1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HÀN QUỐC BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

86 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Là một nước có nền kinh tế công nghiệp mới, Hàn Quốc luôn chú trọng đến phát triển các doanh ng

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Họ và tên sinh viên : Phan Thị Linh Hương

Mã sinh viên : 1111110433 Lớp : Anh 19 - KTĐN

Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Phạm Thị Hồng Yến

Hà Nội tháng 5 năm 2015

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN 5

1.1 Tổng quan chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) 5

1.1.1 Khái niệm SMEs 5

1.1.2 Tiêu chuẩn về SMEs 5

1.1.3 Đặc điểm của SMEs 11

1.1.4 Vai trò của SMEs trong nền kinh tế 14

1.2 Vai trò và đặc điểm về vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 18

1.2.1 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp 18

1.2.2 Đặc điểm của vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 19

1.3 Chính sách tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 19

1.3.1 Chính sách tín dụng vốn 20

1.3.2 Chính sách bảo lãnh vốn 20

1.3.3 Chính sách ưu đãi thuế 21

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở HÀN QUỐC 23

2.1 Tổng quan về nền kinh tế Hàn Quốc và tình hình phát triển SMEs ở Hàn Quốc 23

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc 23

2.1.2 Kinh tế Hàn Quốc hôm nay và triển vọng phát triển trong tương lai 26

2.1.3 Quá trình phát triển của SMEs 28

2.1.4 Ngành nghề kinh doanh của SMEs 32

2.1.5 Tình hình kinh doanh của SMEs 34

2.1.6 Tình hình tài chính của các SMEs 39

2.2 Thực trạng chính sách tiếp cận vốn đối với SMEs Hàn Quốc 40

2.2.1 Ưu đãi tín dụng 41

2.2.2 Bảo lãnh tín dụng 43

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2.3 Ưu đãi về thuế 44

2.3 Đánh giá về tác động của chính sách tiếp cận vốn đối với các SMEs ở Hàn Quốc 45

2.3.1 Những thành quả đạt được 45

2.3.2 Một số hạn chế 47

CHƯƠNG III CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC 49

3.1 Những nét tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Hàn Quốc 49

3.1.1 Về điều kiện tự nhiên, dân số 49

3.1.2 Về chính trị, văn hóa, xã hội 51

3.1.3 Về kinh tế 52

3.2 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 55

3.2.1 Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 56 3.2.2 Thực trạng năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam 59

3.2.3 Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay 65

3.3 Một số đề xuất về chính sách tiếp cận vốn cho DNNVV ở Việt Nam từ bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc 68

3.3.1 Các giải pháp từ phía doanh nghiệp 69

3.3.2 Các giải pháp về phía ngân hàng 70

3.3.3 Giải pháp từ phía nhà nước 72

KẾT LUẬN 76

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

NT Tân Đài Tệ( đơn vị tiền tệ Đài Loan)

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

SBA Quản trị doanh nghiệp nhỏ

SME Doanh nghiệp nhỏ và vừa

VDB Ngân hàng phát triển Việt Nam

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

I BẢNG

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn xác định SMEs ở Đài Loan qua các thời kỳ 10

Bảng 1.2 Đóng góp của SMEs vào nền kinh tế các nước năm 2005 15

Bảng 2.1 Những mặt hàng xản xuất chủ yếu của Hàn Quốc 26

Bảng 2.2 Bảng xếp hạng các nền kinh tế theo GDP 2004 – 2020 28

Bảng 2.3 SMEs trong lĩnh vực sản xuất ở Hàn Quốc năm 1952-2004(%) 29

Bảng 2.4 Xuất khẩu Hàn Quốc theo ngành (triệu USD) 30

Bảng 2.5 Tổng số công ty , việc làm tại Hàn Quốc và tỉ lệ SME tương ứng 31

Bảng 2.6 Số lượng công ty SMEs và lao động theo ngành công nghiệp 33

Bảng 2.7 Đóng góp của doanh nghiệp lớn và SMEs vào phát triển kinh tế (ngành sản xuất) 35

Bảng 2.8 Đầu tư nước ngoài của tất cả các công ty và SMEs ở Hàn Quốc 38

Bảng 2.9 Một số chỉ số tài chính của SMEs trong giai đoạn 2010-2014 (%) 40

Bảng 2.10 Nguồn hỗ trợ tài chính cho SMEs 42

Bảng 3.1 So sánh một vài chỉ tiêu kinh tế cơ bản giữa Việt Nam hiện nay và Hàn Quốc 1980 52

II HÌNH Hình 1.1 Tỷ lệ khởi nghiệp và phá sản của các SMEs ở Nhật Bản 14

Hình 1.2 Tỉ lệ tạo ra việc làm bởi SMEs tại các nhóm nước khác nhau(%) 16

Hình 2.1 So sánh GDP PP ở 6 nước năm 2010(USD) 24

Hình 2.2 5 sản phẩm công nghiệp chủ đạo của Hàn Quốc 27

Hình 2.3 Vốn vay ngân hàng đối với công ty lớn và SMEs (% trong GDP) 41

Hình 2.4 Tỉ lệ vốn vay công giữa một số nước OECD (%) 47

Hình 3.1 Tình hình tăng trưởng, đầu tư, lạm phát và thất nghiệp của Việt Nam 55

Hình 3.2 Độ tuổi của chủ doanh nghiệp (tính theo%) 60

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt được sự tăng trưởng ổn định trong thời gian qua Theo số liệu do Tổng Cục Thống kê công bố, năm 2014 là năm đầu tiên trong kế hoạch 5 năm (2011-2015) kể từ 2011 đến nay, tăng trưởng kinh tế không chỉ về đích mà còn vượt kế hoạch (so với kế hoạch chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 5,8% mà Quốc hội đưa ra thì năm 2014 đạt 5,98%) Đóng góp cho sự phát triển của đất nước không thế không kể đến vai trò quan trọng đang ngày được khẳng định của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, những đối tượng đã đem lại sự năng động đổi mới và tính hiệu quả cho nền kinh tế Không dừng lại ở đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn có ý nghĩa rất lớn

về mặt xã hội khi góp phần tạo ra công ăn việc làm và góp phần nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng của đất nước

Sự tồn tại và phát triển của các SMEs hơn nữa còn đóng vai trò quan trọng trong

quá tình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nền kinh tế nước nhà

Nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm hỗ trợ toàn diện cho khối doanh nghiệp này như hỗ trợ vầ tài chính, hỗ trợ về mặt bằng sản xuất, hỗ trợ về tiếp cận thị trường, công nghệ, hỗ trợ về nhân lực và quản lý doanh nghiệp Chính nhờ những chủ trương chính sách đúng đắn đó mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã được hoạt động trong môi trường thuận lợi và bước đầu đạt những thành quả nhất định Tuy nhiên kết quả đó vẫn chưa xứng với vị trí và vai trọng của các doanh nghiệp này Phần lớn các doanh nghiệp này còn non trẻ, năng lực còn hạn chế Đặc biệt trong thời kì hội nhập kinh tế sâu rộng như ngày nay, bên cạnh những cơ hội mới mà tự do hóa thương mại mang lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam còn gặp không ít những trở ngại và khó khăn Tất cả những nhân tố này đòi hỏi chúng ta, cả phía doanh nghiệp và Nhà nước cần cùng nhau hỗ trợ để phát triển, gia tăng số lượng và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp này

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Là một nước có nền kinh tế công nghiệp mới, Hàn Quốc luôn chú trọng đến phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa và hiện quá trình này đang diễn ra rất thành công Khối doanh nghiệp này đang dần khẳng định được vị trí vai trò của mình trong nền kinh tế Đại Hàn Dân Quốc

Xuất phát từ ý nghĩa đó, người viết chọn đề tài “Chính sách tiếp cận vốn

đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình với hy vọng cùng các công trình

nghiên cứu chung góp phần xây dựng các giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu

Nhận thấy được tầm quan trọng ngày càng gia tăng của các SMEs đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, vì vậy nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước tiến hành việc tìm hiểu, phân tích, đưa ra giải pháp cho vấn đề tiếp cận vốn đối với các doanh nghiệp này

