Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng Trung ương NT Nguyên tắc đối xử
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC HÌNH VẼ
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ VIỆT – NGA 6
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA 6
1.1.1 Đặc điểm về xã hội Liên Bang Nga 6
1.1.1.1 Lịch sử 6
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư 9
1.1.1.3 Văn hóa 13
1.1.1.4 Chính trị và đối ngoại 16
1.1.2 Đặc điểm nền kinh tế Liên bang Nga 18
1.1.2.1 Kinh tế 18
1.1.2.2 Thương mại 20
1.1.2.3 Đầu tư 22
1.2 SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 24
1.2.1 Về phía Việt Nam 25
1.2.2 Về phía Liên bang Nga 27
1.2.3 Tính bổ sung của hai thị trường 29
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT
NAM – LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 30
2.1 KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN 1955 – 2008 30
2.1.1 Giai đoạn 1955 – 1991 30
2.1.2 Giai đoạn 1991- 2008 32
2.2 CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ CỦA LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 37
2.2.1 Chính sách thương mại 37
2.2.2 Chính sách đầu tư 43
2.3 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 45
2.3.1 Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều 45
2.3.1.1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 45
2.3.1.2 Kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nga 47
2.3.1.3 Kim ngạch nhập khẩu vào Việt Nam từ Nga 49
2.3.2 Cơ cấu các mặt hàng buôn bán hai chiều Việt Nam – Liên bang Nga 51
2.3.2.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Liên bang Nga 51
2.3.2.2 Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam từ Nga 57
2.4 THỰC TRẠNG HỢP TÁC ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 61
2.4.1 Đánh giá chung quy mô và khối lượng các dự án đầu tư trực tiếp của Nga vào Việt Nam 61
2.4.2.Cơ cấu FDI của Nga vào Việt Nam 62
2.4.2.1.Cơ cấu FDI của Nga theo lĩnh vực 62
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.4.2.2 Cơ cấu FDI của Nga vào Việt Nam theo địa bàn đầu tư và hình thức đầu
tư 63
2.4.3 Tình hình đầu tư từ Việt Nam sang Nga 64
2.5 CÁC YẾU TỐ CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN MỐI QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 65
2.5.1 Hiệp định thương mại WTO 65
2.5.2 Đàm phán FTA giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan Nga–Belarus– Kazakhstan 66
2.5.3 Các Hiệp định song phương Việt Nga 67
2.5.4 Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 68
2.5.4.1 Diễn biến và nguyên nhân 68
2.5.4.2 Những tác động đối với quan hệ thương mại và đầu tư Việt – Nga trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu 71
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG NGA 80
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NGA THỜI GIAN TỚI 80
3.1.1 Triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương 80
3.1.1.1 Triển vọng kinh tế thế giới 80
3.1.1.2 Triển vọng kinh tế Liên bang Nga 81
3.1.1.3 Triển vọng kinh tế Việt Nam 82
3.1.1.4 Triển vọng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt Nga 84
3.1.2 Định hướng phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga 85
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.2.1 Định hướng phát triển quan hệ thương mại hai nước 85
3.1.2.2 Định hướng thu hút đầu tư của Nga vào Việt Nam 86
3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 87
3.2.1 Những giải pháp nhằm đẩy mạnh quan hệ thương mại hai chiều 87
3.2.1.1 Đối với nhà nước 87
3.2.1.2 Đối với doanh nghiệp 88
3.2.2 Những giải pháp nhằm thu hút đầu tư hai chiều 91
3.2.2.1 Một số vấn đề trong quan hệ đầu tư của Việt Nam với Nga 91
3.2.2.2 Một số giải pháp thu hút FDI từ Nga vào Việt Nam và nâng cao hiệu quả sử dụng FDI 92
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGEs Các cơ quan xúc tiến xuất khẩu APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ARF Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CIS Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập COP Giấy chứng nhận kiểm dịch
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ECAs Các cơ quan tín dụng xuất khẩu
FAO Tổ chức Lương thực và Công nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định thương mại tự do GDP Tổng sản phẩm quốc nội GEP Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu GTGT Giá trị gia tăng
ILO Văn phòng Lao động quốc tế IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
MFN Nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc NACC Hội đồng Hợp tác Bắc Đại Tây Dương NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NCEIF Trung tâm dự báo kinh tế - xã hội quốc gia
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTW Ngân hàng Trung ương
NT Nguyên tắc đối xử quốc gia ODA Hỗ trợ phát triển chính thức OECD Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển OSCE Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu
RCA Lợi thế so sánh RISS Viện Nghiên cứu chiến lược Liên bang Nga TASS Hãng Thông tấn Nga
TTĐB Tiêu thụ đặc biệt VBA Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Liên bang Nga VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCUFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh thuế quan
WEF Diễn đàn Kinh tế thế giới WTO Tổ chức thương mại Thế giới
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Trữ lượng và giá trị tài nguyên về dầu lửa, khí tự nhiên và rừng của ba nước có tổng giá trị tài nguyên lớn nhất Thế giới năm 2014: Liên Bang Nga, Mỹ,
Saudi Ả rập 10
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nga và Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu từ năm 1994 – 2014 48
Bảng 2.2: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nga và Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu qua các năm 1994 – 2014 50
Bảng 2.3: Kim ngạch và tỷ trọng mặt hàng xuất khẩu chủ yếu từ Việt Nam sang Nga năm 2014 52
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kim ngạch điện thoại, linh kiện điện tử từ Việt Nam sang Nga giai đoạn 2011 – 2014 54
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kim ngạch hàng dệt may từ Việt Nam sang Nga từ năm 2009 đến 2014 55
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất khẩu cà phê từ Việt Nam sang Liên bang Nga giai đoạn 2009 - 2014 56
Bảng 2.7: Kim ngạch các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam từ Nga năm 2014 57
Bảng 2.8: Kim ngạch nhập khẩu xăng dầu vào Việt Nam từ Nga từ năm 2009 đến năm 2014 58
Bảng 2.9: Kim ngạch nhập khẩu phân bón của Việt Nam từ Nga giai đoạn 2007-2014 59
Bảng 2.10: Đầu tư của các nước vào Việt Nam năm 2014 61
Bảng 2.11: Cơ cấu FDI của Nga vào Việt Nam theo ngành 62
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1.1: Trữ lượng dầu đá phiến đã được khảo sát trên thế giới tính đến nay 11
Hình 1.2 Tăng trưởng GDP của Nga từ năm 1999 đến 2014 19
Hình 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nga giai đoạn 1994-2014 46
Hình 3.1: Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới giai đoạn 2005-2020 80
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI NÓI ĐẦU 1.Sự cần thiết của đề tài
Trên con đường tiến tới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế với thế giới, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức rõ được vai trò của kinh tế đối ngoại, lấy đó là một trong những hoạt động nòng cốt của việc phát triển kinh tế Tại Đại hội VII, mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng đưa
ra chủ trương : “Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta” Tới Đại hội X, Đảng ta lại nhấn mạnh chủ trương : “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” Với việc thực hiện nghiêm túc và nỗ lực các chủ trương trên, Đảng đã góp được nhiều thành tựu to lớn vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Nhà nước ta
