1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

93 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Những năm vừa qua, ngành công nghệ thông tin CNTT của Việt Nam đã có những bước phát triển bền vững, góp phần đưa đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới, tron

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Họ và tên sinh viên: Nguyễn Xuân Thắng

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC VIẾT TẮT

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: Tổng quan về FDI và ngành Công nghệ thông tin 3

1.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Các cách phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài 4

1.1.3 Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư 6

1.2 Tổng quan về ngành Công nghệ thông tin 7

1.2.1 Lịch sử hình thành, khái niệm và phân loại ngành Công nghệ thông tin 7

1.2.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin 10

1.2.3 Vai trò của công nghệ thông tin 14

1.3 FDI vào ngành Công nghệ thông tin 18

1.3.1 Vai trò của FDI đối với ngành Công nghệ thông tin 18

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin 21

CHƯƠNG 2: Thực trạng tình hình thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam 27

2.1 Khái quát về ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam 27

2.1.1 Sự hình thành của ngành Công nghệ thông tin Việt Nam 27

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành Công nghệ thông tin Việt Nam 28

2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI vào ngành CNTT Việt Nam 36

2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành CNTT ở Việt Nam những năm gần đây 47

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.2.1 Tổng quan về tình hình thu hút FDI vào ngành CNTT 47

2.2.2 Cơ cấu đầu tư FDI vào ngành CNTT của Việt Nam 53

2.2.3 Những thành công đạt được 56

2.2.4 Những hạn chế 59

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp tăng cường khả năng thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam 64

3.1 Chiến lược phát triển ngành Công nghệ thông tin Việt Nam giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 của Chính phủ Việt Nam 64

3.1.1 Nội dung, quan điểm của chiến lược 65

3.1.2 Các mục tiêu định hướng cơ bản của chiến lược đến năm 2020 66

3.2 Đề xuất các giải pháp tăng cường khả năng thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam 69

3.2.1 Phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu CNTT chất lượng cao 69

3.2.2 Đầu tư vào khu công nghiệp phụ trợ 70

3.2.3 Phát triển nguồn nhân lực cao trong ngành CNTT 73

3.2.4 Đẩy mạnh xúc tiến đầu tư đối với ngành CNTT 77

3.2.5 Có định hướng phù hợp cho sự phát triển của từng lĩnh vực 79

3.2.6 Bảo vệ sở hữu trí tuệ và quyền tác giả nhằm bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất CNTT 81

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Các chỉ số sản xuất ngành Công nghiệp CNTT qua các năm gần đây (Đơn

vị: triệu USD) 35

Bảng 2.2: Xếp hạng về nguồn nhân lực CNTT-TT của Việt Nam và các nước Đông Nam Á từ năm 2002 đến 2012 38

Bảng 2.3: Tiền lương, kỹ năng tiếng Anh và tỷ lệ cống hiến của nguồn nhân lực Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc năm 2013 39

Bảng 2.4: Số lượng sinh viên ngành CNTT năm 2013 40

Bảng 2.5: Xếp hạng về Chỉ số phát triển CNTT-TT (IDI) của Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á trong 10 năm qua 43

Bảng 2.6: Xếp hạng về công nghiệp CNTT của Việt Nam và một số nước trên thế giới từ năm 2005 đến 2011 44

Bảng 2.7: Xếp hạng các thành phố hấp dẫn nhất về gia công phần mềm trên thế giới 45

Bảng 2.8: Cơ cấu đầu tư FDI vào ngành CNTT theo khu vực tiếp nhận giai đoạn 1995-2013 56

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Số dự án và tổng vốn đăng ký cấp mới vào ngành CNTT qua các năm 48

Biểu đồ 2.2: Các lĩnh vực hấp dẫn đầu tư tại Việt Nam năm 2014 52

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu FDI theo lĩnh vực ngành CNTT năm 2006 và 2013 53

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu đầu tư theo chủ đầu tư vào CNTT năm 2013 55

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC VIẾT TẮT

Tiếng Việt

CNTT Công nghệ thông tin

CNTT-TT Công nghệ thông tin – Truyền thông

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CNPT Công nghiệp phụ trợ

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

KCN Khu công nghiệp

Khu CNC Khu Công nghệ cao

PC-ĐT Phần cứng – điện tử

Tiếng Anh

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

IDI Information Technology

Liên minh viễn thông quốc tế

NRI Networked Readiness Index Chỉ số sẵn sàng kết nối

WEF World Economics Forum Diễn đàn kinh tế thế giới

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm vừa qua, ngành công nghệ thông tin (CNTT) của Việt Nam đã có những bước phát triển bền vững, góp phần đưa đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới, trong đó đóng góp đáng kể đến từ các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành này đóng góp hơn 95% giá trị xuất khẩu mặt hàng máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện sản xuất lớn tại Việt Nam, điển hình là các doanh nghiệp như Samsung, Intel, Canon, Panasonic, Foxconn, Nokia… với các thị trường xuất khẩu như Trung Quốc, Malaysia, Nhật Bản, EU… Từ một đất nước phải nhập khẩu thiết bị, máy tính và điện thoại di động, nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu các sản phẩm công nghệ thông tin hàng đầu thế giới nhờ thu hút và sử dụng hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài và phát huy sức mạnh các nguồn lực trong nước

Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI vào ngành CNTT hiện nay chủ yếu tập trung vào hoạt động ở các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động phổ thông có chi phí nhân công thấp Hầu như công nghiệp CNTT Việt Nam chưa có được ngành sản xuất, chế biến nào mang tầm công nghệ cao, sử dụng nhiều lao động có trình độ, tay nghề cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng, chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp hoạt động gia công, lắp ráp

Theo Bộ Kế hoạch & Đầu tư, CNTT sẽ là một trong những lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong giai đoạn 2015 – 2025, cùng với một số lĩnh vực khác như công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ có lợi thế và hàm lượng tri thức cao Kỳ vọng rất lớn của Việt Nam là các doanh nghiệp FDI sẽ tập trung vào phát triển nhanh chóng các ngành này, tạo ra nhiều giá trị gia tăng, giúp đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Xuất phát từ thực tế đó và vấn đề làm sao để thu hút FDI vào ngành CNTT nhiều hơn, em đã chọn đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam: Thực trạng và Giải pháp” làm đề tài khóa luận của mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là: (1) Vận dụng những kiến thức đã học nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết chung liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài; (2) Thực

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trạng về hoạt động FDI vào ngành CNTT tại Việt Nam trong thời gian gần đây; (3)

Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này đối với Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam trong giai đoạn 1995-2014; dự báo, định hướng và đưa ra một số giải pháp cho giai đoạn từ nay đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: thu thập, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục từ viết tắt, lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về FDI và ngành Công nghệ thông tin Chương 2: Thực trạng tình hình thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp tăng cường khả năng thu hút FDI vào ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam

Do năng lực bản thân còn hạn chế nên khóa luận sẽ không tránh khỏi nhiều thiếu sót,

em rất mong nhận được sự góp ý, phê bình của thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn

Qua đây, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến với Thạc sĩ Trần Thanh Phương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này!

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ FDI VÀ NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

1.1 Tổng quan về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm

Tổ chức Thương mại Thế giới WTO đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty" (Vũ Chí Lộc, 2012)

Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty

Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó

Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam theo quy định tại khoản 1 điều 2, Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2005: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư

ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…), tài sản vô hình (quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết và kinh nghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ…) Như vậy, FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế

có nhân tố nước ngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trong phạm vi quốc tế; và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vào hoạt động sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư Trong khái niệm này, thật sự không có sự đầu tư gia tăng về kinh tế hay một sự chuyển giao ròng giữa các quốc gia mà đơn thuần chỉ là một sự di chuyển tư bản từ quốc gia này sang quốc gia khác Các công ty nắm quyền kiểm soát hoạt động ở nhiều quốc gia được xem như các công ty đa quốc gia, các công ty xuyên quốc gia hay các công ty toàn cầu Sự phát triền hoạt động của các công ty này chính là động lực thúc đầy sự phát triển trong thương mại quốc tế thông qua hình thức đầu tư trực tiếp vào các quốc gia khác trên thế giới

1.1.2 Các cách phân loại đầu tư trực tiếp nước ngoài

Theo giáo trình Đầu tư quốc tế trường Đại học Ngoại Thương (Vũ Chí Lộc, 2012), đầu tư trực tiếp nước ngoài tồn tại dưới các dạng sau:

1.1.2.1 Theo cách thức thâm nhập

Có hai hình thức chủ yếu là: Đầu tư mới - Greenfield Investment (GI) và Mua lại và sáp nhập Cross-border Merger and Acquisition (M&A), ngoài ra còn hình thức Brownfield Investment

Đầu tư mới là đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nước ngoài hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại Với loại hình này phải bỏ nhiều tiền để đầu tư nghiên cứu thị trường, chi phí liên hệ cơ quan nhà nước và sẽ có nhiều rủi ro

Mua lại và sáp nhập qua biên giới là hình thức FDI thông qua việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động Với hình thức này, có thể tận dụng lợi thế của đối tác ở nơi tiếp nhận đầu tư (tận dụng tài sản sẵn có của thị

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trường), vì vậy tiết kiệm được thời gian, giảm thiểu rủi ro Trong đó, các khái niệm được hiểu như sau:

Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ, và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập

Hợp nhất hóa doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hợp thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị hợp nhất

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát , chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại

Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai hay nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới

1.1.2.2 Phân theo hình thức đầu tư

Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

Đây là một văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hay nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước chủ nhà trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay không ra đời một tư cách pháp nhân mới nào

Hình thức công ty hay xí nghiệp liên doanh

Xí nghiệp hay công ty liên doanh được thành lập giữa một bên là một thành viên của nước nhận đầy tư và một bên là các chủ đầu tư ở nước khác tham gia Một xí nghiệp liên doanh có thể gồm hai hoặc nhiều bên tham gia liên doanh

