1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ hội và thách thức trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam

89 89 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy còn non trẻ, nhưng kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam là lĩnh vực kinh doanh tiềm năng và đang ngày càng có vị thế quan trọng trong hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại, đồng

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI 3

1.1 Giới thiệu về thị trường ngoại hối 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 3

1.1.3.Thành phần tham gia thị trường ngoại hối 8

1.1.4 Các loại hợp đồng trên thị trường ngoại hối 10

1.2 Chức năng của thị trường ngoại hối 19

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường ngoại hối 20

1.4.Ưu nhược điểm của đầu tư và kinh doanh ngoại hối 21

1.4.1.Ưu điểm 21

1.4.2 Nhược điểm 22

CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG ĐẦU TƯ, KINH DOANH NGOẠI HỐI Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 25

2.1 Thực trạng thị trường ngoại hối Việt Nam 25

2.1.1 Hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam 25

2.1.2 Các nghiệp vụ giao dịch thị trường ngoại hối 31

2.2 Cơ hội đầu tư và kinh doanh ngoại hối 39

2.2.1 Thị trường ngoại hối đã rất phổ biến trên thế giới 39

2.2.2 Môi trường pháp lý cho tổ chức hoạt động và quản lý thị trường ngoại hối 40

2.2.3 Khó khăn trong đầu tư chứng khoán và bất động sản 45

2.3 Thách thức trong đầu tư và kinh doanh ngoại hối 47

2.3.1 Các sàn giao dịch ngoại hối ở Việt Nam chưa được cho phép 47

2.3.2 Các nghiệp vụ trên thị trường vẫn còn kém phát triển 48

2.3.3 Đầu tư lợi nhuận cao nhưng rủi ro cũng lớn 49

2.4 Đánh giá sự phát triển của thị trường ngoại hối trong điều kiện hội nhập 52

2.4.1 Về chính sách quản lý ngoại hối 52

2.4.2 Cơ chế xác định tỷ giá 54

2.4.3 Về lãi suất cho vay ngoại tệ 55

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.3.4 Về việc đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối theo tiêu chuẩn

quốc tế 55

2.4.5 Về hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và năng lực của hệ thống ngân hàng thương mại 56

CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH NGOẠI HỐI 58

3.1 Các phương pháp phát triển thị trường ngoại hối Việt Nam trong điều 58

3.1.1 Hoàn thiện chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước 58

3.1.1.1 Hoàn thiện chính sách quản lý ngoại hối 58

3.1.1.2 Hoàn thiện chính sách tỷ giá 60

3.1.2 Nâng cao vai trò của nhà nước trong việc tổ chức, quản lý và can thiệp vào thị trường 62

3.1.3 Tăng cường sự tham gia của các ngân hàng thương mại trên thị trường ngoại hối 65

3.2 Các phương pháp hạn chế rủi ro trong đầu tư và kinh doanh ngoại hối 69

3.2.1 Các phương pháp phòng ngừa rủi ro của ngân hàng thương mại 69

3.2.1.1 Quản lý rủi ro bằng hạn mức 69

3.2.1.2 Giải pháp về công nghệ 71

3.2.1.3 Các giải pháp về nhân lực 73

3.2.2.Các phương pháp phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư 75

3.2.2.1 Tự tạo cho mình chiến lược giao dịch và khả năng quản lý rủi ro 75

3.2.2.2 Nâng cao kiến thức về phân tích thị trường 77

 Phân tích cơ bản 77

 Phân tích kỹ thuật 81

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO – sân chơi kinh tế chung của cả thế giới

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế thế giới ngày càng trở nên mạnh mẽ Sự hội nhập quốc tế của kinh tế Việt Nam thông qua cơ chế kinh tế thị trường mở là nhu cầu khách quan có tính quy luật Với vai trò như là chiếc cầu nối giữa kinh tế nội địa với kinh tế thế giới bên ngoài thì việc hình thành và phát triển thị trường ngoại hối một cách toàn diện và hiện đại theo trình độ quốc tế là rất cần thiết

Kinh doanh ngoại hối là một hình thức kinh doanh từ lâu đã phổ biến trên thế giới nhưng ở Việt Nam loại hình kinh doanh này mới ra đời được hơn 10 năm nay Tuy còn non trẻ, nhưng kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam là lĩnh vực kinh doanh tiềm năng và đang ngày càng có vị thế quan trọng trong hoạt động của hầu hết các ngân hàng thương mại, đồng thời là cơ hội lớn cho các nhà đầu tư khi mà thị trường chứng khoán có dấu hiệu chững lại và thị trường bất động sản thì vẫn chưa thực sự hấp dẫn trở lại

Tuy nhiên, thực tế là hoạt động này tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong những năm qua chưa thực sự hiệu quả như những gì người ta kỳ vọng mà nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề đạo đức, trình độ tác nghiệp còn chưa cao, quản

lý và tổ chức kém… Còn về phía các nhà đầu tư thì họ vấp phải rất nhiều vấn đề khó khăn khi bắt đầu tham gia vào thị trường như vấn đề về luật pháp, vấn đề về kiến thức thị trường và khả năng quản lý rủi ro

Để có thể biến thị trường ngoại hối thành một lĩnh vực đầu tư hiệu quả thì việc trang bị kiến thức và kỹ năng giao dịch ngoại hối một cách toàn diện, hiện đại và có

hệ thống là điều rất cần thiết Trước hết cần làm rõ những lợi ích đem lại từ việc đầu

tư ngoại hối đồng thời nắm được những khó khăn mà các ngân hàng và nhà đầu tư phải đối mặt khi bước vào thị trường Xuất phát từ nhu cầu thực tế cấp thiết đó, tác

giả đã chọn đề tài nghiên cứu là: “Cơ hội và thách thức trong lĩnh vực đầu tư,

kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu

Đầu tư và kinh doanh ngoại hối là một ngành đầu tư mới và hứa hẹn Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để tham gia là cần phải có kiến thức về thị trường Mục

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đích nghiên cứu của tác giả là làm rõ những ưu và nhược điểm của thị trường, đồng thời đưa ra phương pháp để có thể đạt được thành công trên thị trường

3 Đối tượng nghiên cứu

Tác giả tập trung vào nghiên cứu về các loại hợp đồng trên thị trường, ưu nhược điểm của chúng, đồng thời là các phương pháp hạn chế rủi ro cho các ngân hàng thương mại và nhà đầu tư

4 Phạm vi nghiên cứu

Bài viết nghiên cứu về việc đầu tư và kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thương mại và nhà đầu tư trong những năm trở lại đây Khi mà đầu tư ngoại hối trở thành một kênh đầu tư mới, hiệu quả bên cạnh đầu tư chứng khoán và bất động sản

5 Kết cấu đề tài

- Chương 1: Tổng quan về thị trường ngoại hối

- Chương 2: Cơ hội và thách thức trong đầu tư, kinh doanh ngoại hối ở Việt

Nam

- Chương 3: Các phương pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối

Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới giáo viên hướng dẫn là Th.S Đinh Hoàng Minh đã giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI

1.1 Giới thiệu về thị trường ngoại hối

1.1.1 Khái niệm

Thị trường ngoại hối (Forex, FX, hoặc thị trường tiền tệ) là một thị trường phi tập trung toàn cầu cho việc trao đổi các loại tiền tệ Những người tham gia chính trong thị trường này là các ngân hàng quốc tế lớn Các trung tâm tài chính khắp thế giới giữ chức năng như các neo của trao đổi giữa một loạt các loại người mua và người bán khác nhau suốt ngày đêm, ngoại trừ những ngày cuối tuần EBS vàReuters' dealing 3000 là hai nền tảng trao đổi FX liên ngân hàng chính Thị trường ngoại hối xác định giá trị tương đối của các tiền tệ khác nhau

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển

1.1.2.1 Thời kì sơ khai đầu tiên

Trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ quốc tế đã được hình thành và phát triển cách đây hàng nghìn năm Buổi ban đầu, phương thức trao đổi hàng lấy hàng

là phương thức thanh toán đầu tiên và phổ biến nhất, phương thức này đã giúp các quốc gia đạt được mục tiêu cơ bản là cho phép trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia với nhau trên thế giới

Cách đây chừng 4000 năm đã diễn ra bước ngoặt trong phương thức thanh toán, đó là việc xuất hiện sử dụng những đồng xu có dán tem của ngân hàng, của nhà buôn, của nhà vua,… trong thanh toán giữa các quốc gia Việc sử dụng tiền kim loại dần dần đã trở thành phổ thông trong thương mại quốc tế Những ngày đầu xuất hiện, giá trị của những đồng xu kim loại được xác định theo giá trị thực của kim loại làm nên chính đồng xu đó Tuy nhiên, khi khối lượng các đồng xu trong lưu thông tăng lên theo nhu cầu của thương mại và lòng tin của dân chúng và các giá trị của các đồng xu với vai trò là phương tiện trao đổi tăng lên, thì bắt đầu xuất hiện những nhà chuyển đổi tiền chuyên nghiệp đầu tiên vào thời cổ ở Trung Đông Những nhà đổi tiền chuyên nghiệp đã có thể đổi được một lượng nhất định các đồng xu này lấy một lượng tương ứng các đồng xu khác Với sự phát triển ở dạng sơ khai này đánh dấu sự ra đời đầu tiên của việc kinh doanh ngoại hối và thị trường ngoại hối

Sau khi Đế quốc Rome sụp đổ và trong suốt thời gian đầu thời kỳ Trung cổ, các giao dịch kinh doanh ngoại hối bị giảm sút đáng kể, bởi vì do các điều kiện về

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tài chính, chính trị không ổn định và khối lượng thương mại quốc tế giảm đáng kể Vào thế kỉ thứ XI, việc kinh doanh ngoại hối mới trở nên thịnh vượng trở lại Khi các luồng thương mại và các luồng tư bản quốc tế tăng lên, thì việc trao đổi ngoại hối bằng các đồng xu hữu hình trở nên không hiệu quả nên các giao dịch bằng tiền

xu càng ngày càng giảm

Để đáp ứng được nhu cầu thương mại quốc tế ngày càng tăng, đã tạo điều kiện cho hình thức ngân hàng quốc tế ra đời và phát triển Các ngân hàng này mở các chi nhánh và phát triển các mối quan hệ chính thức với các ngân hàng đại lý ở các nước bạn hàng là đối tác Các hối phiếu ra đời và trở thành các công cụ chuyển nhượng được Khi người hưởng lời hối phiếu chuyển nhượng hối phiếu cho bên thứ ba, thì một hình thức tiền tệ mới đã được tạo ra Sự phát triển này đã giúp cho thị trường trở nên linh hoạt hơn và tăng được khối lượng kinh doanh ngoại hối (mua đi bán lại nhiều lần) Khi các giao dịch chuyển khoản giữa các ngân hàng trở nên nhanh hơn

đã trở thành điều kiện thúc đẩy thị trường ngoại hối phát triển Thị trường ngoại hối bây giờ đã thực sự chuyển từ hệ thống tiền mặt hữu hình thành thị trường dưới dạng hỗn hợp giữa tiền mặt và tín dụng

Nói một cách tổng quát, trong quá trình của thiên niên kỷ thứ hai, sự phát triển của thị trường ngoại hối, ngoài vấn đề về tốc độ giao dịch chậm, những khó khăn trong truyền thông và đi lại còn có rất nhiều vấn đề cần phải vượt qua, ví dụ: trong nhiều năm, các tôn giáo đã không tán thành các hoạt động kinh doanh ngoại hối (họ cho rằng các hoạt động này mang tính chất buôn tiền, kinh doanh tiền, có tính chất đầu cơ nên không lành mạnh), thậm chí, trong một số trường hợp, một số chính phủ đã coi kinh doanh ngoại hối không những là hoạt động bất lương mà còn

bị cấm Trong những năm 1800, các tuyến cáp đã được nối qua Atlantic, đã tạo ra một cuộc cách mạng trong truyền thông giữa châu Âu và Bắc Mỹ và là khởi điểm cho sự hình thành và phát triển thị trường ngoại hối có tính chất toàn cầu như ngày nay

