1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

71 301 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với hình thức doanh nghiệp liên doanh, nước chủ nhà tham gia quản lý cùng các nhà ĐTNN nên có điều kiện tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất ki

Trang 1

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

Trang 2

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 3

1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 3

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm 3

1.1.2 Các hình thức FDI 4

1.1.3 Vai trò của hoạt động FDI đối với nước nhận đầu tư 7

1.2 Tổng quan về ngành du lịch 13

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm 13

1.2.2.Các hình thức du lịch 15

1.2.3.Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế 18

1.3.Tổng quan về FDI vào ngành du lịch 19

1.3.1.Vai trò của FDI đối với ngành du lịch 19

1.3.2.Các yếu tố của nước nhận đầu tư ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào ngành du lịch 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 23

2.1.Các yếu tố thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam 23

2.1.1.Khung chính sách về FDI của Việt Nam đối với ngành du lịch 23

2.1.2 Các yếu tố kinh tế 24

2.1.3 Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh 29

2.2.Thực trạng thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam 30

2.2.1.Tình hình chung 30

2.2.2 FDI vào ngành du lịch phân theo vùng và địa phương 32

2.2.3.FDI vào ngành du lịch phân bổ vốn theo loại hình kinh doanh 33

2.2.4.FDI vào ngành du lịch phân theo đối tác 35

2.2.5 FDI vào ngành du lịch phân theo hình thức đầu tư 37

2.3.Đánh giá việc thu hút FDI vào việc phát triển ngành du lịch Việt Nam 38

Trang 3

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

2.3.1.Những thành công trong việc thu hút FDI vào ngành du lịch 38

2.3.2.Những hạn chế trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch ở Việt Nam 42

2.3.3.Nguyên nhân 45

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 49

3.1.Định hướng thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 2015-2020 49

3.1.1.Về lĩnh vực đầu tư 49

3.1.2.Về địa điểm đầu tư 49

3.1.3.Về chủ đầu tư 50

3.1.4.Về hình thức đầu tư 50

3.2.Bài học kinh nghiệm của một số nước Châu Á trong việc thu hút FDI vào ngành du lịch 50

3.2.1.Đơn giản hóa thủ tục, quy trình đầu tư vào ngành du lịch 51

3.2.3.Giảm thuế, ưu đãi tài chính với các doanh nghiệp có vốn FDI 51

3.2.4.Các chính sách ưu đãi về dịch vụ 52

3.2.5.Xây dựng cơ sở hạ tầng 52

3.2.6.Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao 52

3.3.Các giải pháp nhằm thu hút FDI vào ngành du lịch 53

3.3.1.Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch Việt Nam 53

3.3.2.Thu hút thêm nhiều đối tác thông qua việc đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư vào ngành du lịch Việt Nam 55

3.3.3.Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về Đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch 58

3.3.4.Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế và du lịch Việt Nam 58

3.3.5.Tăng cường đào tạo lực lượng lao động trong ngành du lịch Việt Nam 60

3.3.6.Thu hút FDI vào ngành du lịch một cách đồng đều vào các địa phương 62 KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

IMF Qũy tiền tệ quốc tế ĐTNN Đầu tư nước ngoài FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài DNLD Doanh nghiệp liên doanh BOT Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao M&As Sáp nhập và Mua lại

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

VT Vận tải

DL Du lịch

KV Khu vực UNTACD Hội nghị liên hiệp quốc về thương mại và phát triển UNWTO Tổ chức Du lịch thế giới

OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

Trang 5

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Số lượng cơ sở lưu trú của ngành du lịch giai đoạn 2008-2014 26 Bảng 2.2 Một số thống kê của ngành hàng không 27 Bảng 2.3 Thống kê lượt khách và mức tăng trưởng của một số ngành vận tải 28 Bảng 2.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam phân theo địa phương 32 Bảng 2.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam phân theo lĩnh vực 34 Bảng 2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam phân theo đối tác 35 Bảng 2.7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam phân theo hình thức đầu tư 37 Bảng 2.8 Thuế và phí trả bởi các doanh nghiệp trong ngành du lịch chia theo chủ sở hữu từ năm 2012-2014 40