Hình thức công ty hay xí nghiệp 100% vốn từ nước ngoài

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Đây là hình thức các công ty hay xí nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của tổ chức cá nhân nước ngoài và do bên nước ngoài tự thành lập, tự quản lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh

Các hình thức khác: Đầu tư vào các khu chế xuất, khu phát triển kinh tế, thực hiện

những hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (B.O.T) Những dự án B.O.T thường được chính phủ các nước đang phát triển tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện việc nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế

1.1.2.3 Phân theo tính chất dòng vốn

Vốn chứng khoán

Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty

Vốn tái đầu tư

Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm

Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ

Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau

1.1.3 Vai trò của FDI đối với nước nhận đầu tư

Bổ sung cho nguồn vốn trong nước

Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong

đó có vốn FDI

Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý

Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng" Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra

cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước

Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu

Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu

Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công

Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện

sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ

và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc

và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nguồn thu ngân sách lớn

Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm phần lớn

số thu nội địa trên địa bàn tỉnh

1.2 Tổng quan về ngành Công nghệ thông tin

1.2.1 Lịch sử hình thành, khái niệm và phân loại ngành Công nghệ thông tin

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất có bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là sự ra đời của các nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

được chuyển đổi từ thuần tuý nông nghiệp sang công nghiệp với tỷ trọng cao hơn nhiều lần Từ những năm 50 con người bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai có bản chất là quá trình tin học hoá nội dung và sử dụng “công nghệ thông tin” để thay thế một phần lao động trí óc, để trợ giúp phần điều khiển bằng trí tuệ của con người

CNTT (Information Technology) được hình thành từ Khoa học máy tính (Computer Science) Đây là một khái niệm khá rộng, nó bao hàm bên trong nhiều khái niệm khác nhau Ta có thể chia sự hình thành khái niệm CNTT thành 3 giai đoạn phát triển:

Giai đoạn 1 (1943-1980): Từ khi máy tính điện tử đầu tiên ra đời cho đến trước khi

máy tính cá nhân (Personal Computer - PC) xuất hiện

Cụ thể, ngành CNTT hiện đại khởi đầu năm 1943 khi Hathaway Aiken và những cộng sự tại trường Harvard cho ra đời chiếc máy tính lập trình đầu tiên mang tên Mark I Trong cùng năm, trường đại học Moore School of Electronic Engineering cũng giới thiệu ENIAC, chiếc máy vi tính đầu tiên trên thế giới Không dừng tại đó, trường Moore tiếp tục kết hợp ưu điểm lập trình của Mark I và khả năng điện hóa của ENIAC để cho ra đời sản phẩm EDVAC, sản phẩm tiên phong trong ngành công nghiệp máy lập trình phục vụ mục đích thương mại kể từ sau thế chiến thứ 2 Giai đoạn này, ngành Khoa học máy tính có đối tượng nghiên cứu là máy tính điện

tử, các ngôn ngữ lập trình và các thuật toán xử lý; Nhiệm vụ chỉ tập trung vào giải quyết các vấn đề mang tính “toán học”

Giai đoạn 2 (1981-1989): Đây là giai đoạn máy tính cá nhân có giao diện đồ họa

xuất hiện và được phổ biến trong xã hội Cùng với sự phát triển của các ngành khoa học kỹ thuật khác, máy tính khả năng lưu trữ và xử lý của máy tính ngày càng tăng Đặc biệt, sự phát triển của mạng máy tính và kỹ thuật số đã bước đầu xóa bỏ rào cản “không gian” giữa các máy tính, đưa Khoa học máy tính lên một tầm cao mới Một bộ phận của Khoa học máy tính đã phát triển thành Tin học (Informatics), với đối tượng nghiên cứu là thông tin và sử dụng công cụ chủ yếu là máy tính điện tử

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Nhiệm vụ của Tin học lúc này là nghiên cứu việc lưu trữ và xử lý thông tin một cách tự động

Giai đoạn 3 (cuối năm 1989 đến nay): Sự phát triển của các công nghệ về máy tính,

mạng máy tính và các phần mềm ứng dụng đã đạt đến đỉnh cao Cùng với sự hình thành và phát triển của hệ thống mạng máy tính dùng chung cho toàn thế giới (Internet), khả năng ứng dụng của máy tính và mạng máy tính đã gần như không có giới hạn Chúng đã trở thành phương tiện, công cụ không thể thiếu của các hệ thống thông tin, hệ thống tổ chức CNTT đã ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại

Việc chia các giai đoạn trên chỉ mang tính tương đối Bởi lẽ, quá trình phát triển từ Khoa học máy tính lên Tin học, rồi thành CNTT là một quá trình phát triển khá phức tạp, liên quan trực tiếp đến sự phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau Cho đến nay, vẫn còn nhiều tranh cãi về mối quan hệ giữa Khoa học máy tính, Tin học và CNTT Vì vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về CNTT

Một số khái niệm CNTT phổ biến hiện nay như:

Theo UNESCO, CNTT bao gồm việc sử dụng các ứng dụng máy tính, công nghệ viễn thông và tin học trong việc truy cập và cung cấp thông tin riêng và chung Nó cho phép mọi người giao tiếp và trao đổi thông tin giới hạn trong không gian số (cyberspace), làm việc tại văn phòng ảo và thiết lập một xã hội tri thức

Theo Hiệp hội CNTT của Mỹ (ITAA), CNTT là việc nghiên cứu, thiết kế, phát triển, triển khai thực hiện, hỗ trợ hoặc quản lý các hệ thống thông tin điện tử, chủ yếu là các phần mềm máy tính và phần cứng máy tính CNTT bao hàm việc sử dụng các máy tính điện tử và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và nhận nhận thông tin an toàn

Theo GS Phan Đình Diệu, CNTT là ngành công nghệ về xử lý thông tin bằng các phương tiện điện tử, trong đó nội dung xử lý thông tin bao gồm các khâu cơ bản như thu thập, lưu trữ, chế biến và truyền nhận thông tin

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị, CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xứ 1ý thông tin Theo quan niệm này thì CNTT là hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, bao gồm chủ yếu là các máy tính, mạng truyền thông

và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng

có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của con người

Theo Luật CNTT (2007), CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ

và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số

Nhìn chung, các quan điểm còn lại cũng đều đồng ý rằng CNTT là ngành nghiên cứu, sản xuất phần mềm và phần cứng máy tính, đồng thời cũng là ngành khoa học

và công nghệ về thông tin và xử lý thông tin, sử dụng công cụ, phương tiện chủ yếu

là máy tính điện tử

Theo định nghĩa trên, CNTT có thể phân ra thành 3 lĩnh vực chính đó là: công nghiệp phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số Trong đó:

Công nghiệp phần cứng: là ngành sản xuất các sản phẩm thiết bị số hoàn chỉnh;

cụm linh kiện; linh kiện; bộ phận của thiết bị số, cụm linh kiện, linh kiện

Công nghiệp phần mềm: là ngành sản xuất các chương trình máy tính được mô tả

bằng hệ thống ký hiệu, mã hoặc ngôn ngữ để điều khiển thiết bị số thực hiện chức năng nhất định

Công nghiệp nội dung thông tin số: là ngành sản xuất nội dung, thông tin bao gồm

văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thể hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng

1.2.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin

CNTT là ngành công nghệ mũi nhọn

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Công nghệ mũi nhọn ở đây được hiểu là cái chóp của một kim tự tháp, có nghĩa là

nó là ngành công nghệ được xây dựng trên thành quả của nhiều công nghệ khác và của những lý thuyết khoa học hiện đại

Trong nền kinh tế tri thức, CNTT có vai trò quyết định CNTT ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực phát triển Kinh tế - Xã hội và ngày càng phát triển Nhờ phát triển CNTT đặc biệt là phát triển phần mềm, nhiều ngành nghề trong nông nghiệp và công nghiệp đang chuyển thành những nghề trí tuệ

Do vậy, muốn xây muốn xây dựng và phát triển một công nghệ mũi nhọn hoàn chỉnh phải phát triển từng bước và phải lựa chọn thế đứng riêng của mình Mặt khác, đặc điểm của công nghệ mũi nhọn là luôn luôn nặng về tri thức, đó cũng là đặc điểm của CNTT Vì vậy, để phát triển CNTT luôn cần nguồn nhân lực có trình độ cao

CNTT là ngành có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh nhất

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, chưa có ngành khoa học, công nghệ nào có tốc độ phát triển và phổ biến nhanh như CNTT Có thể hình dung sự phát triển của CNTT qua định luật Moore, biểu tượng năng lực và sự phát triển của CNTT Theo định luật Moore, khả năng tính toán của một bộ vi xử lý điện tử cứ sau 18 tháng lại tăng lên gấp đôi, trong khi giá cố định (hoặc thấp hơn) Điều này là cơ sở để giải thích cho việc thay đổi nhanh chóng trong ngành công nghiệp máy tính Hiện nay, định luật này đã được sửa lại là với thời gian là 24 tháng và hãng Intel vẫn đang tiếp tục duy trì định luật này

Dưới sự phát triển như vũ bão của CNTT, công nghệ cứ thay đổi liên tục Vì vậy, đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, cần lưu ý khi lựa chọn các giải pháp về công nghệ Nếu không, việc đầu tư hay định hướng sai công nghệ sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư và gây lãng phí lớn

CNTT là ngành khoa học có thể ứng dụng cho mọi lĩnh vực

Giới hạn của những công nghệ khác thường là không có khả năng kết hợp nhiều loại thông tin, phương tiện với nhau Ví dụ như với điện thoại chỉ có thể gởi và nhận âm thanh, vô tuyến truyền hình thì chỉ có nhận hình ảnh, âm thanh nhưng

