận được hoàn thiện hơn
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thúy Hiền
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm và các hình thức hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Các biện pháp thuế quan và các biện pháp phi thuế quan là hai công cụ chủ yếu điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế Hiện tại, trên thế giới chưa thống nhất được khái niệm về các biện pháp phi thuế quan
Tổ chức Thương mại thế giới WTO định nghĩa: "Biện pháp phi thuế quan là những biện pháp ngoài thuế quan, liên quan hoặc ảnh hưởng đến sự luân chuyển hàng hóa giữa các nước" (Bùi Xuân Lưu - Nguyễn Hữu Khải, 2009) Định nghĩa này mang tính chất khái quát đề cập đến tác động chung nhất của các biện pháp phi thuế quan
Theo Nhóm chuyên gia Hỗ trợ liên ngành của Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc (UNCTAD, 2010) định nghĩa thì "Các biện pháp phi thuế quan
là các biện pháp chính sách không phải là thuế quan thông thường và có khả năng tạo ra các tác động về mặt kinh tế đối với thương mại quốc tế, làm thay đổi khối lượng giao dịch thương mại hoặc làm thay đổi giá cả hoặc cả hai"
Tuy nhiên, trong thương mại quốc tế còn xuất hiện thuật ngữ quen thuộc "Rào cản phi thuế quan" Vậy, rào cản phi thuế quan khác gì với biện pháp phi thuế quan? Rào cản phi thuế quan là tập hợp gồm một số các biện pháp phi thuế quan Chỉ những biện pháp phi thuế quan nào làm cản trở thương mại quốc tế mới được coi là rào cản
Chính vì sự phát triển phức tạp của thị trường thương mại quốc tế mà sự phát triển của các biện pháp phi thuế quan cũng đa dạng theo, mỗi biện pháp phi thuế quan là hiện diện của nhiều mục đích chìm nổi khác nhau nên việc xác định liệu một biện pháp phi thuế quan có phải là rào cản trở nên rất phức tạp Ranh giới giữa hai vấn đề luôn không rõ ràng
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Như vậy, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế chính là tập hợp một số các biện pháp phi thuế quan gây ảnh hưởng tới hoạt động nhập khẩu của một quốc gia, từ đó tác động tích cực hoặc tiêu cực tới toàn bộ hoạt động thương mại quốc tế Nói cụ thể hơn, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế là rào cản phi thuế quan Khái niệm về rào cản phi thuế quan cũng chưa được thống nhất
Tổ chức Thương mại thế giới WTO đưa ra khái niệm về rào cản phi thuế dựa trên khái niệm về các biện pháp phi thuế quan: "Hàng rào phi thuế quan là những biện pháp mang tính cản trở đối với thương mại mà không dựa trên cơ sở pháp lý, khoa học hoặc bình đẳng" (Bùi Xuân Lưu -Nguyễn Hữu Khải, 2009)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (1997) định nghĩa: " Rào cản phi thuế quan là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu" Cách hiểu này nhấn mạnh vào biên giới trong ngoài của thương mại quốc tế
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho rằng: "Rào cản phi thuế quan được định nghĩa là các biện pháp ngăn cấm hoặc hạn chế một cách có hiệu quả việc nhập khẩu hoặc xuất khẩu hàng hóa"
Bộ Thương mại Việt Nam (nay là Bộ Công Thương) thì định nghĩa: "ngoài thuế quan ra, tất cả các biện pháp khác, dù là theo quy định pháp lý hay tồn tại trên thực tế, ảnh hưởng tới mức độ và phương hướng nhập khẩu được gọi là các rào cản phi thuế quan." (Đinh Văn Thành 2005, trích dẫn trong Biện pháp vượt rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, Đào Thị Thu Giang 2009, p.18)
Từ các định nghĩa trên, ta có thể hiểu rào cản phi thuế quan là các biện pháp không dùng thuế quan nhằm cản trở sự thâm nhập của hàng hóa nước ngoài, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, và sâu xa hơn là để bảo vệ nền sản xuất nội địa, bảo vệ thị trường trong nước
Rào cản phi thuế quan bao gồm hai bộ phận cơ bản: Các rào cản pháp lý và các rào cản kỹ thuật Rào cản pháp lý chính là chính sách, quy định của Chính phủ
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
liên quan tới hàng nhập khẩu như hạn ngạch, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, Rào cản kỹ thuật là các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm, có thể áp dụng với hàng nhập khẩu cũng như hàng sản xuất trong nước như quy trình sản xuất, vận chuyển, nguồn gốc xuất xứ, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn,
1.1.2 Các hình thức
1.1.2.1 Các biện pháp hạn chế định lượng (Quantitative Restrictions)
Theo WTO, các biện pháp hạn chế định lượng được hiểu là các quy định do một nước đưa ra nhằm hạn chế số lượng hoặc giá trị hàng nhập khẩu vào/ xuất khẩu
từ nước đó
Tùy vào từng mục tiêu cụ thể của từng quốc gia, biện pháp hạn chế định lượng thường được thực hiện thông qua các hình thức như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép
* Cấm nhập khẩu (Prohibitions)
Cấm nhập khẩu là biện pháp ngăn cấm hoàn toàn một hay một số hàng hóa thâm nhập vào thị trường nội địa của một nước nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng, đạo đức xã hội, an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng hay bảo vệ môi trường tự nhiên Do đó, hàng hóa thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu thường là vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ, chất thải, phế liệu, hóa chất độc hại, ma túy,
Theo điều XI, Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT/1994), WTO quy định chung đối với các nước thành viên không được áp dụng biện pháp hạn chế số lượng dưới bất kỳ hình thức nào nhằm hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa
Theo đó, biện pháp cấm nhập khẩu là bị cấm hoàn toàn trong WTO Tuy nhiên, trong một số trường hợp khẩn cấp thì các nước thành viên vẫn được áp dụng Theo điều XXI (GATT/1994) thì các trường hợp được sử dụng biện pháp cấm nhập khẩu là:
Cần thiết để bảo vệ đạo đức xã hội
Cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khỏe con người, động thực vật
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Liên quan đến nhập khẩu hay xuất khẩu vàng và bạc
Cần thiết để bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên khan hiếm
Bên cạnh đó, điều XX (GATT/1994) cũng chỉ ra các trường hợp được sử dụng biện pháp cấm nhập khẩu sau:
Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt sự bùng nổ về nhập khẩu, phương hại đến sản xuất trong nước
Cần thiết để áp dụng các tiêu chuẩn hay quy định để phân loại, xếp hạng hay tiếp thị các sản phẩm trong thương mại quốc tế
* Hạn ngạch nhập khẩu (Quotas)