1.1.2.2 Đại chiến thế giới lần thứ nhất và cuộc đại suy thoái

Trong khoảng thời gian đầu của thế kỷ XX, hai cuộc đại chiến thế giới đã làm gián đoạn sự phát triển của thị trường ngoại hối giữa các quốc gia thì địch với nhau

và thị trường ngoại hối vỡ ra từng mảnh nhỏ Trong những năm đầu sau Đại chiến

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thế giới lần thứ nhất, thị trường ngoại hối trở nên vô cùng biến động và trở thành đối tượng đầu cơ với quy mô lớn Các giao dịch thương mại quốc tế kéo theo việc mua hay bán đồng ngoại tệ thường có mức độ rủi ro rất cao và biện pháp tự bảo hiểm bằng hợp đồng kỳ hạn trở nên rất phổ biến Trong thực tế, việc sử dụng hợp đồng kỳ hạn để bảo hiểm rủi ro trở nên phổ biến đến mức trong một số lĩnh vực nó

đã trở thành một bộ phận cấu thành bắt buộc trong hợp đồng thương mại, hay nói cách khác, các hợp đồng thương mại phải kèm theo một hợp đồng giao dịch ngoại hối kỳ hạn thì mới có thể thực hiện được Tuy nhiên, nhiều ngân hàng, những nhà chính trị và những nhà hoạch định chính sách trong một số lĩnh vực đã cho rằng các hợp đồng kỳ hạn có bản chất là hoạt động đầu cơ, do đó đã không ủng hộ để cho thị trường kỳ hạn phát triển Mặc dù có sự ngờ vực và không ủng hộ từ nhiều phía, nhưng xuất phát từ các nhu cầu thương mại quốc tế thì thị trường kỳ hạn vẫn phát triển

Sự đình chỉ của chế độ bản vị vàng vào năm 1931 cùng với sự sụp đổ của các ngân hàng và các vấn đề khó khăn trong thanh toán đối với một số đồng tiền đã trở thành những trở ngại đáng kể cho sự phát triển thị trường ngoại hối Thật là khó khăn khi giao dịch ngoại hối trong những năm đầu của thời kỳ 1930, nhưng cũng giống các thị trường khác, những điều kiện hoạt động dần dần được trở lại bình thường trong giữa những năm 1930 London đã trở thành trung tâm kinh doanh ngoại hối lớn nhất trong thời kỳ giữa hai cuộc đại chiến thế giới, bên cạnh đó, những trung tâm khác như Paris, Zurich, Amsterdam và New York cũng phát triển mạnh mẽ

1.1.2.3 Thời kỳ sau đại chiến thế giới thứ hai

Vị thế là trung tâm tài chính thế giới của nước Anh đã bị giảm rõ rệt trong thời gian đại chiến thế giới thứ hai xảy ra Sau chiến tranh đồng tiên Mỹ là USD đã trở thành một trong những đòng tiền chính mang tính quốc tế Đồng Bảng Anh vẫn tiếp tục đóng vai trò là đồng tiền chủ đạo, bởi vì USD khan hiếm và dù sao thì vai trò nòng cốt của London như là trung tâm tài chính thế giới Sự tham gia của chính phủ trên thị trường ngoại hối ngày càng rõ rệt hơn vào các năm 1930 và càng trở nên thường xuyên hơn sau đại chiến thế giới lần thứ hai và được duy trì cho đến ngày nay Không giống như thời kỳ hậu đại chiến thế giới lần thứ nhất, khi mà phải

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

chứng kiến sự biến động của các thị trường ngoại hối thì thời gian sau đại chiến thế giới lần thứ hai lại là thời kỳ được đánh dấu bằng sự ổn định của thị trường và sự kiểm soát chặt chẽ lên giá trị đồng tiền, tỷ giá của hầu hết các đồng tiền được neo cố định và chỉ giao động trong một biên độ nhỏ

Điểm khởi đầu của thời kỳ hậu đại chiến thế giới lần thứ hai thực tế được diễn

ra trước khi chiến tranh kết thúc, bằng cuộc họp của Liên Hợp Quốc diễn ra tại thành phố Bretten Woods, New Hampshire Những hậu quả nặng nề của cuộc đại khủng hoảng và đại ciến thế giới lần thứ nhất luôn hằn sâu trong trí óc của các đoàn đại biểu tham dự Tại cuộc họp, mối quan tâm của mọi thành viên là hình thành và phát triển một hệ thống tiền tệ nhằm đảm bảo sự ổn định, tin tưởng lẫn nhau và góp phần làm tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội

Thỏa thuận Bretten Woods vào năm 1944 đã mang lại sự ổn định như mong muốn và một trật tự mới trên thị trường ngoại hối Tỷ giá của các đồng tiền chính đều được neo cố định với USD và giá trị của USD được neo cố định với vàng với tỉ

lệ 35 USD = 1 ounce USD được các ngân hàng trung ương trên thế giới chọn làm đồng tiền dự trữ quốc tế bởi vì nước Mỹ cam kết với ngân hàng trung ương rằng sẽ chuyển đổi USD thành vàng không hạn chế theo tỷ giá cố định 35 USD = 1 ounce

Hệ thống tỷ giá cố định bị sụp đổ vào năm 1971, nguyên nhân là do tồn tại sự mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh toán giữa các quốc gia và càng ngày người nước ngoài nắm giữ USD càng nhiều Sau nỗ lực nhằm phục hồi hệ thống này vào năm 1973 không thành đã mở đầu cho thời kỳ chế độ thả nổi và được duy trì cho đến ngày nay Những đồng tiền chính giao dịch trên thị trường ngoại hối được thả nỏi dưới sự trông nom sát sao của ngân hàng trung ương phát hành Các ngân hàng trung ương tham gia can thiệp trên thị trường mở thường xuyên nhằm duy trì các hoạt động trên thị trường ngoại hối có trật tự hơn hoặc ngân hàng trung ương can thiệp nhằm mục đích điều chỉnh hướng biến động của thị trường theo mong muốn của mình Các đồng tiền của các nước nhỏ hơn thường được neo cố định với một trong số đồng tiền chính, chủ yếu là USD hoặc đối với đồng tiền của nước bạn hàng thương mại lớn nhất Hệ thống tỷ giá thả nổi rõ ràng là đã làm cho công tác dự báo tỷ giá giao ngay trong tương lai trở nên cực kỳ khó khăn, nhưng nó lại trở thành công cụ linh hoạt hơn nhiều so với chế độ cố định trong việc xử lý các

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

áp lực của thị trường và những cú sốc trên thị trường ngoại hối như đã xảy ra trong suốt thời kỳ hiệu lực của hệ thống Bretton Woods

1.1.2.4.Thị trường ngoại hối ngày nay

Trong những năm 1970, 1980 và những năm đầu 1990, chúng ta đã được chứng kiến sự biến động của thị trường ngoại hối tăng lên không ngừng và thị trường trở nên không thể dự đoán được Một trong những lý do chính khiến cho thị trường biến động mạnh là sự gia tăng đáng kể của các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lời khi tỷ giá biến động Ngoài ra, các nguồn lực về kỹ thuật và công nghệ có sẵn đối với các nhà kinh doanh, các nhà quản trị tài chính và các công ty tự bảo hiểm đã được cải tiến một cách cơ bản Trong những năm đầu 1990, ngân hàng và những nhà kinh doanh đầu tư chuyên nghiệp vẫn tiếp tục là những người đóng vai trò chủ đạo trên thị trường ngoại hối Các công ty thường xuyên tích cực tham gia thị trường nhằm quản lý rủi

ro ngoại hối và thường sử dụng các chương trinh bảo hiểm rủi ro ngoại hối có chọn lục và trực tiếp tham gia kinh doanh ngoại hối Các quyết định kinh doanh ngoại hối của các công ty có thể ảnh hưởng đáng kể lên thị trường ngoại hối trong cả ngắn hạn và dài hạn, nhưng thực tế thì nó lại chưa được xem như một yếu tố thực thụ có thể ảnh hưởng lên thị trường Ngoài ra, các cá nhân cũng có thể trở thành các nhân

tố tác động lên thị trường khi họ tiếp cận và sử dụng ngoại hối thông qua các cơ chế khác nhau, kể cả thị trường tương lai và việc mua bán các trái phiếu và cổ phiếu nước ngoài…

Một điều hiển nhiên cần phải thừa nhận rằng: các nhà kinh doanh chuyên nghiệp, các công ty, các nhà quản lý quỹ, các nhà ngân hàng và các cá nhân hoạt động trên thị trường ngoại hối kiếm tiền dựa trên cơ sở sự biến động của thị trường Đối với những hiện tượng này, thì thị trường biến động theo hướng nào là không quan trọng, cái chính họ cần là thị trường phải biến động Bởi vì khi tỷ giá biến động sẽ tạo ra cơ hội để họ kiếm được tiền

Lý do thứ hai làm cho thị trường ngoại hối biến động mạnh là các luồng di chuyển nhằm thanh toán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia là rất lớn Vốn tư bản ngày nay được chu chuyển tương đối tự do giữa các đồng tiền chính nhằm cân đối các trạng thái dư thừa và thiếu hụt trong cán cân

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

thương mai và các cân dịch vụ, hơn nữa, các quỹ hưu trí cùng với các quỹ đầu tư khác ngày càng tăng đã tạo nên nguồn tài chính sẵn sàng di chuyển đầu tư vào những đồng tiền khác nhau để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất Hơn nữa, những nhà đi vay tư nhân và xã hội cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau nhằm cho chi phí đi vay giảm xuống, do đó, các luồng vốn di chuyển từ đồng tiền này qua đồng tiền khác cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của tỷ giá

Trong khi cả hai nhóm nhu cầu đầu tư và nhu cầu đi vay tăng lên, các thị trường toàn cầu đã trải qua những biến động mạnh mẽ về mức lãi suất, khi lãi suất biến động alij làm tăng doanh số và mức độ thường xuyên chu chuyển các luồng vốn Do giá của dầu và của các hàng hóa khác tăng lên mạnh mẽ, áp lực tăng lương, tăng tín dụng và tăng cung ứng tiền đã tạo áp lực tăng lạm phát trong những năm

1970, nhưng thái độ của các ngân hàng trung ương về việc chống lạm phát là rất khác nhau, do đó, mức lạm phát dự tính của mỗi đồng tiền cũng rất khác nhau Vốn

tư bản thường di chuyển đến đồng tiền nào có mức lãi suất hấp dẫn, nghĩa là đồng tiền có mức lãi suất thực sự cao hơn, làm cho đồng tiền này lên giá rõ rệt Một điều cần chú ý rằng, sự hấp dẫn về mức lãi thực cao chỉ là tương đối và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định, do đó, khi mức lãi suất không còn hấp dẫn nữa thì các luồng vốn bắt đầu chảy ra và giá trị của đồng tiền này sẽ giảm xuống một cách nhanh chóng

Một nhân tố có liên quan góp phần làm cho thị trường ngoại hối biến động là việc người nước ngoài càng ngày càng nắm giữ nhiều tài sản của mình bằng USD Đồng Dollar Mỹ là đồng tiền quốc tế được ưa chuộng nhất, do đó, sự biến động của

nó sẽ ảnh hưởng lên sự biến động của hầu hết các đồng tiền khác Trong khi lượng tài sản bằng USD do người nước ngoài nắm giữ đã góp phần làm tăng tổng phương tiện thanh toán quốc tế, nhưng đồng thời nó cũng làm tăng các khối lượng chu chuyên vốn quốc tế khi xuất hiện các chênh lệch về lãi suất giữa các đồng tiền và tồn tại các mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế

1.1.3.Thành phần tham gia thị trường ngoại hối

1.1.3.1.Những người tạo giá sơ cấp – Primary price makers

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Những người tạo giá trên thị trường sơ cấp, hay còn gọi là những nhà kinh doanh chuyên nghiệp, những nhà tạo thị trường, tạo giá cho nhau trên cơ sở yết giá hai chiều Khi được yêu cầu họ sẽ yết đồng thời cả giá mua vào và giá bán ra đồng thời sẵn sàng mua vào hoặc bán ra với số lượng hợp lý theo giá đã được yết