Ở trong nước: Bài viết “Tạo lợi thế phát triển và cạnh tranh cho DNNVV” của tác giả Nguyễn Thế Bính trên tạp chí Bền Vững số 12(22) năm 2013 đã khẳng định rằng việc phát triển có hệ thống các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hết sức cần thiết nhằm phát huy mọi nguồn lực để phát triển Tuy nhiên do những biến động kinh tế và sự cạnh tranh khốc liệt từ các loại hình kinh tế khác mà các doanh nghiệp này gặp không ít trở ngại Thông qua phân tích những kinh nghiệm từ các chính sách hỗ trợ phát triển ở các nước Nhật, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Mỹ, bài viết từ đó đưa ra những bài học cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam

Bên cạnh đó còn có một số bài tiêu biểu khác như “Một số giải pháp hỗ trợ

doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển trong nền kinh tế hiện nay” của tác giả Thạc sĩ

Tô Thị Thùy Trang ( năm 2013) Trong bài nghiên cứu này tác giả phân tích những khó khăn các SMEs gặp phải như cơ sở hạ tầng còn hạn chế, trình độ khoa học công nghệ thông tin còn hạn chế… để đưa ra các giải pháp thích hợp Hay bài viết

“Thách thức, ưu thế và một số giải pháp cơ bản để DNNVV tại Việt Nam phát triển” của tác giả PGS.TS Đoàn Thanh Hà, Th.s Mai Hữu Ước trong Kỷ yếu

hội thảo“ Hỗ trợ DNNVV vượt qua khủng hoảng”, ngày 16/06/2013 cũng nêu ra

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

những khó khăn mà các SMEs trong nước gặp phải, đồng thời phân tích các ưu thế phát triển để đưa ra những giải pháp khả thi phát triển SMEs

Ở nước ngoài, có bài báo “Korea-ICC SME Development Trust Fund” của

Inter-American Investment Coporation năm 2010 Bài báo này viết về quỹ phát triển của chính phủ Hàn Quốc nhằm thu hút đầu tư hỗ trợ về vốn cho các SMEs tại nước này Hơn nữa các hoạt động của quỹ Trust Fund này còn trợ giúp có một số nước Mỹ Latin và vùng Carribe

Bài viết này còn tham khảo một số bài nghiên cứu, tổng kết của các quốc gia

phát triển như Mỹ với “2014 Summary- State of SME finance in the USA” hoặc bài

“ It’s the SMEs, Stupid- Lessons from America” của tác giả Lucy Hatton, như Nhật

với “The Role of Small and Medium Enterprises in Japan” của Shimizu năm 2010

nhằm tìm ra được cái nhìn tổng quát nhất về các vấn đề mà các SMEs đang gặp phải hiện nay

Đây đều là những quốc gia phát triển, đặc biệt là Hàn Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, do vậy, việc tìm hiểu các chính sách tiếp cận vốn của Hàn Quốc chắc chắn đem lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho công cuộc

phát triển SMEs ở Việt Nam

3 Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận

- Nghiên cứu những lý luận cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, vai trò của những doanh nghiệp này trong nền kinh tế, cũng như những khó khăn thách thức

mà đối tượng doanh nghiệp này gặp phải

- Đi sâu tìm hiểu một số chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn danh cho các SME ở Hàn Quốc, từ đó có thể rút ra một số bài học áp dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam

- Phân tích những kết quả đạt được, cũng như mặt hạn chế trong hoạt động tiếp cận vốn của các SME Việt Nam trong thời gian qua, cũng như phân tích một số nguyên nhân dẫn đến kết quả, hạn chế trên Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế, loại bỏ những nguyên nhân chủ yếu trên và đề xuất một số biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn cho các SMEs tại Việt Nam

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: DNNVV, các chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho DNNVV

- Phạm vi nghiên cứu: DNNVV và chính sách tiếp cận vốn của DNNVV ở Việt Nam và Hàn Quốc, thời gian từ năm 2006-2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp sau đây, cụ thể là:

- Tổng hợp lý thuyết đã có về doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách tiếp cận vốn

- Phương pháp đối chiếu so sánh, phân tích đối chiếu số liệu thu được để cho thấy sự khác biệt giữa Việt Nam và Hàn Quốc; và sự thay đổi số liệu qua các năm

- Quan sát thực tế, mô tả thống kê và phân tích định tính tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam và Hàn Quốc trong những năm gần đây

6 Bố cục của khóa luận

Tương ứng với mục tiêu nghiên cứu đã xác định, khóa luận có kết cấu gồm

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

VÀ CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN 1.1 Tổng quan chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs)

1.1.1 Khái niệm SMEs

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) là một bộ phận cấu thành không thể thiếu được của nền kinh tế Việc tìm hiểu khái niệm về loại hình doanh nghiệp này vốn tự thân nó đã rất cần thiết, và càng trở nên quan trọng hơn do có những điểm không giống nhau về SMEs giữa các nước Khác nhau chính là mỗi nước lại có những tiêu chuẩn, quy định riêng để xếp loại, đánh giá loại hình doanh nghiệp này

Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới có thống nhất một số điểm chung như sau:

“SME là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh

vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn , lao động, doanh thu, giá trị giá tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia”

Tại Việt Nam, hiện nay chưa thấy có điều luật nào quy định thế nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ rõ ràng và cụ thể, chỉ thấy trong thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được nhận dạng như sau:

“Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, bao gồm cả chi nhánh đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc dưới toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng)”

1.1.2 Tiêu chuẩn về SMEs

Khi nghiên cứu về SMEs, vấn đề quan trọng đặt ra là có những tiêu chuẩn nào để xác định một doanh nghiệp là SME, bởi vì chỉ khi nắm rõ được các tiêu chuẩn của từng nước thì mới có thể hiểu và phân tích kết quả hoạt động của các SMEs từ đó đánh giá tình hình, chất lượng hoạch định và các chính sách thực hiện đối với SMEs

1.1.2.1 Các tiêu chuẩn xác định SMEs

Nhìn chung trên thế giới căn cứ để phân loại một doanh nghiệp là SME dựa trên những tiêu chí sau:

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Tổng vốn ( hoặc tổng giá trị tài sản)

Việc sử dụng các tiêu thức này trên thế giới có một số đặc điểm sau:

- Những nước khác nhau thì dùng những tiêu thức khác nhau Trong đó khá nhiều nước sử dụng 2 tiêu thức quy mô về vốn và lao động Tiêu thức đầu ra được sửa dụng ít hơn

- Số lượng tiêu thức được dùng để phân loại cũng không giống nhau, có nước dùng một tiêu thức nhưng cũng có nước dùng hai hay nhiều tiêu thức phân loại

- Lượng hóa các tiêu thức này thành các giới hạn cụ thể ở các nước khác nhau là khác nhau Độ lớn cụ thể của mỗi tiêu thức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, trình độ phát triển, quy mô vốn và lao động của từng quốc gia

Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động

từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống, còn doanh nghiệp vừa có

từ 200 đến 300 lao động và nguồn vốn 20 đến 100 tỷ

Bộ luật cơ bản về SMEs của Hàn Quốc (1966) quy định về SMEs như sau

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một doanh nghiệp sử dụng dưới 300 nhân

công hoặc có tổng số vốn góp không quá 8 tỷ won”

Cụ thể đối với từng ngành nghề:

- Ngành sản xuất công nghiệp, SMEs là những doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người hoặc tổng số vốn không quá 8 tỷ won

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Ngành khai thác, xây dựng và vận tải là dưới 300 lao động và tổng vốn không quá 3 tỷ won

- Ngành ngư nghiệp, y tế và sản xuất phim là ít hơn 200 người và doanh thu hằng năm không quá 20 tỷ won

- Ngành nông, lâm nghiệp thì SMEs là doanh nghiệp có số nhân công dưới

50 người và số doanh thu đạt đươc dưới 5 tỷ won

- Ngành dịch vụ cụ thể như sau:

 dưới 300 công nhân hoặc có doanh thu dưới 25 tỷ won đối với ngành viễn thông, xử lý thông tin và truyền hình

 dưới 200 nhân công hoặc dưới 20 tỷ won doanh thu đối với những dịch

vụ liên quan đến khoa học- công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp, bán hàng door-to door…

 dưới 300 công nhân hoặc dưới 3 tỷ won doanh thu đối với dịch vụ bán lẻ

và kinh doanh khách sạn

 dưới 100 công nhân và doanh thu không quá 10 tỷ won đối với dịch vụ bán buôn

Tuy nhiên cũng có một số trường hợp ngoại lệ, một số ngành thì các SMEs

có thể có số lao động lên tới 1000 người

- Ngành sản xuất linh kiện điện tử, ô tô : số nhân công có thể lên tới 1000 người