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng tối đa cho phép một mặt hàng hay nhóm hàng được nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định, thương là một năm thông qua hình thức cấp phép
Hạn ngạch nhập khẩu được sử dụng nhằm 3 mục đích chính: Bảo hộ sản xuất trong nước; sử dụng có hiệu quả quỹ ngoại tệ; thực hiện cam kết của Chính phủ với nước ngoài Tuy nhiên, hạn ngạch cũng có nhiều tác động dẫn tới hiện tượng độc quyền của một số doanh nghiệp được cấp phép, từ đó gây cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp
Giống như biện pháp cấm nhập khẩu, WTO không cho phép các nước thành viên sử dụng biện pháp hạn ngạch trong thương mại quốc tế Tuy nhiên, điều XI và XII (GATT/1994) đã chỉ ra các trường hợp ngoại lệ được áp dụng hạn ngạch:
Được áp dụng một cách tạm thời để ngăn cản hay giảm bớt đi sự bùng nổ về nhập khẩu, phương hại tới sản xuất trong nước
Dùng cho hàng nông sản và thủy sản
Có thể hạn chế số lượng hay giá trị hàng nhập khẩu để đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán Việc tạo ra, duy trì hay mở rộng hạn chế số lượng vì mục đích này không được vượt quá mức cần thiết
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Để ngăn ngừa sự đe dọa sắp xảy ra hay để ngăn chặn lại sự thiếu hụt nghiêm trọng dự trữ tiền tệ hay trong trường hợp một thành viên có dự trữ tiền tệ rất thấp để đạt được một mức tăng hợp lý dự trữ tiền tệ
* Hạn ngạch thuế quan (Tariff quotas)
Hạn ngạch thuế quan là kết quả Vòng đám phán Uruguay về Nông nghiệp Theo Hiệp định Nông nghiệp (AoA/ 1994) thì các bên tham gia không được phép
áp dụng các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản Như vậy biện pháp cấm nhập khẩu cũng như biện pháp hạn ngạch cũng không được áp dụng với hàng nông sản Tuy nhiên, các bên tham gia có thể áp dụng hạn ngạch thuế quan thay thế cho biện pháp cấm nhập khẩu và hạn ngạch Theo đó, thì hai mức thuế suất trong hạn ngạch và ngoài hạn ngạch cũng được thiết lập Nếu lượng nhập khẩu dưới một mức nhất định (gọi là hạn ngạch) thì sẽ được áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp, còn nếu lượng nhập khẩu cao hơn hạn ngạch thì phần vượt quá vẫn được nhập khẩu nhưng phải chịu mức thuế nhập khẩu cao hơn gấp nhiều lần trong hạn ngạch
Cơ chế hạn ngạch thuế quan gồm bốn yếu tố: thuế suất trong hạn ngạch (in – quota tariff rate); hạn ngạch xác định lượng nhập khẩu tối đa chịu mức thuế suất trong hạn ngạch; thuế suất ngoài hạn ngạch (over – quota tariff rate); phương thức quản lý phân bổ hạn ngạch
Theo Hiệp định AoA thì các bên tham gia phải có nghĩa vụ thông báo với WTO về các yếu tố này trong Biểu cam kết về hàng hóa, cũng như phải cam kết quản lý phân bổ hạn ngạch thuế quan theo đúng nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO
* Giấy phép nhập khẩu (Import licences)
Giấy phép nhập khẩu là giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của một nước cho phép mặt hàng nhất định được đưa vào lãnh thổ của nước đó
Giấy phép nhập khẩu gồm hai loại là giấy phép nhập khẩu tự động và giấy phép nhập khẩu không tự động
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Giấy phép nhập khẩu tự động là biện pháp quản lý nhập khẩu thông qua giấy phép nhưng giấy phép này được cấp tự động cho tất cả các thương nhân thỏa mãn điều kiện quy định cấp phép và không nhằm mục đích hạn chế số lượng nhập khẩu
Giấy phép nhập khẩu không tự động là văn bản cho phép nhập khẩu sau khi doanh nghiệp đáp ứng được một số điều kiện nhất định mà nước nhập khẩu đưa ra
Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu (ILP/ 1994) quy định các nước thành viên của WTO phải giảm tối đa các thủ tục hành chính trong việc cấp giấy phép nhập khẩu Đối với giấy phép nhập khẩu tự động, Hiệp định quy định những tiêu chuẩn cho việc cấp phép tự động để thủ tục này không làm cản trở thương mại Còn đối với giấy phép nhập khẩu không tự động, Hiệp định có những quy định nhằm tối thiểu hóa gánh nặng của người nhập khẩu khi tiến hành nộp đơn xin giấy phép, để cho các thủ tục hành chính không làm cản trở hay biến dạng trao đổi thương mại Hiệp định đưa ra thời hạn cho Cơ quan hữu trách của nước thành viên phải đưa ra quyết định có cấp giấy phép nhập khẩu hay không là 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ trong trường hợp xem xét từng hồ sơ một, hoặc 60 ngày kể từ ngày nộp
hồ sơ trong trường hợp xem xét tất cả các hồ sơ cùng một lúc Khi các thành viên đưa ra những thủ tục cấp phép mới hoặc thay đổi những thủ tục đang có hiệu lực thì phải thông báo với WTO về những thay đổi như danh sách mặt hàng phải xin phép nhập khẩu, cơ quan nhận đơn xin phép của doanh nghiệp, Thêm vào đó, các biểu mẫu và thủ tục cũng phải đơn giản hóa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xin cấp phép, không được từ chối cấp phép vì lỗi nhỏ không làm thay đổi nội dung cơ bản của chứng từ
1.1.2.2 Các biện pháp tương đương thuế quan (Para – Tariff Measures)
* Xác định trị giá hải quan (Custom Valuation)
Theo điều 7, Hiệp định về trị giá hải quan của WTO (CVA/ 1994) thì trị giá hải quan được định nghĩa là "trị giá của các hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được xác định theo mục đích quản lý hải quan, là một trong những căn cứ cơ bản để tính thuế hải quan và các thuế khác"
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Theo Hiệp định CVA (1994), Hải quan có quyền nghi ngờ giá mà nhà nhập khẩu khai báo và việc chứng minh nghi ngờ đó là không có cơ sở thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp
Xác định trị giá thuế quan có thể thực hiện bằng một phương pháp chuẩn và năm phương pháp thay thế Phương pháp chuẩn là thông qua trị giá giao dịch thực
tế (điều 1, CVA 1994) Các phương pháp thay thế là các phương pháp xác định giá trị hải quan không dựa trên trị giá giao dịch thực tế Thực tế cho thấy thì chỉ có bốn phương pháp cụ thể, áp dụng theo trình tự lần lượt (chỉ khi phương pháp trước không thể áp dụng thì mới sử dụng phương pháp sau):
Trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt (transaction value of identical goods): Hàng hóa giống hệt là hàng hóa giống hoàn toàn về các đặc tính vật
lý, mục đích sử dụng, danh tiếng,
Trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự (transaction value of similar goods): Hàng hóa tương tự là hàng hóa gần giống về thành phần, đặc điểm với loại hàng hóa cần tính thuế