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2008-2014 25 Biểu đồ 2.2: Nhân lực trong lĩnh vực nhà hàng – khách sạn phân theo trình độ 29 Biểu đồ 2.3 FDI vào ngành du lịch và FDI cả nước giai đoạn 2008-2014 31 Biểu đồ 2.4 Lao động hoạt động trong doanh nghiệp du lịch có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp du lịch nói chung 41

Trang 6

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với một quốc gia, nguồn vốn là rất cần thiết cho sự thúc đẩy phát triển của nền kinh tế Đầu tư là động lực quan trọng trong việc tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội Trong đó, với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế xã hội, tăng GDP, tạo công ăn việc làm cho người lao động và nhiều mục tiêu khác thì nguồn vốn trong nước mới chỉ đáp ứng một phần, còn phần lớn là phải nhờ vào nguồn vốn huy động từ nước ngoài, trong đó có FDI Theo kết quả thu hút nguồn vốn FDI trong các năm gần đây, vốn FDI tập trung chủ yếu vào các ngành sản xuất công nghiệp xuất khẩu và công nghệ phụ trợ Tuy nhiên những năm gần đây, FDI đang có xu hướng chuyển sang khu vực dịch vụ và trong lĩnh vực dịch vụ, du lịch là ngành chiếm tỷ trọng lớn Việt Nam được biết đến là một quốc gia có nhiều cảnh đẹp tự nhiên với nhiều kì quan và thắng cảnh nổi tiếng quốc tế Theo Tổ chức Du lịch thế giới, Việt Nam được xếp hạng một trong những điểm đến hấp dẫn nhất hành tinh trong thế kỉ 21 Ngành du lịch đã được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về số lượng du khách và các điểm tham quan thì cơ sở vật chất của ngành du lịch chưa đủ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Thời gian qua, FDI vào ngành du lịch tuy chưa cao nhưng đã có những chuyển biến tích cực, lượng vốn FDI vào ngành du lịch ngày càng tăng Tuy nhiên, hoạt động thu hút FDI vào ngành du lịch tại Việt Nam còn hạn chế với lượng vốn đầu tư ít và vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của ngành “công nghiệp không khói” này

Xuất phát từ thực tiễn đó, em đã chọn đề tài “ Thu hút FDI vào ngành du lịch

Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của

mình

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Phân tích, đánh giá thực trạng thu hút FDI của Việt Nam trong lĩnh vực du lịch, từ đó đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp để thu hút FDI vào ngành

du lịch Việt Nam

Trang 7

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu đề tài là hoạt động thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu đề tài:

+ Về không gian: Ngành du lịch tại Việt Nam + Về thời gian: Các số liệu phân tích được lấy từ năm 2008 đến hết năm 2014

Phương hướng và giải pháp đề xuất đến hết năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như: các số liệu được lấy từ các nguồn sơ cấp và thứ cấp, kết hợp các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích,

5 Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo danh mục bảng biểu, sơ đồ và danh mục các từ viết tắt, khóa luận được kết cấu như sau:

Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt

Nam

Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào ngành du lịch của Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp để thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam

Em rất mong các thầy cô góp ý và sửa chữa để giúp em hoàn thiện đề tài này

Em xin chân thành cảm hơn Ths.Trần Thanh Phương đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận

Trang 8

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

NƯỚC NGOÀI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm

Mọi quá trình sản xuất đều cần có hai yếu tố cơ bản là tư liệu sản xuất và sức lao động, thiếu hai yếu tố đó thì sẽ không tạo nên bất cứ quá trình sản xuất nào Để

có được hai yếu tố cơ bản đó, vấn đề đặt ra là cần có vốn đầu tư và thực hiện hoạt động đầu tư Vốn đó dù có sự khác nhau về quy mô hay cơ cấu, song là cần thiết với mọi quá trình sản xuất, mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển – những nước mà chưa hoàn thành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Vốn đầu tư có thể được huy động trong nước cũng như từ nước ngoài Trong điều kiện quốc tế hóa đời sống được đẩy mạnh như hiện nay thì nguồn vốn nước ngoài càng trở nên phổ biến và có vai trò không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong các kênh thu hút vốn Đầu tư nước ngoài của một quốc gia