đã thiết lập và củng cố quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới Trong đó 160 và 70 là số quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam có quan hệ thương mại – đầu tư Đặc biệt trong số đó không thể không nhắc đến Liên Bang Nga Đây
là một trong những thị trường chính và quan trọng đối với hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế của Việt Nam
Mối quan hệ Việt Nam – Liên Bang Nga ngày nay được kế thừa và phát triển
từ mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Liên bang Xô Viết (mà Nga là thành viên) Trong thời Liên Xô cũ, Việt Nam và Liên Xô cùng các nước Xã hội Chủ nghĩa đã nằm trong khối SEV – Khối tương trợ kinh tế của các nước XHCN Sau khi Liên Xô tan rã năm 1990, 15 nước thành viên trở thành những quốc gia độc lập, có chủ quyền và địa vị pháp lý riêng trong quan hệ quốc tế
Trong số 15 quốc gia mới thành lập, từ ngày 27-2-1991, Liên Bang Nga được tuyên bố là nước kế thừa những di sản quan hệ chính với Việt Nam thay cho Liên bang Xô Viết Thời gian này, cả hai nước bước vào giai đoạn xác định lại các mục tiêu đối ngoại Nga có chính sách đối ngoại “định hướng Đại Tây Dương”
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
trong khi Việt Nam dành ưu tiên cho các nước khu vực Đông Nam Á Hơn nữa, trong bối cảnh tình hình quốc tế không ổn định lúc đó, sự phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước càng gặp nhiều bất lợi Kim ngạch thương mại hai chiều Việt-Nga lúc này chỉ đạt khoảng 200-300 USD Hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam sang Nga cũng bị giảm mạnh về sức cạnh tranh Thị trường Nga trở nên rủi ro khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải từ bỏ do không chịu được sức ép lớn
Từ giữa những năm 90, quan hệ Việt – Nga bắt đầu tiến triển tích cực hơn nhờ những nỗ lực của hai bên trong việc tạo dựng khung pháp lý mới cho quan hệ song phương Điển hình là Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam và Liên Bang Nga vào tháng 6 – 1994 Kể từ đây, quan hệ thương mại- đầu tư giữa Việt Nam – Liên bang Nga đã có những khởi sắc nhất định
Tuy nhiên, cho đến nay, kim ngạch thương mại hai chiều vẫn còn rất khiêm tốn, chỉ khoảng gần 4 tỷ USD Các nhà lãnh đạo nhận định con số này là chưa tương xứng với quan hệ chính trị tốt đẹp mà hai nước đã và đang xây dựng Ngoài
ra, chúng ta cần nhận thức được rằng quan hệ thương mại và đầu tư là một trong những cơ sở thúc đẩy lợi ích hợp tác toàn diện trên những lĩnh vực khác Bên cạnh
đó, với quy mô nền kinh tế và tiềm năng thương mại – đầu tư của hai nước, quan hệ thương mại – đầu tư Việt – Nga còn có thể đạt được những thành tựu to lớn hơn hiện có Hơn nữa, đặt trong bối cảnh ngày nay, khi Thế giới trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng với một loạt biến động của chính trị, quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước cũng nảy sinh các vấn đề mới, phức tạp và cần có sự hợp tác tích cực của cả hai bên để giải quyết
Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề, em đã chọn đề tài nghiên cứu “Quan
hệ Thương mại và Đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong bối cảnh ngày nay: Thực trạng và giải pháp” cho Khóa luận tốt nghiệp của mình
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nhằm tổng hợp và phân tích những nét khái quát nhất trong quan hệ Thương mại – Đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga, chỉ rõ vai trò và tầm quan trọng của mỗi nước đối với nước còn lại trong mối quan hệ song phương này
Bên cạnh đó, khóa luận đặt mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga trong bối cảnh ngày nay với diễn biến của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng với việc ký kết các Hiệp định hợp tác kinh tế, từ đó đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong phát triển quan hệ Thương mại – Đầu tư giữa hai nước
Dựa trên cơ sở là những phân tích khái quát trên, ở phần cuối khóa luận, em xin đưa ra một số định hướng và giải pháp ở quy mô nhà nước cũng như doanh nghiệp nhằm đẩy mạnh hơn nữa quan hệ Thương mại – Đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan hệ Thương mại và Đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong bối cảnh ký kết các Hiệp định hợp tác kinh tế cùng với đó là diễn biến khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Phạm vi nghiên cứu: Khuôn khổ nghiên cứu của khóa luận là quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nga, hợp tác đầu tư song phương hai nước từ năm 1990 đến nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, viết khóa luận, các phương pháp được sử dụng là tổng hợp, diễn giải, thống kê, so sánh và dự báo dựa trên các dữ kiện hoặc số liệu được công bố chính thức của chính phủ, các kênh thông tin của
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
những cơ quan khảo sát và thống kê có uy tín, các công trình nghiên cứu về các vấn
đề liên quan
5 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, khi vấn đề nghiên cứu về quan hệ đa phương giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới đã và đang trở thành một vấn đề quan trong, các bài nghiên cứu về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga không phải là
ít Tuy nhiên, các bài tổng hợp và đánh giá về mối quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế và chính trị có nhiều bất ổn hiện còn rất ít ỏi Do đó, em hy vọng khóa luận này sẽ đem đến một cái nhìn đầy đủ, chính xác và mang tính cập nhật nhất có thể về tình hình Thương mại-Đầu tư Việt Nam – Liên bang Nga
Bên cạnh đó, khóa luận sẽ nêu ra và phân tích thực trạng quan hệ cũng như những cơ hội và thách thức nảy sinh trong bối cảnh ngày nay mà chính phủ hai bên cần cố gắng tận dụng và khắc phục
Đồng thời, dựa vào những căn cứ lý luận và thực trạng đã nêu ra trước đó, phần cuối khóa luận là một số giải pháp thúc đẩy, củng cố mối quan hệ song phương được xây dựng và đóng góp một cách có hệ thống Từ đó hy vọng rằng khóa luận này sẽ đóng góp phần nào vào phát triển mối quan hệ thương mại và đầu
tư giữa hai nước Việt Nam – Liên bang Nga
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận bao gồm 3 chương chính sau:
Chương 1 Khái quát chung về Liên bang Nga và sự cần thiết đẩy mạnh
quan hệ thương mại và đầu tư Việt – Nga
Chương 2 Thực trạng quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam – Liên bang
Nga trong bối cảnh hiện nay
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chương 3 Định hướng và giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại –
đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga
Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo, những người đã truyền dạy cho em những kiến thức quý báu để em có hiểu biết và kiến thức về nghiệp vụ chuyên môn của mình Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo, Tiến sỹ Vũ Thành Toàn, Khoa Kinh tế và kinh doanh quốc
tế trường Đại học Ngoại Thương, người đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên
em để em có thể hoàn thành một cách tốt nhất khóa luận tốt nghiệp này
Do điều kiện thời gian, kiến thức chuyên môn, hiểu biết và khả năng còn có hạn, khóa luận này chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tuy nhiên, cùng với sự hướng dẫn của thầy giáo, em đã nỗ lực hết mình trong thời gian qua Vì thế, em rất mong nhận được sự quan tâm và những lời đánh giá, nhận xét, chỉ bảo từ phía các thầy cô
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên:
Phan Thị Thu Trang
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA VÀ SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ VIỆT –
NGA
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LIÊN BANG NGA
Liên bang Nga (tên tiếng Anh: Russian Federation) là một cường quốc, có tầm ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến nền kinh tế, chính trị-xã hội của nhiều nước trên Thế giới
Thủ đô: Mát-xcơ-va (Moscow) Đơn vị tiền tệ: Đồng Rúp (Ruble)
1.1.1 Đặc điểm về xã hội Liên Bang Nga
1.1.1.1 Lịch sử
Hình thành và bành trướng