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

không thể phản hồi, tương tác Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành công cụ, phương tiện cho các công nghệ khác CNTT có thể tham gia trực tiếp vào trong quá trình sản xuất của các lĩnh vực như: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, hoặc tham gia vào hoạt động quản lý, điều hành của các hệ thống thông tin, hệ thống lãnh đạo, … CNTT còn tạo ra nhiều ngành nghề kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại, tăng khả năng cạnh tranh của các ngành nghề thông qua hệ thống thương mại điện tử, dịch vụ truyền thông đa phương tiện

Ngày nay, CNTT vẫn đang tiếp tục phát triển và phổ biến ở mọi nơi, mọi lĩnh vực, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con người

CNTT là một công nghệ có nhiều tầng lớp

Trong CNTT, nếu tính từ người sử dụng (người dùng đầu cuối) đến khâu sản xuất các thiết bị, vi mạch ta sẽ thấy bên trong có nhiều tầng lớp và lớp trên được xây dựng dựa trên các lớp phía dưới, chúng có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về công nghệ Càng lên cao, số lượng công nghệ có xu hướng càng tăng, sự phát triển của công nghệ của lớp này cũng thúc đẩy sự phát triển các công nghệ tương ứng ở lớp khác và ngược lại

Có thể chia CNTT thành năm tầng lớp theo sơ đồ sau:

(i) Lớp ứng dụng tích hợp, đây là lớp trên cùng gồm các ứng dụng được phát triển riêng cho từng cơ quan, xí nghiệp nào đó

(ii) Lớp ứng dụng cơ bản, là lớp đa dạng và phổ biến nhất hiện nay Bao gồm các ứng dụng ở mức đơn giản, tổng quát để xử lý văn bản (OpenOffice, Microsoft Office, …) hoặc tính toán và quản lý đơn giản (SPSS, Microsoft Project,…); và cao hơn là các ứng dụng chuyên dùng dành riêng cho một lĩnh vực nào đó như tính toán công nghiệp hay tính toán khoa học (SPSS, MathType, Matlab…)

(iii) Lớp phát triển ứng dụng, các ứng dụng của lớp này thường được dùng bởi các chuyên gia về phần mềm sử dụng để phát triển các ứng dụng của hai lớp trên, mục

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tiêu là hướng về người dùng đầu cuối Bao gồm các ngôn ngữ lập trình (C, java, Visual Basic, C#, php,…), các hệ quản trị CSDL, …

Lớp ứng dụng hệ thống, là những chương trình, ứng dụng đặc biệt cho các ứng dụng của lớp trên có thể hoạt động hoặc giao tiếp với thiết bị phần cứng Chủ yếu là

hệ điều hành và hệ điều hành mạng (Microsoft Windows, Unix, Linux, Mac, Netware, )

(iv) Lớp thiết bị phần cứng, có thể coi như bao gồm tất cả các hệ máy và mạng đang hoạt động trên thế giới

(v) Lớp vi xử lý, đây là lớp cuối cùng chính là việc sản xuất các linh kiện điện tử, các chíp vi xử lý Hiện nay, chỉ có một vài nước bao gồm Mỹ, Nhật và châu Âu, Hàn Quốc … là có công nghệ hoàn chỉnh tạo ra các sản phẩm của lớp này

Khả năng số hóa thông tin, tổ chức, lưu trữ thông tin trên diện tích nhỏ; truy xuất

và xử lý thông tin một cách nhanh chóng và chính xác

Đây là một đặc trưng của máy tính điện tử nói riêng và CNTT nói chung Có thể hiểu số hóa thông tin là khả năng biểu diễn thông tin dưới dạng số 0 và 1, và lưu lại trên các thiết bị lưu trữ của máy tính Các thông tin được lưu trữ dưới dạng này gọi

là thông tin số Ưu điểm của thông tin số chính là có thể mô tả chính xác thông tin, truy xuất nhanh và lưu trữ được trên diện tích nhỏ Ngày nay, khả năng lưu trữ và tốc độ xử lý thông tin của các thiết bị CNTT ngày càng tăng, trong khi kích thước của thiết bị ngày càng nhỏ Khả năng lưu trữ của các thiết bị lưu trữ đã lên đến TB (TegaByte) và tốc độ tính toán đã đạt hàng tỉ phép tính trên giây Nếu bỏ qua khả năng trao đổi và xử lý thông tin tự động thì ứng dụng CNTT cũng đã giúp con người tiết kiệm được rất nhiều thời gian trong tính toán, tìm kiếm thông tin và không gian lưu trữ thông tin mà không công nghệ nào có thể thay thế được

Trong xu thế của sự phát triển, số hóa thông tin cũng là một tất yếu, là cơ sở cho việc tái tạo, phổ biến thông tin và tri thức Ứng dụng CNTT càng nhanh, càng hiệu quả thì lượng thông tin được số hóa cũng tăng theo tương ứng

Đầu vào là thông tin, đầu ra là thông tin hoặc tri thức

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Như đã trình bày phần khái niệm, thông tin chính là đối tượng xử lý chủ yếu của CNTT Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, hoạt động trực tiếp tạo ra sản phẩm không còn là công việc của riêng người lao động, mà của cả một bộ phận ngày càng tăng lên những người trực tiếp quản lý quá trình sản xuất, những kỹ sư, những nhà công nghệ Các sản phẩm được tạo ra từ CNTT có hàm lượng trí tuệ cao ngày càng tăng Trong lĩnh vực phần mềm của CNTT, sản phẩm tạo ra có hàm lượng giá trị do trí tuệ kết tinh bên trong sản phẩm có thể đạt tới 80 - 90% tổng giá trị sản phẩm

1.2.3 Vai trò của công nghệ thông tin

Từ những năm 80 của thế kỉ XX, các nước phát triển đã bắt đầu bước vào một nền văn minh mới được gọi là Văn minh tri thức (hay Văn minh thông tin), lấy tri thức làm nguồn lực phát triển, khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp Các nước sớm bước vào nền Văn minh tri thức đã xác định bốn trụ cột của nền văn minh này đó là: CNTT, công nghệ nguyên liệu mới, công nghệ năng lượng mới và công nghệ sinh học Trong đó, CNTT được xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển và tạo dựng nền Văn minh tri thức CNTT đóng vai trò là công nghệ chìa khoá trong hệ thống các công nghệ khác, vừa là tác nhân gắn kết các công nghệ lại với nhau, vừa là động lực phát triển chúng

Đối với các nước đang phát triển, nền Văn minh tri thức tạo ra những cơ hội mới nhưng đồng thời cũng có những thách thức không nhỏ Các nước đang phát triển đã nhận định rằng, khoảng cách phát triển chính là do khoảng cách về tri thức, rút ngắn được khoảng cách về tri thức sẽ rút ngắn được khoảng cách về phát triển Vì vậy, nhiều nước đã đề ra chiến lược đi tắt vào nền Văn minh tri thức, lấy ứng dụng và phát triển CNTT làm giải pháp hàng đầu để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển, tăng tính cạnh tranh của quốc gia trước sự hội nhập kinh tế

Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị đã nêu rõ, ứng dụng và phát triển CNTT ở nước

ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.2.3.1 Vai trò của Công nghệ thông tin đối với Kinh tế, Văn hóa và Xã hội

CNTT góp phần làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới đương đại

Kết hợp các phương tiện truyền thông và Internet, CNTT đã tạo ra môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông, đa phương tiện (multimedia) Các công nghệ kết nối này đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, nhờ vậy mà con người có thể thực hiện mua bán, trao đổi thông tin kinh tế - xã hội hay thực hiện học tập, hội nghị từ xa Những công nghệ này kết nối thế giới ngày càng phổ biến, nhanh chóng, dễ dàng và chặt chẽ hơn Chính vì vậy mà CNTT đã làm thay đổi mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa xã hội Từ biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc, thay đổi cách thức chăm sóc y tế và học tập Cụ thể như:

Hơn một tỉ người có thể truy cập internet cùng một lúc và tham gia gặp gỡ, trao đổi

và cập nhật thông tin theo thời gian thực Con người có thể thực hiện giao dịch mua bán trên mạng, trò chuyện với bạn bè trên khắp thế giới

Nhờ ứng dụng CNTT mà ngày nay, năng suất lao động được tăng nhanh, khối lượng công việc của hoạt động thương mại được giải quyết trong một ngày hiện nay bằng cả năm 1949, một ngày xử lý các dự án khoa học bằng cả năm 1960, số cuộc gọi điện thoại trong một ngày bằng cả năm 1983, số thư điện tử gửi đi trong một ngày bằng cả năm 1990

Thương mại điện tử đang thúc đẩy mạnh mẽ các ngành sản xuất, dịch vụ trên phạm

vi toàn cầu Nhờ ứng dụng thương mại điện tử mà các nước đang phát triển, đặc biệt

là các công ty nhỏ, các vùng biệt lập, xa xôi có thể dễ dàng tiếp xúc với thị trường rộng lớn ở trong nước cũng như ngoài nước

Một dịch vụ ngân hàng được thực hiện tại chi nhánh tốn 1,14 đôla Mỹ, nhưng qua Internet chỉ tốn có 1 cent (1/100 đôla) Một dịch vụ đăng ký và bán vé máy bay trung bình tốn 10 đôla Mỹ nhưng qua Internet chỉ còn 1 đô la Mỹ

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Chữa bệnh trên mạng (hướng dẫn, khám bệnh, chẩn đoán, điều trị từ xa) đang trở thành một hình thức phổ biến, có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực cho dân cư ở các vùng còn nghèo nàn, lạc hậu nằm xa các trung tâm y tế

Giáo dục, đào tạo từ xa đang giúp nâng cao chất lượng các chương trình giảng dạy

và học tập Người đi học ở khắp mọi nơi có thể thông qua mạng để đăng ký và tham gia học tập