Những người tạo giá trên thị trường sơ cấp bao gồm

- Các ngân hàng chính

- Các nhà kinh doanh, đầu tư lớn

- Một số công ty lớn

1.1.3.2 Những người tạo giá thứ cấp – Secondary Price Makers

Trên cơ sở giá đã tạo ra trên thị trường sơ cấp, các nhà tạo giá thứ cấp tạo ra tỷ giá mua vào và bán ra phục vụ cho nhóm khách hàng của mình Những người tạo giá trên thị trường thứ cấp còn gọi là những người bán lẻ Tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại hối thứ cấp còn gọi là tỷ giá bán lẻ Khi xuất hiện cầu về ngoại hối hoặc du cung tạm thời về ngoại hối, những người tạo giá trên thị trường thứ cấp tiến hành giao dịch với các nhà tạo giá trên thị trường sơ cấp

1.1.3.3 Những người chấp nhận giá

Đó là những người tiến hành mua bán ngoại hối nhằm phục vụ cho mục đích riêng của mình Họ không yết giá hai chiều cũng như không tạo giá trên thị trường thứ cấp Họ chỉ đơn thuần là những người chấp nhận giá và tiến hành giao dịch

1.1.3.4 Những người cung cấp dịch vụ tư vấn

Những người cung cấp dịch vụ tư vấn ngoại hối dưới nhiều hình thức khác nhau cho khách hành Các dịch vụ tư vấn ngoại hối cũng được cung cấp dưới những hình thức rất đa dạng Hầu hết các ngân hàng lớn và các nhà kinh doanh cũng chính

là những người cung cấp các dịch vụ tư vấn ngoại hối cho khách hàng của mình

1.1.3.5 Người môi giới

Những người môi giới không phải là những người tạo thị trường, nghĩa là họ không mua vào cũng như không bán ra các ngoại tệ cho chính mình Họ chỉ đơn thuần là người cung cấp các dịch vụ Khi người mua và người bán đã chấp nhận giá của nhau, nhà môi giới thông báo cho hai người mua và bán là giao dịch đã được tiến hành Nhà môi giới không chịu trách nhiệm về tiến trình giao dịch giữa các ngân hàng mà cung cấp dịch vụ liên ngân hàng

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Các nhà tạo thị trường có thể giao dịch với nhau bằng các phương pháp khác nhau Phương pháp thứ nhất là giao dịch trực tiếp, phương pháp thứ hai là giao dịch qua các nhà môi giới Giao dịch thông qua các nhà môi giới cho phép các nhà kinh doanh yết giá trên thị trường mà không phải xưng tên của mình

1.1.3.6 Nhà đầu tư

Những nhà đầu tư trên thị trường ngoại hối gồm nhiều đối tượng khác nhau:

- Những nhà tạo thị trường hình thành các trạng thái ngoại hối khác nhau

- Các công ty thực hiện các giao dịch thương mại có phát sinh rủi ro ngoại hối

và chậm trễ bảo hiểm hoặc không bảo hiểm cho tới khi thanh toán

- Các chính phủ cho vay hoặc đi vay bằng ngoại tệ nhưng chậm trễ bảo hiểm hoặc không bảo hiểm cho tới khi hợp đồng đáo hạn

- Các cá nhân mua cổ phiếu, trái phiếu hay các tài sản khác ghi bằng ngoại tệ

mà không bảo hiểm rủi ro ngoại hối

1.1.3.7 Ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương có thể can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng nhiều cách như sau:

- Cho chính phủ vay tiền bằng cách mua các chứng khoán của chính phủ phát hành lần đầu

- Hoạt động trên thị trường mở

- Rút bớt tiền hay tăng tiền tệ cho hệ thống ngân hàng

- Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc

1.1.4 Các loại hợp đồng trên thị trường ngoại hối

1.1.4.1 Hợp đồng giao ngay (Spot)

 Khái niệm:

Hợp đồng giao ngay là giao dịch hai bên thực hiện mua, bán một lượng ngoại

tệ theo tỷ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo

 Đặc điểm

Tỷ giá giao ngay là tỷ giá do tổ chức tín dụng yết tại thời điểm giao dịch, nằm trong biên độ giao đông hiện hành do Ngân hàng nhà nước qui định

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Chi phí giao dịch giao ngay giữa ngân hàng và khách hàng do ngân hàng qui định Tuy nhiên, do giao dịch giao ngay giữa ngân hàng và khách hàng là nhắm tìm kiếm lợi nhuận cho ngân hàng và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho các hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của khách hàng nên các ngân hàng thường không thu riêng khoản phí giao dịch mà đưa phí giao dịch vào khoản chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán (Spread) Do đó, chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán phải bù đắp được phí giao dịch, tạo lợi nhuận cho ngân hàng và phòng ngừa rủi ro Căn cứ để xác định chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán trong giao dịch giao ngay sẽ là:

- Tỷ lệ chênh lệch tỷ giá mua, tỷ giá bán các thời kỳ trước và của các đồng tiền khác

- Tính thanh khoản của ngoại tệ đó: Tính thanh khoản cao, rủi ro thấp thì chênh lệch thấp và ngược lại

Tuy theo loại giao dịch ngay mà mục đích và cơ chế giao dịch khác nhau Khách hàng giao dịch với ngân hang để có được loại ngoại tệ cần thiêt cho thanh toán các hàng hóa, dịch vụ Chăng hạn, một nhà nhạp khẩu Việt Nam cần 1 triệu EUR để thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu Pháp, nhà nhập ẩu sẽ thỏa thuận với một ngân hàng về nghiệp vụ giao dịch, tỷ giá, cung cấp tài khoản của nhà nhập khẩu Việt Nam và tài khoản của nhà xuất khẩu Pháp Ngân hàng sẽ thành lập hợp đồng giao dịch giao ngay và gửi cho khách hàng, đồng thời liên hệ với ngân hàng đại lý (Nostro Account) để thanh toán tiền hàng cho nhà nhập khảu Việt Nam Sau hai ngày làm việc, ngân hang sẽ gi nợ tài khoản nhà nhập khẩu Việt Nam và để nghị ngân hàng đại lý ghi có tài khoản nhà xuất khẩu tại Pháp Do nghiệp vụ này chỉ thực hiện sau hai ngày làm việc nên rủi ro có thể là nhà nhập khẩu bội ước hợp đồng mua ngoại tệ giao ngay nên cần phải lựa chon các khách hàng có tiềm lực, có uy tín trong kinh doanh và có thể là nhà nhập khẩu có tài khoản tại ngân hàng Giao dịch ngoại tệ giao ng còn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu mua bán ngoại của khách hàng là các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu Chẳng hạn, một công ty xuâtkhẩu và thu được USD nhưng cần VND cho hoạt động kinh doanh của mình, công ty VND của ngân hàng Giao dịch giao ngay giữa các ngân hàng trên thị trường liên ngân hàng nhằm tìm kiếm lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá giữa các đồng tiền (Currency Arbitrage) và dẫn đến xu hướng quân bình tỷ giá trên thị trường giao ngay

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.1.4.2 Hợp đồng kỳ hạn (Forward)

 Khái niệm

Hợp đồng kỳ hạn là giao dịch mua bán ngoại hối trong đó hai bên cam kết sẽ mua bán với nhau một số lượng ngoại tệ nhất định theo một mức tỷ giá được xác định vào ngày hôm nay và việc thanh toán tại mức tỷ giá đó sẽ được thực hiện vào một ngày xác định trong tương lai (ngày này phải một cách ngày ký hợp đồng từ 3 ngày làm việc trở lên)

Ngày nay, hợp đồng kỳ hạn đã phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trên thị trường ngoại hối Hợp đồng kỳ hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi

ro tỷ giá hối đoái đối với công ty khi tham gia xuất nhập khẩu, vay nợ nước ngoài hay thực hiện đầu tư nước ngoài Thị trường kỳ hạn còn là nơi hoạt động tích cực của các nhà đầu cơ để kiếm lời

Thị trường hối đoái kỳ hạn có liên quan chặt chẽ với thị trường giao ngay Hai thị trường này có những đặc điểm chung về: phạm vi nhân sự tham dự và tổ chức thị trường, kỹ thuật ký kết các hợp đồng, đồng USD được chấp nhận là đồng tiền quy đổi, là đơn vị hạch toán Tuy nhiên, hai thị trường này cũng có những đặc tính khác nhau và chúng bị tách ra độc lập do thời hạn thực hiện hợp đồng khác nhau Điểm khác biệt sâu sắc nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ, trên thị trường kỳ hạn tỷ giá giao dịch ít phụ thuộc vào mức độ cung cầu thời hạn, mà phụ thuộc lớn vào mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền giao dịch

 Đặc điểm

- Giao dịch ngoại hối kỳ hạn được thực hiện trên thị trường ngoại hối phi tập trung (OTC)

- Các bên tham gia phải có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng

- Tỷ giá kỳ hạn được xây dựng dựa trên cơ sở tỷ giá giao ngay

- Kỳ hạn hợp đồng ngoại hối kỳ hạn thường là bội số của 30 ngày: 1; 2; 3; 4; 5; 6; 9;

12 tháng Tuy nhiên, hai bên có thể thỏa thuận các kỳ hạn lẻ hay kỳ hạn nhiều hơn 1 năm Thông thường kỳ hạn tối thiểu của hợp đồng kỳ hạn đối với các cá nhân và doanh nghiệp (khách hàng bán lẻ) là 1 tháng, và từ 7 đến 15 ngày đối với thị trường liên ngân hàng Ngoài ra cũng có một số ít hợp đồng với thời hạn không phải là bội

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

số của 30 ngày nhưng loại hợp đồng này thường khó thỏa thuận hơn loại hợp đồng

có thời hạn là bội số của 30 ngày

- Giá kỳ hạn có thể bằng giá giao ngay nhưng thông thường nó cao hơn (đánh giá cao) hoặc thấp hơn (giảm giá) so với giá giao ngay

 Nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn

Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thỏa mãn nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện trong tương lai Tuy nhiên, do Hợp đồng kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫn phải thực hiện hợp đồng

Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nào khách hàng mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ Đôi khi trên thực tế khách hàng vừa có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ ở tương lai

 Các ứng dụng của hợp đồng kỳ hạn

- Bảo hiểm rủi ro tỷ giá: hợp đồng kỳ hạn được sử dụng phổ biến để bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong kinh doanh quốc tế Nếu doanh nghiệp có một khoản phải thu, một tài sản hay một thu nhập trong tương lai định giá bằng ngoại tệ, giá ngoại tệ đang có xu hướng giảm xuống, doanh nghiệp có thể bảo hiểm rủi ro này bằng cách bán kỳ hạn tài sản này Do tỷ giá trên hợp đồng kỳ hạn được xác định vào ngày ký kết hợp đồng nên dù tỷ giá hối đoái trên thị trường giao ngay thay đổi như thế nào, giá trị của tài sản tính bằng đồng bản tệ vẫn không thay đổi Ngược lại, nếu doanh nghiệp có một khoản nợ định giá bằng ngoại tệ, doanh nghiệp sẽ mua kỳ hạn ngoại

tệ Nếu sự biến động của tỷ giá giao ngay đúng như dự đoán của doanh nghiệp, doanh nghiệp đã bảo hiểm được cho tài sản (nợ) của mình Nếu ngược lại, sự thiệt hại trên hợp đồng kỳ hạn được xem như là chi phí bảo hiểm

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tại thời điểm giao dịch hôm nay nhưng thời gian giao hàng là tại một thời điểm trong tương lai

 Đặc điểm

- Hợp đồng tương lai được tiêu chuẩn hóa về một số điều khoản của hợp đồng

- Được mua bán tập trung ở sở giao dịch

- Phòng thanh toán bù trừ đứng ra đảm bảo nghĩa vụ hợp đồng cho các bên

* Đóng vị thế hợp đồng tương lai

Trên thực tế, phần lớn các hợp đồng tương lai không đưa đến việc chuyển giao tài sản cơ sở thật sử bởi vì các nhà đầu tư thường đóng vị thế hợp đồng trước khoảng thời gian giao tài sản cơ sở được quy định trong hợp đồng Đóng vị thế hợp đồng nghĩa là nhà đầu tư tiến hành một giao dịch ngược lại với giao dịch ban đầu