Đế quốc Nga được khởi nguồn từ Công quốc thời trung cổ Matx-cơ-va Năm
1580, khi người châu Âu còn đang mải mê với những cuộc khám phá châu Mỹ, thì
Sa Hoàng Ivan bạo chúa đã lãnh đạo người Matx-cơ-va tiến về vùng Viễn Đông và Siberi Lãnh thổ nước Nga, vì thế được mở rộng và kéo dài từ Siberi đến Bắc Âu, giáp với Thụy Điển Tuy nhiên cho đến thế kỷ 17, khi phần lớn các quốc gia châu
Âu đã bước sang thời kì phục hưng, Nga vẫn chỉ là một dân tộc lạc hậu, chưa được biết đến nhiều bởi các dân tộc khác Năm 1682, Peter I Đại đế trở thành Sa hoàng sau khi đã đi khắp nơi học hỏi kinh nghiệm với mục đích đưa Nga trở thành cường quốc do không cam chịu với sự lạc hậu của đế quốc mình bấy giờ Từ năm 1700, Peter I Đại đế sau cuộc cải cách hành chính và quân đội đã tiến hành một cuộc “Đại chiến Bắc Âu” và chiếm được các vùng trọng yếu duyên hải Trong khoảng thời gian này, quân đội Nga do Sa hoàng chỉ huy cũng đã đánh bại Thụy Điển – cường quốc lớn nhất châu Âu lúc bấy giờ, đánh dấu một mốc quan trọng là trở thành cường quốc Cũng từ đây, Nga được các nước khác nể sợ và họ chủ trương đặt các
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mối quan hệ ngoại giao với Nga Năm 1721, Sa hoàng Peter I Đại đế chính thức lên ngôi Hoàng đế công bố Nga là một đế quốc
Đến thập niên 1730, Nữ hoàng Caterine II kế nghiệp vị Hoàng đế Peter I, tiếp tục cuộc chiến chia cắt Vương quốc Ba Lan, mở cuộc tấn công vào Thổ Nhĩ
Kỳ Nhờ đó biên giới nước Nga được kéo dài đến Biển Đen Về phía Nam, tuy thất bại trong cuộc tranh giành Triều Tiên với Nhật Bản năm 1905, Nga thành công trong việc ép Trung Quốc ký một loạt những hiệp ước bất bình đẳng và giành sức ảnh hưởng mạnh mẽ tại Mông Cổ
“Đêm trước của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa”
Thời kỳ này, Nga vẫn theo chế độ quân chủ chuyên chế tuyệt đối cho đến khi chế độ này bị lật đổ trong cuộc “Cách mạng tháng Hai” năm 1917 và vị Sa hoàng cuối cùng Nicolai II phải thoái vị Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của chính phủ mới vẫn gặp thất bại trong việc điều chỉnh và cải cách toàn diện đất nước Chủ nghĩa tư bản vẫn còn hiện diện Các chính sách của chính phủ lâm thời vẫn dựa trên lợi ích độc quyền Nền kinh tế sa sút, nông dân không có đất trồng trọt, công nhân đồng loạt đình công, bế xưởng Sản lượng công nghiệp giảm gần 50% so với năm 1916
Từ tháng ba đến tháng tám năm 1917, 568 công ty đã phải đóng cửa Nợ công của Nga lên đến 50 tỷ rúp trong đó 16 tỷ rúp nợ nước ngoài Lê-nin định nghĩa thời gian này là “đêm trước của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa”
Cách mạng Tháng Mười – bước ngoặt của lịch sử nước Nga
Lúc này, Nga lại bước vào giai đoạn chuyển tiếp đến một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà dấu mốc lớn chính là cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại Số lượng các Đảng, các tổ chức của người vô sản chống chính phủ được thành lập ngày càng tăng trong đó có Đảng Bôn-sê- vích do Lê-nin lãnh đạo Ngày 25-10-1917 là ngày cuộc Cách mạng đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử Thế giới-kỷ nguyên của chủ nghĩa cộng sản Đây là cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên chiến thắng tại Nga Mắt xích yếu nhất của hệ thống đế quốc chủ nghĩa tư bản độc
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quyền sụp đổ, cùng với đó là những tàn tích của quan hệ phong kiến với sự áp bức bóc lột sâu sắc của giai cấp thống trị, nhường chỗ cho chế độ Cộng sản Nhà nước
xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô Viết gồm 15 nước cộng hòa được thiết lập, gọi tắt là Liên Xô Đây cũng chính là nền tảng cho quan hệ giữa Việt Nam và Liên Bang Nga sau này
Sự ra đời của Liên bang Nga
Ngay từ khi ra đời, nhà nước Liên bang Xô viết đã bị bao vây và cô lập bởi chủ nghĩa đế quốc Nhờ có Lê-nin vĩ đại và Đảng Bôn-sê-vích lãnh đạo, Xô viết vượt qua thách thức và tiếp tục phát triển
Trong khoảng thời gian hơn 70 năm tồn tại và phát triển, đến cuối những năm 80, Liên Xô trở thành một cường quốc, đủ lớn mạnh để đương đầu với chủ nghĩa đế quốc và hệ thống tư bản trên thế giới Tuy nhiên, khi chế độ cộng sản đạt đến một giai đoạn phát triển hầu khắp Đông Âu, những người cộng sản đã gặp phải sai lầm trong chính sách chống lại những thế lực áp bức Họ tăng cường các chiến dịch dùng đến bạo lực, thậm chí có cả đánh bom và giết chóc Điều này dẫn đến việc nhiều người ủng hộ trước đây quay lưng với chế độ cộng sản Sau chiến tranh thế giới II(1937-1945), Liên Xô thiệt hại nặng nề về người và của, bên cạnh đó lại
bị chống phá bởi các phe đối lập và các nước tư bản khiến Nga bị cô lập về kinh tế Cao trào của sự sụp đổ chủ nghĩa cộng sản là vào năm 1989, khi các cuộc cách mạng tại Đông Âu đồng loạt nổ ra bắt đầu từ Ba Lan, tiếp đến là Hungary, Bulgary, Tiệp Khắc, Đông Đức, Romania v.v.Chủ nghĩa Cộng sản suy yếu dần Cuối năm
1991, Liên Xô bị giải thể 15 quốc gia mới trong đó có Liên bang Nga tuyên bố độc lập
Trong các quốc gia mới, chỉ có Liên bang Nga là quốc gia kế thừa lại toàn bộ các giá trị để lại của Liên Xô, từ kinh tế, địa vị pháp lý, các mối quan hệ ngoại giao đến các khoản nợ v.v Thậm chí, quốc ca của Liên bang Nga bây giờ cũng chính là quốc ca của nhà nước Liên bang Xô viết cũ Ngày 12/6/1990, Tuyên bố về chủ
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quyền nhà nước Liên bang Nga được thông qua Đúng một năm sau, vào ngày 12/6/1991, nước Nga đã bầu ra vị Tổng thống đầu tiên của mình – ông Boris Yeltsin Đây cũng chính là ngày Quốc khánh của nước Nga Nhân dân nơi đây gọi
đó là Ngày nước Nga
1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên và dân cư
là 37.653 km
Cuối thế kỷ 19, diện tích đất nước Nga là 22.400.000 km2 Sau một loạt các biến cố chính trị, nước Nga ngày nay vẫn là một đại cường quốc với diện tích 17.075.400 km2 (đứng thứ nhất trên Thế giới)
Các thành phố lớn nhất Liên bang Nga xếp theo số dân gồm: Moskva (10,3 triệu dân), Saint Petersburg (4,7 triệu dân), Novosibirsk (1,4 triệu dân)
b Về khí hậu
Nước Nga có nhiều loại khí hậu khác nhau do diện tích lớn và trải dài Khí hậu chủ yếu là ôn đới lục địa Phía Bắc là bình nguyên giá lạnh có khí hậu hàn đới, khu vực giáp Biển Đen có khí hậu cận nhiệt đới Vùng Kaliningrat ở giữa lại có khí hậu ôn hòa
Nga có hai mùa khí hậu nổi bật nhất trong năm là mùa mưa và mùa nắng Xét về thời tiết, như nhiều nơi trên thế giới, Nga có 4 mùa rõ rệt: xuân, hè, thu, đông Tuy nhiên, mùa đông ở Nga thường ngắn hơn mùa hè, chỉ kéo dài khoảng 2-3
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tháng Mùa thu là thời điểm có thời tiết dễ chịu nhất trong năm Ngoài ra mùa hè ở đất nước này cũng không quá nắng nóng mà khá mát mẻ
c Về tài nguyên
Với thế mạnh về địa lý, chúng ta không khó hiểu khi Nga luôn nằm trong danh sách những quốc gia giàu tài nguyên nhất trên Thế giới thậm chí luôn ở vị trí đứng đầu
Bảng 1.1 Trữ lượng và giá trị tài nguyên về dầu lửa, khí tự nhiên và rừng của
ba nước có tổng giá trị tài nguyên lớn nhất Thế giới năm 2014: Liên Bang Nga,
Mỹ, Saudi Ả rập
Trữ lượng Giá trị
(nghìn tỷ USD)
Trữ lượng Giá trị
(nghìn tỷ USD)
Trữ lượng Giá trị
(nghìn tỷ USD) Dầu lửa
(tỷ thùng)
Khí tự nhiên (nghìn tỷ m3)
Tổng giá trị tài nguyên
Nguồn: Bloomberg (2014)
Ngoài ra, theo số liệu công bố ngày 10/6/2014 của Bộ năng lượng Mỹ, Liên bang Nga cũng là quốc gia có trữ lượng dầu đá phiến lớn nhất trên Thế giới
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hình 1.1: Tỷ lệ trữ lượng dầu đá phiến đã được khảo sát của các nước trên thế giới tính đến nay
Đơn vị: %
22.6
16.8 9.3
51.3
Nga Mỹ Trung Quốc Các nước còn lại
Nguồn: Bộ Năng lượng Mỹ (2014)
Trong khi Mỹ là quốc gia đứng thứ hai Thế giới về trữ lượng dầu đá phiến,
có trữ lượng tài nguyên này tính theo thùng là 58 tỷ thùng, con số này vẫn khó để so sánh với Nga khi trữ lượng dầu đá phiến của quốc gia này lên tới 78 tỷ thùng Và nếu so với 345 tỷ thùng tổng trữ lượng dầu đá phiến đã được khảo sát trên toàn Thế giới của 42 nước, con số của Nga đã chiếm tới gần 30%