CNTT là một ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng cao, tạo ra nhiều việc làm mới

Là một ngành có tốc độ tăng trưởng cao, CNTT đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn với những cuộc cách mạng về công nghệ đang diễn ra từng ngày trên thế giới, những phát minh được tạo ra với tốc độ đáng kinh ngạc Đặc biệt mỗi cuộc cách mạng công nghệ xảy ra đều tạo ra vô số việc làm Và yêu cầu về nguồn nhân lực, đặc biệt là đòi hỏi về trình độ ngày càng cao Bùng nổ của công nghệ thông tin trong kinh doanh toàn cầu nơi "dây chuyền giá trị" được kết nối từ khách hàng tới nhà chế tạo và nhà cung cấp và gần đây với thị trường ứng dụng di động đã làm tăng thêm nhiều nhu cầu đối với việc thiếu hụt công nhân Trong nước Mỹ, việc sử dụng nhân công trong khu vực CNTT đã tăng 23% từ năm 2008 tới 2010 cho dù với suy thoái kinh tế Năm 2013, Mỹ thiếu 4 triệu việc làm liên quan đến ngành khoa học về dữ liệu Công nghệ số Cục thống kê lao động Mỹ dự báo rằng CNTT là lĩnh vực có tiềm năng lớn nhất về tăng trưởng trong mười năm tới (2015-2025) Thiếu hụt công nhân có kĩ năng CNTT không chỉ xảy ra ở Mỹ hay châu Âu mà còn ở châu

Á Cả đối với Ấn Độ và Trung Quốc, nhu cầu toàn cầu đã tạo ra việc tăng lên chưa từng có về lương trong đối với ngành Xu hướng này tiếp tục tăng lên nhanh chóng

do nhu cầu cao Và trên thực tế, người phát triển phần mềm sinh ra nhiều giá trị cho công ty của họ hơn chi phí cho họ, ngay cả với lương cao như ở Mỹ Các công ty phần mềm hàng đầu như Google, Facebook, Twitter, và Microsoft đang năng nổ thuê nhiều công nhân CNTT ở Ấn Độ, Trung Quốc, châu Phi và bất kì chỗ nào họ

có thể tìm thấy công nhân và đem những người này vào Mỹ làm việc Bộ Truyền thông – Thông tin Việt Nam dự báo nhiều khả năng ngành CNTT sẽ thiếu nhân lực trong vài năm tới nếu không có sự tăng trưởng đột phá của các cơ sở đào tạo Theo

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

tính toán của Bộ, trong vòng 5 năm tới, các doanh nghiệp CNTT trong nước có nhu cầu tuyển dụng 411.000 người có trình độ chuyên môn về CNTT, điện tử và viễn thông; trong đó có 217.000 người trình độ cao đẳng, đại học và 194.000 người trình

độ trung cấp

Có thể thấy, nguồn nhân lực trong ngành CNTT sẽ không bao giờ có thể xuất hiện tình trạng dư thừa, đặc biệt là trước nhu cầu đối với nhân lực cao

1.2.3.2 Vai trò của công nghệ thông tin đối với hoạt động quản lý

Áp dụng CNTT còn có những vai trò nhất định trong việc nâng cao hiệu quả quản

lý doanh nghiệp, trên tầm vĩ mô cũng như vi mô Trên phương diện của Chính phủ, CNTT cùng với sự phát triển của hệ thống internet sẽ giúp cho Chính phủ xóa bỏ rào cản về mặt vật lý giữa các hệ thống thông tin dựa trên giấy tờ truyền thống, giải phóng các luồng di chuyển thông tin trong hệ thống, rút ngắn các qui trình thủ tục, cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp, lắng nghe người dân và cộng đồng cũng như trong việc tổ chức và cung cấp thông tin Nhờ đó mà việc ứng dụng CNTT sẽ tạo ra sự minh bạch, công bằng giữa các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, hạn chế tiêu cực trong hoạt động của bộ máy nhà nước Hiện nay, hầu hết chính phủ các nước trên thế giới đều ứng dụng CNT vào quản lý nhiều lĩnh vực như

y tế, giáo dục, thuế, hải quan… Ở Việt Nam, lĩnh vực Hải quan đã được Điện tử hóa, giúp cho người thực thi chính sách cũng như doanh nghiệp giảm bớt được không ít

áp lực và thời gian lãng phí Một chính phủ điện tử cũng có thể giúp người dân và các tổ chức tiếp cận thông tin dễ dàng hơn Việc phổ biến pháp luật, truyên truyền chính sách cũng linh hoạt hơn bao giờ hết

Ở tầm vi mô, các doanh nghiệp có thể sử dụng CNTT để cải tổ khả năng quản lý của mình Bằng việc thông tin hóa hệ thống nội bộ sẽ giúp đơn giản hóa khả năng tổng hợp, xử lý dữ liệu trong doanh nghiệp

1.2.3.3 CNTT là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế

Cùng với sự phát triển của Internet và viễn thông, CNTT đã từng bước xóa bỏ đi các rào cản không gian về mặt vật lý giữa các vùng, miền hay giữa các quốc gia với nhau Như đã trình bày, ngày nay, việc mua bán hay học tập, hội thảo qua mạng đã trở nên phổ biến và hơn thế nữa, một người ở quốc này có thể làm thuê cho một

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

công ty ở quốc gia khác đã không còn là vấn đề quá xa lạ Với mạng internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra, các công ty có thể hợp tác sản xuất, trao đổi mua bán, quảng bá và mở rộng thị trường của mình ra khắp thế giới Hơn thế nữa, chi phí cho các dịch vụ áp dụng CNTT cũng thấp hơn rất nhiều so với các phương pháp liên lạc truyền thống khác Như vậy, CNTT nâng cao tính thanh khoản trong thị trường hàng hóa, dịch vụ toàn cầu, qua đó thức đẩy kinh tế đối ngoại phát triển

1.3 FDI vào ngành Công nghệ thông tin

1.3.1 Vai trò của FDI đối với ngành Công nghệ thông tin

FDI giúp chuyển giao và lan tỏa công nghệ

Với phần lớn các nước đang phát triển, tiến bộ công nghệ thường chỉ là quá trình du nhập và áp dụng công nghệ sẵn có từ nước ngoài, chứ không phải là quá trình sáng tạo ra công nghệ (mới) Bởi vậy, chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ là một trong những tiền đề để xây dựng được năng lực công nghệ nội địa Trên giác độ này, FDI đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động công nghệ cao và cung cấp trọn gói kiến thức, trong khi đó hoạt động R&D của nó không chỉ còn được gói gọn ở nước khởi đầu mà đang lan rộng ra các nước đang phát triển, góp phần nâng cao trình độ công nghệ của các nước này FDI có thể chuyển giao và làm lan tỏa công nghệ ở nhiều dạng, cả phần cứng và phần mềm, chính thức hay ngầm định, và thường thông qua sự tương tác với các doanh nghiệp địa phương, bên cạnh kênh R&D mà doanh nghiệp FDI tiến hành ngay tại nước bản địa

Về phần cứng, công nghệ nằm sẵn trong các hàng hóa tư bản như máy móc và thiết

bị Khi nền kinh tế tiếp nhận FDI mua/tiếp nhận máy móc thiết bị thì hoặc mặc nhiên (ngầm định), hoặc theo thỏa thuận (chính thức) trong hợp đồng kinh tế, nó sẽ được hưởng các công nghệ và kỹ thuật hiện tại hoặc mới của thế giới cũng như kỹ năng và kiến thức cần thiết để sử dụng và làm chủ công nghệ và thiết bị đó

Về phần mềm - yếu tố (ngày càng) quan trọng hơn - nó có thể bao gồm các kỹ năng quản lý, tổ chức và điều hành sản xuất Trong ngắn hạn, nền kinh tế tiếp nhận FDI

sẽ được hưởng lợi do cải thiện năng suất, có thêm sản phẩm mới và hạ giá thành sản xuất nhờ tiếp nhận công nghệ và kỹ năng mới

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Về kênh chuyển giao công nghệ qua các hoạt động R&D tại bản địa, hiện các doanh nghiệp FDI ngày càng quốc tế hóa các hoạt động R&D của mình, chuyển các hoạt động này ra nước ngoài nơi chúng có chi nhánh, nhằm củng cố khả năng phát triển sản phẩm và năng lực sáng tạo của mình nhờ tận dụng chất xám của nhân viên bản địa với chi phí rẻ

Ngay ở Việt Nam, dù còn rất hữu hạn nhưng cũng đã có một số doanh nghiệp đa quốc gia lớn như Samsung, HP, Bosch, hay Panasonic thành lập các cơ sở R&D tại đây Các hoạt động R&D bản địa này đến lượt chúng lại khuyến khích sự phát triển nhân lực, tạo hiệu ứng lan tỏa kiến thức (thông qua sự dịch chuyển lao động, bắt trước, và học hỏi), nâng cao tính cạnh tranh công nghiệp bản địa, vốn là những yếu

tố thiết yếu cho khả năng học hỏi và tiếp thu công nghệ của nền kinh tế bản địa Đương nhiên, tiếp nhận chuyển giao và lan tỏa công nghệ, kỹ thuật từ doanh nghiệp FDI không phải là tự nhiên mà có, và đương nhiên sẽ diễn ra Mức độ công nghệ và

kỹ thuật được chuyển giao hay lan tỏa phụ thuộc vào một loạt các điều kiện phức hợp như ngành kinh tế nội địa mà doanh nghiệp FDI thâm nhập vào, cách thức và mức độ thâm nhập của chúng, khả năng tiếp nhận và hấp thụ của doanh nghiệp và nền kinh tế bản địa, và môi trường chính sách liên quan đến công nghệ và bảo vệ sở hữu trí tuệ của nước tiếp nhận có tác dụng khuyến khích chuyển giao và lan tỏa công nghẹ thế nào