- Ngành khai khoáng, may, sản xuất săm lốp, đúc, sản xuất xe đạp, kính đeo,

đồ chơi : tới 700 người

- Ngành đồ hộp, dệt nhựa, in, cao su, thủy tinh, bóng đèn, đồng hồ đeo tay, nhạc cụ : số lao động có thể lên tới 500 người

Theo Liên minh châu Âu thì SME là doanh nghiệp có dưới 250 lao động, doanh số không quá 40.000 ECU hoặc tổng số vốn hằng năm không quá 27triệu ECU, có cổ phần không quá 25% ở một xí nghiệp lớn

Còn ở Việt Nam, theo Nghị đinh 6/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định về doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” Cụ thể:

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

nguồn vốn Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

Nông, lâm nghiệp, thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

300 người

Công nghiệp và xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

300 người

Thương mại và dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

Từ trên 10 người đến

100 người

Ngoài những tiêu chí mang tính định lượng kể trên, một số quốc gia còn sử dụng nhóm yếu tố định tính như trình độ chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý

ít, mức độ phức tạp của quản lý chưa cao… Lấy ví dụ như ở Mỹ, bên cạnh tiêu chí

về số lao động thường xuyên, mức độ độc lập trong kinh doanh của doanh nghiệp đối với các tập đoàn lớn cũng được quan tâm.Chỉ những doanh nghiệp độc lập nhỏ

và vừa mới được coi là SMEs, còn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa nhưng là thành viên của tập đoàn lớn thì không được xếp vào loại này và sẽ không được hưởng những ưu đãi của nhà nước dành cho loại này

1.1.2.2 Các yếu tố tác động đến việc xác định tiêu chuẩn phân loại SMEs

- Trình độ phát triển kinh tế xã hội của từng nước

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Thường những nước có trình độ phát triển kinh tế cao thì sẽ có giới hạn về quy mô của các tiêu chuẩn lớn hơn so với các nước có trình độ phát triển thấp hơn Điều này có nghĩa là mặc dù cùng sử dụng tiêu thức phân loại là số lao động hay tổng nguồn vốn nhưng ở nước có trình độ phát triển cao, giới hạn cụ thể của các tiêu thức này thường lại cao hơn so với ở các nước phát triển thấp hơn

Ví dụ như ở Mỹ, Australia và Canada, SMEs là các doanh nghiệp có số lao động dưới 500 người Trong khi đó ở Philipines và Indonesia, các SMEs chỉ có không quá 200 người, nếu số lao động lớn hơn mức này doanh nghiệp sẽ được coi

là doanh nghiệp lớn Hay ở Nhật Bản doanh nghiệp sản xuất có vốn dưới 1 triệu USD và số lao động dưới 300 người được coi là SME, còn ở các nước chậm phát triển như Việt Nam hay Lào thì đó lại là doanh nghiệp lớn

- Giai đoạn phát triển của nền kinh tế Các tiêu chí phân loại này còn được thay đổi theo thời gian sao cho phù hợp với sự phát triển của từng thời kỳ ở mỗi nước Khi nền kinh tế tăng trưởng phát triển, quy mô của doanh nghiệp được mở rộng thì giới hạn tiêu chuẩn sẽ được điều chỉnh lại Hoặc khi nền kinh tế suy thoái, doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả thì các tiêu chuẩn để phân loại cũng sẽ thay đổi tỷ lệ với tốc độ tăng trưởng quy mô của doanh nghiệp Điều này có thể thấy ở Đài Loan, trong vòng chưa đầy 40 năm đã có nhiều lần thay đổi quy mô giới hạn và các tiêu thức xác định SMEs

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn xác định SMEs ở Đài Loan qua các thời kỳ

Tổng vốn, Tổng giá trị tài sản, Doanh thu ( triệu NT$)

Số lao động thường xuyên (triệu người)

Ngành

Thời kì

Sản xuất công nghiệp và

xây dựng Khai khoáng

Thương mại, vận tải, dịch

1977

- Vốn góp: <20

- Tổng giá trị tài sản:<60

- Số lao động thường xuyên: <=300

- Vốn góp:<20

- Số lao động thường xuyên:

<=500

- Doanh thu: <20

- Số lao động thường xuyên:<50

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

- Ngành nghề của các doanh nghiệp

Do mỗi ngành nghề có những đặc trưng tính chất riêng nên việc phân biệt quy mô cho từng tiêu thức ở mỗi ngành nghề cũng khác nhau Chẳng hạn như ở Nhật Bản trong ngành chế tạo có từ 1-300 lao động và số vốn kinh doanh không vượt quá 300 triệu yên, còn các SMEs trong ngành dịch vụ thì có số lao động không vượt quá 100 người và số vốn kinh doanh không vượt quá 100 triệu yên

1.1.3 Đặc điểm của SMEs

1.1.3.1 Ưu thế của SMEs

- Được thành lập đơn giản, với chi phí cố định thấp

Để thành lập một SME chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô sản xuất không lớn Hơn nữa, trong khi nhiều doanh nghiệp khác gặp khá nhiều khó khăn trong việc tạo nguồn vốn kinh doanh, thì các SMEs do

có tốc độ quay vòng vốn nhanh nên dễ dàng huy động vốn từ những nguồn không chính thức như người thân, bạn bè Do vậy có thể nhanh chóng biến ý tưởng kinh doanh thành hiện thực

- Tính linh hoạt cao, nhạy bén với môi trường kinh doanh

Do hoạt động với quy mô nhỏ nên hầu hết các SMEs đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi của môi trường Cơ sở vật chất không lớn giúp cho các SMEs dễ dàng chuyển đổi sản xuất hay điều chỉnh quy mô cũng như có những thay đổi cần thiết khi có sự biến động đột ngột của các thể chế, chính sách quản lý kinh tế- xã hội, hay các dao động trên thị trường Trên phương diện thương mại, nhờ có tính linh hoạt cao và có sự tiếp cận “gần” với thị trường tiêu thụ nên các SMEs có nhiều lợi thế trong việc nắm bắt kịp thời nhu cầu và thị hiếu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng, đặc biệt họ có thể dễ dàng tìm kiếm thị trường ngách và gia nhập thị trường này khi hoạt động kinh doanh trở nên khó khăn, kém hiệu quả

- Phát huy các nguồn lực sẵn có Các SMEs thành công một phần nhờ vào việc nắm bắt được lợi thế về tài nguyên và lao động Đối với các doanh nghiệp lớn, việc sử dụng các nguồn lực sẵn

có tại địa phương thường gặp khó khăn do trữ lượng thấp, không thể đảm bảo cho

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

sản xuất lớn Ngược lại, các SMEs với lợi thế quy mô nhỏ, được phân tán ở hầu hết khắp các địa phương, vùng lãnh thổ nên có khả năng tận dụng được nguồn lao động, tận dụng tài nguyên và tư liệu sẵn có ở địa phương, nơi có trữ lượng hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất quy mô lớn Hơn nữa, quan hệ lao động trong một doanh nghiệp SME thường có tính thân thiện, gần gũi hơn so với doanh nghiệp lớn Người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên và khuyến khích hơn trong công việc Nhờ vậy mà mối quan hệ giữa công nhân và chủ doanh nghiệp cũng gần gũi và mang tính tương trợ cao hơn Đặc biệt, khi doanh nghiệp gặp khó khăn, mọi người đều sẵn sàng nỗ lực hết mình để phần nào hỗ trợ doanh nghiệp Đây rõ ràng là một mối quan hệ rất đáng quý đối với bất kì doanh nghiệp nào

1.1.3.2 Hạn chế của SMEs

- Hạn chế về mặt tài chính Tuy có ưu thế là tạo lập dễ dàng với lượng vốn ban đầu ít nhưng SME gặp phải hạn chế là năng lực tài chính thấp, điều này dẫn đến nguồn vốn tín dụng cho các doanh nghiệp này hạn hẹp Khả năng tích lũy thấp, thậm chí không có khả năng tích lũy nên nguồn vốn bổ sung cho đầu tư sản xuất kinh doanh rất ít, nhiều doanh nghiệp phải tìm đến con đường liên doanh, điều này dẫn đến một số bất lợi cho SMEs trong sản xuất kinh doanh Hơn nữa,vốn chủ sở hữu ít nên khả năng vay vốn của các SMEs cũng rất hạn chế Các SMEs thường thiếu tài sản thế chấp để vay ở các ngân hàng Theo số liệu cho thấy trong năm 2014 chỉ có 30% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với nguồn vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải tiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ nguồn vốn khác với chi phí rất cao