Lãnh thổ Liên bang Nga trải dài từ phía Đông Âu đến phía Bắc Á, men theo vùng cực Bắc với đường bờ biển dài 37.000km Do vậy, vùng thềm lục địa Bắc cực
và vùng biển chính là những nguồn cung cấp tài nguyên dồi dào nhất cho Liên bang
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Nga với nhiều loại tài nguyên khác nhau Về các nguồn tài nguyên chủ yếu phục vụ cho ngành công nghiệp, ngoài các khu mỏ khai thác mangan, chì, kẽm, đồng, kim cương,v.v với quy mô lớn, Nga còn có 40 khu mỏ trong tổng số 60 khu mỏ ở vùng Bắc cực chứa nhiên liệu hydrocarbon Hơn nữa, theo Cơ quan khảo sát địa chất Mỹ (United States Geological Survey – USGS), tại đây còn có tới 33% trữ lượng khí đốt và 10% trữ lượng dầu khí chưa được khai thác trên toàn Thế giới Trên hải phận của Nga còn có khoảng 25% trữ lượng dầu khí ngoài khơi của Thế giới, tương đương với gần 100 tỷ tấn dầu và 70.000 tỷ m3 khí đốt Ngày 18/4/2014, Liên bang Nga đã khởi công việc tiến hành khai thác những thùng dầu đầu tiên tại vùng Bắc cực từ giếng khoan Prirazlomnaia do tập đoàn Gazprom tiến hành và dự tính trữ lượng dầu mỏ từ giếng khoan này là 72 triệu tấn Tuy Tổng thống Nga Vlardimia Putin tin tưởng rằng hoạt động này sẽ “ ảnh hưởng tích cực đến tương lại nước Nga trên thị trường năng lượng Thế giới”, việc khai thác dầu tại Bắc cực vẫn vấp phải sự phản đối của tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace), Liên minh châu Âu (EU) và nhiều nước trên Thế giới do ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, góp phần gây ra biến đổi khí hậu và khủng hoảng môi trường Hiện nay, Việt Nam cũng đang đầu tư khai thác một số mỏ dầu ở vùng Sibiri – Liên bang Nga
Bên cạnh các nguồn tài nguyên trên, với hệ thống sông hồ phong phú, diện tích biển rộng lớn, Liên bang Nga còn hưởng ưu đãi của thiên nhiên về thủy hải sản Theo kết quả của năm 2013 được thống kê bởi Trung tâm giám sát Hải sản – Cục thủy sản Liên bang Nga (Rosrybolovstvo), sản lượng thủy hải sản đánh bắt tự nhiên năm 2013 của Nga lên tới 4,15 triệu tấn Ngoài ra, địa hình Liên bang Nga phần lớn là đồng bằng với những thảo nguyên rộng lớn, thích hợp trồng cây lương thực và chăn nuôi, phát triển nông nghiệp
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Nga liên tục giảm (giảm 5,2 triệu người ~ 3,5%) Nguyên nhân là do gia tăng dân số
tự nhiên âm, mức sống giảm do cải tổ nền kinh tế sang kinh tế thị trường, ô nhiễm môi trường tăng, tình trạng di cư sang nước ngoài ngày càng tăng
Mật độ dân số trung bình của LB Nga là 8,4 triệu người/km2 Phân bố dân
cư không đồng đều: 72,1% dân số sống ở vùng lãnh thổ châu Âu (phía Tây nước Nga) tương đương với 23,1% diện tích toàn lãnh thổ Sự phân bố này chịu ảnh hưởng từ yếu tố lịch sử, điều kiện tự nhiên và phát triển kinh tế xã hội Ở vùng Viễn Đông, điều kiện khí hậu khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng chưa phát triển trong khi phía Tây là nơi có các thành phố lớn, điều kiện cuộc sống thuận lợi, kinh tế xã hội phát triển
Như các nước châu Âu khác, dân số Nga đang có xu hướng già đi do tăng số lượng người cao tuổi, giảm số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh sản Điều này dẫn đến tình trạng tuy dân cư có trình độ văn hóa cao, thị trường tiêu thụ rộng lớn, kinh
tế phát triển, Nga vẫn đứng trước nguy cơ thiếu nguồn lao động dự trữ trong tương lai, kinh tế ảnh hưởng do chi phí phúc lợi cho người già lớn Từ năm 2012, chính phủ Nga đã phải sử dụng hàng loạt chính sách khuyến khích sinh nở và phần nào đạt được chuyển biến tích cực khi sau một năm số trẻ em sinh ra đã tăng lên 26.000
em Trong Thông điệp Liên bang ngày 12/12/2013, Tổng thống Putin cho rằng tình hình dân số Nga là “không thể đảo ngược được” nhưng cũng nhấn mạnh chính phủ
sẽ có những “nỗ lực đặc biệt” để thay đổi điều này
1.1.1.3 Văn hóa
Cái nôi của nền văn minh Thế giới
Nga là một trong những nước có nền văn hóa đặc sắc lâu đời được thế giới ngưỡng mộ và tự hào Trải qua nhiều thế kỷ, dân tộc Nga vẫn giữ trong mình những truyền thống vốn có Nền tư tưởng tôn giáo chính thống ảnh hưởng đến LB Nga là Slav Ngoài ra, khi nhắc đến Nga, người ta thường nghĩ đến một đất nước với những lễ hội đậm màu sắc ví dụ : lễ tiễn mùa đông, lễ đón năm mới (vào ngày 7-1
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hàng năm), lễ hội băng Nét văn hóa đặc trưng của người Nga còn được thể hiện qua hình ảnh những con búp bê Nga Matrioshka làm bằng gỗ, mang hình ảnh của cô gái Nga với khăn trùm đầu và áo xaraphan Nước Nga còn có văn minh kiến trúc mái vòm đặc trưng và là cội nguồn của những bộ môn nghệ thuật sân khấu như ba
Nền văn hóa đa dạng
Đặc điểm lãnh thổ trải dài từ châu Âu đến châu Á được coi là điều kiện tiên quyết cho nền văn minh kết hợp giữa phương Đông và phương Tây của quốc gia này Trong cuốn “Khóa học về lịch sử nước Nga”, tác giả Klyuchevskii nói rằng :
“Tâm hồn của nhân dân Nga là sự giao hòa giữa những cánh rừng và thảo nguyên” (Phía Đông nước Nga chủ yếu là thảo nguyên, phía Tây địa hình nhiều đồi núi và rừng )
Nước Nga cũng có trên 16 dân tộc, mỗi dân tộc có nét đặc sắc riêng dựa trên nền tảng đặc trưng chung của người Nga
Nghiên cứu văn hóa là một phần tất yếu và quan trọng trong chuỗi hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, đặc biệt giữa hai nước vốn có nhiều nét khác biệt như Việt Nam và LB Nga, khóa luận xin đề cập đến hai khía cạnh văn hóa kinh doanh
và văn hóa tiêu dùng của người Nga
Văn hóa kinh doanh:
Chuyên gia văn hóa người Anh nổi tiếng Richard D Lewis, trong cuốn “Khi các nền văn hóa xung đột” (“When cultures collide”) của mình đã gọi văn hóa kinh
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
doanh của Nga là “sự kết hợp của những giá trị trái ngược” Ông giải thích rằng có thể tìm thấy hai phẩm chất văn hóa kinh doanh của Nga, đó là: chủ yếu mang phẩm chất phương Đông – mang tính tập thể, phụ thuộc vào gia đình, bất bình đẳng, siêng năng và một phần phẩm chất phương Tây – mang tính tự chủ, chủ nghĩa cá nhân, tinh thần kinh doanh cao Do đó, người Nga thích nghi dễ dàng và khéo léo với những thay đổi của môi trường và các đối tác kinh doanh
Bên cạnh đó, các nhà kinh doanh Nga thường đề cao tầm quan trọng của mối quan hệ, có xu hướng giải quyết vấn đề dựa vào mối quan hệ cá nhân Trong đàm phán, họ cũng đánh giá cao sự đúng giờ và nếu đối tác không thực hiện điều này, thường sẽ không có sự nhân nhượng hay ưu ái nào Một món quà cho đồng nghiệp hay đối tác cũng sẽ được khuyến khích ở Nga Tuy vậy, giá trị của món quà cần phải tương xứng với cấp bậc của người được tặng
Trong kinh doanh, người Nga am hiểu về các vấn đề kỹ thuật nhưng lại chưa
có sự hiểu biết toàn diện về thực tiễn kinh doanh của phương Tây Mặc dù gần đây
đã có một số thay đổi, người Nga còn khá bốc đồng, thường dựa trên mục tiêu ngắn hạn nhiều hơn chiến lược dài hạn, mong muốn tạo ra lợi nhuận càng nhanh càng tốt Người Nga đoàn kết trong làm việc nhóm tuy nhiên thiếu sự chủ động và ít khi tranh luận với cấp trên
Văn hóa tiêu dùng:
Mặc dù thị trường tiêu dùng ở nước Nga chậm hơn so với nhiều nước châu
Âu khác, đối với người dân Nga, mua sắm đã bắt đầu trở thành một thú tiêu khiển Người tiêu dùng dần hướng đến các mặt hàng ngoại nhập, quan tâm nhiều hơn đến các sản phẩm có thương hiệu, sẵn sàng bỏ ra một khoản tiền lớn để “mua thương hiệu”
Bên cạnh đó, người tiêu dùng cũng chú ý tới sức khỏe của mình hơn, do đó,
họ ngày càng hướng tới các sản phẩm giúp duy trì một lối sống lành mạnh như thực
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phẩm an toàn, các thiết bị vệ sinh, trang phục thể thao, trang phục có độ tiện dụng
và thoải mái cao hay các sản phẩm thân thiện với môi trường