Ví dụ: Vào ngày 01/01/2011, một nhà đầu tư mua một hợp đồng tương lai trên đồng tiền đôla Úc, đáo hạn vào tháng 09 Đến ngày 15/02/2011, ông ta có thể đóng vị thế hợp đồng của mình bằng cách bán một hợp đồng tương lai tương tự đáo hạn vào tháng 09 cùng năm Một điểm cần lưu ý: Khi nhà đầu tư này đóng vị thế hợp đồng bằng cách thực hiện một vị thế ngược lại thì nhà đầu tư đối tác trong giao dịch sau (người mua trong giao dịch thứ hai) thường không phải là nhà đầu tư đối tác trong giao dịch ban đầu (người bán trong giao dịch thứ nhất)

 Ứng dụng của hợp đồng ngoại hối tương lai

- Bảo hiểm rủi ro tỷ giá

- Đầu cơ

* So sánh giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai

Tiêu chí Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng tương lai

Tính chuẩn hóa

Hợp đồng không được chuẩn hóa, những điều kiện hợp đồng được xác định bởi những người tham gia

hợp đồng

Hợp đồng được chuẩn hóa

về quy mô, thời hạn nơi giao nhận, số lượng và chất lượng tài sản,…

Ký quỹ và thanh toán Không được ký quỹ Thanh

toán vào ngày đến hạn

Yêu cầu ký quỹ Mức ký quỹ được điều chỉnh hàng ngày theo sự biến động giá,

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

việc thanh toán được thực hiện hàng ngày

Tính thanh khoản

Tính thanh khoản thấp, không có thị trường thứ cấp tập trung, hợp đồng được mua bán trên thị trường

OTC

Tính thanh khoản rất cao, tồn tại thị trường thứ cấp tập trung, hợp đồng được mua bán trên sàn giao dịch

Thực hiện hợp đồng

Luôn được thực hiện, việc thực hiện dựa vào trách nhiệm của những người tham gia hợp đồng

Hợp đồng thường được đóng trước khi đến hạn Việc thực hiện được quản

lý bởi phòng thanh toán bù

trừ

Ngày chuyển giao tài sản Quy định một ngày chuyển

giao tài sản cụ thể

Hợp đồng có một số ngày chuyển giao nhất định

Công cụ phòng ngừa rủi ro Phòng ngừa rủi ro vào ngày

 Phân loại:

- Spot – Forward Swap: là hợp đồng kết hợp giữa một hợp đồng giao ngay và một hợp đồng kỳ hạn

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Forward – Forward Swap: là hợp đồng kết hợp giữa hai hợp đồng kỳ hạn được thực hiện cùng một lúc tuy nhiên thời gian đáo hạn của hai hợp đồng này khác nhau

- Số lượng mua vào và bán ra đồng tiền này là bằng nhau trong cả 2 vế (vế mua và

vế bán) của hợp đồng hoán đổi

- Ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra khác nhau

 Các nguyên tắc thực hiện giao dịch

- Ngày giá trị giao ngay và kỳ hạn trong Hợp đồng hoán đổi nếu rơi vào ngày nghỉ

lễ hay nghỉ cuối tuần thì dịch chuyển tới ngày làm việc tiếp theo

- Các kỳ hạn hoán đổi cố định thông thường là 1; 2; 3; 6; 9 và 12 tháng

- Cũng có thể thỏa thuận ngày giá trị kỳ hạn trong Hợp đồng hoán đổi là ngày giá trị

ký hạn

* Điểm hoán đổi:

- Điểm hoán đổi trong thực tế thường được gọi là tỷ giá hoán đổi được các nhà kinh doanh sử dụng để giao dịch và báo giá trên thị trường, là cơ sở để xác định tỷ giá kỳ hạn trong Hợp đồng hoán đổi

- Điểm hoán đổi thực ra chính là điểm kỳ hạn

Điểm hoán đổi = |Tỷ giá kỳ hạn – Tỷ giá giao ngay|

- Khi yết giá cho Hợp đồng hoán đổi, các nhà tạo thị trường yết điểm hoán đổi mua vào và điểm hoán đổi bán ra giống cách yết giá của Hợp đồng kỳ hạn

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

* Tỷ giá giao ngay trong Hợp đồng hoán đổi

- Trong Hợp đồng hoán đổi Spot – Forward có 2 giao dịch giao ngay và Hợp đồng

kỳ hạn

- Về nguyên tắc:

+ Nếu bạn là bên mua giao ngay và bán kỳ hạn, nhà tạo thị trường có thể áp dụng tỷ giá bán ra giao ngay và tỷ giá mua vào kỳ hạn (= tỷ giá mua vào giao ngay +/- điểm hoán đổi mua vào)

+ Nếu bạn là bên bán giao ngay và mua kỳ hạn thì nhà tạo thị trường có thể áp dụng

tỷ giá mua vào giao ngay và tỷ giá bán ra kỳ hạn (= tỷ giá bán ra giao ngay +/- điểm hoán đổi bán ra)

 Các ứng dụng của Hợp đồng hoán đổi

- Kiểm soát nguồn vốn khả dụng

- Kéo dài thời hạn trạng thái ngoại hối

- Kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá

1.1.4.5 Hợp đồng quyền chọn (Option)

 Khái niệm

Quyền chọn tiền tệ là một tài sản tài chính cho phép người mua nó có quyền (nhưng không bắt buộc) được mua hay bán một số lượng đồng tiền ở một mức tỷ giá xác định vào (hoặc trước) một ngày được xác định trước

* Quyền chọn kiểu Âu/Mỹ

- Quyền chọn kiểu Mỹ (American option): Người nắm giữ quyền chọn có thể thực hiện quyền tại bất kỳ thời điểm nào trước ngày đến hạn

- Quyền chọn kiểu Châu Âu (European option): Người nắm giữ quyền chọn chỉ có thể thực hiện quyền vào ngày đến hạn

 Đặc điểm

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Giá mua hay bán trong hợp đồng quyền chọn được gọi là giá thực hiện (exercise price hay strike price) Đối với quyền chọn tiền tệ thì giá mua hay bán chính là các tỷ giá Đây là tỷ giá mà người nắm giữ quyền phải trả cho người bán quyền để lấy đồng tiền cơ sở nếu như người nắm giữa quyền chọn thực hiện quyền thực hiện quyền (đối với quyền chọn mua), hoặc tỷ giá mà người nắm giữ quyền nhận được từ người bán quyền (cho việc bán đồng tiền cơ sở) nếu như người nắm giữ quyền chọn thực hiện quyền (đối với quyền chọn bán)

Để có được quyền này, người mua quyền phải trả cho người bán quyền một khoản phí (premium) Khoản phí này chính là giá của quyền chọn Nếu như sau này người mua quyền chọn không thực hiện quyền, khoản phí này sẽ là lợi nhuận của người bán quyền Tuy nhiên, nếu người mua quyền chọn thực hiện quyền, lợi nhuận của người bán quyền chọn sẽ bằng:

- Khoản phí trừ cho chênh lệch giữa tỷ giá thị trường với tỷ giá thực hiện của đồng tiền cơ sở tại thời điểm quyền được thực hiện (đối với quyền chọn mua)

- Khoản phí trừ đi cho chênh lệch giữa tỷ giá thực hiện với tỷ giá thị trường của đồng tiền cơ sở tại thời điểm quyền chọn được thực hiện (đối với quyền chọn bán)

Do vậy, đối với người nắm giữ quyền chọn mua, lợi nhuận có được khi thực hiện quyền sẽ gia tăng khi tỷ giá thị trường của đồng tiền cơ sở gia tăng Còn đối với người nắm giữ quyền chọn bán, lợi nhuận có được khi thực hiện quyền sẽ gia tăng khi tỷ giá thị trường của đồng tiền cơ sở giảm

* Đóng vị thế hợp đồng

Một nhà đầu tư đang giữ một vị thế quyền chọn có thể tiến hành đóng vị thế của mình bằng cách thực hiện giao dịch ngược lại với giao dịch trước đó Ví dụ: một nhà đầu tư đang giữ vị thế mua quyền chọn có thể đóng vị thế bằng cách ra lệnh bán cùng loại quyền chọn đó Tình huống hoàn toàn tương tự cho nhà đầu tư đang ở vị thế bán

* Hoa hồng phí (Commissions)

Các loại lệnh được sử dụng trong các hợp đồng quyền chọn cũng tương tự như các loại lệnh được sử dụng trong các giao dịch hợp đồng tương lai (lệnh thị trường, lệnh giới hạn,…) Thông thường hoa hồng phí thay đổi tùy theo mỗi loại người môi giới Ví dụ: Người môi giới cung cấp một số dịch vụ (Discount Brokers) thường

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tính phí thấp hơn so với người môi giới cung cấp đầy đủ các dịch vụ (Full - service brokers) Hoa hồng phí thực tế được tính bằng với một khoản phí cố định cộng với một tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch

Nếu một vị thế quyền chọn được đóng bằng cách thực hiện một giao dịch ngược lại với giao dịch ban đầu, hoa hồng phí phải được thanh toán lại một lần nữa Khi quyền chọn được thực hiện, hoa hồng phí sẽ được tính toán như trường hợp mua, bán cổ phiếu

Một loại chi phí “ẩn” khác trong các hợp đồng quyền chọn mà các nhà đầu tư

có thể phải gánh chịu là chênh lệch giữa giá bán - mua của những người tạo thị trường

* Yêu cầu ký quỹ đối với hợp đồng quyền chọn

Khác với hợp đồng tương lai, chỉ có những người ở vị thế bán trong các hợp đồng quyền chọn mới phải thực hiện ký quỹ Quy mô ký quỹ cũng phụ thuộc vào từng tình huống cụ thể: Loại quyền chọn mua hay quyền chọn bán, quyền chọn được kết hợp với một vị thể bù đắp trong tài sản cơ sở (Covered options) hay quyền chọn không được kết hợp với một vị thế bù đắp trong tài sản cơ sở (Naked options) 1.2 Chức năng của thị trường ngoại hối

Để thỏa mãn nhu cầu ngoại hối của các khách hàng là các nhà nhập khẩu, các ngân hàng thương mại luôn sẵn sàng giúp khách hàng thực hiện các giao dịch ngoại hối Đó chính là chức năng cơ bản của thị trường ngoại hối, nhằm giúp cho các khách hàng thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế

Ngoài chức năng cơ bản trên, thị trường ngoại hối còn có một số chức năng khác như:

- Giúp luân chuyển các khoản đầu tư quốc tế, tín dụng quốc tế, các giao dịch tìa chính quốc tế khác cũng như các giao lưu giữa các quốc gia

- Thông qua hoạt động của thị trường ngoại hối, giá trị đối ngoại của tiền tệ được xác định một cách khách quan theo quy luật cung cầu thị trường

- Thông qua thị trường ngoại hối, chúng ta có thể bảo hiểm cho các khoản thu xuất khẩu, các khoản thanh toán nhập khẩu, các khoản đầu tư bằng ngoại tệ và các khoản đi vay bằng ngoại tệ thông qua các giao dịch kỳ hạn, quyền chọn, tương lai, hoán đổi

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới thị trường ngoại hối

- Cán cân thanh toán quốc tế: Nếu cán cân thanh toán cân bằng: tỷ giá hối đoái

ổn định Nếu cán cân thanh toán bội thu: cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ, làm cho dự trữ ngoại tệ tăng lên và dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm Nếu cán cân thanh toán thâm hụt thì ngược lại, tỷ giá hối đoái tăng

- Tỷ lệ lạm phát: giả sử khi lạm phát tăng, đồng tiền sẽ bị mất giá, tức là để mua một loại hàng hóa ta sẽ mất nhiều tiền hơn Do đó, khi ta so sánh tỷ lệ lạm phát của hai nước hay so sánh sức mua của hai đồng tiền Nếu mức lạm phát của nước này cao hơn mức lạm phát của nước khác thì sức mua của nội tệ sẽ giảm và làm cho

tỷ giá hối đoái tăng lên Ví dụ: giả sử mức lạm phát của Việt Nam cao hơn của Nhật Bản, khi đó sức mua của VND giảm, VND mất giá dẫn đến tỷ giá JPY/VND tăng lên