Theo điều 2 và điều 3 Hiệp định CVA (1994) thì giao dịch của hàng hóa giống hệt hoặc hàng hóa tương tự được lựa chọn để xác định giá tính thuế phải là giao dịch của hàng giống hệt hoặc hàng tương tự được nhập khẩu vào nước đó từ cùng một nước xuất khẩu, vào cùng một thời điểm và cùng nhà sản xuất với loại hàng hóa đang được tính thuế
Trị giá khẩu trừ (deductive value): Điều 5, Hiệp định CVA (1994) cho phép hải quan xác định giá tính thuế cho loại hàng hóa cần tính thuế trên cơ sở giá bán của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự tại nước nhập khẩu sau khi
đã trừ đi các khoản như lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác, phí vận tải và bảo hiểm, cùng các chi phí khác phát sinh trên lãnh thổ nước nhập khẩu
Trị giá tính toán (computed value): Điều 6, Hiệp định CVA (1994) xác định giá tính thuế bằng giá thành sản xuất ra loại hàng hóa đang cần tính thuế cộng với một khoản lợi nhuận và các chi phí chung (tương đương với mức
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại được sản xuất để xuất khẩu bởi một nhà sản xuất ở nước xuất khẩu)
Phương pháp dự phòng (fall – back method): Điều 7, Hiệp định CVA (1994) chỉ ra giá trị thuế quan sẽ được thông qua các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định CVA và điều VII (GATT/1994) và trên cở sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu
Tất cả các thành viên của WTO đều phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của Hiệp định CVA mà không có bất cứ một ngoại lệ nào Nếu trường hợp hải quan của nước nhập khẩu không tuân thủ đúng các nghĩa vụ liên quan thì doanh nghiệp hoàn toàn có quyền tự mình hoặc thông qua Chính phủ nước mình để bảo vệ để bảo vệ quyền lợi cho mình
* Định giá (Pricing)
Giá bán tối đa/ giá trần (Ceiling price)
Giá bán tối đa là mức giá cao nhất mà một mặt hàng được bán trên thị trường một nước Mục tiêu của việc áp mức giá tối đa là để hạn chế nhập khẩu, bảo hộ thị trường trong nước, đặc biệt là bảo hộ với những doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh cao
Giá bán tối thiểu/ giá sàn (Floor price)
Ngược lại với giá bán tối đa, giá bán tối thiểu là mức giá thấp nhất của một mặt hàng được bán trên thị trường một nước Giá bán tối thiểu là công cụ mà chính phủ các nước áp dụng để bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp sản xuất nội địa, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp
Cần lưu ý rằng, giá bán tối đa và giá bán tối thiểu đều có thể gây ra những ảnh hưởng xấu tới lợi ích của các nước cung cấp hàng nhập khẩu Vì vậy, Điều III (GATT/1994) WTO quy định các thành viên áp dụng biện pháp quản lý giá bằng giá bán tối đa hay giá bán tối thiểu cần phải tính toán tới lợi ích của thành viên khác
để không gây ra tác động xấu đối với nước cung cấp hàng nhập khẩu
Biến phí (Variable charges)
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Để bảo hộ các mặt hàng sản xuất trong nước, đặc biệt là hàng nông sản, các quốc gia có thể sử dụng biến phí Biến phí thường được tính bằng khoảng chênh lệch giữa giá của hàng nội địa và giá nhập khẩu Vì vậy mà giá của hàng nhập khẩu tăng lên, bảo đảm khả năng cạnh tranh cho hàng nội địa
Phụ thu (Surcharges)
Ngoài biến phí, phụ thu cũng được coi là biện pháp để bảo hộ các mặt hàng sản xuất trong nước Phụ thu được hiểu là khoản tiền doanh nghiệp phải nộp thêm bên cạnh thuế nhập khẩu Phụ thu thường được Chính phủ các nước đang phát triển
áp dụng đối với các mặt hàng khi có biến động giữa giá trong nước với giá thế giới Khi sử dụng phụ thu, quốc gia đó không chỉ bảo hộ được cho hàng hóa sản xuất trong nước mà còn tạo thêm được nguồn thu cho ngân sách, giảm chi phí cho hoạt động ngoại thương
Tuy nhiên, cần chú ý rằng, cả biến phí và phụ thu đều là hai biện pháp phi thuế quan làm bóp méo thương mại quốc tế Vì vậy, trong điều VIII (GATT/1994), WTO có quy định: "Tất cả các loại phí và phụ thu (không phải là thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế nội địa khác) đánh vào hàng xuất nhập khẩu chỉ được giới hạn
ở mức tương ứng chi phí dịch vụ thực sự bỏ ra và không được sử dụng như sự bảo
hộ gián tiếp các sản phẩm trong nước, hay như thuế xuất nhập khẩu, hay cho mục đích thu ngân sách"
1.1.2.3 Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp
* Doanh nghiệp thương mại nhà nước (State Trading)
Điều XVII (GATT/1994) quy định rằng các nước thành viên của WTO phải thông báo cho WTO về các doanh nghiệp thương mại nhà nước của mình Bởi lẽ, doanh nghiệp thương mại nhà nước là doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước, do
đó ít nhiều nhận được sự ưu đãi lớn hơn so với các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Từ đó, thị trường cạnh tranh trở nên không bình đẳng, thậm chí, doanh nghiệp thương mại nhà nước nắm quyền kinh doanh độc quyền một số ngành hàng Đây chính là lý do mà WTO yêu cầu các nước thành viên
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cam kết hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại nhà nước phải phù hợp với tiêu chí và nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO
* Quyền kinh doanh nhập khẩu (Trading Rights)
Quyền kinh doanh nhập khẩu là việc nhà nước dành cho một số doanh nghiệp được phép tiến hành nhập khẩu một số mặt hàng nhất định, trong một khoảng thời gian xác định, từ một số thị trường nhất định Từ cách hiểu này có thể
dễ thấy quyền kinh doanh nhập khẩu dễ tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, một số doanh nghiệp có quyền kinh doanh nhập khẩu dần dần sẽ trở thành doanh nghiệp kinh doanh độc quyền trong một số ngành hàng
1.1.2.4 Các biện pháp kỹ thuật (Technical Measures)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD (1997) định nghĩa hàng rào kỹ thuật trong thương mại là: "các quy định mang tính chất xã hội, các quy định do một nhà nước đưa ra nhằm đạt được các mục tiêu về sức khỏe, an toàn, chất lượng
và đảm bảo môi trường, căn cứ vào hàng rào kỹ thuật trong thương mại, người ta có thể nhận thấy các mục tiêu này thông qua việc một nước ngăn cản hàng hóa không đảm bảo chất lượng nhập khẩu của mình"