Việc gặp khó khăn trong vấn đề tài chính và nguồn nhân lực cũng là một rào cản đối với các SME khi có bất kì một ý tưởng lớn nào đòi hỏi chi phí cao, công nghệ tiên tiến nên không thế biến ý tưởng đó thành hiện thực Các SMEs thường không có đủ tiềm lực để thực hiện những dự án lớn về đầu tư, chuyển đổi cơ cấu, tiếp thị hay đào tạo, do vậy thường gặp khó khăn khi muốn mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh

- Hạn chế về trình độ quản lý và tay nghề của người lao động

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Khi một người hay một nhóm người đứng ra thành lập công ty, họ vừa là người quản lý vừa trực tiếp tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh nên mức độ chuyên môn trong quản lý là không cao

Các SMEs còn gặp khó khăn trong việc thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao, đội ngũ quản lý có năng lực giỏi cho quá trình sản xuất-kinh doanh của mình Cơ hội cạnh tranh của các doanh nghiệp này trong việc thu hút nguồn nhân lực giỏi, có trình độ gặp nhiều khó khăn Mặc dù phải trả lương và có chính sách đãi ngộ cao hơn so với các công ty lớn, đã tạo được thương hiệu từ lâu nhưng cán bộ kỹ thuật giỏi vẫn muốn làm cho các văn phòng hay các công ty ở trong nước và ngoài nước

Vì dễ khởi nghiệp nên cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh: Do quy

mô nhỏ, các SMEs thường không có mạng lưới phân phối và kinh doanh rộng khắp như các doanh nghiệp lớn, cũng khó có được những chiến dịch quảng cáo lớn nhằm thu hút người tiêu dùng Việc cạnh tranh trên thị trường vì thế gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt những doanh nghiệp này không có nhiều vốn và trường vốn không lớn bằng các doanh nghiệp lớn nên dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của nền kinh tế SMEs cũng không có mạng lưới phân phối rộng khắp như các doanh nghiệp lớn nên trên thị trường họ thường yếu thế hơn những doanh nhiệp này

Ngoài những hạn chế nêu trên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn có một số hạn chế như cơ sở vật chất kém, trình độ khoa học công nghệ thông tin còn hạn chế, khả năng tiếp cận với thông tin còn hạn chế

Do gặp nhiều khó khăn như vậy nên khi có biến động trên thị trường, các SMEs dễ đối mặt với nguy cơ phá sản Ví dụ, ở Mỹ, trung bình một năm có trên một triệu người bước vào kinh doanh Sau năm đầu tiên, ít nhất 40% trong số đó phá sản Trong vòng 5 năm, hơn 80% số đó sẽ phá sản Ở Trung Quốc, tỷ lệ SMEs đối mặt với phá sản năm 2014 là 15,8%, tăng 0,3 % so với năm 2013, và tỷ lệ thua

lỗ tài chính cũng lên đến mức 22,3% Còn ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, mỗi năm cả nước có hơn 670 ngàn doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập mới Trong đó có tới gần 202 ngàn doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động Năm 2015, tuy tình hình có cải thiện hơn nhưng nền kinh tế đang đối diện với một

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

số thách thức như nguy cơ tái lạm phát cao, kèm theo sự trì trệ của thị trường sẽ làm cho thị trường khó khăn thêm

Hình 1.1 Tỷ lệ khởi nghiệp và phá sản của các SMEs ở Nhật Bản

Đơn vị: %

0 1 2 3 4 5 6 7

tỷ lệ khời nghiệp

tỷ lệ phá sản

Nguồn : Hồ sơ về SMEs của các nước thành viên APEC, 2006

Quá trình hình thành và phát triển SMEs vì vậy rất cần sự hướng dẫn, điều chỉnh và hỗ trợ từ phía Nhà nước và các cơ quan chức năng

1.1.4 Vai trò của SMEs trong nền kinh tế

Ở mọi quốc gia, trong khi doanh nghiệp lớn tạo nên bộ mặt và tên tuổi, tầm vóc quốc gia, thì SMEs chiếm tỷ trọng chính trong việc tạo tổng thu nhập cũng như nguồn cung lao động Quá trình hình thành và phát triển SMEs tại nhiều nước trên thế giới đã khiến cho Chính phủ và các nhà kinh tế nhận thức được đầy đủ vai trò quan trọng của SMEs trong nền kinh tế

1.1.4.1 SME đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế

Tại hầu hết các nước trên thế giới, SMEs chiếm ưu thế vượt trội về số lượng (90-99%) trong tổng số các loại hình doanh nghiệp Cụ thể, ở Nhật Bản là 99,1%; Singapore 90%; Thái Lan, Malaysia, Indonesia 95-98%; các nước Tây Âu 99%; và

ở các nước thành viên của APEC là 98% Theo thống kê của tổ chức tài chính quốc

tế IFC (the International Finance Corporation), khu vực Đông Á - Thái Bình Dương

có khoảng gần 12,5 triệu SMEs, là khu vực có nhiều công ty SMEs nhất trên thế giới, tiếp đến là Châu Âu và Trung Á; Mỹ Latin và Caribe; Tiểu vùng Sahara ở Châu phi có số lượng SMEs từ 3-4 triệu, còn 2 khu vực Trung Đông và Bắc Phi;

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Nam Á có hơn 2 triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa Tính trung bình cứ 1000 người sẽ

có 5 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên tổng số 132 nền kinh tế được khảo sát

Với tỷ lệ tuyệt đối về số lượng cộng thêm sự nhạy bén và năng động trong kinh doanh, các SMEs đã đóng góp không nhỏ vào kết quả hoạt động của nền kinh

tế, tạo nên sự tăng trưởng và phát triển kinh tế không ngừng.Ở Mỹ hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp hơn một nửa GDP của toàn bộ nền kinh tế (khoảng 51% theo Cục Quản lý doanh nghiệp nhỏ SBA) Ở Đức là 53%, ở Indonesia là 38,9%, ở Phillipine là 28% và ở Malaysia là 50,5% Tại Trung Quốc các doanh nghiệp SMEs đóng góp 58,5% vào GDP và 99% vào tổng doanh thu của nền kinh tế

Bảng 1.2 Đóng góp của SMEs vào nền kinh tế các nước năm 2005

Đức Nhật Bản Hàn Quốc Anh

Tỷ trọng lao động SMEs trong ngành công nghiệp (%) 44,9 69,1 86,8 54,7

Tỷ trọng về số lượng các SMEs trong ngành công nghiệp (%) 97,8 98,6 99,8 97,7

Tỷ trọng đóng góp của SMEs vào sản lượng ngành công nghiệp (%) 30,1 47,3 - 40,5

Tỷ trọng đóng góp của SMEs vào giá trị giá tăng của ngành công nghiệp (%)

Nguồn: OECD(2010), SMEs and Tầm nhìn doanh nghiệp

1.1.4.2 Góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống xã hội

Tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với việc giải quyết một số vấn đề của xã hội, trong đó bài toán thất nghiệp cũng được xử lý phần nào Mặc dù hoạt động theo quy mô nhỏ nhưng với số lượng lớn trong nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là nguồn cung chủ yếu tạo ra việc làm

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hình 1.2 Tỉ lệ tạo ra việc làm bởi SMEs tại các nhóm nước khác nhau

Đơn vị: %

0 10 20 30 40 50 60 70

nước thu nhập thấp

nước thu nhập TB

nước thu nhập cao

việc làm

Nguồn: (OECD), Báo cáo tình hình phát triển SME(2013)

Từ hình trên có thể thấy, tại các nước có thu nhập cao thì tỉ lệ tạo ra việc làm bởi các SMEs chiếm tỉ lệ lớn nhất( gần 70%) trong khi đó các nước có thu nhập thấp lại lại là nước có tỉ lệ việc làm được tạo ra bởi các SMEs là thấp nhất (30%)