- Lãi suất: nước nào có lãi suất ngắn hạn cao hơn thì luồng vốn ngắn hạn có xu hướng chảy vào nhằm thu phần chênh lệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cung ngoại hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm đi và tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm

Để xác định mức lãi suất của một nước là cao hay thấp, thông thường người ta

so sánh mức lãi suất của nước đó với các lãi suất quốc tế như lãi suất đi vay trên thị trường liên ngân hàng London LIBID, lãi suất quốc tế trên thị trường liên ngân hàng Singapore SIBID…

Cần lưu ý rằng, chênh lệch lãi suất có tác động tới sự biến động của tỷ giá nhưng đó chỉ là sự tác động gián tiếp chứ không phải trực tiếp bởi lãi suất trong nhiều trường hợp không phải là nhân tố quyết định tới sự di chuyển của các dòng vốn Chênh lệch lãi suất phải trong điều kiện ổn định kinh tế chính trị thì mới thu hút được nhiều vốn ngắn hạn từ bên ngoài đổ vào

- Tác động của hoạt động đầu cơ ngoại tệ: khi nhà đầu cơ dự đoán giá của một ngoại tệ nào đó sẽ lên, họ sẽ đổ tiền mua vào với số lượng lớn Dẫn đến làm cho ngoại tệ này trở nên khan hiếm, làm cho giá ngoại tệ này tăng lên, tỷ giá hối đoái tăng và ngược lại

- Tăng trưởng kinh tế hay suy thoái kinh tế: mức độ tăng GDP thực tế sẽ ảnh hưởng làm tăng hoặc giảm cung và cầu ngoại tệ, từ đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồng tiền trong nước so với tiền nước ngoài giảm đi hoặc tăng lên Ngoài ra còn có

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

các yếu tổ tác động khác như: yếu tố tâm lý, các chính sách liên quan tới quản lý ngoại hối, các rủi ro như dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh

1.4.Ưu nhược điểm của đầu tư và kinh doanh ngoại hối

1.4.1.Ưu điểm

- Không cần qua trung gian đặt lệnh: các nhà đầu tư, ngân hàng hay tổ chức tài chính khi tham gia vào thị trường ngoại hối không cần đến các sở giao dịch mà có thể trực tiếp giao dịch qua mạng internet

- Không giới hạn khối lượng giao dịch: các nhà đầu tư, ngân hàng hay tổ chức tài chính có thể giao dịch với khối lượng bao nhiêu tùy ý, không cần lo sợ hết hàng hay khối lượng giao dịch quá nhỏ không thể thanh toán

- Thị trường giao dịch 24h: Điểm đặc biệt của thị trường này là bạn không cần chờ đến giờ mở cửa Từ sáng thứ 2 mở cửa tại Australia đến chiều thứ 6 đóng tại New York, thị trường ngoại hối không bao giờ ngủ Điều này thật tuyệt vời cho những ai muốn giao dịch bán thời gian, bởi vì bạn có thể chọn khi nào bạn muốn giao dịch : sáng, trưa, tối, qua bữa sáng, hoặc giờ ngủ

- Không ai có khả năng thao túng thị trường: khối lượng giao dịch trên thị trường ngoại hối vào khoảng 9500 tỷ USD/ngày, với khối lượng giao dịch lớn như vậy, không một cá nhân, tổ chức tài chính nào có đủ khả năng thao túng được thị trường dù trong một thời gian rất ngắn

- Tính thanh khoản cao: điều này có nghĩa là trong trạng thái thị trường bình thường, với một cái nhấp chuột bạn đã có thể ngay lập tức mua hoặc bán giá mà bạn muốn như có một người trong thị trường sẽ sẵn sang nhận giao dịch với bạn Bạn sẽ không bao giờ bị kẹt trong một giao dịch Thậm chí bạn có thể để phần mềm giao dịch tự động kết thúc giao dịch khi bạn đạt được mức lợi nhuận mong muốn hoặc khi giao dịch đang thua lỗ

- Có thể sử dụng đòn bẩy tài chính: trong giao dịch, với một số tiền ký quỹ nhỏ bạn có thể thực hiện một hợp đồng có giá trị lớn Đòn bẩy mang lại khả năng tạo nên lợi nhuận hấp dẫn

Ví dụ: một sàn môi giới cung cấp một tỷ lệ đòn bẩy 1:50, có nghĩa là với số tiền gửi ký quỹ 50$, bạn có thể giao dịch mua hoặc bán 2,500$ giá trị của tiền tệ Cũng giống vậy, với 500$ gửi ký quỹ bạn có thể giao dịch đến 25,000$ Tuy đòn

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

bẩy mang lại lợi ích như vậy, nhưng bạn hãy chú ý, đòn bẩy cũng là một con dao 2 lưỡi Nếu không có sự quản lý rủi ro thích hợp, đòn bẩy quá cao có thể dẫn đến thua

lỗ lớn

- Có thể đầu tư hai chiều: như trong thị trường bất động sản hay vàng vật chất, bạn không thể đầu tư kiếm lời khi nhận thấy thị trường đang xuống giá mà chỉ có thể đầu tư khi thấy thị trường đang phát triển Tuy nhiên trong thị trường ngoại hối, bạn có thể đầu tư kiếm lời ngay cả khi nhận thấy thị trường đang xuống giá, còn gọi

là bán khống

Ví dụ: tỷ giá USD/JPY hiện tại là 120, bạn dự đoán trong tương lai, tỷ giá này

sẽ giảm xuống còn 110 Khi đó bạn có thể đặt lệnh bán 1 lot USD/JPY Sau khi giá đạt xuống mức kì vọng là 110, bạn đóng lệnh và hưởng khoản lãi là 100USD

- Thông tin công khai: tất cả các thông tin quan trọng có thể ảnh hưởng tới thị trường ngoại hối như GDP các nước, chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ thất nghiệp,… đều được thông báo công khai trên mạnh Internet gần như ngay lập tức Các bạn có thể vào trang www.forexfactory.com để có được thông tin chính xác và nhanh nhất

vụ ngoại hối ở trong nước và nước ngoài sau khi được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận bằng văn bản; Ngân hàng Nhà nước quy định về phạm vi kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối ở trong nước và nước ngoài, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức khác

Ngoài ra, theo quy định pháp luật hiện hành, tổ chức và cá nhân chỉ được thực hiện các giao dịch hối đoái (giao dịch giao ngay, giao dịch kỳ hạn, giao dịch hoán

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đổi, giao quyền chọn) theo quy định cụ thể của Ngân hàng Nhà nước với các tổ chức tín dụng được phép

Các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện các hoạt động ngoại hối khác sau khi được Thủ tướng Chính phủ cho phép và được Ngân hàng Nhà nước cấp phép Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ chưa có quy định cụ thể về hoạt động kinh doanh trên sàn giao dịch ngoại hối

Bên cạnh đó, theo Nghị định 95/2011/ NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, tổ chức và cá nhân có thể bị phạt tiền

từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với hành vi mua, bán ngoại tệ và kinh doanh, mua, bán vàng không đúng quy định của pháp luật

Cũng theo Nghị định này, Bộ Công an, Ủy ban Nhân dân và Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền các hành vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng

Như vậy, để thực hiện giao dịch ngoại hối, các nhà đầu tư, các ngân hàng và các tổ chức tài chính cần tìm hiểu kỹ về sàn giao dịch, giấy phép và các điều luật có liên quan để tránh bị pháp luật truy tố

Các vấn đề về rủi ro trong kinh doanh

- Rủi ro đạo đức:

Rủi ro đạo đức nảy sinh khi bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứng giữa các bên giao dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bản thân bất kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém

ưu thế thông tin Hành vi tha hóa theo hướng như thế của bên có ưu thế thông tin được bên kém ưu thế thông tin cho là không đứng đắn, là một thứ nguy hiểm, rủi ro cho mình

Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, rủi ro đạo đức ngày càng trở nên phổ biến Rủi ro này có thể xuất phát từ các đối tác của các ngân hàng thương mại nhưng cũng có thể xuất phát từ chính những ngân hàng thương mại

- Rủi ro tỷ giá:

Đây là loại rủi ro thường trực, gắn liền và trở thành đặc trưng của hoại động kinh doanh ngoại hối Nó bắt nguồn từ trạng thái ngoại tệ không cân xứng của nhà giao dịch và chỉ xảy ra khi trạng thái ngoại hối mở Một nguyên nhân khác của loại

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

rủi ro này là do cung cần ngoại tệ trên thị trường, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách thuế quan, năng suất lao động, tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước, lãi suất giữa các đồng tiền

- Rủi ro tổ chức

Rủi ro tổ chức là những rủi ro do hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý yếu kém đem lại Rủi ro này thương là do sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng giữa các bộ phận tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại hối là bộ phận giao dịch, thanh toán, kiểm soát, hay mô hình tổ chức kinh doanh ngoại hối còn chưa hiệu quả và hợp lý

- Rủi ro do môi trường thông tin

Đối với hoạt động ngân hàng, nhất là kinh doanh ngoại hối, thông tin là một yếu tố quan trọng Thông tin là nguồn dữ liệu để các ngân hàng thương mại dự báo,

đo lường sự biến động của các yếu tố trong kinh doanh ngoại hối trong đó có cả rủi

ro kinh doanh ngoại hối Vì vậy, thông tin không đầy đủ, không chính xác hoặc những tin đồn ác ý cũng có thể sẽ dẫn tới những rủi ro cho ngân hàng thương mại Rủi ro do môi trường thông tin có thể xảy ra dưới các dạng sau:

+ Thiếu thông tin về đối tác nên bị đối tác lừa không thanh toán

+ Thiếu thông tin phục vụ cho công tác đo lường, dự báo biến động của một số yếu tố như: tỷ giá hối đoái, rủi ro … nên đưa ra các quyết định sai lầm

+ Gặp phải những tin đồn ác ý do đối thủ cạnh tranh hoặc kẻ xấu tung ra

- Rủi ro vận hành

Đây là rủi ro có thể đến từ những sai sót của mạng điện thoại, giao dịch qua Telex, Reuter, giao dịch Telerate, hỏng hóc của máy tính cá nhân, hệ thống mạng quá tải, thiết bị hư hại hay mất điện…

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG ĐẦU TƯ, KINH

DOANH NGOẠI HỐI Ở THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

2.1 Thực trạng thị trường ngoại hối Việt Nam

2.1.1 Hoạt động của thị trường ngoại hối Việt Nam

2.1.1.1 Hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng

Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hay còn gọi là thị trường chính thức với sự tham gia của ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại hối, trong đó ngân hàng nhà nước đóng vai trò là người mua, bán cuối cùng nhằm can thiệp và điều tiết tình hình giao dịch ngoại tệ trên thị trường này

Tỷ giá giao dịch chính thức giữa đồng Việt Nam và các ngoại tệ khác được hình thành trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do ngân hàng thương mại công

bố hàng ngày là cơ sở để các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra các mức tỷ giá cụ thể mua, bán ngoại tệ với khách hàng trong biên độ cho phép

Trên thị trường ngoại hối chính thức, quy mô giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng không ổn định, phụ thuộc nhiều vào diễn biến của tỷ giá trên thị trường và cũng một phần do việc mua bán can thiệp của ngân hàng nhà nước kém linh hoạt nên thực tế khối lượng giao dịch ngoại tệ trên thị trường này không nhiều Nhiều ngân hàng thương mại là thành viên nhưng không tham gia thị trường, do vậy tỷ giá trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng chưa phản ánh đúng được với thực chất của nó Sau đây là phân tích hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng từ khi ra đời cho đến nay

Kể từ khi thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đi vào hoạt động tháng 10/1994, thị trường ngoại hối Việt Nam đã phát triển theo hướng tích cực và thu hút được đông đảo thành viên tham gia Thời gian đầu hoạt động, do còn non trẻ cộng với doanh số hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta còn hạn chế, quy định biên độ tỷ giá giao ngay rất hẹp nên doanh số hoạt động của thị trường ngoại hối trong các năm 1995 và 1996 ở mức thấp