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại được sử dụng như một công cụ bảo hộ hiệu quả vì vừa đáp ứng được mục tiêu: bảo vệ an toàn sức khỏe người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc phòng, đồng thời còn hạn chế nhập khẩu, bảo hộ nền sản xuất nội địa Với mục tiêu bảo đảm sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh thì các biện pháp kỹ thuật được coi là hợp lý và công bằng hơn so với các biện pháp hạn chế nhập khẩu khác như hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép Tuy nhiên, để đáp ứng được mục tiêu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước thì các quốc gia lại áp dụng các biện pháp kỹ thuật ngày càng tinh vi, đa dạng để phù hợp với thị trường thương mại quốc tế
Các biện pháp kỹ thuật được đặt ra trên cơ sở điều kiện khác biệt về văn hóa,
về môi trường tự nhiên, về điều kiện kinh tế của từng quốc gia Do đó, các biện pháp kỹ thuật ở mỗi quốc gia lại khác nhau, và rất khó để dự đoán xu thế áp dụng Điều này tạo ra hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hàng rào kỹ thuật áp dụng cho cả quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Hay nói khác đi, hàng rào kỹ thuật tác động tới sản phẩm từ khâu nghiên cứu, nguyên liệu, sản xuất, đóng gói, vận chuyển, tiêu thụ và thu hồi Quy trình làm ra sản phẩm hết sức phức tạp, trải qua nhiều khâu thì hàng rào kỹ thuật càng lắt léo
WTO đã xây dựng Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT – Agreement on Technical Barriers to Trade 1994) nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan tới hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế giữa các nước thành viên Theo Hiệp định này thì các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật cũng như các thủ tục kiểm tra
và cấp chứng chỉ không được tạo ra các trở ngại không cần thiết trong thương mại Hiệp định cũng khuyến khích các nước thành viên áp dụng tiêu chuẩn quốc tế và công nhận lẫn nhau về đánh giá mức độ tuân thủ Vì trình độ phát triển kinh tế giữa các nước thành viên khác nhau nên việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế ở mỗi nước
sẽ khác nhau Mục tiêu mà Hiệp định hướng tới là hạn chế tối đa việc các nước thành viên đưa ra tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế Để đảm bảo tính công bằng giữa hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu, thì việc đưa ra tiêu chuẩn cao hơn tiêu chuẩn quốc tế phải được nước đó chứng minh là có căn cứ khoa học, cần thiết để bảo vệ an toàn sức khỏe, bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc phòng
* Các quy định kỹ thuật (Technical Regulations), tiêu chuẩn (Standards)
Đây là các tiêu chuẩn, yêu cầu, quy định mà nước nhập khẩu đặt ra đối với sản phẩm từ mẫu mã cho tới chất lượng Nếu không đạt được tiêu chuẩn hay không đáp ứng quy định kỹ thuật ở bất kỳ khâu nào trong quá trình sản phẩm như nghiên cứu, thu mua nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ, thu hồi, thì sản phẩm đó
sẽ không được phép nhập khẩu vào thị trường nước đó Hiện nay, trên thế giới có một số tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng như Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 và Hệ thống phân tích mối nguy và xác định điểm kiểm soát tới hạn HACCP
* Kiểm dịch động vật và thực vật (Sanitary and Phytosanitary Regulations)
Nếu như các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật nhằm chuẩn hóa quy cách chất lượng của sản phẩm thì các quy định liên quan tới kiểm dịch động thực vật lại
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khỏe con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh
Nhằm đáp ứng mục tiêu chính đáng trên, mỗi nước đều ban hành một hệ thống các quy định về kiểm dịch động vật và thực vật đối với hàng nhập khẩu khác nhau Tuy nhiên, các quy định này bị lạm dụng quá mức trở thành rào cản đối với thương mại quốc tế
Chính vì vậy, WTO đã thông qua Hiệp định về các biện pháp vệ sinh động thực vật (SPS – Sanitary and Phytosanitary Measures 1994) nhằm điều chỉnh việc ban hành các quy định liên quan tới vệ sinh dịch tễ của các nước Theo điều 2 và điều 3 của Hiệp định SPS (1994), các nước thành viên của WTO:
Chỉ được áp dụng biện pháp vệ sinh dịch tễ ở mức cần thiết, và phải đảm bảo căn cứ khoa học (ngoại lệ là một số trường hợp khẩn cấp như dịch bệnh có tính lây lan nhanh)
Phải dựa vào tiêu chuẩn, khuyến nghị quốc tế (nếu có)
Không được phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc không có căn cứ hoặc gây ra cản trở trá hình đối với thương mại
Nên hài hòa hóa các biện pháp vệ sinh dịch tễ giữa các nước với nhau
* Nhãn mác và đóng gói bao bì
Đây là các quy định và yêu cầu đối với việc in nhãn mác và đóng gói bao bì
mà nước nhập khẩu đặt ra cho sản phẩm nhập khẩu Tùy vào từng thị trường cụ thể
mà quy định này có những yêu cầu khác nhau Nhưng nhìn chung quy định này đều gồm: thông tin sản phẩm như tên, công dụng, thành phần, hướng dẫn sử dụng, khối lượng, kích thước và nhãn hàng hóa như nhãn hiệu chứng nhận Vì thông tin in trên bao bì cung cấp kiến thức cho người tiêu dùng về sản phẩm nên các quy định về nhãn mác và đóng gói bao bì được cụ thể hóa tại văn bản pháp luật của rất nhiều nước phát triển
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Vì đôi khi, nước nhập khẩu còn quy định cả chất liệu làm bao bì, khả năng thu gom và tái chế của bao bì sau khi sử dụng nên biện pháp này trở nên rất khắt khe và rắc rối, tạo ra rào cản đối với thương mại quốc tế
* Trách nhiệm môi trường
Với mục tiêu phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã đặt ra nhiều quy định, tiêu chuẩn liên quan tới việc bảo vệ môi trường đối với sản phẩm nhập khẩu Môi trường các quốc gia khác nhau, mục tiêu bảo vệ và cải thiện môi trường cũng khác nhau dẫn tới các tiêu chí đặt ra cho sản phẩm nhập khẩu cũng khác nhau, từ đó hình thành nên "hàng rào xanh" (green barrier) vừa bảo vệ môi trường tự nhiên, vừa bảo
hộ sản xuất trong nước
Việc dán nhãn sinh thái cho sản phẩm nhập khẩu được coi là hành vi tự nguyện Tuy nhiên, nhãn sinh thái lại gây được thiện cảm cho người tiêu dùng, thậm chí quyết định hành vi mua của họ, nên việc có dãn nhãn sinh thái không còn
là vấn đề tự nguyện nữa
* Trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự đóng góp của doanh nghiệp vào
sự phát triển của xã hội như kinh tế, an toàn lao động, đào tạo nhân lực, nghiên cứu công nghệ, bảo vệ môi trường Hiện nay, Bộ tiêu chuẩn về Lao động và trách nhiệm
xã hội SA 8000 (Social Accountability 8000) đang được các nước phát triển áp dụng rộng rãi Đây là công cụ hữu ích giúp các doanh nghiệp cũng như cơ quan hữu quan có thể cải thiện điều kiện làm việc SA 8000 được thiết kế để trở thành tiêu chuẩn quốc tế có thể kiểm định và đánh giá chứng nhận