Nhìn chung ở các nước số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm trên 90% nên số lượng việc làm doanh nghiệp này tạo ra cũng không phải là con số nhỏ, chiếm gần 2/3 lực lượng lao động xã hội Cụ thể ở Nhật bản hiện nay, khu vực SMEs tạo ra việc làm thường xuyên cho gần 30 triệu người, tương đường 71% số lượng lao động của cả nước Ơ Malaysia tỷ lệ này là 65,1%, Thủy Điển là 60%, Hungary là 66%, Trung Quốc là 75% và ở Canada là 55,8%, trong đó các doanh nghiệp vừa thu hút 15,8%, còn các doanh nghiệp nhỏ thu hút tới 40,0%

1.1.4.3 Góp phần giúp nền kinh tế phát triển năng động, linh hoạt và hiệu quả hơn

Sự ra đời của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng lên nhanh chóng.Việc có mặt của SMEs trong tất cả các ngành lĩnh vực cũng làm cho số lượng các loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường tăng nhanh Nền kinh tế vì thế trở nên cạnh tranh hơn, buộc tất cả các loại hình doanh nghiệp muốn hoạt động và phát triển được thì phải liên tục đổi mới, nâng cao năng suất và chất lượng lao động Hơn nữa với quy mô nhỏ và vừa, các SMEs còn

có khả năng thay đổi mặt hàng kinh doanh, công nghệ, và chuyển hướng từ những

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nghề kinh doanh kém hiệu quả sang những nghề hiệu quả hơn Điều này không những làm tăng sự đa dạng của chủng loại hàng hóa, dịch vụ, phục vụ nhu cầu người tiêu dùng mà còn gia tăng tính linh hoạt và giảm bớt rủi ro trong nền kinh tế

1.1.4.4 Góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế

Nền kinh tế thị trường phát triển kéo theo một số ảnh hưởng tiêu cực như sự phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sự phát triển không cấn đối giữa các khu vực ở một quốc gia Tuy nhiên thông qua tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tất cả các khía cạnh: thành phần kinh tế, ngành kinh tế, vùng kinh tế, SMEs đang chứng tỏ là lực lượng chính đã và đang có vai trò tích cực trong việc xóa đi sự mất cân bằng này

Cơ cấu thành phần kinh tế thay đổi: các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh tăng nhanh cả số lượng và chất lượng; các doanh nghiệp Nhà nước được sắp xếp và củng

cố lại, kinh doanh có hiệu quả hơn, cho phép phát huy cao nhất vao trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế

Cơ cấu ngành thay đổi: các SMEs phát triển kéo theo sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề Bên cạnh các hoạt động thầu phụ và gia công sản phẩm cho các ngành công nghệ cao, SMEs còn tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ, phát triển hàng tiêu dùng, khôi phục và phát triển thêm nhiều ngành nghề truyền thống

Cơ cấu vùng kinh tế thay đổi: sự phát triển của SMEs góp phần vào việc tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng Nó giúp cho vùng sâu, vùng xa, các vùng nông thôn có thể khai thác được tiềm năng của vùng, của địa phương để phát triển các ngành sản xuất, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu theo vùng, lãnh thổ

1.1.4.5 Tối ưu hóa các nguồn lực trong xã hội

Về tài chính: các SMEs có thể được thành lập mà không cần quá nhiều vốn Điều này tạo điều kiện cho đông đảo mọi người trong xã hội có thể tham gia khi có

ý tưởng và một nguồn vốn nhất định Mặt khác, trong quá trình hoạt động, SMEs có thể huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng, bạn bè thân thiết Chính vì vậy, SMEs được coi là phương tiện có hiệu quả trong việc huy động và sử dụng các khoản tiền nhàn rỗi trong dân và biến nó thành các khoản đầu tư

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Về lao động: tỷ lệ các công ty SMEs trong nền kinh tế rất lớn nên lượng lao động tham gia vào loại hình doanh nghiệp này cũng không phải con số nhỏ Nguồn lao động trong SMEs chiếm từ 60-80% trong tổng số lao động của nền kinh tế

1.2 Vai trò và đặc điểm về vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.2.1 Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp

Nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là tổng của số tiền doanh nghiệp hiện có, số tiền nhàn rỗi nằm phân tán, rải rác trong các tầng lớp dân

cư hoặc từ các doanh nghiệp hay các tổ chức tài chính khác tập trung lại thành nguồn tài chính to lớn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp

Vì vậy, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng trong mỗi DNNVV Nó là cơ sở,

là tiền đề cho một doanh nghiệp bắt đầu khởi sự kinh doanh Muốn đăng ký kinh doanh, theo quy định của nhà nước, bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải có đủ số vốn pháp định theo từng ngành nghề kinh doanh của mình (vốn ở đây không chỉ gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, mà nó còn là các tài sản thuộc sở hữu của các chủ doanh nghiệp) Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thuê nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, thuê lao động tất cả những điều kiện cần có để một doanh nghiệp có thể tiến hành và duy trì những hoạt động cuả mình nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra

Không chỉ có vậy, trong quá trình hoạt động kinh doanh của các DNNVV, vốn là điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động cũng như tổ chức bộ máy quản lý đầy đủ các chức năng

Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp này trên thị trường

Do vậy, để tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, các DNNVV rất cần có vốn để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới trang thiết bị, mở rộng nhà xưởng.Tình trạng thiếu vốn đang là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của các DNNVV không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều nước khác trên thế giới Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện cả nước có khoảng hơn 500.000

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động thực

tế với tổng số vốn đăng ký khoảng 121 tỷ USD, chiếm 30% tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp Hàng năm các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp khoảng 40% GDP; 30% thu nộp ngân sách nhà nước, 33% giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu và thu hút 51% lao động Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 30% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được với nguồn vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải tiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ nguồn vốn khác với chi phí rất cao

1.2.2 Đặc điểm của vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Sự tham gia của vốn trong DNVV không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng bị chia cắt , mà trong mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng

Vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là số tiền ứng trước cho hoạt động sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp Muốn có được nguồn vốn, các doanh nghiệp phải chủ động khai thác, thu hút vốn trên thị trường Các DNNVV thường huy động nguồn vốn ban đầu từ quan hệ thân thiết, bạn bè Điều này là lý do các doanh nghiệp này dễ có được một nguồn vốn nhất định khi thành lập, nhưng lại gây khó khăn cho sự phát triển lâu dài khi cần nguồn vốn lớn hơn

Mục đích vận động của vốn đối với mọi doanh nghiệp là sinh lời Nghĩa là vốn ứng trước cho hoạt động sản xuất-kinh doanh phải thu hồi về sau mỗi chu kỳ sản xuất, tiền vốn thu về lớn hơn số vốn đã bỏ ra

1.3 Chính sách tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho các DNNVV ở đây có thể hiểu là tập hợp các chủ trương và hành động của Chính phủ nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này phát triển và có cơ hội tiếp cận về nguồn vốn bằng các biện pháp như ưu đãi tín dụng, ưu đãi về thuế, hỗ trợ doanh nghiệp huy động vốn trên thị trường chứng khoán…

Như đã đề cập ở trên, số lượng DNNVV hiện nay có thể tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng vẫn còn rất ít, ở nước ta chỉ chiếm 30% Vì vậy sự hỗ trợ về

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

mặt tài chính đối với các DNNVV là vô cùng quan trọng, doanh nghiệp rất cần vốn khi mới thành lập để đầu tư về tài sản, nhân lực; và cũng cần nhiều vốn khi nền kinh

tế lâm vào khó khăn Nhận thấy được những vấn đè này, Chính phủ ở các nước đã đưa ra nhiều chính sách để hỗ trợ về mặt tài chính nhằm khuyến khích các DNNVV tiếp tục thành lập mới, đầu tư, kinh doanh và phát triển Một số biện pháp phổ biến

- Quy định các ngân hàng thương mại phải duy trì tỷ lệ cho vay bắt buộc tối thiểu đối với DNNVV;

- Có cơ chế hỗ trợ khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng cung ứng tín dụng cho DNNVV;

- Khuyến khích các ngân hàng thương mại áp dụng hình thức đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp để tăng cường khả năng cho vay tín chấp đối với các DNNVV;

- Thành lập các ngân hàng chính sách cung cấp tín dụng riêng cho các DNNVV

1.3.2 Chính sách bảo lãnh vốn

Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh)

sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa

vụ Những tổ chức này sẽ đứng ra bảo lãnh cho các khoản vay còn thiếu thế chấp và đồng thời trả nợ thay cho những doanh nghiệp chưa có khả năng trả nợ