Gần đây, khi trải qua hàng loạt những khó khăn như khủng hoảng tài chính 2008-2009, lạm phát tăng, lệnh cấm vận từ Mỹ và Liên minh châu Âu EU khiến sức mua có phần giảm xuống, người dân Nga vẫn rất lạc quan Người tiêu dùng Nga có thể thay đổi cơ cấu hàng hóa tiêu dùng của mình trong năm, cắt giảm các khoản chi tiêu khác nhưng thường giữ nguyên khoản chi tiêu đối với hàng hóa tiêu dùng cho sinh hoạt
Hội doanh nghiệp Việt Nam tại Liên Bang Nga (Vietnam Businessmen‟s Asociation in Russia – VBA) cho hay ngay cả trong khủng hoảng vẫn còn những lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng như lĩnh vực làm đẹp, trang sức (thay vì những món đồ đắt tiền, giờ đây người tiêu dùng thường chọn mua những món đồ giá trung bình khoảng 200-300 rub), ứng dụng trên điện thoại di động và những sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày mang thương hiệu riêng của chính nhà bán lẻ (những mặt hàng vừa đảm bảo về mặt chất lượng vừa có giá cả phải chăng)
Nhánh hành pháp: Đứng đầu là Tổng thống, có quyền chỉ định Nội các, chỉ định việc thực hiện các điều luật và chính sách liên bang, phủ quyết dự luật
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Nhánh Tư pháp: Gồm Tòa án Hiến pháp, Tòa án Trọng tài, Tòa án Tối cao
và các Toà án liên bang cấp thấp hơn; có quyền giải thích pháp luật, bác bỏ các điều luật
Như vậy, Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia (có nhiệm kỳ 6 năm) và Thủ tướng là Lãnh đạo chính phủ Còn lại, người đứng đầu các bang được gọi là Thủ hiến bang
Cụ thể, các nhà lãnh đạo cấp cao đương nhiệm của chính phủ Liên bang Nga bao gồm:
Tổng thống: Vladimir Vladimirovich Putin, Thủ tướng: Dmitry Anatolyevich Medvedev, Chủ tịch Hội đồng Liên bang : Valentina Ivanovna Matviyenko, Chủ tịch Duma Quốc gia: Sergey Yevgenyevich Naryshkin
Ngày nay, Liên bang Nga là một chính phủ liên minh của 4 Đảng chính trị lớn: Nước Nga Thống nhất, Đảng Cộng sản, Đảng Dân chủ Tự do Nga và Nước Nga Công bằng
hệ hợp tác với Liên minh châu Âu EU sau khi ký thỏa thuận hợp tác ngày 24/5/1994 Từ năm 1994, Nga trở thành thành viên của NATO - Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organisation) Đặc biệt, quốc gia này còn là thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, là thành viên nhóm G8, G20, BRICS Có thể thấy, nước Nga là một mắt xích rất quan trọng trong các tổ chức hợp tác và liên minh trên Thế giới
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tổng thống Nga Putin đã nói trong cuộc họp với các Đại sứ Nga năm 2012 rằng: “Chính sách đối ngoại của Nga phù hợp đối với nước ta trong các vấn đề thế giới và phát triển nền văn minh qua nhiều thế kỷ Chúng ta không có gì để làm với chủ nghĩa đối đầu, biệt lập hay tách ra khỏi quá trình toàn cầu” Nga không ủng hộ việc Mỹ triển khai vũ khí ra bên ngoài cũng như phản đối việc nước này đặt căn cứ quân sự ở các nước khác đặc biệt vùng Liên bang Xô viết cũ Cũng theo Putin:
“Nga đang ủng hộ một thế giới đa cực, dân chủ và tăng cường hệ thống pháp luật quốc tế”
Bên cạnh đó, trong chính sách đối ngoại hướng Đông của mình, Nga đang tăng cường xem xét và chú ý đến việc mở rộng hợp tác thương mại – đầu tư dài hạn với các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam
1.1.2 Đặc điểm nền kinh tế Liên bang Nga
Là nền kinh tế hỗn hợp có sự quản lý của Nhà nước, Liên bang Nga chiến lĩnh vị trí thứ 6 về kinh tế (tính theo PPP) Ngoài ra, Nga có tiềm năng to lớn về công nghệ, sự phát triển vượt trội về các ngành công nghiệp và là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về nhiều loại mặt hàng
Trong thời gian gần đây, nền kinh tế Liên bang Nga có ảnh hưởng lớn từ một
số vấn đề như sau:
1.1.2.1 Kinh tế
Theo khảo sát năm 2014 của Thời báo tài chính Financial Times (London), Nga đứng thứ 2 về quy mô hoạt động kinh tế trong G20, sau Saudi Arabia Thêm vào đó, Nga cũng được Ngân hàng Thế giới (World Bank) công nhận là nền kinh tế thu nhập cao Điều này được thể hiện qua GDP của nước này với con số 2,1 nghìn
tỷ USD (xếp thứ 9 thế giới) và sự tăng trưởng liên tiếp của GDP qua các năm:
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hình 1.2 Tăng trưởng GDP của Nga từ năm 1999 đến 2014
Nguồn: World Bank (2014)
Như vậy, có thể thấy Nga đã duy trì được mức tăng trưởng cao Tuy GDP năm 2009 của Nga bị ảnh hưởng xấu do khủng hoàng tài chính toàn cầu, từ năm
2010 đến nay, kinh tế có sự phục hồi trở lại và dần ổn định
Từ năm 2000 đến 2014, tỷ lệ thất nghiệp tại Liên bang Nga cũng giảm rõ rệt
từ 10% xuống còn 5,5% - một trong những mức thấp nhất của thế giới theo Thủ tướng Nga D Medvedev Chính phủ Nga đang trong quá trình xây dựng một nền kinh tế đổi mới và sáng tạo với kế hoạch tạo ra 10 triệu việc làm mới ở lĩnh vực công nghệ cao
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Việc đồng tiền Rub của Nga trượt giá khiến tỷ lệ lạm phát nước này đầu năm
2015 tăng lên 17% Tuy nhiên, cũng theo Medvedev, Ngân hàng trung ương Nga đã khắc phục bằng cách cắt giảm lãi suất và tỷ lệ lạm phát tại Nga được dự kiến sẽ giảm mạnh một cách tích cực
Xét về cơ cấu kinh tế, có thể nói Nga đã đạt đến một trình độ công nghiệp hóa cao Cụ thể, ở Nga dịch vụ là ngành có đóng góp lớn nhất vào GDP (58% GDP) Công nghiệp chiếm 40% tổng sản lượng trong đó khai thác mỏ(11% GDP), sản xuất(13% GDP) và xây dựng (4% GDP) là những ngành công nghiệp quan trọng nhất 2% GDP còn lại là đóng góp tủ ngành nông nghiệp
Tuy nhiên, nền kinh tế Nga vẫn tồn tại một số vấn đề Các trung tâm kinh tế lớn của Nga gồm Moskva, Saint Petersburg, Khanti Mansiisk, Yamalo Nenesk và Tymen đóng góp tới 50% GDP của nước này (trong đó đóng góp GDP của Moskva lớn nhất – 30% ) (theo IMF) Có thể thấy phân bố thu nhập tại Nga quá chênh lệch, khoảng cách giàu nghèo lớn Theo thống kê của WB, 11% dân số ở Nga đang sống dưới mức nghèo đói
1.1.2.2 Thương mại
Nga là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu
Nga hiện là đối tác thương mại lớn của nhiều nước và tổ chức trên thế giới Đặc biệt, các nước EU là thị trường chính của Nga, chiếm 49,4 % tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong khi con số này với các nước Châu Á – Thái bình dương là 24,7%
Là một nước có nền sản xuất phát triển, kinh tế Nga dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa và cũng là một trong những nước có nền xuất khẩu hàng đầu thế giới Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 0,3-0,4%; trong đó các mặt hàng chủ yếu là dầu mỏ, khí đốt, gỗ, kim loại (chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu) 5 đối tác xuất khẩu chính của Nga là Hà Lan (9,2%), Trung Quốc (8,1%),
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Đức (6,5%), Ukraine (5,7%) và Belarus(5,4%) (Theo Observatory of Economic Complexity)
Một điều lưu ý khi nhắc đến Liên bang Nga chính là công nghiệp quốc phòng và dầu mỏ:
Về công nghiệp quốc phòng
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của quốc phòng Liên Xô cùng tiềm lực tài chính, Nga chú trọng phát triển công nghiệp quốc phòng theo cơ chế mới Hiện nay, ngành công nghiệp này của Nga đã phát triển vượt bậc, đóng góp to lớn cho nền kinh tế đất nước
Quốc phòng Nga đặc biệt ở chỗ không những sản xuất hàng quân sự còn sản xuất hàng dân dụng Các dây chuyền sản xuất linh hoạt, có thể đáp ứng được các nhu cầu về cả quốc phòng và kinh tế Điều này giúp cho Nga vừa duy trì được sức mạnh quân sự của mình vừa kết hợp phát triển kinh tế Hàng năm, chính phủ Nga dành khoảng 5-6% GDP cho ngân sách quốc phòng
Các sản phẩm trang thiết bị quân sự của Nga có nhiều ưu điểm như chất lượng tốt, ít kèm theo ràng buộc chính trị, giá rẻ Điều này giúp Nga chiếm lĩnh một thị trường khổng lồ cho xuất khẩu các thiết bị quân sự Năm 2014, giá trị xuất khẩu
vũ khí của Nga đạt 13 tỷ USD, đứng thứ 2 chỉ sau Mỹ (theo Cơ quan dịch vụ thống
kê Nga)
Về dầu mỏ và khí đốt
Bộ trưởng Bộ năng lượng Nga Alexander Novak cho biết ngân sách quốc gia Nga có nguồn thu 50% từ xuất khẩu dầu thô và khí đốt Hiện nay, Nga đang là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt cũng như các sản phẩm từ dầu