1.1.2.5 Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (Contigency Protection Measures)
Việc gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong quá trình tự do hóa thương mại đem lại cho các quốc gia nhiều cơ hội để phát triển kinh tế Tuy nhiên,
tự do hóa thương mại cũng được ví như con dao hai lưỡi, nhiều cơ hội hơn và đồng thời, nguy cơ cũng nhiều hơn Do đó, WTO cho phép khi nền sản xuất trong nước
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
bị ảnh hưởng, gây tổn thương nghiệm trọng đối với kinh tế, an ninh, sức khỏe cộng đồng của một quốc gia thì quốc gia đó được phép áp dụng các biện pháp thương mại tạm thời nhằm hạn chế, khắc phục những hậu quả đó Các biện pháp hạn chế thương mại tạm thời gồm có trợ cấp và các biện pháp đối kháng, những quy định về chống bán phá giá, các biện pháp tự vệ thương mại
* Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Subsidies and Countervailing Measures)
Theo WTO định nghĩa thì Trợ cấp là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một Tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, ngành sản xuất
Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay như cấp vốn, cho vay, góp cổ phần, hoặc hứa chuyển như bảo lãnh cho các khoản vay
Miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng như ưu đãi thuế, tín dụng
Mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hóa (trừ cơ sở hạ tầng chung)
Thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách, hình thức mà Chính phủ vẫn làm Theo WTO thì Chính phủ được phép trợ cấp nhưng chỉ trong một giới hạn nhất định WTO có hai hệ thống quy định riêng về trợ cấp, áp dụng cho hai nhóm sản phẩm:
Đối với hàng công nghiệp: Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM – Agreement on Subsidies and Countervailing Measures) phân trợ cấp
ra thành ba loại sau:
Trợ cấp bị cấm (trợ cấp đèn đỏ): bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nhằm ưu tiên sử dụng hàng nội địa so với hàng nhập khẩu Đây là loại trợ cấp mà các thành viên WTO đều bị cấm sử dụng
Trợ cấp không bị khiếu kiện (trợ cấp đèn xanh): bao gồm trợ cấp không
cá biệt; các trợ cấp cho hoạt động nghiên cứu do các công ty, tổ chức nghiên cứu tiến hành; trợ cấp cho các khu vực khó khăn; trợ cấp để hỗ trợ
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
điều chỉnh các điều kiện sản xuất cho phù hợp với môi trường kinh doanh mới Các nước thành viên được áp dụng các loại trợ cấp này mà không bị thành viên khác khiếu kiện
Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể bị khiếu kiện (trợ cấp đèn vàng): gồm tất cả các trợ cấp có tính cá biệt (trừ các loại trợ cấp đèn xanh) Các nước thành viên có thể áp dụng các loại trơ cấp này, tuy nhiên nếu gây thiệt hại tới các nước thành viên khác hoặc ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước thành viên khác thì sẽ bị kiện ra WTO
Đối với hàng nông sản: Tuân thủ Hiệp định về Nông nghiệp của WTO (AoA)
Biện pháp chống trợ cấp thường thấy là thuế đối kháng (thuế chống trợ cấp) Thuế đối kháng là khoản thuế bổ sung (ngoài thuế nhập khẩu thông thường) đánh vào sản phẩm nước ngoài được trợ cấp vào nước nhập khẩu Đây là biện pháp chống trợ cấp nhằm vào các nhà sản xuất xuất khẩu nước ngoài được trợ cấp chứ không nhằm vào Chính phủ nước ngoài đã thực hiện việc trợ cấp Thuế đối kháng chỉ được áp dụng khi cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu, sau khi đã tiến hành điều tra chống trợ cấp, ra kết luận khẳng định sự tồn tại đồng thời của cả ba điều kiện sau:
Hàng hóa nhập khẩu được trợ cấp (với biên độ trợ cấp hay trị giá phần trợ cấp trên trị giá hàng hóa liên quan không thấp hơn 1%)
Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể hoặc bị đe dọa bị thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành của ngành sản xuất trong nước
Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu được trợ cấp và thiệt hại nói trên
* Những quy định về chống bán phá giá (Anti – Dumping Practices)
Bán phá giá hàng hóa được định nghĩa tại điều VI Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT 1947, GATT 1994 và Hiệp định thực thi điều VI của GATT 1994 hay còn gọi là Hiệp định về chống bán phá giá (ADP – Anti Dumping
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Practices, 1994) Theo điều 2.1, “một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường” (WTO, 1994)
Bán phá giá hàng hóa theo quy định của WTO được xác định thông qua việc giá xuất khẩu của sản phẩm từ một nước sang nước khác thấp hơn:
Giá có thể so sánh sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường;
Hoặc giá xuất khẩu của sản phẩm tương tự được xuất khẩu đến một nước thứ
ba thích hợp trong điều kiện thương mại thông thường;
Hoặc giá thành sản xuất sản phẩm tại nước xuất xứ cộng thêm một mức hợp
lý chi phí quản trị, bán hàng và lợi nhuận
Biện pháp chống bán phá giá là tất cả các biện pháp mà nước nhập khẩu có thể sử dụng để chống lại hiện tượng bán phá giá của hàng nhập khẩu sau khi có kết luận khẳng định có hành vi bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước (VCCI, 2008)
Các biện pháp chống bán phá giá thường là áp thêm một mức thuế nhập khẩu với những hàng hóa bị coi là bán phá giá nhằm đưa giá của hàng nhập khẩu đó lên gần bằng với giá thông thường của nó tại nước nhập khẩu hoặc khắc phục thiệt hại đối với ngành hàng sản xuất trong nước
Để tránh việc các nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá gây rào cản cho thương mại, WTO quy định trong Hiệp định về chống bán phá giá ADP (1994) 3 điều kiện để một nước có thể áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là:
Có hành động bán phá giá hàng hóa và biên độ phá giá phải đủ lớn
Có sự thiệt hại cho ngành sản xuất tương tự ở nước nhập khẩu
Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu được bán phá giá với thiệt hại của ngành hàng nội địa
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Theo đó, thì WTO cũng đưa ra 3 mức biện pháp chống bán phá giá:
Biện pháp tạm thời: là biện pháp nước nhập khẩu áp dụng với hàng hóa đang
bị điều tra trước khi có quyết định cuối cùng về biện pháp chống bán phá giá nhằm ngăn chặn thiệt hại tiếp tục xảy ra trong quá trình điều tra Biện pháp này chỉ được áp dụng sau khi có kết luận điều tra sơ bộ về việc bán phá giá gây thiệt hại cho thị trường nội địa Có các biện pháp tạm thời sau:
Thuế chống bán phá giá: là loại thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường do cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu ban hành với sản phẩm nhập khẩu bán phá giá vào nước nhập khẩu Biện pháp này chỉ được thực hiện sau khi có kết luận cuối cùng của cơ quan nước nhập khẩu về hành vi bán phá giá gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Thuế chống bán phá giá không được cao hơn biên độ phá giá tính toán
* Biện pháp tự vệ (Safeguards)
Biện pháp tự vệ được sử dụng để tạm thời, hạn chế nhập khẩu hàng hóa trong trường hợp một mặt hàng nhập khẩu và một nước tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa Khi có hiện tượng tăng đột biến về lượng hàng nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất trong nước có thể yêu cầu Chính phủ nước mình điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ Điều XIX (GATT/1994) và Hiệp định về biện pháp tự vệ (SG – Agreement on Safeguards, 1994) của WTO quy định điều
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
kiện để nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ đối với một mặt hàng nhập khẩu là sau khi điều tra và chứng minh được cá yếu tố sau cùng tồn tại:
Hàng hóa liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng
Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa đó
bị thiệt hại hoặc bị đe dọa thiệt hại nghiêm trọng
1.1.2.6 Quy tắc xuất xứ (Rule of Origin)
Theo điều 1 Hiệp định về xuất xứ hàng hóa (RoO – Rule of Origin, 1994) thì
"quy tắc xuất xứ là những luật, văn bản dưới luật, quyết định hành chính do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hóa nhưng không liên quan đến thỏa thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của GATT 1994" Nói cách khác, quy tắc xuất xứ là một loạt các luật, quy định nhằm xác định ra quốc gia sản xuất ra hàng hóa Mục tiêu của xuất xứ hàng hóa là để xác định quy chế đặc biệt mà nước nhập khẩu áp dụng cho hàng hóa đó như ưu đãi thuế quan, thuế chống bán phá giá, hạn ngạch,
Việc áp dụng quy định để xác định xuất xứ hàng nhập khẩu khác nhau theo từng quốc gia nhập khẩu Hơn nữa chưa kể tới tính phức tạp của việc xác định nơi xuất xứ hàng hóa Do một hàng hóa hiện nay có thể được sản xuất ở rất nhiều nước khác nhau nhằm tận dụng lợi thế ở từng khâu sản xuất, trên từng thị trường như lợi thế về nguyên vật liệu, lợi thế về nhân công, lợi thế về phân phối Vì vậy, WTO ban hành Hiệp định riêng về Quy tắc xuất xứ RoO nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quy tắc xuất xứ gây nên rào cản thương mại, và đồng thời đơn giản hóa hệ thống này bằng các quy định hài hòa giữa các nước
Hiệp định quy định 2 hệ thống các nguyên tắc liên quan tới xuất xứ bắt buộc
áp dụng trong hai giai đoạn (trừ trường hợp quy tắc xuất xứ theo các thỏa thuận ưu đãi):
Giai đoạn chuyển đổi: Trong quá trình Ủy ban kỹ thuật của Hiệp định hoàn thành việc hài hòa hóa các quy tắc xuất xứ, quy tắc xuất xứ của các nước thành viên phải đảm bảo các yêu cầu:
Minh bạch
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Không cản trở thương mại bất hợp lý
Thống nhất, không phân biệt đối xử
Một vài yêu cầu khác như thủ tục, tiêu chuẩn, thời gian xem xét
Giai đoạn sau chuyển đổi: Sau khi đã đạt được các quy tắc xuất xứ hài hòa, nguyên tắc xuất xứ được áp dụng phải tuân theo nguyên tắc:
Nước xuất xứ phải là nước nơi tiến hành sự thay đổi cơ bản cuối cùng đối với sản phẩm
Thay đổi cơ bản về sản phẩm được xác định thay đổi theo mã số hải quan HS là chủ yếu
Nếu mã số hải quan HS không phản ánh sự thay đổi cơ bản về sản phẩm thì áp dụng các tiêu chí bổ sung như tỷ lệ phần trăm trị giá, công đoạn chế biến, công đoạn gia công
1.1.2.7 Các biện pháp khác
* Thủ tục hành chính (Administrative Measures)
Thủ tục hành chính cũng được coi là một trong số những biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế Với những thủ tục, yêu cầu đối với hàng nhập khẩu như đặt cọc nhập khẩu, hay hàng đổi hàng, ít nhiều thủ tục hành chính cũng gây cản trở cho thương mại quốc tế
Hàng đổi hàng: doanh nghiệp muốn nhập khẩu một số mặt hàng thì đồng thời phải xuất khẩu một số mặt hàng sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước
Đặt cọc nhập khẩu: đối với một số mặt hàng nhà nước không khuyến khích nhập khẩu thì doanh nghiệp nhập khẩu phải đặt cọc trước một số tiền nhất định và không được hưởng lãi suất
* Mua sắm chính phủ (Government Procurement)
Mua sắm chính phủ được hiểu là việc mua sắm hàng hóa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA - Agreement on Government Procurement, 1994) của WTO điều chỉnh hoạt động mua sắm chính phủ Hiệp định yêu cầu việc mua sắm phải diễn ra công bằng, không phân biệt đối
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
xử giữa các nhà cung cấp, sản phẩm phải tương ứng với số tiền bỏ ra và quan chức, nhân viên chính phủ phải chịu trách nhiệm về hoạt động mua sắm công này Hiện nay, Việt Nam chưa tham gia vào Hiệp định mua sắm Chính phủ (GPA) mà mới chỉ gia nhập GPA với tư cách là quan sát viên
* Các biện pháp đơn phương (Unilateral Measures)
Các biện pháp đơn phương trên lý thuyết là trái với tinh thần và thông lệ của WTO Tuy nhiên, Chính phủ một số nước phát triển, đặc biệt là Hoa Kỳ, đã sử dụng biện pháp này để hạn chế nhập khẩu từ một số nước có bất đồng về thương mại hay bất đồng về chính trị với mình Theo tinh thần của WTO thì các nước chịu thiệt hại hoàn toàn có quyền kiện ra Hội đồng giải quyết tranh chấp của WTO khi hàng hóa nước mình bị áp dụng các biện pháp đơn phương này Nhưng thực tế thì các nước chịu thiệt hại lại là các nước có điều kiện kinh tế kém hơn, không đủ mạnh để theo
Các mục tiêu cao cả như an ninh quốc phòng, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, động vật, thực vật cũng được đảm bảo thông qua các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế Thông thường, hàng hóa bị cấm nhập khẩu thường là
vũ khí, đạn dược, thuốc nổ nên Chính phủ hoàn toàn kiểm soát được vấn đề an ninh quốc gia Hàng hóa mang mầm bệnh hoặc có nguy cơ gây hại cho môi trường, cho sức khỏe người tiêu dùng, hay cho sự sống còn của động vật, thực vật, môi trường đều được quản lý chặt chẽ qua các biện pháp kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Và tác động lớn sâu xa hơn mà thị trường nước nhập khẩu nhận được khi áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế là bảo hộ được nền sản xuất trong nước, bảo vệ thị trường trong nước Trong quá trình tự do hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu, các biện pháp thuế quan được rỡ bỏ theo quy định của WTO, do đó, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế như công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc bảo vệ các ngành hàng dễ bị tổn thương, thông qua việc hạn chế lượng hàng nhập khẩu, tăng khả năng cạnh tranh cho hàng nội địa, làm cho tiêu dùng trong nước giảm dần