FDI tạo sự cạnh tranh, phát triển cho các doanh nghiệp địa phương trong lĩnh vực CNTT và các lĩnh vực khác

Sự tương tác giữa doanh nghiệp FDI và bản địa sẽ giúp tăng cường mức độ lan tỏa công nghệ và kiến thức nhờ một số kênh như bắt chước, học và làm theo, tăng sự cạnh tranh, các liên kết chuỗi hạ nguồn và cả thượng nguồn, đào tạo và tăng tính lưu động của thị trường lao động có kỹ năng

Ví dụ, khi một doanh nghiệp FDI thâm nhập vào ngành nào đó, nó sẽ áp dụng cách thức sản xuất mới, công nghệ mới, hệ thống mua hàng và phân phối sản phẩm mới, hình thức marketing mới, tuyển dụng và đạo tạo mới Những điều này có thể là mới mẻ với doanh nghiệp địa phương, tạo nên nhu cầu bắt trước và học hỏi từ phía

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

chúng, từ đó tạo ra một loạt tập quán, thông lệ mới cũng như một trình độ sản xuất mới cao hơn

Sự xuất hiện của doanh nghiệp FDI còn mang đến sự cạnh tranh mới, buộc những doanh nghiệp địa phương trong cùng ngành phải ra sức tự nâng cấp trình độ công nghệ và năng lực sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của mình nếu không muốn bị đào thải khỏi cuộc chơi Quá trình này tất yếu sẽ buộc các doanh nghiệp địa phương phải du nhập công nghệ mới và kỹ năng tổ chức và quản trị mới mà chẳng cần phải một cơ quan chính quyền nào can thiệp, thúc giục

Hoặc sự tương tác với doanh nghiệp địa phương còn ở dạng doanh nghiệp FDI sẽ đặt hàng cung ứng sản phẩm đầu vào và dịch vụ (liên kết chuỗi hạ nguồn và thượng nguồn) từ doanh nghiệp địa phương

Ví dụ, một doanh nghiệp FDI trong ngành chế tạo phần cứng sẽ đặt hàng doanh nghiệp địa phương cung ứng bao bì đóng gói sản phẩm Việc này không những giúp phát triển ngành bao bì in ấn và các dịch vụ, sản phẩm ăn theo, mà còn phát triển ngành thượng nguồn từ sản xuất giấy nguyên liệu đến làm bìa carton, cùng với đó là việc du nhập và áp dụng các công nghệ mới phù hợp với các ngành này

Cũng cần lưu ý một thực tế rằng khi cung ứng sản phẩm và dịch vụ cho các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp bản địa phải khá vất vả đáp ứng một loạt các điều kiện và tiêu chuẩn do doanh nghiệp FDI đặt ra để đảm bảo chất lượng và giá thành tối ưu của sản phẩm và dịch vụ mà họ đặt hàng Quá trình điều chỉnh để đáp ứng được những điều kiện và quy định này tự thân nó đã là một quá trình nâng cấp công nghệ nói chung, từ phần cứng đến phần mềm, của doanh nghiệp bản địa nói riêng, cũng như của nền kinh tế bản địa nói chung Đó là chưa kể trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp FDI khi đặt hàng thường cũng sẽ cung cấp các trợ giúp công nghệ,

kỹ thuật, kiến thức, kỹ năng, và cả phần cứng (vật tư, phương tiện, thiết bị ) đã gói ghém trong đó nhiều công nghệ và bí quyết mới

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào ngành Công nghệ

thông tin

Dựa theo cách phân loại của UNCTAD (Vũ Chí Lộc, 2012), có thể xem xét tới những yếu tố đặc biệt sau đối với việc thu hút nguồn vốn đầu tư FDI vào ngành Công nghệ thông tin của một quốc gia

1.3.2.1 Các yếu tố kinh tế

Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một ngành Để thu hút được FDI, nền kinh tế địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư, và là nơi có khả năng sinh lợi cao hơn các nơi khác Sự an toàn đòi hỏi môi trường vĩ mô ổn định, hơn nữa phải giữ được môi trường kinh tế vĩ

mô ổn định thì mới có điều kiện sử dụng tốt FDI

Mức độ ổn định kinh tế vĩ mô được đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và

ổn định tiền tệ Tiêu chí này được thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ như lãi suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, các công cụ thị trường mở đồng thời phải kiểm soát được mức thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân bằng

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Chất lượng của cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghiệp hóa có ảnh hưởng rất quan trọng đến dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một nước hoặc một địa phương Một hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh (bao gồm cả hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không, mạng lưới cung cấp điện, nước, bưu chính viễn thông và các dịch vụ tiện ích khác), là điều mong muốn đối với mọi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành CNTT Khu công nghiệp Thẩm Quyến của Trung Quốc là một điển hình thành công khi đã thu hút được nhiều dự án, nhà máy lắp đặt tại đây, trong đó có nhà máy Foxconn của Apple Cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại bên trong khu chế xuất là quan trọng nhưng các yếu tố nguồn nhân lực phục vụ cho khu chế xuất, vị trí địa lý và các cơ chế chính sách khác cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của các khu chế xuất Ngoài ra, hiệu quả hoạt động của các cơ sở công nghiệp địa phương, sự có mặt của các ngành công nghiệp hỗ trợ, sự tồn tại các

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đối tác tin cậy để các công ty nước ngoài có thể liên doanh liên kết cũng là những yêu cầu rất quan trọng cần phải được xem xét đến đối với sản xuất ngành CNTT

Chi phí sản xuất

Trong ngành Công nghệ thông tin, hầu hết các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu

tư vào các nước là để khai thác các tiềm năng, lợi thế về chi phí Trong đó, chi phí

về lao động thường được xem là nhân tố quan trọng nhất khi ra quyết định đầu tư Đối với các nước đang phát triển, lợi thế chi phí lao động thấp là cơ hội để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong ngành Công nghệ thông tin Bên cạnh đó, đặc thù của ngành CNTT là hàng hóa luôn có tiềm năng xuất khẩu sang nhiều nước, thậm chí toàn thế giới, do đó hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài cho phép các công ty tránh được hoặc giảm thiểu các chi phí vận chuyển và do vậy có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, kiểm soát được trực tiếp các nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu với giá rẻ, nhận được các ưu đãi về đầu tư và thuế, cũng như các chi phí sử dụng đất Ngoài chi phí vận chuyển và các khía cạnh chi phí khác, cũng cần nhấn mạnh đến động cơ đầu tư của các công ty xuyên quốc gia CNTT nhằm tránh ảnh hưởng của hàng rào quan thuế và phi quan thuế, cũng như giúp giảm thiểu đáng kể chi phí xuất nhập khẩu

Nguồn nhân lực

Khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới ở một nước đang phát triển, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng nhắm đến việc khai thác nguồn nhân lực trẻ và tương đối thừa thãi ở các nước này Thông thường nguồn lao động phổ thông luôn được đáp ứng đầy đủ và có thể thỏa mãn yêu cầu của các công ty Tuy vậy, chỉ có thể tìm được các nhà quản lý giỏi, cũng như cán bộ kỹ thuật có trình độ và kinh nghiệm ở các thành phố lớn Đặc biệt là đối với một ngành công nghiệp đặc thù như Công nghệ thông tin, vừa yêu cầu lao động có hàm lượng trí thức cao phục vụ nghiên cứu, quản lý, vừa đòi hỏi một nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ để làm việc trong các nhà máy thì yếu tố nguồn nhân lực phải được ưu tiên xem xét hàng đầu Ngoài ra, động cơ, thái độ làm việc của người lao động cũng là yếu tố quan trọng trong việc xem xét, lựa chọn địa điểm để đầu tư

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Các nhà máy Trung Quốc có quy mô lớn và linh hoạt hơn rất nhiều so với các nhà máy của Mỹ Họ có thể huy động hàng chục nghìn lao động chỉ trong một đêm Lý

do là bởi Trung Quốc có rất nhiều lao động thừa thãi và tập trung rất nhiều quanh các nhà máy, nên các nhà sản xuất có thể dễ dàng tập trung một số lượng lớn nhân công ngay khi cần thiết Ngoài ra, công nhân của Trung Quốc có những kỹ năng cần thiết để chế tạo các thiết bị phức tạp mà không phải mất quá nhiều chi phí cho họ

Tài nguyên thiên nhiên

Sự dồi dào về nguyên vật liệu với giá rẻ cũng là nhân tố tích cực thúc đẩy thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất phần cứng CNTT Đối với lĩnh vực phần cứng, các loại tài nguyên thiên nhiên được sử dụng trong sản xuất bao gồm các loại kim loại như sắt, niken, thiếc,… và các tài nguyên vô cơ như cacbon, chì, các chế phẩm từ dầu hỏa… Những loại tài nguyên này thường được tìm thấy và khai thác ở một số địa điểm nhất định trên thế giới Đặc biệt tại các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), khai thác tài nguyên thiên nhiên là mục tiêu quan trọng của nhiều nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài ở ngành CNTT trong các thập kỷ qua Thực tế cho thấy, trước khi có sự xuất hiện của Trung Quốc trên lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong CNTT (cũng là một nước có nhiều tài nguyên thiên nhiên, được ví là công xưởng của toàn thế giới), FDI chỉ tập trung vào một số quốc gia có thị trường rộng lớn và nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào như Brazil, Indonesia, Malaysia Mexico và Singapore trong giai đoạn 1973-1984

Khu vực công nghiệp phụ trợ

Theo định nghĩa của Cục phát triển Công nghiệp phụ trợ (CNPT) Thái Lan: CNPT

là các ngành công nghiệp cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra, đóng gói kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v… và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế Sản phẩm CNPT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ

và vừa (DNNVV)