mỏ, khí đốt ra thị trường toàn cầu và ngành này cũng chiếm hơn 60% kim ngạch xuất khẩu quốc gia Novak cũng chỉ ra rằng với sự phụ thuộc của Nga vào dầu mỏ
và khí đốt, việc sụt giảm giá dầu hơn 30% năm 2014 cùng lệnh cấm vận của Mỹ và
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
EU đang đặt tài chính Nga vào khó khăn khi thiệt hại khoảng 100 tỷ USD mỗi năm
Do vậy, chính phủ Nga đang xem xét một hướng đi mới với nền xuất khẩu đa dạng hơn, “hỗ trợ các ngành không liên quan đến dầu mỏ như công nghệ thông tin, năng lượng hạt nhân, hàng không và không gian” – trích lời Thủ tướng D Medvedev Ông cũng cho biết thêm “hai ngành công nghệ thông tin và năng lượng là những ngành thế mạnh của Nga còn đang núp dưới bóng dầu mỏ và quốc phòng”
Nga là nước nhập khẩu lớn
Do có sự phụ thuộc khá lớn vào xuất khẩu nên Nga cũng cần nhập khẩu nhiều loại mặt hàng, chủ yếu là các hàng hóa phục vụ cho tiêu dùng và đầu vào cho sản xuất như ô tô, thuốc, thiết bị y tế, máy tính, điện thoại, thực phẩm, giày dép v.v
Các nguồn nhập khẩu chính của Liên bang Nga gồm có: Trung Quốc (15%), Đức (14%), Ukraine (5,5%), Belarus (4,6%), Nhật Bản (4,4%)
Thời báo The Moscow Times cho hay từ cuối năm 2014, thương mại Nga trở nên khó khăn do lệnh cấm nhập khẩu các sản phẩm từ Mỹ và Liên minh châu Âu
EU của chính phủ Cụ thể, trong hai tháng đầu năm 2015, kim ngạch nhập khẩu của Nga chỉ đạt mức 22,9 tỷ USD, giảm 36,9% so với thời điểm này năm 2014.Trong
đó, mặt hàng thực phẩm bị ảnh hưởng nhiều nhất Nhập khẩu đường giảm 2,9 lần; nhập khẩu các sản phẩm từ sữa giảm 5,6 lần; nhập khẩu thịt và cá giảm lần lượt 2,3
và 3 lần
1.1.2.3 Đầu tư
Chính phủ Nga coi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những yếu
tố quan trọng nhất đối với sự phát triển kinh tế của mình Khái niệm này được giải thích bởi Tổ chức hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development - OECD) như sau:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan hệ nhằm đạt được lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp hoặc
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tổ chức cư trú trong một nền kinh tế (gọi là chủ đầu tư trực tiếp) đối với một doanh nghiệp hoặc tổ chức cư trú trong một nền kinh tế khác (gọi là doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) Các chủ đầu tư không nhất thiết phải kiểm soát nhưng có mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp
Thống kê FDI dựa trên cơ sở định hướng (hướng nội, hướng ngoại) dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI flows) và tổng số vốn đầu tư trực tiếp nhận từ nước ngoài (FDI stocks) trong một năm
Theo báo cáo của Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga, từ 2008 – 2014, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nga trung bình là 13.171 triệu USD, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 40.147 triệu USD trong quý đầu năm 2013 và mức thấp kỉ lục
là -1,14 triệu USD trong quý III năm 2014 Cụ thể, năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử đầu tư nước ngoài, Nga trở thành đối tác lớn thứ 3 trên thế giới về FDI, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc về mức độ thu hút đầu tư nước ngoài Trong năm này, FDI vào Nga tăng trưởng 83% so với năm trước Lý do chủ yếu là nhờ vào việc các công
ty của Anh mua lại cổ phần từ công ty Rosneft – Nga với một số lượng lớn Điều này góp phần giúp Nga được Ngân hàng thế giới (WB) bình chọn là quốc gia có mức năng động cao nhất về FDI trong số các nước BRICS Tuy vậy, đến năm 2014, những căng thẳng chính trị giữa Nga, Ukraine và các nước phương Tây đã trở thành một tín hiệu hết sức tiêu cực đối với Nga và các nhà đầu tư Hệ quả là FDI năm này của Nga giảm mạnh và xuống đến mức thấp kỷ lục, như đã đề cập ở trên Hiện tại, thị phần của FDI trong GDP tại Nga chỉ ở mức 1,5% (theo UNCTAD), thấp tương đối so với sự phát triển và tiềm năng kinh tế-đầu tư của đất nước Để cải thiện điều này, những năm gần đây, Liên bang Nga đã tiến hành cải cách kinh tế Tuy nhiên, các vấn đề tiêu cực về hành chính, nạn tham nhũng, sự lỏng lẻo của những quy định pháp luật hiện hành ở Nga và những bất ổn trong khu vực vẫn còn là một thách thức lớn đối với quốc gia trong việc thúc đẩy tăng trưởng FDI
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2 SỰ CẦN THIẾT ĐẨY MẠNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA
Từ trước đến nay, quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga luôn có một vai trò hết sức quan trọng, tác động tích cực đa chiều đến sự phát triển của mỗi nước Trong những năm tháng chiến tranh khó khăn của dân tộc, Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ to lớn từ Liên bang Xô Viết Ngày nay, quan hệ Liên bang Nga - Việt Nam luôn được củng cố và đẩy mạnh Những cuộc gặp gỡ, hội đàm chính thức được diễn ra giữa hai nước với cường độ cao và nội dung ngày càng đa dạng, phong phú về mọi mặt của đời sống chính trị -xã hội Tạp chí cộng sản, trong bài viết “Việt Nam – Nga : Mối quan hệ gắn bó đặc biệt” (Tạp chí cộng sản, 2015, tr.2-3) của tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa, cho biết Nga và Việt Nam có chung nhiều quan điểm, nhận thức về những vấn đề quốc tế và khu vực Hai nước luôn “cùng nhau ủng hộ xu hướng phát triển tích cực trên thế giới nhằm xây dựng một trật tự thế giới dựa trên công lý, bình đẳng và hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia”
Trên nền tảng đó, mối quan hệ Việt – Nga ngày càng gắn bó, khăng khít và
đã nâng lên tầm đối tác chiến lược toàn diện trên mọi lĩnh vực; từ chính trị-ngoại giao, văn hóa-xã hội, khoa học-kỹ thuật, giáo dục-đào tạo, kinh tế- thương mại Đặc biệt trong lĩnh vực thương mại-đầu tư, từ năm 1955, hai nước luôn tạo điều kiện tốt nhất cho nhau phát triển bằng việc hình thành một hành lang pháp lý thông thoáng với hàng loạt hiệp định, hiệp ước và các văn bản hợp tác Ngoài ra, không thể không
kể đến số lượng đông đảo của cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và học tập tại Nga đã đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế - thương mại hai nước và trở thành cầu nối tích cực giữa hai bên
Có thể thấy, quan hệ thương mại – đầu tư song phương Việt – Nga có một tiềm năng đặc biệt to lớn và vị trí chiến lược trong kế hoạch phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Theo lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuộc trả lời phỏng vấn Hãng Thông tấn Nga (TASS) ngày 21/11/2014, đây là hai trong ba “trụ cột”
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
(thương mại, đầu tư, năng lượng) của mối quan hệ hợp tác kinh tế Việt Nam – Nga Trong bối cảnh ngày nay, hai nước cần tiếp tục nỗ lực phát huy những lợi thế, nắm bắt những cơ hội và nhận ra sự cần thiết khách quan phát triển quan hệ thương mại – đầu tư song phương
1.2.1 Về phía Việt Nam
Thứ nhất, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định trong công cuộc
xây dựng và đổi mới đất nước, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ tụt hậu và rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” theo Tạp chí cộng sản Đẩy mạnh quan hệ thương mại và đầu tư Việt – Nga giúp nước ta phần nào theo kịp với sự phát triển kinh tế thế giới bằng cách tiếp xúc và học hỏi nền công nghệ, những dây chuyền sản xuất hiện đại của Nga, tăng cường hợp tác trong các dự án đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa hai nước
Thứ hai, Việt Nam sẽ có động lực mạnh mẽ để nâng cao tính cạnh tranh, uy
tín, tăng năng suất lao động của các doanh nghiệp trong nước khi hợp tác phát triển thương mại và đầu tư với Nga Bởi lẽ, Liên bang Nga được đánh giá là một thị trường mở, rộng lớn, và không khó tính như một số thị trường khác (ví dụ: EU, Mỹ, Hồng Kông, Nhật Bản v.v) Người tiêu dùng Nga cũng ưa chuộng những sản phẩm giá rẻ, chủng loại phong phú và không đòi hỏi chất lượng quá cao như các thị trường khó tính Do đó, việc thâm nhập thị trường này của doanh nghiệp Việt Nam
sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải cạnh tranh gay gắt với các quốc gia có lợi thế tương tự về chủng loại hàng hóa.Trong khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hoạt động còn kém tập trung, chưa ổn định, quy mô nhỏ và thiếu đầu mối giao thương tại Nga Hơn nữa, chi phí vận chuyển hàng hóa từ Việt Nam sang Nga còn cao do phương tiện vận chuyển chủ yếu là container và tuyến đường dài do phải đi qua các cảng châu Âu rồi mới vòng lại Nga So với những nước có lợi thế địa lý như Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ thì hàng hóa Việt có sức cạnh tranh rất yếu
Do vậy, các doanh nghiệp chịu sức ép lớn, buộc phải tập trung vào những thế mạnh khác của hàng hóa bằng cách đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
động, tạo ra những sản phẩm với giá cả cạnh tranh mà vẫn đảm bảo về chất lượng
và chủng loại
Thứ ba, phát triển quan hệ thương mại và đầu tư Việt Nam – Liên bang Nga
góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế- xã hội của đất nước Trước hết, chính phủ
có thể thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư với Nga để tạo nguồn vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước Trong khi vấn đề việc làm ở Việt Nam đang là vấn đề nan giải, tỷ lệ thất nghiệp ngày càng tăng, hợp tác thương mại – đầu tư với các nước phát triển như Nga còn giúp đem lại nhiều cơ hội việc làm cho một lượng lớn người nhàn rỗi trong độ tuổi lao động, tăng tỷ lệ lao động trong lĩnh vực thương mại trong cơ cấu lao động theo ngành Ngoài ra, các hoạt động trao đổi chuyên gia cùng sự phát triển về công nghệ sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với hàm lượng vốn và tri thức cao sẽ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực cho lao động Việt Nam
Bốn là, thông qua việc thúc đẩy quan hệ thương mại-đầu tư giữa hai nước,
Việt Nam có thể đa dạng hóa thị trường, , từ đó hạn chế rủi ro trong hội nhập kinh
tế quốc tế Trong bối cảnh ngày nay, ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa và mức
độ hội nhập ngày càng sâu rộng tạo nên một mạng lưới tài chính toàn cầu với sự gắn bó và phụ thuộc to lớn lẫn nhau giữa các trung tâm tài chính Chỉ cần một phần
tử trong mạng lưới đó gặp bất ổn sẽ kéo theo những tác động dây chuyền Điển hình nhất chính là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 khiến các nền kinh tế suy thoái nghiêm trọng Trong những thời điểm như vậy, việc có một thị trường và nguồn đầu tư ổn định là rất quan trọng Liên bang Nga với dân số xếp thứ 7 thế giới
là một thị trường đầy tiềm năng, một đối tác đầu tư đáng tin cậy
Năm là, quan hệ thương mại và đầu tư song phương Việt – Nga giúp Việt
Nam gia tăng giá trị xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu về hàng hóa nhập khẩu, tăng kim ngạch thương mại Hai bên cũng đã ký kết Hiệp định Thương mại tự do FTA giữa Việt Nam và Liên minh hai chiều lên 7 tỷ USD vào cuối năm 2015
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Thứ sáu, thông qua tăng cường các hoạt động quan hệ đầu tư với Nga, Việt
Nam có thể đẩy mạnh thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ Nga, thực hiện các mục tiêu của đất nước trong công cuộc đổi mới và xây dựng
Thứ bảy, như đã đề cập, cộng đồng người Việt ở Nga có tầm quan trọng vô
cùng to lớn trong phát triển thương mại – đầu tư của Nga Ban Quan hệ quốc tế - VCCI (Trần Thị Thu Trang -Hồ sơ thị trường Liên bang Nga, 2014, tr 13 ) có đề cập đến điều này Theo đó, qua gần hai thập kỷ, có khoảng 60-80 nghìn người Việt
đã tồn tại và sinh sống tại Nga Hiện nay, đây là một cộng đồng trẻ, nhờ có họ nên
đã có sự thành lập và phát triển của hàng trăm doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, sản xuất v.v Đây là cầu nối để các doanh nghiệp Việt đầu tư và thị trường Nga Điều này được giải thích bởi lý do cộng đồng Việt kiều Nga là ngững người quảng bá tích cực nhất cho các sản phẩm của Việt Nam Thông qua hệ thống doanh nghiệp, cửa hàng của người Việt tại Nga, những sản phẩm như nông sản, thực phẩm, hàng may mặc v.v của Việt Nam đang từng bước chiếm lĩnh một phần thị trường tiêu dùng Nga Cơ hội này đặt ra một sự cần thiết khách quan
để tăng cường quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Liên bang Nga
1.2.2 Về phía Liên bang Nga
Thứ nhất, Việt Nam là một thị trường năng động với dân số trẻ (56% dân số
dưới 30 tuổi theo Nielsen), có mức tăng trưởng bình quân GDP tương đối cao (7,4%/năm) Năm 2014, Việt Nam đã lọt vào danh sách 15 thị trường mới nổi tiềm năng nhất của Business Insider Người tiêu dùng Việt Nam luôn sẵn sàng đón nhận những sản phẩm công nghệ cao đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin mà Nga
có thế mạnh Bên cạnh đó, theo Global Insights Bain Analysis, tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020 được dự báo sẽ thuộc loại cao nhất trong khu vực ASEAN, đạt 8%; trong khi con số đó của Indonesia và Malaysia là 5%; của Philippines, Thái Lan và Singapore là 4% Đáng kể nhất là trong lĩnh vực bán lẻ như tạp hóa, hàng may mặc, sản phẩm làm đẹp, thực phẩm và
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
đồ uống, hàng hóa mang tính giải trí Nghiên cứu của Euromonitor cho biết mức chi tiêu bán lẻ tại thị trường Việt Nam sẽ gia tăng, dự báo đến năm 2016 quy mô toàn thị trường bán lẻ sẽ đạt xấp xỉ 4 tỷ USD, tăng 5 tỷ USD so với năm 2011 và tổng doanh thu của các lĩnh vực có liên quan đến hàng tiêu dùng sẽ lên tới 140 tỷ USD
Do đó, Việt Nam chính là một cơ hội lớn để Nga tận dụng phát triển và đa dạng hóa các ngành sản xuất của mình như mục tiêu của chính phủ Nga đã đề ra
Thứ hai, Nga cũng nhìn thấy ở Việt Nam một điểm đến hấp dẫn để đầu tư
trực tiếp nước ngoài Trước hết, nhờ chính sách điều hành lãi suất của Ngân hàng Nhà nước, đồng tiền của Việt Nam biến động ít so với các nước trong khu vực Bên cạnh đó, đây là nước có nền chính trị-xã hội ổn định, vững chắc và đang tích cực thực hiện những đường lối cải cách đất nước, hội nhập kinh tế toàn cầu Dân số Việt Nam với cơ cấu dân số “vàng” cũng cung cấp một nguồn lao động dồi dào, giá rẻ cho các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ ba, chính phủ Việt Nam luôn cố gắng cải thiện mạnh mẽ môi trường
đầu tư kinh doanh Thủ tướng chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết “Việt Nam – Điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư” (đăng trên trang mạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF, 2014) đã nói rằng : “Chính phủ Việt Nam luôn cam kết và hành động nhằm tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi và bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài cũng như không ngừng cải thiện khuôn khổ luật pháp và thể chế phục vụ cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư Bên cạnh đó, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực triển khai lộ trình tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong đó có nỗ lực mạnh mẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” Hơn nữa, với mối quan hệ tương trợ lớn lao trong quá khứ của Liên Xô với Việt Nam (mà Liên bang Nga kế thừa) ngày nay
là mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam luôn trân trọng và dành sự ưu tiên đặc biệt trong hợp tác kinh tế - thương mại – đầu tư đối với Nga
Thứ tư, đất nước hình chữ S có ưu điểm nằm ở vị trí chiến lược, giữa Đông
Á và Đông Nam Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Đây chính là cầu nối
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
lý tưởng của Nga trong quan hệ với các nước ASEAN và Đông Á khi phát triển quan hệ thương mại và đầu tư với Việt Nam
1.2.3 Tính bổ sung của hai thị trường