sự phụ thuộc vào hàng nhập khẩu
Vì hạn chế được lượng hàng nhập khẩu mà lượng chi ngoại tệ cũng giảm, đảm bảo cân đối cán cân thanh toán của các nước Tác động này đặc biệt có ý nghĩa đối với những nước đang và kém phát triển khi cán cân thanh toán bị mất cân đối
Vì những nước này thường xuyên phải duy trì cán cân thanh toán có lợi để cải thiện nguồn ngân sách
Bên cạnh đó, các biện pháp phi thuế quan cũng có tác động tích cực tới thị trường nước xuất khẩu
Việc tăng cường các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế tạo động lực cho cac doanh nghiệp xuất khẩu nâng cao chất lượng sản phẩm để có thể vượt qua rào cản phi thuế quan, phù hợp với môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt ở thị trường nước nhập khẩu
Các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật liên quan tới tất cả các khâu của quy trình nghiên cứu, sản xuất, tiêu thụ và thu gom sản phẩm Chính điều này khiến cho môi trường của nước sản xuất cũng trở nên tốt hơn vì quá trình sản xuất thân thiện hơn với môi trường tự nhiên Các yếu tố về an sinh xã hội, chế độ lương thưởng và bảo hộ người lao động cũng được nâng cao hơn, góp phần xây dựng xã hội tiến bộ, đời sống người lao động được nâng cao
1.2.2 Tác động tiêu cực
Đối với thị trường nhập khẩu, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế cũng có những tác động tiêu cực
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế không tạo ra động lực phát triển nền sản xuất trong nước Bởi lẽ, một khi hàng rào hạn chế nhập khẩu quá lớn, các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ quen dần với trạng thái an toàn được bảo hộ và bảo
vệ mà quên đi việc phải không ngừng lớn mạnh Vì hạn chế được hàng nhập khẩu
mà sức ép cạnh tranh của hàng nội địa không quá lớn, dẫn tới độ chậm trễ trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, không học hỏi được chất lượng sản phẩm nhập khẩu, hàng hóa không đa dạng, chất lượng không cao
Các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế còn làm giảm lợi ích của người tiêu dùng Vì hàng hóa không đa dạng và chất lượng hàng hóa không cao nên người tiêu dùng ít có sự lựa chọn cho nhu cầu tiêu dùng của mình Hơn nữa, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quá mạnh dẫn tới trường hợp một số doanh nghiệp chiếm thế độc quyền ngành hàng nào đó Và người tiêu dùng thay vì được quyền trả giá cho sản phẩm mình tiêu thụ thì phải chịu mức giá mà doanh nghiệp độc quyền
đó đưa ra, thặng dư của người tiêu dùng sụt giảm
Đối với nước xuất khẩu, các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế có các tác động tiêu cực Tác động dễ nhận thấy nhất là lượng hàng xuất khẩu bị giảm vì không đáp ứng kịp thời các yêu cầu và tiêu chuẩn mà nước nhập khẩu đưa ra
Chi phí sản xuất tăng do các doanh nghiệp phải tăng chi phí để thay đổi điều kiện sản xuất như nhà máy, nhà kho, dây chuyền sản xuất, các điều kiện bảo hộ cho người lao động, trách nhiệm với môi trường, với xã hội Do đó, lợi nhuận của nhà sản xuất bị giảm sút Chưa kể tới, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không đủ khả năng tiếp cận nguồn vốn thì rất rơi vào trạng thái đóng cửa sản xuất
Các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế gián tiếp làm cho giá hàng hóa xuất khẩu sang thị trường nước nhập khẩu bị tăng lên, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng nội địa Nhiều doanh nghiệp có tài chính ổn định và vững mạnh thì có thể theo đuổi được chiến lược cạnh tranh về giá, còn rất nhiều doanh nghiệp xuất khẩu không đủ tiềm lực tài chính để duy trì và buộc phải rời bỏ thị trường
Ngoài ra, nhiều thủ tục hành chính phức tạp và lắt léo khiến cho nhiều nhà xuất khẩu nản lòng Trường hợp như hàng hóa đáp ứng đủ tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
sinh an toàn dịch tễ, đủ các điều kiện về xuất xứ, nhưng chỉ vướng là nhà xuất khẩu chưa có hợp đồng xuất khẩu với phía đối tác nên cũng không xin được giấy phép xuất khẩu
Các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế ảnh hưởng tới người lao động trong ngành xuất khẩu Để đảm bảo được mức lợi nhuận khi phải tăng chi phí đầu
tư cho công nghệ, dây chuyền, rất dễ nhà sản xuất sẽ giảm thiểu lượng công nhân sản xuất Nhiều người lao động rơi vào tình trạng mất việc ngay cả khi doanh nghiệp vẫn tồn tại Một số doanh nghiệp không đủ khả năng phải giải thể thì một lượng lớn lao động mất việc làm, kéo theo các vấn đề an sinh xã hội bị ảnh hưởng
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã trình bày các khái niệm cơ bản về các biện pháp phi thuế quan, hàng rào phi thuế quan để rút ra cách hiểu về các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế trong thương mại quốc tế Đồng thời tác giả trình bày các hình thức của biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế phổ biến trong thương mại quốc tế
Và kèm theo mỗi hình thức, tác giả có nêu lên quy định của Tổ chức Thương mại thế giới WTO đối với các nước thành viên trong việc áp dụng từng hình thức Cuối cùng, tác giả phân tích một cách khái quát nhất tác động của các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế đối với thị trường nước xuất khẩu, nước nhập khẩu trên cả hai mặt tích cực và tiêu cực Tất cả những nội dung này đều là cơ sở để tác giả nghiên cứu cụ thể hơn tới các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế mà Liên bang Nga áp dụng với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam sẽ được trình bày trong chương 2
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP HẠN CHẾ NHẬP KHẨU PHI THUẾ CỦA LIÊN BANG NGA VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU TỪ VIỆT NAM
2.1 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng của Việt Nam vào thị trường Nga
2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan (2010 -2014), tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng của Việt Nam vào Nga tăng đều từ năm 2010 tới năm 2013