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CNPT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực Công nghệ thông tin, đồng thời, kích thích phát triển doanh nghiệp CNTT nhỏ và vừa trong nước Muốn thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI, CNPT phải đi trước một bước, tạo nên cơ sở hạ tầng để cung cấp sản phẩm đầu vào cần thiết cho các ngành công nghiệp phần cứng bởi lẽ bản thân các tập đoàn và các công ty lớn về phần cứng hiện cũng chỉ giữ lại trong quy trình của mình các khâu nghiên cứu, phát triển sản phẩm và lắp ráp thay vì tất cả gói gọn trong một công ty hay nhà máy Xuất khẩu phần cứng là lĩnh vực đang phát triển mạnh tại Đông Á và là những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế so sánh động Các mặt hàng này thường có hàng trăm hoặc hàng ngàn bộ phận, linh kiện ở nhiều tầng lớp, từ những loại thông thường đơn giản đến những loại có công nghệ rất cao Đối với các công ty nước ngoài đầu tư vào ngành sản xuất này, tỷ lệ nội địa hoá càng cao càng có lợi Trên thực tế, phí tổn về linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian trong những sản phẩm thuộc các ngành sản xuất máy móc chiếm tới hơn 80% giá thành, lao động chỉ chiếm từ 5-10%, do đó khả năng nội địa hoá có tính chất quyết định đến thành quả kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, tỷ lệ của chi phí về CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNPT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn Chừng nào các ngành phụ trợ sẵn

có chưa được cải thiện đồng loạt, nhiều DNNVV của nước ngoài chưa đến đầu tư ồ

ạt thì FDI của các công ty lớn không thể tăng hơn

CNPT còn góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất trong ngành CNTT Bởi lẽ, dưới áp lực cạnh tranh, các công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI

1.3.2.2 Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh

Đây là những yếu tố được ban hành bởi các nhà nước trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh Những yếu tố này có thể kể đến: hoạt động xúc tiến đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư (miễn giảm thuế, ưu đãi về thuế, ưu đãi

về mặt bằng), các biện pháp giảm tiêu cực phí (đơn giản, hiệu quả hóa công tác

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quản lý, thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng dịch vụ tiện ích, công cộng nhằm nâng cao chất lượng đời sống con người

Các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh đầu tư còn chịu ảnh hưởng khá lớn của sự quan tâm của chính phủ đối với môi trường xã hội Môi trường xã hội bao gồm hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe cho người dân, hệ thống giáo dục và đào tạo, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác Những thực tế về việc công nhân bị bóc lột trong dây chuyền sản xuất iPhone và iPad ở Trung liên quan đến làm việc quá giờ, rủi ro sức khỏe đã khiến cho nhiều nhà đầu tư FDI e dè khi xây dựng nhà máy ở đất nước này Do đó, chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng cuộc sống, bao gồm cả vật chất và đời sống tinh thần của công nhân viên trong các nhà máy, doanh nghiệp FDI trong ngành CNTT nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư

1.3.2.3 Khung chính sách và luật pháp

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển không chỉ được quyết định bởi các yếu tố về kinh tế, mà còn chịu sự chi phối của các yếu tố chính trị Sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô, kết hợp với các ổn định về chính trị được xem

là rất quan trọng Có sự liên quan rất chặt chẽ giữa ổn định về chính trị với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Chính sách cởi mở và nhất quán của chính phủ cũng đóng một vai trò rất quan trọng Các chính sách đãi ngộ đối với các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp lớn tại Việt Nam là một ví dụ như thế

Ngoài ra, đối với một lĩnh vực công nghệ cao đòi hỏi nhiều chất xám như ngành Công nghệ thông tin thì môi trường pháp luật về vấn đề bảo vệ bản quyền và Sở hữu trí tuệ là một yếu tố hàng đầu trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Hiện nay, tài sản vô hình được xem là một trong các thành tố góp phần vào sự phát triển và sự thành đạt của doanh nghiệp Tài sản vô hình ngày càng thể hiện vai trò

và to lớn của nó trong khối lượng tài sản của một công ty, thậm chí, ở nhiều nước phát triển, tài sản vô hình vượt qua cả tài sản hữu hình để chiếm phần lớn giá trị của một doanh nghiệp Việc sở hữu bản quyền đối với các sản phẩm của mình từ lâu đã trở thành cuộc đua giữa các hãng công nghệ, các hãng giờ đây cạnh tranh về thương hiệu, vị trí của mình không còn giựa nhiều vào doanh số, lợi nhuận, quy mô nữa mà

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

dựa vào các sản phẩm về trí tuệ, cụ thể là các bản quyền Như công ty của Apple thì nguồn tài sản của việc Sở hữu trí tuệ chiếm phần lớn tổng giá trị của tập đoàn này BlackBerry đang nắm 5236 bằng sáng chế được đăng kí ở Mỹ, có giá trị từ 2 tới 3 tỉ USD Mở rộng ra hơn nữa, ở Mỹ và các nước phát triển thì tổng giá trị tài sản vô hình về phát minh sáng chế chiếm một phần không nhỏ trong tổng tài sản của quốc gia, và nó thậm chí càng ngày càng góp phần làm tăng khoảng cách giàu nghèo đối với các nước chậm phát triển

Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, đặc biệt là chế định bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là vô cùng cần thiết Điều này nhằm tạo

cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp FDI yên tâm và chủ động trong việc đầu tư, nghiên cứu và bảo vệ tài sản vô hình của mình

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

2.1 Khái quát về ngành Công nghệ thông tin ở Việt Nam

2.1.1 Sự hình thành của ngành Công nghệ thông tin Việt Nam

Ngành CNTT của Việt Nam có thể được xem là khởi đầu từ năm 1969 khi chính phủ cử một phái đoàn gồm 10 người do cố giáo sư Tạ Quang Bửu sang Liên Xô công tác, học tập và sau đó tiếp quản hệ thống máy tính đầu tiên của Việt Nam đặt tại Hà Nội Tuy nhiên thời kỳ này CNTT của nước ta kỹ thuật còn nhiều lạc hậu, hầu như chưa có gì phát triển

Sau khi mở cửa hội nhập trở lại với thế giới và khu vực, Việt Nam quyết định phát triển ngành CNTT theo hướng hiện đại, thông qua mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực

Năm 1993, nghị quyết 49/CP được chính phủ thông qua, đánh dấu bước ngoặt quan trọng cho việc ứng dụng và phát triển CNTT tại Việt Nam Nghị quyết yêu cầu Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường mời các chuyên gia từ Hoa Kỳ và các chuyên gia tin học hàng đầu Việt Nam khi đó cùng nhau xây dựng Kế hoạch tổng thể về ứng dụng và phát triển CNTT đến năm 2000 Bản kế hoạch được hoàn thành và phê duyệt ngày 07 tháng 04 năm 1995

Trong năm đó, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cũng đã bắt tay vào việc xây dựng các dự án nhằm phát triển Internet tại Việt Nam Quá trình Internet vào Việt Nam bắt đầu từ năm 1992, khi đó Viện Công nghệ thông tin thuộc Viện Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã sớm sử dụng Internet như một thuê bao xa của Úc Năm 1996, dự án phát triển Internet ở nước ta được trình và phê duyệt Năm 1997, Việt Nam chính thức triển khai Internet, đánh dấu bước đột phá mới trong quá trình phát triển CNTT tại nước ta Trải qua nhiều khó khăn, thách thức, Internet Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội và nâng cao đời sống của người dân

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Bước sang thế kỷ 21, ngành CNTT của Việt Nam đã đánh dấu những bước tiến triển vượt bậc Chúng ta đã xây dựng được một hệ thống mạng lưới CNTT rộng khắp và đa đạng, phát triển công nghiệp CNTT đạt nhiều thành tựu thuyết phục cả

về phần cứng, phần mềm cũng như nội dung số Đặc biệt trong những năm vừa qua, các nhà đầu tư FDI đã chọn Việt Nam là điểm đến đầy hứa hẹn và tiềm năng cho hoạt động sản xuất và nghiên cứu Công nghệ thông tin của mình Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ, ngành CNTT đã không ngừng phát triển góp phần thúc đẩy sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của ngành CNTT trong nền Kinh tế đã chuyển biến rõ rệt, trở thành một ngành mũi nhọn của cả nước

2.1.2 Thực trạng phát triển ngành Công nghệ thông tin Việt Nam

Công nghiệp công nghệ thông tin (CNCNTT) đóng vai trò ngày càng quan trọng không chỉ là một ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao mà còn là hạ tầng thúc đẩy phát triển các ngành KT-XH khác Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16/1/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã khẳng định phát triển hạ tầng thông tin là một trong mười hạ tầng chủ lực để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020 Trong đó, phát triển mạnh công nghiệp công nghệ thông tin là một nội dung quan trọng của phát triển hạ tầng thông tin

Tuy nhiên, thực trạng phát triển CNCNTT ở Việt Nam hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng Mặc dù đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, nhưng quy mô phát triển của toàn ngành nhỏ, năng lực hoạt động và khả năng cạnh tranh so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn yếu

2.1.2.1 Doanh nghiệp CNTT tại Việt Nam

Doanh nghiệp phần cứng – điện tử (PC-ĐT), tính đến cuối năm 2012 cả nước có

khoảng 300 doanh nghiệp thực sự hoạt động trong lĩnh vực PC-ĐT (số doanh nghiệp đăng ký khoảng 2.400), chủ yếu tập trung chính ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Trong đó, có gần 100 doanh nghiệp FDI (Vụ Công nghệ thông tin, 2013) Đây là các doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu, được đầu tư bài bản, nhà xưởng khang trang, trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao và đóng vai trò