Ở Việt Nam hiện nay, để được bảo lãnh tín dụng bởi Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), các DNNVV cần đáp ứng một số điều kiện như: có dự án đầu tư

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

phát triển, hoặc phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả, quy mô dự án tối thiểu

là 100 triệu đồng; và DN có tối thiểu 10% vốn chủ sở hữu tham gia dự án/phương

án sản xuất kinh doanh sẽ có thể Mặt khác, DN phải sử dụng 100% giá trị tài sản hình thành từ vốn vay (tối đa 90%) và vốn chủ sở hữu (tối thiểu 10%) để thế chấp bảo đảm bảo lãnh tại VDB.Phía ngân hàng thương mại cho vay vốn sẽ không yêu cầu thế chấp đối với DN vay vốn Thủ tục rất đơn giản, vì VDB sẽ giải quyết theo

mô hình “1 cửa” Khi phát sinh nhu cầu vay vốn có bảo lãnh, DN cần gửi hồ sơ đề nghị bảo lãnh vay vốn đến VDB, hoặc phía các ngân hàng thương mại sẽ gửi hồ sơ đến VDB.Tối đa 20 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ, VDB sẽ tiến hành thẩm định Nếu đủ điều kiện thì VDB sẽ có văn bản chấp thuận bảo lãnh cho DN vay vốn, và nếu không đủ điều kiện thì DN cũng sẽ được thông báo lý do cụ thể Sau đó, ngân hàng thương mại sẽ xem xét và ký hợp đồng tín dụng với DN Tiếp đó, VDB

sẽ ký hợp đồng bảo lãnh vay vốn, hợp đồng bảo đảm bảo lãnh và phát hành chứng thư bảo lãnh để DN vay vốn tại ngân hàng

1.3.3 Chính sách ưu đãi thuế

Ưu đãi thuế (ƯĐT) đối với DNNVV được hiểu là hình thức mà một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một khu vực hành chính thuế dành những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt về thuế cho các doanh nghiệp này hơn so với các doanh nghiệp khác khi họ đáp ứng được những điều kiện nhất định của chính sách ưu đãi ƯĐT tạo ra một lợi thế so sánh về lợi ích thuế cho các DNNVV khi họ đáp ứng được những yêu cầu nhất định so với các doanh nghiệp khác khi cùng tham gia vào các hoạt động đầu tư và kinh doanh Mục tiêu của ƯĐT nhằm thu hút vốn đầu tư, ưu tiên phát triển ngành, vùng, lĩnh vực, khuyến khích xuất khẩu, sử dụng lao động, tạo công ăn việc làm cho người lao động hoặc để giải quyết những khó khăn tạm thời, cấp bách trước mắt về vốn cho doanh nghiệp, khuyến khích phát triển doanh nghiệp…

Một số hình thức ƯĐT đối với các DNNVV bao gồm:

- Sử dụng thuế suất tiêu chuẩn thấp: Thuế suất tiêu chuẩn là mức thuế suất chung theo tỷ lệ % do luật định Thực tế chứng minh rằng, các nước đang phát triển thu hút được tổng số vốn đầu tư nước ngoài cao so với tổng thu nhập quốc dân chủ

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

yếu là các nước có cơ cấu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thấp và sử dụng biện pháp miễn giảm thuế ban đầu

- Thuế suất ưu đãi: Thuế suất ưu đãi là thuế suất thấp hơn thuế suất tiêu chuẩn và thường được áp dụng đối với các ngành, nghề hoặc các khu vực được lựa chọn ưu đãi

- Miễn toàn bộ hoặc một phần thuế phải đóng (hay còn gọi miễn, giảm thuế ban đầu): Đây là hình thức ƯĐT phổ biến nhất Theo đó, Chính phủ cho phép miễn toàn bộ hoặc một phần thuế mà các doanh nghiệp phải nộp theo luật định trong một khoảng thời gian nhất định

- Giảm gánh nặng lỗ: lỗ của doanh nghiệp có thể được phân bổ khấu trừ vào các năm tiếp theo để giảm thu nhập tính thuế - giảm số thuế TNDN mà các DNNVV phải nộp Hình thức này được xem như là hình thức hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp này và có lợi cho những dự án lớn đầu tư vào sản xuất

- Khấu hao nhanh: là hình thức ƯĐT bằng cách cho phép doanh nghiệp được trích khấu hao tài sản cố định vào chi phí sản xuất hợp lý được tính trừ cao hơn mức khấu hao cho phép theo lịch trình thông thường Hiệu quả của biện pháp này là số thuế phải nộp được trì hoãn đẩy lùi về những kỳ nộp thuế sau nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thêm nguồn vốn để đẩy nhanh tốc độ thay thế tài sản vốn

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG II CHÍNH SÁCH TIẾP CẬN VỐN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA Ở HÀN QUỐC 2.1 Tổng quan về nền kinh tế Hàn Quốc và tình hình phát triển SMEs ở Hàn Quốc

2.1.1 Các giai đoạn phát triển của nền kinh tế Hàn Quốc

Kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế phát triển, đứng thứ tư ở châu Á theo GDP năm 2014 Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong những nước giầu nhất

Hàn Quốc là một nước nghèo tài nguyên Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất Châu Á Thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc cuối những năm 50 thấp hơn so với nhiều nước láng giềng ở châu Á Khi ấy, người Hàn Quốc nhìn Phillipine như một mục tiêu hướng tới

Giai đoạn từ năm 1953 đến 1961 là giai đoạn khôi phục sau chiến tranh một cách chậm chạp, mặc dù đã có sự giúp đỡ lớn từ Mỹ Tuy nhiên tình hình thực sự thay đổi khi cả nước thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất vào năm 1962 Ngay sau đó, Hàn Quốc đã trải qua một thời gian thay đổi và phát triển bứt phá một cách thần tốc Bình thường hóa quan hệ năm 1965 với Nhật Bản, tiến hành những cải cách tài chính vào những năm 1960, là căn cứ quân sự cung cấp vật tư cho cuộc chiến tranh Việt Nam của Mỹ và điểm xuất kích thả bom Trung Đông những năm 78,80 đã tạo điều kiện cho nền kinh tế Hàn Quốc cất cánh

Trong những năm 1970 đến 1980, Kinh tế Hàn Quốc tập trung vào ngành công nghiệp nặng và sản xuất ô tô Với sự hỗ trợ của chính phủ, POSCO, một công

ty sản xuất thép, được thành lập trong vòng gần 3 năm, là một xương sống đầu tiên cho nền kinh tế Hàn Quốc trong những năm tiếp theo Năm 1971, Hàn Quốc tự hào trở thành một nước công nghiệp phát triển mới (NICs) Mặc dù xảy ra 2 cuộc khủng hoảng dầu lửa những năm 70 song Hàn Quốc vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cao

và đến cuối thập kỉ 70 đã vượt cả Malaysia, vốn được coi là quốc gia tiên tiến thứ 2 Đông Nam Á

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hình 2.1 So sánh GDP PP ở 6 nước năm 2010 (USD)

Nguồn: Tổ chức thương mại thế giới, 2010

Giữa những năm 80, Hàn Quốc đã vượt qua các quốc gia khác như Mexico, Aghentina, Brazin,Ai Cập, và Phillipine Đến thế vận hội mùa hè năm 1988, người

ta đã biết đến Hàn Quốc với hình ảnh là một trong những quốc gia phát triển có tốc

độ tăng trưởng và mức thu nhập bình quân đầu người cao nhất trên thế giới, gần 10.000$

Hình 2.2 Mức tăng trưởng GDP và GDP PP ở Hàn Quốc (1960-2008)

Đơn vị : USD

Nguồn: Ngân hàng Hàn Quốc,2010

Năm 1995, Hàn Quốc lần đầu bước vào kỷ nguyên 10.000$ với thu nhập bình quân đầu người đạt 11.432$, tăng cao so với mức 4.959$ của năm trước đó Mặc dù vậy, con số này đã tụt giảm mạnh vào năm 1998 chỉ còn 7.355$ do sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính Châu Á Tính đến năm 2008, thu

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nhập bình quân đầu người ở Hàn Quốc là 19,231 USD, trở thành một trong những quốc gia có thu nhập đầu người cao nhất Châu Á