Nga được xếp vào nhóm 8 nền kinh tế có mức độ bổ sung cao với Việt Nam cùng với Mỹ, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và EU (Tạp chí quản lý kinh tế) Đánh giá này dựa trên nền tảng phân tích lợi thế so sánh (RCA) của các nền kinh tế đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam Nước ta có thế mạnh về sản xuất lương thực, thực phẩm đặc biệt là các sản phẩm nhiệt đới Trong khi đó, Nga và các nền kinh tế này
có điểm mạnh về công nghệ, máy móc, thiết bị, dầu khí, luyện kim, năng lượng v.v Điều đó có nghĩa là nhóm nền kinh tế này sở hữu rất ít sản phẩm mang tính tương đồng và cạnh tranh với hàng hóa xuất khẩu mà Việt Nam có thế mạnh Ngược lại,
họ có nhiều hàng hóa mang tính bổ sung cho nhu cầu nhập khẩu của Việt Nam như máy móc, đồ công nghệ v.v đã kể trên Cũng theo Tạp chí quản lý kinh tế, trong khi
cơ cấu lợi thế so sánh của Nga và các nền kinh tế này tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn, tri thức và công nghệ cao; nguyên liệu thô và tài nguyên lại là lĩnh vực mà cơ cấu lợi thế so sánh của Việt Nam tập trung phần lớn Chính sự khác biệt lớn về thế mạnh sản xuất và cơ cấu lợi thế so sánh như vậy khiến các nền kinh tế mang tính bổ sung cho nhau
Riêng đối với Nga và Việt Nam, do yếu tố lịch sử và nền chủ nghĩa xã hội chi phối sự phát triển kinh tế thương mại của hai nước còn khiến hai nước có những nét khá tương đồng về môi trường kinh tế Do đó, việc tập trung tăng cường và phát triển quan hệ thương mại – đầu tư Việt Nga là một hướng đi đúng đắn và cần thiết đối với cả hai bên trong bối cảnh hiện nay
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 2.1 KHÁI QUÁT TIẾN TRÌNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN 1955 – 2008
Các giai đoạn trong quan hệ thương mại – đầu tư Việt Nga gắn liền với các giai đoạn trong lịch sử của quan hệ ngoại giao hai nước Kể từ khi Việt Nam và Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức vào ngày 30/1/1950, 65 năm đã trôi qua cùng với bao biến động, thăng trầm của lịch sử cũng như quan hệ hai nước Sự kiện trọng đại thiết lập nhà nước Liên bang Nga, tách ra từ Liên bang Xô viết vào năm 1991 đã đặt quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, thuận lợi và ổn định hơn tuy có chững lại trong thời gian đầu Cho đến nay, quan hệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã phát triển sâu sắc và mở rộng trên nhiều lĩnh vực: chính trị - xã hội, an ninh – quốc phòng, văn hóa – giáo dục, khoa học – kỹ thuật v.v trong đó quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư luôn là lĩnh vực được quan tâm hàng đầu
Nhìn lại chặng đường hợp tác trong quan hệ thương mại – đầu tư song phương Việt Nga, có thể chia làm 3 giai đoạn:
2.1.1 Giai đoạn 1955 – 1991
Trong một thời gian dài kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức năm 1950, Việt Nam và Liên Xô là những đối tác kinh tế chiến lược Liên Xô đã viện trợ nguồn tài chính rất lớn cho Việt Nam, giúp thoát khỏi tình trạng lạc hậu về kinh tế, vượt qua những cuộc chiến khó khăn, phát triển Tuy vậy, hai nước chưa có quan hệ kinh tế chính thức do Hoa Kỳ đặt lệnh cấm vận cho tới giữa những năm 50
Ngày 18/6/1955, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước được khởi đầu bằng việc ký Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại Việt Xô Thời gian này, miền Bắc Việt Nam cũng hoàn toàn được giải phóng Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Tháng 7/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao chính thức sang thăm Liên Xô với mục đích to lớn là tăng cường mối quan
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hệ văn hóa chính trị, củng cố tình đoàn kết hữu nghị, phát triển hợp tác kinh tế song phương
Cho đến năm 1960, chỉ 5 năm sau ngày hai nước thiết lập quan hệ thương mại đầu tư, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Nam – Liên bang Nga đã tăng lên gấp 13 lần (từ 5 tỷ rúp năm 1955 lên hơn 65 tỷ rúp năm 1960) Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ đánh phá miền Băc và tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam nước ta, Liên Xô đã đứng về phía Việt Nam, lên án mạnh mẽ hành động của Mỹ và công khai viện trợ nhiều mặt cho Việt Nam.Từ năm 1965-1975, hai nước đã ký tới 12 Hiệp định trong đó 7 Hiệp định là về việc Liên Xô cam kết viện trợ không hoàn lại
về kinh tế, tài chính cho Việt Nam Năm 1973, nhà nước Xô Viết còn thông qua quyết định miễn cho Việt Nam trả các khoản nợ nhằm phát triển kinh tế đã vay (Hiệp định miễn cho Việt Nam trả các khoản nợ đã vay)
Cho đến năm 1974, sau gần 20 năm đặt quan hệ về thương mại và đầu tư, tổng giá trị các loại hình viện trợ nhằm giúp Việt Nam phát triển kinh tế từ Liên Xô
là 2.176.051.000 rúp và xây dựng 135 xí nghiệp sản xuất công nghiệp và nông nghiệp cho Việt Nam (theo số liệu cuốn “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945-
1975 thắng lợi và bài học ”, Nxb Chính trị quốc gia, 2000, tr 601)
Đáng kể hơn, mối quan hệ hợp tác thương mại đầu tư Việt Nga có bước phát triển đột phá kể từ khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội, đặc biệt là vào cuối những năm 70 đến những năm 80 Cụ thể là vào thời kỳ
1976 – 1980, khối lượng trao đổi hàng hóa giữa hai nước tăng lên một cách nhanh chóng và bằng con số của 20 năm trước cộng lại Nhà nước Xô Viết đã cấp cho Việt Nam những khoản hỗ trợ lớn và thường xuyên về cả tài chính và hiện vật, giúp Việt Nam xây dựng những công trình quan trọng của đất nước Nhiều công trình đã gắn
bó với bao thế hệ nhân dân Việt Nam, cho đến tận ngày nay vẫn phát huy hiệu quả
to lớn như: Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, Đại học Bách Khoa, Đại học Nông nghiệp I Ngoài ra, Liên Xô cũng hỗ trợ Việt Nam thông qua việc cử các chuyên gia trong nước sang Việt Nam để giúp phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế v.v
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
cũng như đào tạo tại Liên Xô hàng chục nghìn cán bộ Việt Nam để họ trở thành những chuyên gia giỏi trên quay về giúp đất nước phát triển trên nhiều lĩnh vực
Thời gian này, có thể nói quan hệ thương mại, đầu tư giữa Liên Xô và Việt Nam rất phát triển và hết sức tốt đẹp Liên Xô là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (sau đó là Cộng hòa dân chủ Đức) Trong những năm cuối thập niên
1980, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu ở Việt Nam của Liên Xô luôn chiếm lần lượt khoảng 40% và 60% Những sản phẩm xuất khẩu từ Việt Nam vào Liên Xô chủ yếu là nguyên vật liệu và nông sản nhiệt đới ví dụ: cà phê, cao su, hạt tiêu, v.v Liên Xô lại xuất cho Việt Nam các sản phẩm thế mạnh của nước mình như máy móc, thiết bị luyện kim, phân bón, dầu khí v.v
Năm 1981, Liên Xô và Việt Nam hợp tác thành lập Liên doanh Vietsovpetro với mục đích thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng tới phát triển kinh tế Việt Nam khi cung cấp cho Việt Nam những giải pháp kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác dầu phục vụ các hoạt động phát triển kinh tế đất nước Theo số liệu của Vietsovpetro, cho đến nay, liên doanh đã khai thác được trên 200 triệu tấn dầu, vận chuyển về bờ cho các nhà máy khí điện đạm trên 24 tỷ mét khối Đây cũng là liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí và phát triển đến ngày nay được coi là biểu tượng của tình Hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga
2.1.2 Giai đoạn 1991- 2008
Năm 1991, Liên Xô tan rã, Liên bang Nga tách ra thành một nước mới có địa
vị pháp lý và chủ quyền riêng Những năm đầu thập kỷ 90 là những năm tháng khó khăn nhất đối với Liên bang Nga Chính phủ Nga thất bại trong việc thúc đẩy sự phát triển trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế của nước mình bởi lúc này, Liên bang Nga là một quốc gia non trẻ, còn nhiều việc phải bắt đầu, nhiều vấn đề phải giải quyết đặc biệt là những gánh nặng Liên Xô để lại Do mới thành lập, tình hình chính trị tại Liên bang Nga cũng còn nhiều bất ổn Vai trò của Nga đối với các nước trong quan hệ thương mại quốc tế từ đó suy giảm Trong tư duy của các nhà lãnh