Sang năm 1997, do hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng, đầu tư quốc

tế chảy vào Việt Nam ngày càng nhiều Bên cạnh đó, ngân hàng nhà nước cũng nới rộng biên độ giao động của tỷ giá, điều đó đã trở thành những nhân tố kích thích thị

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trường ngoại hối hoạt động sôi động hơn Trên thị trường, nhu cầu mua bán ngoại

tệ của các Ngân hàng thành viên luôn thay đổi, nhìn chung nhu cầu mua ngoại tệ nhiều hơn bán, nhất là những tháng đầu và cuối năm các Ngân hàng cần ngoại tệ để thanh toán L/C và nợ vay đến hạn Các ngân hàng thương mại đã tích cực chủ động tìm nguồn mua bán ngoại tệ trước khi cần đến sự can thiệp của ngân hàng nhà nước Tháng 1, 4, 5, 6, 7 là những tháng hoạt động trên thị trường luôn đạt mức ổn định và sôi động hơn cả, phần lớn các ngân hàng thương mại đã cân đối được nguồn ngoại tệ thông qua giao dịch trên thị trường Từ tháng 8/1997, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế các nước trong khu vực thì hoạt động của thị trường diễn biến theo chiều ngược lại, hiện tượng đầu cơ và găm giữ ngoại tệ tăng khiến cho nhu cầu ngoại tệ cũng tăng gây áp lực cho đồng Việt Nam Khi đó ngân hàng nhà nước đã phải can thiệp đáng kể để giữ cho thị trường tương đối sôi động cùng với việc nới rộng biên độ giao dịch tỷ giá Năm 1997 mức giao dịch ngoại tệ bình quân tháng là 683 triệu USD

Trong năm 1998, tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có chênh lệch lớn so với thế giới và trên thị trường tự do vào hai tháng đầu năm Sau hai lần ngân hàng nhà nước điều chỉnh tỷ giá chính thức, mức chênh lệch tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng và thị trường tự do thu hẹp lại, làm cho hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng các tháng cuối năm trở nên sôi động và nhộn nhịp hơn so với đầu năm, doanh số giao dịch bình quân tháng trong năm 1998 đạt

865 triệu USD

Bước sang năm 1999, hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng diễn ra sôi động hơn nhiều so với các năm trước Ngay từ đầu năm, doanh số giao dịch đã khá cao đối với cả giao dịch giữa các Ngân hàng với nhau và giao dịch giữa Ngân hàng với khách hàng Lượng ngoại tệ trên thị trường khá dồi dào, nhiều khi cung ngoại tệ vượt cầu buộc các ngân hàng thương mại phải bán ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu tiền đồng Việt Nam, doanh số bình quân đạt 917 triệu USD/tháng Diễn biến thị trường ngoại tệ liên ngân hàng sở dĩ sôi động như vậy là do nền kinh tế các nước châu á đã dần phục hồi sau khủng hoảng, kinh tế Việt Nam lấy lại đà phát triển, đặc biệt Chính phủ có nhiều chính sách kích thích tăng trưởng xuất khẩu, thu hút đầu tư, làm thặng dư cán cân vãng lai và cán cân thanh toán quốc tế Bên cạnh

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đó, Chính phủ còn áp dụng các biện pháp quản lý ngoại tệ, như quyết định 173/1998/QĐ-TTg ngày 12/8/1998 về nghĩa vụ bán và mua ngoại tệ của Người cư trú và tổ chức kinh tế Việt Nam, trong vòng 15 ngày phải bán ngay tối thiểu 80% các khoản thu ngoại tệ vãng lai cho các Ngân hàng được phép, đối với các tổ chức chính trị xã hội phải bán toàn bộ 100%, vì thế đã làm tăng cung ngoại hối trên thị trường

Tuy nhiên từ cuối năm 1999 sang năm 2000, do sức ép của cung cầu ngoại tệ

và sự mất giá của các đồng tiền trong khu vực, đồng Việt Nam luôn có xu hướng giảm giá so với Đô la Mỹ Từ đầu năm đến hết tháng 8/2000, tỷ giá tăng trung bình 0,3%/tháng Trong 2 tháng tiếp theo, tỷ giá tăng với tốc độ mạnh hơn hẳn các tháng trước (trung bình 0,89%/ tháng) Sau tháng 12/2000, tỷ giá có xu hướng ổn định trở lại Tính trung bình năm 2000, tỷ giá giao ngay trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tăng 3,45%, tỷ giá trên thị trường tự do luôn cao hơn thị trường chính thức trung bình 0,89% Với tình hình thế giới biến động mạnh như vậy đã làm cho tình hình cung cầu ngoại tệ mất cân đối nghiêm trọng, luôn luôn ở trạng thái căng thẳng

và tình trạng khan hiếm ngoại tệ diễn ra thường xuyên Biến động tăng liên tục của

tỷ giá và lãi suất ngoại tệ ở cả trong và ngoài nước đã làm cho xu hướng mua và găm giữ ngoại tệ của các tổ chức kinh tế trở nên phổ biến khiến cho lượng ngoại tệ

mà các ngân hàng mua được giảm, không đủ bù đắp các khoản chi cho nhập khẩu

và trả nợ Ngân hàng nhà nước đã phải can thiệp vào thị trường, chủ yếu là bán ngoại tệ cho các ngân hàng thương mại Tình hình này phản ánh sự mất cân đối trên thị trường ngoại tệ, doanh số giao dịch cả năm chỉ tăng 9% so với năm 1999 Sang năm 2001, diễn biến thị trường đi theo chiều hướng khác Trong 4 tháng đầu năm 2001, tỷ giá luôn được giữ ổn định nên lượng ngoại tệ mà các tổ chức kinh

tế sẵn sàng bán cho các Ngân hàng luôn đạt mức cao Các ngân hàng thương mại sẵn sàng cung cấp ngoại tệ không hạn chế cho các khách hàng khi có nhu cầu Từ đầu tháng 5, tỷ giá đã tăng liên tục với tốc độ nhiều nhất là 80 VND/USD, ít nhất là

20 VND/USD Tâm lý lo sợ VND sẽ bị mất giá làm cho các tổ chức và cá nhân hạn chế bán ngoại tệ cho Ngân hàng hoặc vay tiền để mua Đô la Mỹ nhằm hạn chế rủi

ro tỷ giá Diễn biến này làm cho lượng cung ngoại tệ trên thị trường bị giảm sút nhanh chóng Giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng giảm mạnh trong

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tháng 8 Khối lượng Đô la Mỹ mua vào hàng ngày tại Sở giao dịch II Ngân hàng công thương tại Thành phố Hồ Chí Minh giảm 90% vào cuối tháng 11/2001 trong khi đó số lượng ngoại tệ mà sở mua vào đầu tháng 11/2001 lên tới 2 triệu USD/ ngày, nguyên nhân chính một phần do tâm lý lo ngại về sự kiện ngày 11/9 của nước

Mỹ sẽ làm ảnh hưởng tới nền kinh tế thế giới, vì vậy các cá nhân đã bán USD ồ ạt trên thị trường Tuy vậy tình hình chung trên thị trường là lượng ngoại tệ mà các ngân hàng nắm giữ là khá dồi dào, cộng với tình hình cán cân giao dịch chính thức thặng dư và lãi suất trên thị trường thế giới thấp cũng làm cho lượng cung ngoại tệ đáp ứng được nhu cầu ngoại tệ trên thị trường

Sang đầu năm 2002, đồng nội tệ phải chịu áp lực từ phía cầu về đồng Đô la

Mỹ Tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được nới lỏng với biên độ tối đa 0,25% so với tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Chênh lệch giữa tỷ giá mua vào và bán ra được duy trì đều đặn Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam bán ra Đô la Mỹ tại thời điểm cuối tháng 9/2002 với giá bán ra 15.348 VND/USD và mua vào với giá 15.345VND/USD, trong khi đó trên thị trường tự

do, nơi không bị hạn chế bởi biên độ giao dịch, Đô la Mỹ thường được bán với giá cao hơn các ngân hàng thương mại từ 30 đến 40 VND Các ngân hàng thương mại cho rằng trong thời điểm này, cung về ngoại tệ mạnh trong hệ thống không cao, trong khi cầu lại tăng Tuy nhiên tình trạng khan hiếm không bắt nguồn từ sự mất cân bằng giữa luồng tiền vào và luồng tiền ra mà nguyên nhân do mức độ đô la hoá cao, lưu thông ngoại tệ mạnh không hiệu quả và biện pháp thận trọng của ngân hàng nhà nước khi thiết lập lãi suất ngân hàng Doanh số giao dịch bình quân tháng trong năm 2002 đạt 1,5 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2001

Trong năm 2003, thị trường ngoại tệ liên ngân hàng có nhiều thuận lợi cho việc phát triển, đây là năm được coi là bùng nổ về thu hút đầu tư và viện trợ Số lượng vốn FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) tăng mới đạt 2,6 tỷ, mức cao nhất trong 5 năm qua Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2003 đạt 19,843 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2002 Bên cạnh đó, chính sách quản lý ngoại hối đã có sự thay đổi lớn: giảm tỷ lệ kết hối từ 40% xuống 30%, quy định mới về trạng thái ngoại hối đó

là số dư ngoại tệ so với vốn tự có của các ngân hàng thương mại đã tăng từ 15% lên 30%, phương pháp tính trạng thái ngoại hối cũng không chỉ tính riêng USD như

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trước mà tính gộp chung với các loại ngoại tệ khác Doanh số giao dịch bình quân trong năm 2003 đạt 1,74 tỷ USD/tháng, tăng 11,5% so với năm 2002

Năm 2004, nền kinh tế thế giới có nhiều biến cố Kinh tế nhiều nước đã phục hồi và trên đà tăng trưởng, đặc biệt là Mỹ và Nhật, đồng đô la Mỹ vẫn giảm sút so với các đồng tiền chủ chốt khác (giảm trên 10% so với EUR) Ở trong nước, nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt tốc độ tăng trưởng cao 7,7% Mặc dù giá các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng cao, điều kiện sản xuất không thuận lợi làm cho chỉ số giá

cả trong nước tăng vọt, làm ảnh hưởng tới hoạt động của thị trường tiền tệ, tuy nhiên với nỗ lực của ngân hàng nhà nước trong việc kiên trì chính sách tiền tệ theo hướng thận trọng, linh hoạt nên thị trường tiền tệ trong nước năm 2004 đã được kiểm soát chặt chẽ và giữ ổn định Doanh số giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng đạt 2,592 tỷ USD/tháng

2.1.1.2 Hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do

Mặc dù Nhà nước đã cấm hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do theo thông

tư số 33/NH-TT ngày 15/03/1989 "Việc lưu thông ngoại tệ trong nước chỉ được thực hiện thông qua Ngân hàng và các tổ chức kinh doanh, dịch vụ được phép thu ngoại tệ Nghiêm cấm việc mua bán, trao đổi ngoại tệ trên thị trường tự do" nhưng thực tế hoạt động trên thị trường này ở nước ta lại diễn ra khá phổ biến và sôi động Trên thị trường ngoại tệ tự do diễn ra việc mua bán ngoại tệ giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với doanh nghiệp tư nhân Theo kết quả điều tra mới nhất của tổ chức JICA của Nhật thì tổng doanh số giao dịch mua bán ngoại tệ bình quân mỗi ngày của khoảng 200 doanh nhiệp tư nhân ở khu vực Hà Nội lên tới 10 triệu USD, chiếm 1/3 tới 1/2 tổng số giao dịch ngoại tệ tại khu vực này ước tính có khoảng 2-3 tỷ USD lưu hành ngoài hệ thống Ngân hàng

Thị trường ngoại tệ tự do của Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển mạnh như vậy

là do:

Thứ nhất, trong một thời gian dài nước ta duy trì chế độ tỷ giá VND cố định, lại trải qua lạm phát cao nên tỷ giá chính thức giữa VND và USD luôn thấp hơn tỷ giá thị trường cân bằng cung cầu Bước sang thời kỳ đổi mới, cơ chế điều hành tỷ giá cũng ngày càng hoàn thiện nhưng chế độ tỷ giá vẫn có sự quản lý chặt chẽ của ngân hàng nhà nước, do đó tỷ giá chính thức chưa phản ánh chính xác quan hệ