Tuy nhiên bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ cuộc khủng hoảng, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Kim Đại Trọng, người dân Hàn Quốc đã khôi phục lại nền kinh tế một cách nhanh chóng và vững chắc Hiện nay Hàn Quốc là nước đứng thứ

13 trên thế giới và thứ 4 toàn Châu Á Số liệu chính thức do Bộ Thương mại Hàn Quốc vừa công bố cho biết trong năm 2014, xuất khẩu của nước này đã đạt mức cao

kỷ lục, bất chấp kinh tế tăng chậm lại ở Trung Quốc - thị trường chủ chốt của Hàn Quốc - và sự phục hồi chậm chạp tại châu Âu Trong cả năm 2014, kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc đạt 573,1 tỷ USD, tăng 2,4% so với năm trước đó, và nhập khẩu tăng 2,0% lên 525,70 tỷ USD Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc được duy trì bởi các ngành công nghiệp chủ chốt vốn đã được thừa nhận trên phạm vi toàn cầu Hàn Quốc là quốc gia đóng tàu lớn nhất thế giới; hơn nữa, Hàn Quốc còn đứng đầu

về chất bán dẫn và màn hình hiển thị Ngoài ra, Hàn Quốc đứng thứ hai trên thế giới

về điện thoại di động và thứ năm về thép và các ngành công nghiệp

Ngành đóng tàu của Hàn Quốc vẫn giữ vai trò đầu tầu trong lĩnh vực công nghiệp, đứng đầu thế giới về số lượng các đơn đặt hàng mới, các đơn đặt hàng lớn

và số lượng các tàu đóng được Ngành đóng tàu của Hàn Quốc hiện đang chiếm hơn 40% tổng số hàng đơn đặt đóng tàu của thế giới

Là nhà sản xuất ô tô lớn trên thế giới, hàng năm Hàn Quốc sản xuất hơn 3,8 triệu xe Kể từ khi Hàn Quốc bắt đầu xuất khẩu ô tô vào năm 1976, nền công nghiệp

ô tô của Hàn Quốc đã phát triển với tốc độ khác thường Dựa vào việc ô tô Hàn Quốc ngày càng được ưa thích trên khắp thế giới, các hãng ô tô hàng đầu của Hàn Quốc bắt đầu mở rộng các cơ sở sản xuất ra những địa điểm ở nước ngoài

Chiếm gần 11% thị phần của thế giới, lĩnh vực chất bán dẫn của Hàn Quốc đang giữ vị trí hàng đầu của ngành công nghiệp, đặc biệt về bộ nhớ và DRAM Năm 2008, hai nhà sản xuất chất bán dẫn hàng đầu của Hàn Quốc – Samsung Electronics và Hynix – xếp thứ nhất và thứ hai trên toàn thế giới Tựu chung lại, hai hãng khổng lồ này chiếm trên 50% thị trường toàn cầu

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 1.1 Những mặt hàng sản xuất chủ yếu của Hàn Quốc

Nguồn: Bộ Công Thương Hàn Quốc, 2011

Từ đây nền kinh tế Hàn Quốc không ngừng phát triển, đưa đất nước trở thành một quốc gia giàu có, hùng mạnh và thường được người ta nhắc đến như một kỳ tích sông Hàn

2.1.2 Kinh tế Hàn Quốc hôm nay và triển vọng phát triển trong tương lai

Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1997, nền kinh tế hàn Quốc phát triển một cách đáng kinh ngạc Tổng GDP gấp đôi từ 504.6 triệu USD từ năm 2001 đến 1,049.3 triệu USD năm 2007, tăng trung bình 4-5% 1 năm Trong giai đoạn từ năm 2008-2010, trong khi cả thế giới đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế lớn thì Hàn Quốc lại ghi nhận tỷ lệ phát triển kinh tế là 6.3%

Đến cuối năm 2011, xét về thu nhập bình quân đầu người, Hàn Quốc còn giàu hơn cả mức trung bình của Liên minh châu Âu (EU) Thu nhập bình quân đầu

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

người tại Hàn Quốc đạt 31.750 USD, trong khi đó con số này tại EU ở mức 31.550USD/người (tính theo ngang giá sức mua) Cũng trong năm 2011, kim ngạch thương mại của Hàn Quốc đạt mức 1.080 tỷ USD, đứng thứ 8 thế giới về xuất khẩu

Đến hết năm nay, Bộ Tài chính Hàn Quốc cũng tăng dự báo lạm phát giá tiêu dùng lên 2% sau khi tăng giá thuốc lá thêm 80% Dự báo tiêu dùng cá nhân và đầu

tư sẽ tăng lần lượt 3% và 5,8% trong năm 2015 Thặng dư tài khoản vãng lai dự đoán sẽ đạt 82 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu dự báo sẽ tăng lần lượt 3,7% và 3,2%

Từ năm 1962 đến 2014, Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) của Hàn Quốc tăng

từ 2,3 tỷ USD lên tới 928,7 tỷ USD, trong khi Tổng Thu nhập Quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng vọt từ 87 USD lên khoảng 19,231 USD Với thay đổi chóng mặt đó, Hàn Quốc là nước duy nhất vươn lên thành công từ chủ yếu nhận viện trợ nước ngoài sang nước giàu chỉ trong vài chục năm

Hiện nay, Hàn Quốc là nền kinh tế lớn thứ 4 Châu Á và thứ 13 trên thế giới Ngoài ra, Hàn Quốc cũng đứng thứ 6 thế giới về dự trữ ngoại hối, và đứng thứ hai

về ngành công nghiệp đóng tàu Hai nhà sản xuất bán dẫn hàng đầu Hàn Quốc là Samsung Electronics và Hynix chiếm gần 50% thị trường toàn cầu

Hình 2.2 5 sản phẩm công nghiệp chủ đạo của Hàn Quốc

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Bộ Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng, 2010

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo dự đoán của Bộ tài chính và Kinh tế Hàn Quốc, GDP của Hàn Quốc sẽ vượt 2.000 tỷ USD vào năm 2016 và đạt trên mức 3000 tỷ USD vào đầu năm 2020 Các mặt hàng xuất khẩu hàng năm dự kiến cũng vượt 500 tỷ USD vào năm 2017và đạt mức trên 1000 tỷ USD vào năm 2023 Với mức tăng trưởng kinh tế này, Hàn Quốc sẽ vươn lên đứng thứ 9 thế giới về sức mạnh kinh tế vào năm 2020

7 Trung Quốc 16.493 7 Italia 35.258

8 Tây Ban Nha 9.914 8 Ấn Độ 29.331

9 Canada 9.788 9 Hàn Quốc 27.100

10 Ấn Độ 6.919 10 Tây Ban Nha 24.082

11 Hàn Quốc 6.801 11 Canada 22.775

Nguồn: Bộ Tài chính và Kinh tế Hàn Quốc

2.1.3 Quá trình phát triển của SMEs

Quá trình phát triển SMEs trải qua nhiều giai đoạn và biến động

- Giai đoạn 1970-2000: giai đoạn tăng lên nhanh chóng của các SMEs Xét bảng 2.3 thì số lượng các DNNVV và số lượng lao động được tạo ra không ngừng tăng theo thời gian Ví dụ số lượng lao động SMEs tạo ra gia tăng từ

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

61,5% năm 1952 lên 67,7% năm 1960, rồi sau đó giảm xuống 45,7% năm 1975, nhưng vẫn tăng lên 69,3% vào năm 1997 và tăng thêm gần 7% năm 2004 Sự suy giảm từ năm 1960 đén 1975 một phần là bởi vì sự gia tăng hay chuyển thể từ DNNVV sang doanh nghiệp lớn Sau năm 1975, các doanh nghiệp lớn này không

hề có khuynh hướng nhỏ đi thành các doanh nghiệp SMEs cũ nhưng thay vào đó lại

có thêm nhiều công ty SMEs nhỏ được hình thành Vì vậy, sau năm 1975 có một sự chuyển biến lớn về tình trạng việc làm khi số lượng lao động trong các SMEs lớn hơn ở các công ty lớn

Bảng 2.3 SMEs trong lĩnh vực sản xuất ở Hàn Quốc năm 1952-2004 (%)