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quan trọng trong cơ cấu ngành hàng cũng như xuất khẩu Các doanh nghiệp loại này đều đánh giá cao các điều kiện làm việc và chất lượng nhân công ở Việt Nam và đều hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Hầu hết các doanh nghiệp PC-ĐT của Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thực hiện khâu lắp ráp và thương mại dịch vụ là chính Các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) đa phần có cơ sở hạ tầng tốt, trình độ công nghệ trung bình và hoạt động sản xuất kinh doanh tương đối hiệu quả còn các doanh nghiệp tư nhân đều là các doanh nghiệp nhỏ, một số ít có quy mô vừa Trừ một số rất ít doanh nghiệp như TQT (Nha Trang), CMS (Hà Nội), FPT Elead (TP Hồ Chí Minh) có công nghệ tương đối tiên tiến, công nghệ và trang thiết bị của các doanh nghiệp tư nhân khác đều lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém Tuy mức tăng trưởng của các doanh nghiệp tư nhân cao song phần giá trị gia tăng vẫn rất thấp do tiềm lực tài chính và công nghệ

bị hạn chế

Doanh nghiệp phần mềm (PM), trong vòng 14 năm kể từ năm 2000, ngành công

nghiệp phần mềm Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng cũng như quy mô của nhiều doanh nghiệp Nếu như năm 2000, chỉ có 25 doanh nghiệp với quy mô rất nhỏ chỉ khoảng 20 - 30 người/doanh nghiệp, thì đến nay Việt Nam đã có những doanh nghiệp với quy mô hàng nghìn lao động Tính chung trên

cả nước có hơn 1000 doanh nghiệp phần mềm (số doanh nghiệp đăng ký khoảng 7.200), trong đó có 200 công ty phần mềm với quy mô từ 150-200 lao động, có khoảng 10 doanh nghiệp với quy mô xấp xỉ hoặc hơn 1000 người, tiêu biểu trong số

đó phải kể đến các công ty FPT Software, FPT Information Systems, TMA, PSV…(Vụ Công nghệ thông tin, 2014)

Đa số các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam vẫn là các công ty nhỏ và vừa, với năng lực cạnh tranh còn hạn chế, quy trình sản xuất và quản lý chất lượng chưa cao, đội ngũ chuyên gia bậc cao còn ít, chưa có kinh nghiệm marketing Hầu hết các doanh nghiệp phần mềm chưa đủ năng lực tài chính để có thể tăng mức đầu tư cho các hoạt động marketing, R&D, đào tạo nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Nhiều doanh nghiệp chưa có chiến lược đầu tư lâu dài về sản phẩm cũng như thị trường Mặc dù vậy, Việt Nam đã có được một số doanh nghiệp đạt chứng về

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

quy trình quản lý chất lượng sản xuất phần mềm quốc tế CMMI mức 3, 4, 5 và các chứng chỉ quốc tế khác có uy tín trong lĩnh vực sản xuất phần mềm, đảm bảo an toàn thông tin như ISO 27001 Đây là những dấu hiệu rất đáng mừng về năng lực phát triển của các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam trong thời gian qua

Doanh nghiệp nội dung số (NDS), tính đến hết năm 2012, trên cả nước có khoảng

hơn 19.600 đơn vị đăng ký tham gia sản xuất, cung cấp sản phẩm nội dung số thuộc các lĩnh vực khác nhau, nhưng thực tế chỉ có 300 đơn vị chuyên hoạt động và thực

sự hoạt động (Vụ Công nghệ thông tin, 2013) Số lượng doanh nghiệp như vậy là khá nhỏ so với nếu so với một số quốc gia có nền công nghiệp NDS phát triển trong khu vực (Đài Loan vào năm 2006 có khoảng 3.000 doanh nghiệp, tính riêng các DN phát triển trò chơi điện tử Hàn Quốc đã có trên 3.300 DN)

Hầu hết các doanh nghiệp NDS Việt Nam đều mới thành lập hoặc mới tham gia vào lĩnh vực này, sức cạnh tranh của các DN nội dung số Việt Nam còn yếu Có thể nói, tại Việt Nam chưa có doanh nghiệp thống lĩnh thị trường NDS, bằng chứng là doanh nghiệp ICT tiêu biểu nhất 2012 về NDS (là VinaGame) thì doanh thu (khoảng 2000 tỷ đồng) cũng chỉ chiếm 7,4% doanh thu toàn ngành Ngoài ra, một điểm yếu nữa là thiếu tính sáng tạo, ví dụ, có tới 50% bản phác thảo đồ họa là sao chép không phải do chúng ta tự tạo ra (Vụ Công nghệ thông tin, 2013)

2.1.2.2 Sản phẩm CNTT tại Việt Nam

Sản phẩm phần cứng – điện tử, cơ cấu sản phẩm tuy đã được cải thiện ít nhiều trong

thời gian qua, nhưng vẫn mất cân đối nghiêm trọng mà biểu hiện rõ rệt nhất là sự chênh lệch giữa sản phẩm điện tử chuyên dùng và sản phẩm điện tử dân dụng Số liệu thống kê gần đây của Vụ Công nghệ thông tin năm 2013 cho thấy đầu tư vào sản xuất sản phẩm điện tử chuyên dùng – tin học chỉ chiếm khoảng 11,5%, trong khi đó con số tương ứng với sản phẩm điện tử dân dụng và sản xuất linh phụ kiện chiếm tương ứng là 67% và 21,5% Doanh số sản xuất của sản phẩm chuyên dùng chỉ có 20%, còn của sản phẩm dân dụng chiếm tới 80% Trong khi đó, ở các nước

có nền công nghiệp điện tử phát triển thì tỉ lệ sản phẩm điện tử dân dụng chỉ chiếm khoảng 12%-15% Việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm gặp nhiều khó khăn do nguồn lực công nghệ và nguồn vốn đầu tư hạn hẹp

Trang 36

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Sản phẩm phần mềm, thời gian qua, các đơn vị sản xuất phần mềm Việt Nam đã

cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm có giá trị, đáng chú ý là các phần mềm quản lý như phần mềm kế toán, phần mềm nhân sự, phần mềm quản lý đầu tư Đặc biệt, nhiều phần mềm chuyên dùng phục vụ viễn thông (phần mềm tổng đài, phần mềm tính cước, chăm sóc khách hàng ), phần mềm phục vụ Chính phủ điện tử cũng đã được các tập đoàn VNPT, Viettel đẩy mạnh phát triển Các doanh nghiệp phần mềm Việt Nam khác như FSoft, CSC, TMA, Global Cybersoft, đã phát triển nhiều sản phẩm và dịch vụ phần mềm trên nền điện toán đám mây, đẩy mạnh gia công phần mềm cho thị trường Nhật Bản, Bắc Mỹ và Châu Âu Đồng thời, nhiều sản phẩm phần mềm nguồn mở đã được đầu tư, phát triển và bản địa hóa (như phần mềm một cửa điện tử, phần mềm chuyên ngành thanh tra, khiếu nại tố cáo…)

Có 3 nhóm trong lĩnh vực này là sản xuất gia công, cung cấp dịch vụ và sáng tạo sản phẩm, trong đó ngưỡng phát triển cao nhất là sáng tạo sản phẩm Mặc dù xếp thứ 10 trong số các quốc gia hấp dẫn nhất về gia công phần mềm (A.T Kearney, 2013), nhưng có một nghịch lý là doanh thu từ gia công phần mềm của Việt Nam rất nhỏ Nhân lực làm phần mềm chưa đạt chuẩn quốc tế, thiếu kỹ năng chuyên môn sâu, ngoại ngữ và các kỹ năng làm việc chuyên nghiệp, mức lương thấp (trung bình chỉ bằng 1/50 thu nhập của một chuyên gia Nhật Bản) là những yếu tố cản trở việc sáng tạo ra các sản phẩm phần mềm có giá trị Ngoài ra, các vấn đề về tỉ lệ vi phạm bản quyền cao, thiếu các quy định về định giá, định mức xây dựng phầm mềm cũng góp phần không nhỏ tác động đến việc đầu tư sản xuất phần mềm

Sản phẩm nội dung số, những năm gần đây, số người sử dụng Internet liên tục tăng

nhanh đạt khoảng 31,3 triệu người vào năm 2012, khoảng 15,3 triệu người truy cập

di động 3G (Bộ Thông tin và truyền thông, 2013) Chính vì số người sử dụng tăng

và sự tiện lợi của mạng 3G đã thúc đẩy phát triển nhiều sản phẩm nội dung số phong phú trên nền Internet và điện thoại di động Chương trình xây dựng 1 triệu bài giảng điện tử do giáo viên tự làm do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động đã góp phần hình thành kho tài liệu tham khảo trực tuyến lớn Một số sản phẩm nội dung số của Việt Nam đã bước đầu được chấp nhận tại thị trường nội địa, có thể kể đến trang mạng xã hội Zing Me của VinaGame với số lượng người sử dụng đông đảo

Trang 37

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

vào bậc nhất hiện nay Công nghiệp nội dung số là sự tích hợp đa dạng của các ngành, lĩnh vực khác trên nền tảng CNTT và truyền thông Chính sự yếu kém của các ngành tích hợp đầu vào hiện nay đang góp phần hạn chế chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm nội dung số cuối cùng Đây chính là điểm yếu cần được hỗ trợ phát triển và điểu phối để phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam thời gian tới

2.1.2.3 Thị trường sản phẩm CNTT

Thị trường sản phẩm phần cứng – điện tử (PC-ĐT), thị trường trong nước mang

đậm đặc điểm của một nền sản xuất nhận chuyển giao công nghệ, một thị trường giàu tiềm năng nhưng chưa thật sự phát triển Công nghệ sản xuất đơn giản, chủ yếu

là lắp ráp hoặc chế tác trên cơ sở hợp đồng mua bản quyền của đối tác nước ngoài nên giá trị gia tăng của sản phẩm thấp, khoảng 5-10% (Vụ Công nghệ thông tin, 2013) Do không chủ động được về công nghệ và nguyên liệu, các doanh nghiệp trong nước đóng vai trò mờ nhạt, không thể điều tiết được thị trường Mặc dù vậy, một số DN phần cứng trong nước đã bắt đầu quan tâm đầu tư dây chuyền sản xuất tiên tiến, cải thiện hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế và khẳng định vị thế trong nước của mình FPT Elead, CMS là những ví dụ điển hình Nhìn chung, với trên 90% tổng giá trị đầu tư và xấp xỉ 100% kim ngạch xuất khẩu, các doanh nghiệp liên doanh nắm vai trò quan trọng, chi phối thị trường hàng PC-

ĐT trong nước Thị trường nội địa thời gian tới có xu hướng nghiên cứu thiết kế sản phẩm, lựa chọn linh kiện và gắn mác sản phẩm, tập trung phát triển các sản phẩm điện thoại thông minh, máy tính bảng giá rẻ mang thương hiệu Việt Nam (A-Mobile, AVIO mobile, Bipad, Pi COO.)