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

cung cầu trên thị trường Vì vậy thị trường tự do có điều kiện hình thành và phát triển

Thứ hai, thị trường Ngân hàng kém phát triển, thường xuyên diễn ra tình trạng căng thẳng về ngoại hối nên thị trường chính thức không thoả mãn đầy đủ nhu cầu giao dịch, kinh doanh của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt doanh nghiệp xuất nhập khẩu và tầng lớp dân cư có nhu cầu, vì thế tất yếu thị trường tự do phát triển

Thứ ba, các hoạt động kinh tế ngầm như buôn lậu, ma tuý diễn ra rất nghiêm trọng và ngoại tệ phục vụ cho các hoạt động này vẫn được giao dịch trên thị trường

tự do

Thứ tư, lượng kiều hối hàng năm chuyển về Việt Nam khá lớn, trong đó một lượng không nhỏ là "kiều hối chui", trôi nổi trên thị trường, hoạt động xuất nhập khẩu, du lịch và bán hàng cho người nước ngoài không qua hệ thống Ngân hàng cũng là những nguồn ngoại tệ bổ sung cho thị trường tự do Người nhận kiều hối nói riêng cũng như người dân Việt Nam nói chung có tâm lý ưa chuộng USD, tạo

ra lượng tiền mặt bằng USD nằm trong dân số rất lớn và tình trạng đô la hoá nền kinh tế ngày càng tăng đã tạo điều kiện cho thị trường tự do hoạt động sôi nổi Như vậy sự tồn tại hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do cho đến nay là tất yếu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thị trường ngoại tệ chính thức, nới lỏng quy chế quản lý ngoại hối cùng với sự đổi mới trong cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng tự do hoá sẽ làm triệt tiêu dần các điều kiện tồn tại và phát triển thị trường ngoại tệ tự do, nhường chỗ cho thị trường ngoại tệ thống nhất ở Việt Nam

Phương thức giao dịch mua bán chủ yếu trên thị trường ngoại tệ tự do là phương thức trao tay, đồng tiền giao dịch chủ yếu là USD Tại các khu vực biên giới, các giao dịch có mặt đồng Nhân dân tệ, Kíp Lào Hiện nay, đồng EURO cũng bắt đầu được giao dịch nhiều trên thị trường

Quy mô hoạt động của thị trường tự do: Tổng cộng các nguồn ngoại tệ trôi nổi trên thị trường này ước tính 3-4 tỷ USD/năm Tuy nhiên, theo ước tính thị trường

tự do chỉ chiếm khoảng 20% thị phần trong tổng thể thị trường ngoại tệ, như vậy thị trường chính thức vẫn kiểm soát được thị trường tự do, giữ cho thị trường Ngân hàng Việt Nam phát triển ổn định

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Về tỷ giá: Cơ chế hình thành tỷ giá trên thị trường tự do do quy luật cung cầu trên thị trường quyết định Nhưng do quy mô thị trường này nhỏ bé nên nó cũng chịu tác động của thị trường chính thức

Phải nói rằng thị trường tự do cũng có những tác động tích cực đối với nền kinh tế

và xã hội Do hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước nên đã gây khó khăn và làm giảm hiệu lực của việc thực thi và điều hành chính sách tiền tệ Sự tồn tại của thị trường tự do dẫn đến tình trạng chảy máu ngoại tệ và nó còn tiếp tay cho hoạt động kinh tế bất hợp pháp như buôn lậu, ma tuý, rửa tiền

Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế đất nước Việt Nam hiện nay, thị trường ngoại hối còn chưa hoàn thiện và phát triển, việc tồn tại thị trường tự do là tất yếu Vấn

đề đặt ra là phải có biện pháp hữu hiệu để quản lý thị trường này nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực và phát huy các mặt tích cực, tiến tới xây dựng và hoàn thiện thị trường ngoại hối Việt Nam thống nhất và phát triển trong tương lai

2.1.2 Các nghiệp vụ giao dịch thị trường ngoại hối

Thị trường ngoại hối Việt Nam hiện nay vẫn còn trong thời kỳ sơ khai, chưa phát triển hoàn thiện nên các sản phẩm trên thị trường còn rất hạn chế Các giao dịch ngoại hối chủ yếu là giao ngay (chiếm tỷ trọng 95%), còn lại là giao dịch kỳ hạn và hoán đổi ngoại tệ và giao dịch quyền chọn

2.1.2.1 Nghiệp vụ giao ngay

Trước năm 1998 lượng giao dịch giao ngay ước tính khoảng 99% trên tổng số các giao dịch ngoại hối trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng, nhưng tỷ lệ này đã giảm xuống kể từ khi thực hiện 2 nghiệp vụ mới là giao dịch kỳ hạn và hoán đổi Trước tháng 8/1997, doanh số đạt trung bình 50 triệu USD/ngày nhưng do bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính Châu Á nên con số này đã giảm đáng kể Hơn nữa, giá cả giao dịch còn bị hạn chế bởi biên độ giao dịch của ngân hàng nhà nước,

tỷ giá hầu như không đổi trong suốt cả ngày hoạt động, thậm chí vào ngày sau đó, điều này không thúc đẩy được hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nhằm tạo tính thanh khoản cao trên thị trường, chỉ có rất ít các giao dịch giao ngay được thực hiện đúng với quy định, ví dụ như ngày giá trị thực hiện phải sau hai ngày giá trị giao dịch, mà hầu như 95% các giao dịch giao ngay đã được thực hiện

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trong cùng ngày giá trị Mặc dù quy trình nghiệp vụ không đúng với quy chuẩn quốc tế nhưng nó vẫn tồn tại một cách bình thường trên thị trường ngoại hối Việt Nam Tỷ giá các giao dịch giao ngay giữa USD/VND dựa trên biên độ cho phép của ngân hàng nhà nước, biên độ này được điều chỉnh cho từng thời kỳ chứ không

cố định (hiện nay là 0,25%) Căn cứ vào tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng cuối ngày của ngân hàng nhà nước công bố, các ngân hàng thương mại cộng thêm 0,25% để đặt tỷ giá cho Ngân hàng mình Ví dụ: Tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng vào 01/05/2005 là 15.800 thì

tỷ giá các ngân hàng thương mại là: 15.800 + 15.800 x 0,25% = 15.839,5, tức là tỷ giá kịch trần mà ngân hàng thương mại niêm yết bán ra trên thị trường cho khách hàng của mình là 15.839,5 cho các giao dịch giao ngay

Còn các giao dịch ngoại hối giữa VND và các ngoại tệ khác hoặc giữa các ngoại tệ với nhau thì không có quy định về biên độ giao dịch mà các Ngân hàng có toàn quyền tự do đặt tỷ giá giao dịch cho mỗi loại tiền tệ miễn là có lãi Nhưng các giao dịch loại này thưòng rất ít, chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số giao dịch trên thị trường, điều đó phản ánh các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn rất yếu, chưa đủ năng lực để tham gia thị trường ngoại hối quốc tế Hiện nay chỉ có Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam và ngân hàng nhà nước mới có đủ các trang thiết bị hiện đại và một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và thành thạo trong việc kinh doanh ngoại hối có khả năng kinh doanh được trên thị trường ngoại hối quốc tế

2.1.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn

Nghiệp vụ kỳ hạn mà các ngân hàng thương mại thường xuyên thực hiện nhất

là mua bán ngoại tệ kỳ hạn Giao dịch kỳ hạn ngoại tệ ra đời vào năm 1998, đây là thời điểm nền kinh tế Việt Nam vừa trải qua giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và chủ trương hội nhập kinh tế đạt được thành công vượt bậc Ngoại thương Việt Nam khiến nhu cầu bảo hiểm rủi ro ngoại hối của các doanh nghiệp cũng như ngân hàng tăng cao Đây là tiền đề giúp hợp đồng kỳ hạn ngoại tệ phát huy hiệu quả và được chú trọng sử dụng Tuy nhiên, trải qua hơn 12 năm phát triển, nghiệp vụ kỳ hạn ngoại tệ tại các ngân hàng thương mại vẫn chưa phát triển mạnh, chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với giao dịch giao ngay Theo thống kê của BIS, tỷ trọng giao dịch kỳ hạn

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trên thế giới tăng liên tục, từ chỗ chỉ chiếm 4,58% tổng doanh số giao dịch ngoại hối toàn cầu năm 1989 đến năm 2009 con số này là 12,08% Trong khi đó, tại các ngân hàng thương mại Việt Nam mua bán kỳ hạn ngoại tệ tăng rất ít đi kèm với tăng trưởng vượt bậc trong doanh số mua bán ngoại tệ khiến tỷ trọng doanh số mua bán kỳ hạn gần như không thay đổi

Tốc độ tăng trưởng doanh số giao dịch kỳ hạn trong 3 năm đầu không ổn định Năm 1999, doanh số kỳ hạn chỉ đạt 425 tỷ VND giảm 5% so với 444,1 tỷ VND năm 1998 Sang năm 2000, doanh số giao dịch kỳ hạn tăng vọt 139% so với năm

1999 (đạt 1.015,1 tỷ VND) Kể từ năm 2001, tốc độ tăng trưởng giao dịch kỳ hạn tương đối ổn định Tuy nhiên, mức tăng là không đáng kể Ví dụ như trong năm

2008, doanh số giao dịch kỳ hạn chỉ tăng 16% so với năm 2007 (năm 2008 đạt 3.428 tỷ VND, năm 2007 đạt 2.943 tỷ VND) Vì doanh số bán lớn hơn doanh số mua, nên nếu xét riêng nghiệp vụ mua bán kỳ hạn, thì các ngân hàng thương mại luôn ở trạng thái ngoại tệ đoản, nghĩa là chịu rủi ro tỷ giá khi tỷ giá tăng nhiều hơn

so với dự kiến Thị trường ngoại hối VN luôn ở tình trạng khan hiếm ngoại tệ, buộc các đơn vị phải tìm cách mua kỳ hạn để phòng khan hiếm ngoại tệ trên thị trường giao ngay Vì thế, các ngân hàng thương mại bán kỳ hạn cho doanh nghiệp nhiều

mà mua vào lại ít

Tỷ trọng kỳ hạn trên tổng doanh số mua bán chỉ có sự thay đổi rất nhỏ qua các năm Trong 5 năm gần đây tỷ trọng này chỉ vào khoảng 5,5%-6,0% Tỷ lệ mua và bán kỳ hạn cũng có sự thay đổi qua các năm nhưng nhìn chung khoảng cách giữa mua và bán vẫn rất rộng Đặc biệt trong khoảng thời gian từ năm 2001 tới năm

2004, doanh số bán kỳ hạn gấp hơn 4 lần doanh số mua Trong các năm 2007, 2008,

2009, doanh số mua kỳ hạn chỉ vào khoảng 30% tổng giao dịch trên VinaForex Tính tới thời điểm ngày 01/07/2010 nghiệp vụ mua bán ngoại tệ kỳ hạn đã được triển khai thực hiện tại hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam Có thể kể tới những ngân hàng lớn như Vietinbank, Eximbank, Techcombank, BIDV, VCB, HSBC, Sacombank, Agribank, MB… Tại các ngân hàng, mua bán ngoại tệ kỳ hạn được thực hiện qua hệ thống xử lý và hạch toán tự động Khi thanh toán, khách hàng chuyển khoản qua tài khoản Nostro tại ngân hàng nước ngoài hoặc tại Sở Giao dịch ngân hàng nhà nước Giao dịch mua bán ngoại tệ kỳ hạn được thực hiện qua