và giảm từ năm 2013 tới năm 2014 Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Nga đã đạt mức tăng đáng kể từ con số 829.700.868 USD (năm 2010) lên đến 1.902.608.738 USD (năm 2013) Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 chưa thực sự cao do tăng trưởng toàn cầu chậm lại, gần như rơi vào bế tắc sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 Nga thắt chặt hơn hoạt động thương mại, trong đó, phải kể đến việc hạn chế nhập khẩu Tuy nhiên, thị trường dường như được mở ra
từ sau năm 2012, khi Nga chính thức trở thành thành viên của WTO Biểu thuế quan cũng như hàng rào bảo hộ thương mại được cam kết rỡ bỏ theo lộ trình Từ đó, hoạt động thương mại quốc tế cũng trở nên nhộn nhịp hơn, đạt mức 1.902.608.738 USD năm 2013 (phụ lục 7) Nhưng từ năm 2013 tới năm 2014, tổng kim ngạch có phần giảm sút khoảng 9,2% Theo Cục xuất nhập khẩu nhận định thì mức giảm này
là do mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất khẩu vào Nga như nông thủy sản đang phải cạnh tranh gay gắt về giá cả, mẫu mã, bao bì, chất lượng, vận chuyển với các quốc gia có nguồn cung sản phẩm tương tự tại thị trường Nga Có thể nói, mức giảm đáng kể này là do nhiều yếu tố đã đề cập trên, trong đó còn có yếu tố là Nga ban hành một loạt các biện pháp phi thuế quan vào năm 2013 và có hiệu lực thi hành vào năm 2014
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Liên bang Nga
các năm 2010 - 2014
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan)
Theo thông báo của Tổng cục Hải quan, năm 2014, Nga là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 25 của các doanh nghiệp Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu vào Nga chỉ chiếm hơn 1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam ra thế giới (phụ lục 7) Tỷ trọng này có tăng từ năm 2010 tới năm 2013, nhưng lại bị giảm ở năm
2014 Điều này cho thấy hoạt động thương mại giữa hai nước chưa thực sự tương xứng với mối quan hệ hợp tác lâu năm mà Chính phủ hai nước đã thiết lập
2.1.2 Cơ cấu xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga những năm qua hầu như không có nhiều thay đổi Một số mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nga từ năm 2010 tới nay bao gồm các mặt hàng như: thủy sản, rau quả, cà phê, chè, tiêu, xăng dầu, cao su, gỗ, dệt may, giày dép, Năm 2010-
2012 xuất khẩu chủ yếu gồm 22 mặt hàng chủ lực (phụ lục 1,2,3), năm 2013 có thêm hai mặt hàng chủ lực là sản phẩm từ cao su, quặng và khoáng sản khác (phụ lục 4), năm 2014, Việt Nam lại xuất khẩu thêm mặt hàng đồ chơi, dụng cụ thể thao
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
và bộ phận (khoảng 11,4 triệu USD) (phụ lục 5) Trong đó, hàng hóa xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu phải kể đến các mặt hàng thủy sản, hàng nông sản (hạt điều, cà phê), hàng dệt may, máy tính sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại và linh kiện
So với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới, ta có thể thấy, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga đã bao gồm hầu như đầy đủ các mặt hàng mà Việt Nam xuất khẩu Điều này phần nào cho thấy thị trường Liên bang Nga đang dần trở thành thị trường lớn đối với xuất khẩu Việt Nam
Tuy cơ cấu mặt hàng không thay đổi nhiều nhưng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng trong từng năm lại có thay đổi rõ rệt Năm 2010, hàng điện thoại và linh kiện chiếm tỷ trọng cao nhất 30,6% (khoảng 254 triệu USD), xếp thứ 2 là hàng thủy sản 10,8% (khoảng 89,5 triệu USD), xếp thứ 3 là hàng dệt may 9% (khoảng 76,2 triệu USD) (phụ lục 1) Năm 2011, thư tự này thay đổi như sau: hàng điện thoại các loại
và linh kiện 41,6% (khoảng 536 triệu USD), hàng dệt may8,3% (khoảng 107 triệu USD), hàng thủy sản 8,2% (khoảng 106 triệu USD) Năm 2012, thứ tự giống như năm 2011 Năm 2013, hàng điện thoại vẫn xếp thứ nhất 41,3% (khoảng 786 triệu USD), hàng máy vi tính 10% (khoảng 190 triệu USD) và xếp thứ 3 là hàng dệt may 7% (khoảng 134 triệu USD) (phụ lục 2,3,4)
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vào Liên bang Nga phân theo các
ngành hàng năm 2014
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo số liệu của Tổng cục Hải quan)
Năm 2014, trong cơ cấu xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Liên bang Nga, hàng điện thoại các loại và linh kiện chiếm tỷ trọng cao nhất 39,0% (tương đương khoảng 674 triệu USD), xếp thứ 2 là hàng máy tính các loại và linh kiện với 7,2% (tương đương 124 triệu USD).Tiếp theo đó là mặt hàng dệt may (7,9%), cà phê (7,1%), thủy sản (6,0%), giày dép các loại (5,0%) Mặt hàng gạo chiếm tỷ trọng khá thấp 0,6% (tương đương khoảng 10,5 triệu USD) (biểu đồ 2.2 và phụ lục 5)
2.1.2.1 Xuất khẩu thủy sản
Mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào Nga chủ yếu là cá tra và cá basa Các sản phẩm chế biến từ cá tra và các basa khác như các phi lê tươi ướp lạnh và phi lê khác cũng chiếm tỷ lệ cao so với mặt hàng thủy sản khác Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nga tăng đều từ năm 2012 đến năm 2014 với mức tăng bình quân khoảng 2% một năm Tuy nhiên cần phải thấy rằng, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Nga ba năm trở lại đây (từ năm 2012 tới năm 2014) giảm so với năm 2011, thời điểm mà Nga chưa gia nhập WTO (biểu đồ 2.3)
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Liên bang Nga
các năm 2010 - 2014
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo số liệu của Tổng cục Hải quan)
Sở dĩ kim ngạch xuất khẩu thủy sản giảm so với năm 2011 và tăng không nhiều từ năm 2012 tới nay là do phía Nga tăng cường áp dụng các biện pháp kiểm tra vệ sinh an toàn dịch tễ SPS đối với mặt hàng thủy sản cũng như trực tiếp thanh tra các cơ sở nuôi trồng, chế biến thủy sản của nước ta Nhiều doanh nghiệp không đáp ứng được tiêu chuẩn mà phía Nga đặt ra nên đành chấp nhận lệnh cấm vận từ phía Nga Thủ tục xuất nhập khẩu đối với hàng thủy sản vào Nga cũng hết sức phức tạp nên phía doanh nghiệp xuất khẩu vào Nga cũng dễ bị nản lòng Đây cũng có thể
là nguyên nhân vì sao Nga là một thị trường tiềm năng cho xuất khẩu thủy sản nhưng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của ta vào Nga trong những năm qua chỉ chiếm khoảng 1,5% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của ta ra thị trường thế giới (phụ lục 7)
2.1.2.2 Xuất khẩu cà phê
Thị trường cà phê Nga có nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan từ năm 2010 – 2014,