Đối với thị trường quốc tế, kim ngạch xuất khẩu năm 2012 đạt trên 22,9 tỷ USD (Vụ Công nghệ thông tin, 2013) Doanh số xuất khẩu chủ yếu tập trung từ khu vực liên doanh, giá trị gia tăng thấp do chủ yếu từ hoạt động gia công, lắp ráp, nguyên liệu phụ thuộc nhập khẩu Hơn nữa, một đặc điểm quan trọng là, do chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên thực chất không có liên hệ trực tiếp với thị trường, cạnh tranh chủ yếu trên cơ sở chi phí nhân công thấp Tuy nhiên, dịch vụ PC-ĐT đã từng bước vươn ra thị trường quốc tế, ví dụ, dịch vụ tân trang tái chế hộp mực in có kim

Trang 38

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

ngạch xuất khẩu tới 230 triệu USD vào năm 2011 (Vụ Công nghệ thông tin, 2013) Thời gian tới, nhiều tập đoàn đa quốc gia đang có kế hoạch mở rộng đầu tư sản xuất thiết bị phần cứng, điện tử vào Việt Nam, điển hình như Intel, Samsung Electronics,

HP, Nokia

Thị trường sản phẩm phần mềm, thị trường nội địa chủ yếu phụ thuộc vào sức mua

của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, chủ yếu do đầu tư từ NSNN của các Bộ, ngành, tập đoàn, tổng công ty nhà nước Theo một khảo sát của HCA (Hội tin học t/p Hồ Chí Minh, 2013), có tới 70% doanh nghiệp phần mềm (DNPM) chủ yếu định hướng thị trường trong nước Điều này phản ánh quy mô nhỏ của các DNPM, chưa

tự tin vươn ra thị trường quốc tế cũng như tầm quan trọng của thị trường trong nước – là môi trường để các DN rèn luyện, nâng cao năng lực

Đối với thị trường ngoài nước, doanh nghiệp phần mềm Việt Nam cung cấp dịch vụ gia công phần mềm là chủ yếu Vào năm 2013, tổ chức A.T Kearney đã đánh giá Việt Nam xếp hạng thứ 10 trong số các quốc gia hấp dẫn nhất về gia công phần mềm Nguyên nhân chính là vì Việt Nam là nước có dân số trẻ, 60% trong độ tuổi lao động (tuổi từ 17 đến 60), 94% dân số biết chữ, giá nhân công cạnh tranh, lao động Việt Nam cần cù và thích nghi nhanh Thị trường nước ngoài chủ yếu tập trung vào khu vực Bắc Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản Tuy nhiên, theo Hiệp hội CNTT Nhật Bản (JISA), năm 2012, gia công phần mềm của Việt Nam cho nước này mới chỉ chiếm tỷ lệ 0,5%, rất nhỏ so với 84,3% của Trung Quốc Ngoài gia công phần mềm thì các DNPM Việt Nam chưa đủ khả năng thắng được những gói thầu lớn trên thị trường quốc tế vì các DN hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, chưa có thương hiệu, liên kết với nhau còn yếu Công tác xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh ngành công nghiệp phần mềm Việt Nam ra nước ngoài còn rất hạn chế

Thị trường sản phẩm nội dung số: ngay ở thị trường trong nước, cạnh tranh trực tiếp

giữa DN nội dung số Việt Nam với những hãng lớn của thế giới diễn ra hết sức khốc liệt Có thể nói rằng, sự phát triển của thị trường NDS gắn liền với hạ tầng và các xu hướng công nghệ Thế nhưng, cho dù ở mảng kỹ thuật hay nội dung, doanh nghiệp nước ngoài vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối so với doanh nghiệp trong nước Mặc

dù tiềm năng của thị trường rất lớn và hấp dẫn, nhưng có quá ít lợi thế cạnh tranh

Trang 39

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

nên các doanh nghiệp trong nước cần cố gắng đi vào các phân khúc nhỏ của thị trường để tạo ra sự khác biệt

Trước thực trạng cạnh tranh không cân sức này, nếu doanh nghiệp NDS không hợp tác tốt với các nhà mạng thì thị trường NDS sẽ vẫn rơi vào tay các DN nước ngoài Thị trường mạng xã hội trên di động là một minh chứng, hiện nay chưa một DN trong nước nào vượt qua được Facebook Để giải quyết thực trạng này của thị trường NDS Việt Nam, cần có sự can thiệp của Nhà nước thông qua các chính sách cởi mở, rõ ràng tạo điều kiện cho các DN trong nước phát triển, nâng cao năng lực

2.1.2.4 Môi trường chính sách phát triển CNTT

Hệ thống chính sách cho CNTT đến nay đã từng bước được hoàn thiện nhưng vẫn còn thiếu và chưa thực sự đi được vào thực tiễn Cũng như nhiều chính sách khác, khi ban hành cần thời gian để có thể triển khai, kiểm chứng Đối với CNTT, chính

sự tiến bộ nhanh chóng về công nghệ khiến cho các chính sách chưa kịp có đủ thời gian trải nghiệm, áp dụng thực tế đã phải cập nhật, chỉnh sửa để tránh bị lạc hậu

Luật CNTT ra đời vào năm 2006 đã tạo khung pháp lý chung nhất cho toàn ngành CNTT Ngay sau khi Luật CNTT ra đời, Chính phủ đã ban hành riêng một Nghị định hướng dẫn một số điều của Luật về CNCNTT (71/2007/NĐ-CP ngày 3/5/2007 – Nghị định 71)

Về đầu tư, mua sắm sản phẩm CNTT, Thủ tướng đã ra các Quyết định số: 169/2006/QĐ-TTg ngày 17/7/2006 và 223/2006/QĐ-TTg ngày 4/10/2006 quy định

về việc đầu tư, mua sắm các sản phẩm CNTT của các cơ quan, tổ chức sử dụng nguồn vốn NSNN Triển khai các Quyết định này của Thủ tướng, Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư 42/2009/TT-BTTTT ngày 30/12/2009 quy định chi tiết về ưu tiên đầu tư, mua sắm các sản phẩm CNTT sản xuất trong nước bằng nguồn vốn NSNN hoặc vốn có nguồn gốc từ NSNN Việc triển khai các quy định này cũng gặp nhiều bất cập vì thiếu chế tài, nhiều sản phẩm sản xuất trong nước chưa đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của nhà đầu tư

Mặc dù Nghị định 102/2009/NĐ-CP về quản lý và đầu tư dự án ứng dụng CNTT từ nguồn vốn ngân sách nhà nước đã được ban hành nhưng vấn đề ưu tiên sản phẩm

Trang 40

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CNTT thương hiệu Việt, ưu tiên sản phẩm phần mềm nguồn mở (PMNM), cân đối đầu tư giữa mua sắm sản phẩm phần cứng và phần mềm cũng chưa được quan tâm đúng mức, chưa chiếm lĩnh được thị trường trong khối CQNN Các dự án đầu tư sản xuất PM, NDS, PC-ĐT hiện không thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP ngày 30/8/2011 của Chính phủ không khuyến khích được đầu tư vào CNCNTT

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 392-QĐ-TTg ký ngày 27/3/2015 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp CNTT Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là văn bản quan trọng nhất tính đến nay

2.1.2.5 Tình hình sản xuất, kinh doanh ngành công nghiệp CNTT ở Việt Nam

Qua nhiều năm qua, nhìn chung ngành Công nghiệp CNTT ở Việt Nam đạt tốc độ

tăng trưởng cao về nhiều yếu tố

Bảng 2.1: Các chỉ số sản xuất ngành Công nghiệp CNTT qua các năm gần đây

(Đơn vị: triệu USD)

2008 2009 2010 2011 2012 2013 Tổng doanh thu (Triệu USD) 5,220 6,167 7,629 13,663 25,458 39,530

Tổng số lao động (người) 202,008 226,300 250,290 306,754 352,742 441,008

Kim ngạch xuất khẩu linh kiện, sản phẩm, thiết bị phần cứng, máy tính, điện tử (triệu USD)

2807 3,370 5,666 10,893 22,916 34,760

Doanh thu bình quân/1 lao động (USD/người/năm) 21,503 23,054 25,768 33,920 48,286 55,112 Mức lương bình quân

(USD/người/năm) 2,620 3,136 4073 4193 4163 4198

Nguồn: Sách trắng CNTT và Truyền thông Việt Nam (Bộ TT&TT)

Trong những năm qua, tổng doanh thu ngành CNTT liên tục duy trình mức độ tăng trưởng cao Theo Sách trắng CNTT 2014, ngành công nghiệp CNTT đạt tổng doanh thu năm 2013 trên 39 tỷ USD, tăng 55% so với năm 2012 Trong đó, lĩnh vực công nghiệp phần cứng - điện tử tăng trưởng mạnh doanh thu nhờ hoạt động xuất khẩu

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w