Năm Số lượng Lao động Giá trị gia tăng Giá trị sản

xuất Xuất khẩu

Doanh nghiệp

DN nhỏ

và Trung bình

DN lớn

DN nhỏ

và Trung bình

DN lớn

DN nhỏ

và trung bình

DN lớn

DN nhỏ

và TB

DN lớn

DN nhỏ

và TB

DN lớn

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Do một số chủ trương của Chính phủ chú trọng vào phát triển ngành công nghiệp nặng nên theo năm cũng có sự thay đổi trong tỉ lệ xuất khẩu các sản phẩm của Hàn Quốc đi nước ngoài đối với các SMEs

Bảng 2.4 Xuất khẩu Hàn Quốc theo ngành

Đơn vị: triệu USD

2006 2008 2010

Thực phẩm, đồ uống 4398 5478 8649

Nhựa, gỗ, lông vũ 5786 5468 6254 Khoáng sản phi kim loại 4457 5689 7468

Ngành CN nhẹ khác 2842 2837 2878 Kim loại, sản phâm kim loại 5896 4568 6548 Thiết bị điện tử 74562 76811 80015

Nguồn: Báo cáo hàng năm về SMEs, Bộ Công Thương Hàn Quốc, Ban SME

Vậy cơ cấu xuất khẩu của Hàn Quốc như thế nào? Bảng 2.4 cho thấy các nhóm xuất khẩu khác nhau của Hàn Quốc trong 3 năm 2006,2008,2010 Đến năm

2010, Điện tử đã trở thành ngành xuất khẩu quan trọng nhất, theo sau là hàng dệt may Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng nhanh khác là các hoá chất, kim loại cơ bản

và các sản phẩm kim loại và máy móc

Đến năm 1997, khủng hoảng kinh tế Châu Á xảy ra, đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Hàn Quốc, đầu tư cho SMEs vì thế giảm mạnh khiến khu vực doanh nghiệp này lại rơi vào thời kì suy giảm (1997-1999): Năm 1997, số lượng SMEs trong ngành sản xuất là 91.324 doanh nghiệp, giảm 4.917 doanh nghiệp so

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

với năm 1996 và tiếp tục giảm còn 79.113 vào năm 1998 Tuy nhiên trong quá trình hồi phục nền kinh tế thì số lượng SMEs cũng tăng lên theo từng năm Năm 1999, Hàn Quốc có 90.610 SME hoạt động trong ngành sản xuất, chiếm 99.1% số doanh nghiệp toàn ngành

Bảng 2.5 Tổng số công ty , việc làm tại Hàn Quốc và tỉ lệ SME tương ứng Toàn bộ (A) SMEs (B) Tỉ lệ (B/A)

Số công

ty Số việc làm Số công ty Số việc làm Số công

ty

Số việc làm

Nguồn Cơ quan Thống kê quốc gia Hàn Quốc, 2013

Từ bảng trên có thể thấy, các SMEs đã không ngừng tăng về số lượng Năm

2000 có hơn 2,7 triệu doanh nghiệp, chiếm 99,2 % tổng số doanh nghiệp cả nước Đến năm 2005, con số này đã tăng lên trên 2,8 triệu, chiếm 99.9% và không ngừng tăng lên cho đến nay, gần 3,5 triệu doanh nghiệp

Theo nghiên cứu của tổ chức “Global Entrepreneur Monitor” (Đại học Bapson, Hoa Kì) từ năm 2008 đến năm 2013, Hàn Quốc liên tục giữ vị trí số 6 trong

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tổng số 41 quốc gia về tỷ lệ khởi nghiệp kinh doanh Đây có thể được xem như là một thế mạnh góp phần vào việc duy trì, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của SMEs ở đất nước này

2.1.4 Ngành nghề kinh doanh của SMEs

Với tính năng động và linh hoạt cao, vốn là ưu thế của các doanh nghiệp vừa

và nhỏ, các SMEs Hàn Quốc hoạt động trong hầu hết các ngành nghề dịch vụ, từ các ngành nghề thủ công truyền thống, đến các ngành nghề yêu cầu kỹ thuật cao Năm 2007, cả nước có tổng số 2,863,583 SMEs (chiếm 99.9% tổng số doanh nghiệp) hoạt động trong ngành công nghiệp, bao gồm các lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp, sản xuất, cung cấp gas, điện nước xây dựng, thu hút 3.464.435 lao động ở trong nước, ngành dịch vụ ( bao gồm các ngành dịch vụ bán buôn bán lẻ, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, bảo hiểm, tài chính, thông tin, cho thuê và mua bán bất động sản, các dịch vụ thương mại, giáo dục) con số này là 2.564.081 doanh nghiệp

(chiếm 85,7%) thu hút tới 7.258.405 lao động Đến năm 2008, trong cả 2 ngành, số lượng SMEs tham gia đều tăng lên, đạt mức tương ứng là 430.987 và 2.578.125 doanh nghiệp, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 10.800.000 lao động trong xã hội

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.6 Số lượng công ty SMEs và lao động theo ngành công nghiệp

Tổng số cả nước(A) SMEs (B) Tỷ lệ (B/A)

Số công

ty Số lao động Số công ty Số lao động Số công

ty Số lao động STT Toàn ngành 3,354,320 14,891,162 3,351,404 13,059,372 (99.9) (87.7)

Trang 39

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Như vậy có thể thấy các doanh nghiệp SMEs hoạt động rất đa dạng trong nhiều lĩnh vực mà chiếm số lượng đông đảo hơn hẳn là các SMEs hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ trong đó bán buôn, bán lẻ là 2 dịch vụ có số lượng tham gia nhiều nhất của các SMEs, với tổng số doanh nghiệp năm 2012 là 935,199, chiếm 96,6% tổng số doanh nghiệp cả nước Tuy nhiên nếu xét về số lượng việc làm tạo ra, thì sản xuất lại là lĩnh vực tạo ra nhiều công ăn việc làm nhất cho xã hội Năm 2012, lĩnh vực này đã thu hút tới 2.963.843 người, chiếm 80,4% trong tổng số lao động

2.1.5 Tình hình kinh doanh của SMEs

Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được đo lường bằng các chỉ tiêu như tổng giá trị sản lượng, giá trị xuất khẩu,…

Vào những năm 1960-1970 sự đóng góp của các doanh nghiệp lớn chiếm hơn một nửa sự gia tăng trong việc làm, sản xuất và giá trị gia tăng hàng năm đối với nền kinh tế Hàn Quốc vì các chính sách phát triển lúc bấy giờ là chú trọng vào ngành công nghiệp nặng và hóa chất, mà những ngành này lại tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp lớn

Tuy nhiên vào đầu những năm 1980, SMEs mở rộng sự tham gia của mình trong việc tạo ra việc làm, chiếm 81,7% khi Chính phủ đẩy mạnh chính sách phát triển kinh tế vào nhóm này Sự đóng góp của họ vào sản xuất và giá trị gia tăng hơn nữa cũng tăng lên tương ứng 36,2% và 49,6% vào năm 2010 Điều này thể hiện được tầm quan trọng của SMEs đối với nền kinh tế Hàn Quốc

Trang 40

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bảng 2.7 Đóng góp của doanh nghiệp lớn và SMEs vào phát triển kinh tế

(ngành sản xuất)

1960's (63~69)

1970's (70~79)

1980's (80~89)

1990's (90~99)

2000's (00~09)

2010's (10~12)

Total (63~12)

Số công

ty

Tỷ lệ đóng góp

Xét về tỷ lệ đóng góp của các doanh nghiệp vào tổng giá trị sản lượng quốc gia, mặc dù so với các doanh nghiệp lớn, tỷ lệ đóng góp của SMEs vẫn còn khiêm tốn, nhưng nó đang không ngừng được cải thiện, từ mức 26,5% năm 1770 lên 50,3% trong năm 1990 Mặc dù có sự sụt giảm trong những năm sau đó xuống 36,2%, tuy nhiên với nền kinht ế Hàn Quốc, SMEs chiếm đến 99,9% trong số các doanh nghiệp, đóng góp cho nền kinh tế gần 50% vào GDP năm 2014

2.1.5.2 Giá trị gia tăng tạo ra bởi các SMEs

Cũng giống như đối với tổng giá trị sản lượng, tỷ trọng của SMEs về giá trị gia tăng nói chung vẫn thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn Tuy nhiên do tốc độ tăng trưởng về giá trị gia tăng của SMEs là cao hơn nên khoảng cách về tỷ trọng nói trên ngày càng được thu hẹp

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w