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

một số hình thức như: Reuters, phone, fax Giao dịch mua bán với các định chế tài chính chưa tham gia hệ thống giao dịch Reuters thực hiện bằng hợp đồng ký qua Fax, bản gốc gửi qua EMS Nghiệp vụ này thường do phòng kinh doanh ngoại tệ phụ trách Giao dịch kỳ hạn ngoại tệ được thực hiện với tất cả các ngoại tệ mạnh như USD, EUR, GBP, CAD, JPY, AUD, SGD, HKD, CHF, CNY và các ngoại tệ chuyển đổi khác theo nhu cầu của khách hàng Việc triển khai thực hiện giao dịch ngoại tệ kỳ hạn tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế Chẳng hạn, tại ngân hàng Công thương Việt Nam, nghiệp vụ kỳ hạn tiền tệ chỉ phát triển nhỏ lẻ Giá trị các hợp đồng kỳ hạn còn rất thấp Năm 2008, giá trị ghi sổ kế toán của giao dịch kỳ hạn tiền tệ tại ngân hàng chỉ bằng 15.354 triệu đồng Quý I năm nay, giá trị này chỉ bằng 19.165 triệu đồng và toàn bộ là ký kết với các đối tác trong nước Tuy nhiên, tại nhiều ngân hàng, nghiệp vụ kỳ hạn ngoại tệ đã đạt được những thành công nhất định Tại Sacombank trong những năm gần đây, tổng giá trị hợp đồng kỳ hạn tăng khoảng 30%/ năm Đây là một thành công của ngân hàng trong công tác phổ biến thông tin được sự hỗ trợ từ phía nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh trong những năm gần đây

Bên cạnh kỳ hạn tiền tệ, nghiệp vụ mua bán vàng kỳ hạn cũng đã xuất hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và đạt được những bước tiến đáng kể Tại Eximbank, đến cuối năm 2007, nghiệp vụ kỳ hạn thu hút đến 65 ngàn lượng vàng với 338 hợp đồng được ký kết mặc dù nghiệp vụ này mới được ngân hàng áp dụng

và cho phép khách hàng của mình thực hiện vào đầu năm 2006 lượng vàng SJC Bên cạnh Eximbank, các ngân hàng khác cũng thực hiện nghiệp vụ này như Sacombank… Một nghiệp vụ kỳ hạn khác là lãi suất kỳ hạn Hợp đồng kỳ hạn lãi suất cũng đã được Techcombank tiến hành và đã thu được những kết quả nhất định

2.1.2.3 Nghiệp vụ tương lai

Nghiệp vụ tương lai không được các ngân hàng thương mại Việt Nam sử dụng nhiều như các CCPS khác trong mục đích phòng vệ Chính vì vậy, giao dịch tương lai tài chính không phát triển Nghiệp vụ tương lai chủ yếu được thực hiện tại Việt Nam hiện nay là các giao dịch tương lai hàng hóa mà các ngân hàng thương mại làm trung gian Tháng 9/2004, ngân hàng nhà nước đã cho phép Techcombank thực hiện giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường hàng hóa Techcombank là ngân

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

hàng Việt Nam đầu tiên cung cấp dịch vụ này với mục đích hỗ trợ khách hàng trong việc quản trị rủi ro, hạn chế tối đa mức thua lỗ có thể có, bảo đảm được lợi nhuận cũng như tiếp cận với các phương thức kinh doanh hiện đại của các thị trường lớn trên thế giới Đối tượng khách hàng của Techcombank là các doanh nghiệp,hộ kinh doanh chuyên sản xuất, xuất khẩu hàng hóa (hàng nông sản như cà phê, chè, lương thực và các loại hàng hóa khác) Bên cạnh đó, Techcombank cũng ký kết hợp đồng tương lai hàng hóa với các doanh nghiệp chuyên nhập khẩu các mặt hàng như sắt thép, dầu Các hợp đồng tương lai hàng hóa được Techcombank cung cấp từ cuối năm 2004 Đến năm 2005, Ngân hàng đạt được kết quả bước đầu với các thị trường: thị trường Cà phê Luân Đôn, thị trường New York, thị trường Chicago và thị trường Tokyo

Bảng 2.1: Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai phân theo các thị trường tại

Techcombank năm 2005

Thị trường cà phê London 153.189 43.233 109.956 Thị trường New York 12.388 69.155 (56.767) Thị trường Chicago 44.617 - 44.617 Thị trường Tokyo 4.719 2.179 2.540

(Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính 2005 của Techcombank)

Từ bảng trên ta cũng có thể thấy Techcombank cung cấp một lượng lớn các hợp đồng tương lai cà phê cho các đối tác trong nước Các hợp đồng mua Cà phê chiếm tới hơn 70% tổng các hợp đồng mua Thị trường cà phê Việt Nam tiếp tục phát triển tạo tài sản cơ sở cho các hợp đồng tương lai cà phê phát triển Trong những năm tiếp sau, giá trị các hợp đồng mua giảm đáng kể, hợp đồng tương lai vẫn chưa được chào đón và sử dụng như một công cụ hữu ích Điều này có thể hiểu là

do các sản phẩm phái sinh thường được sử dụng tại Việt Nam như công cụ phòng

vệ, mục đích đầu cơ không được quan tâm nhiều Vì thế, khách hàng thường sử dụng hợp đồng kỳ hạn thay vì hợp đồng tương lai Các nhà đầu cơ cũng chưa được biết nhiều tới hợp đồng tương lai Tuy nhiên, cùng với thời gian, cho tới nay, các

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

hợp đồng tương lai đã bắt đầu được sử dụng nhiều hơn và có những thành công đáng kể

Bảng 2.2: Giá trị hợp đồng tương lai hàng hóa tại Techcombank năm 2004 –

tương lai 5.874 114.567 205.156 5.881.154 1.414.321 2.187.934

(Nguồn: Báo cáo thường niên của Techcombank)

Qua bảng số liệu ta có thể thấy xu hướng tăng rõ ràng thành 2 thời kỳ từ 2006

về trước và 2007 tới nay Từ năm 2007 đến 2009, giá trị các hợp đồng tương lai ký kết tăng mạnh so với trước đó Hợp đồng hàng hóa tương lai đã dần trở thành sản phẩm truyền thống của Techcombank và được nhiều người biết đến Techcombank

có ưu thế về công nghệ để thực hiện nghiệp vụ tương lai hàng hóa Ngân hàng có hệ thống máy tính được nối mạng với các thị trường lớn như: LIFFE, SIMEX, TOCOM, NYBOT giúp khách hàng theo dõi được diễn biến của giá cả trên thế giới Cùng với Techcombank, BIDV là ngân hàng thứ 2 được quyền thí điểm cung cấp hợp đồng tương lai Tuy nhiên dù cũng đã có hợp đồng được ký kết, đây vẫn còn là một nghiệp vụ chưa được phát triển mạnh tại ngân hàng này VCB cũng đã đưa ra sản phẩm tương lai ngoại hối

2.1.2.4 Nghiệp vụ hoán đổi

Tháng 12/2004 giao dịch hoán đổi tiền tệ đầu tiên trên thị trường Việt Nam được thực hiện giữa hai đồng USD và VND kỳ hạn 3 năm do HSBC thực hiện cho một công ty đa quốc gia với số vốn lên tới 15 triệu USD Qua các năm, giao dịch hoán đổi nói chung đã dần phát triển tại các ngân hàng Trong đó, quan trọng nhất

là hoán đổi tiền tệ Thực hiện nghiệp vụ hoán đổi tiền tệ thực chất chỉ là ngân hàng

ký 02 hợp đồng với khách hàng: 01 hợp đồng mua/bán ngoại tệ giao ngay, 01 hợp đồng bán/mua ngoại tệ kỳ hạn Eximbank thực hiện hoán đổi ngoại tệ với mức ký

Trang 39

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quỹ yêu cầu là 3% giá trị hợp đồng cho các giao dịch USD/VND; 7 – 10% giá trị hợp đồng cho các giao dịch có loại ngoại tệ khác với giao dịch USD/VND

Hoạt động hoán đổi tại BIDV khá phát triển BIDV cung cấp các hợp đồng hoán đổi lãi suất một đồng tiền và hoán đổi tiền tệ và là ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên thực hiện các giao dịch hoán đổi tiền tệ chéo cho khách hàng doanh nghiệp trong nước

Biểu đồ 2.1: Thu nhập từ các hoạt động phái sinh và giao ngay tiền tệ tại

BIDV

(Nguồn: Báo cáo thường niên của BIDV)

Ta có thể thấy sự phát triển trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của BIDV trong những năm vừa qua với sự tăng trưởng ở cả nghiệp vụ giao ngay và phái sinh Theo biểu đồ, dịch vụ kinh doanh ngoại tệ đạt kết quả cao đặc biệt trong năm 2008 Đây là năm tỷ giá USD/VND biến động mạnh mẽ tạo ra nhiều cơ hội trong hoạt động kinh doanh tiền tệ Thu lãi từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ đạt 791 tỷ đồng, tăng trưởng gấp 5,6 lần so với năm 2007 Lãi thuần từ hoạt động phái sinh năm

2008 đạt 237,930 tỷ đồng, tăng gấp 26 lần so với năm 2007 Tuy nhiên, có thể thấy

rõ là kinh doanh ngoại hối giao ngay vẫn chiếm một tỷ trọng lớn hơn phái sinh rất nhiều Tương tự BIDV, HSBC cũng thực hiện hoán đổi lãi suất chéo giữa 2 đồng tiền (Cross Currency Swap) đối với khoản vay ngoại tệ của khách hàng HSBC thực hiện hoán đổi lãi suất cộng dồn – Daily range accrual, thời hạn hợp đồng tối đa 5

Trang 40

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

năm Tại VCB năm 2008, thu nhập từ giao dịch hoán đổi tiền tệ chiếm tới 52.492 triệu đồng, tương ứng với 8,88% lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối (591.402 triệu đồng) Đến năm 2009, hoạt động phái sinh tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong kinh doanh ngoại hối của VCB Tổng giá trị hợp đồng hoán đổi tiền tệ lên tới 3.670.400 triệu đồng Những hợp đồng này đã góp phần đẩy doanh thu từ các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại VCB năm 2009 lên 4.075 triệu đồng (tuy nhiên vẫn chỉ chiếm khoảng 0,1% so với tổng thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối) VCB cũng đã sử dụng hợp đồng hoán đổi lãi suất phòng ngừa rủi ro Trong năm 2009, thu nhập từ hoạt động hoán đổi lãi suất đạt 2.345 triệu đồng trong khi chi phí mất tới 98.925 triệu đồng VCB thực hiện giao dịch hoán đổi lãi suất kèm theo điều kiện quyền chọn với các đối tác là TCTD hoạt động tại Việt Nam và các pháp nhân khác hoạt động ở trong nước và nước ngoài, phù hợp với các quy định của pháp luật Các sản phẩm hoán đổi khác cũng đã được thực hiện tại thị trường Việt Nam Nghiệp vụ hoán đổi lãi suất bắt đầu thực hiện trong tương lai (Forward Start Swap) được ngân hàng Calyon, Citibank, ABN-AMRO thực hiện Các hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng đã được thí điểm áp dụng theo công văn 3324/NHNN-CSTT, tháng 04/2006 cho http://svnckh.com.vn 6 1 phép HSBC chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh thực hiện Mặc dù là một loại hoán đổi nhưng hoán đổi rủi ro tín dụng lại giống một chính sách bảo hiểm hơn

2.1.2.5 Nghiệp vụ quyền chọn

Nghiệp vụ quyền chọn xuất hiện từ những năm 1970 nhưng ở Việt Nam mới chỉ thực hiện thí điểm từ đầu năm 2003 do nghiệp vụ này đòi hỏi các bên tham gia phải có kiến thức, kỹ năng và thị trường phải đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhất định

Theo quy định, nghiệp vụ quyền chọn sẽ được áp dụng với các Ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, vốn tự có ít nhất 200 tỷ VND, kinh doanh ngoại tệ

có lãi trong năm gần nhất Có đề án chi tiết và quy định của Ngân hàng về quy trình nghiệp vụ quyền chọn, trong đó bao gồm các biện pháp phòng ngừa rủi ro

Ngân hàng xuất nhập khẩu Eximbank là Ngân hàng đầu tiên thí điểm nghiệp

vụ này từ ngày 12/03/2003 Quá trình giao dịch chỉ dùng ngoại tệ tự do chuyển đổi như USD, EUR, JPY, AUD không được giao dịch bằng VND Giới hạn số dư cao

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w