Trên thế giới có nhiều cách diễn giải khái niệm về FDI, tùy theo góc độ tiếp cận của các nhà kinh tế Sau đây là một vài khái niệm về FDI:

Theo IMF: FDI nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành được quyền quản lý thực sự doanh nghiệp

Theo OECD: Đầu tư trực tiếp được thực hiện nhằm thiết lập mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập hoặc mở rộng doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới, (iv) Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)

Theo Luật Đầu tư năm 2005 tại Việt Nam, khái niệm “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, tuy nhiên vẫn chưa có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”, tuy nhiên từ các khái niệm trên thì có thể hiểu: “FDI là một hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn

Trang 9

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đầu tư cho một dự án ở nước khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đó”

Đây là loại hình đầu tư chủ yếu có thời hạn dài, vốn đầu tư được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm mục tiêu lợi nhuận

 Nguồn vốn FDI có thể của cá nhân, chính phủ hoặc hỗn hợp – nghĩa là chủ đầu tư phải có yếu tố nước ngoài mà thể hiện là sự khác nhau về quốc tịch, lãnh thổ

 Chủ sở hữu vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình tùy theo mức độ góp vốn

 Việc tiếp nhận FDI không gây gánh nặng nợ nần cho nước chủ nhà, trái lại nước chủ nhà còn có điều kiện như vốn, kĩ thuật,…để phát triển tiềm năng trong nước

1.1.2 Các hình thức FDI Theo cách thức xâm nhập

Phân theo cách thức xâm nhập thì FDI được chia thành hai hình thức đó là: Đầu tư mới (greenfield investment): Chủ đầu tư sẽ góp vốn với một bên ở nước nhận đầu tư để xây một cơ sở kinh doanh hoặc một doanh nghiệp mới Hình thức này rất được nước nước nhận đầu tư ưa chuộng vì nó tăng thêm vốn, việc làm

và giá trị gia tăng cho nước nhận

Sáp nhập mua lại qua biên giới (Cross-border Merger & Acquisition): Theo hình thức này thì chủ đầu tư sẽ mua lại hoặc sáp nhập vào một doanh nghiệp đã có sẵn ở nước nhận đầu tư Theo Luật Cạnh tranh có hiệu lực từ 1/7/2005 thì: “Sáp nhập (merger) doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập; Mua lại (accquisition) doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” M&A được nhiều chủ đầu tư ưa chuộng hơn so với hình thức đầu tư mới vì chủ đầu tư có thể tiết kiệm được chi phí đầu tư, việc tiếp cận với thị trường mới cũng diễn ra nhanh và dễ dàng hơn

Trang 10

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Theo quan hệ về ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tư và đối tượng tiếp nhận đầu tư

Xét theo tiêu chí này thì FDI được chia thành ba hình thức là:

FDI theo chiều dọc: Chủ đầu tư mua lại các kênh phân phối ở nước nhận đầu

tư nhằm khai thác nguyên vật liệu và gần gũi với người tiêu dùng hơn Do đó, doanh nghiệp đầu tư và doanh nghiệp nhận đầu tư cùng nằm trong một dây chuyền sản xuất và cùng phân phối một sản phẩm

FDI theo chiều ngang: Chủ đầu tư sẽ sản xuất cùng một loại sản phẩm hoặc

sản phẩm tương tự như đã sản xuất ở nước mình Sự khác biệt về sản phẩm chính là chìa khóa quyết định thành công của hình thức FDI này FDI theo chiều ngang được

sử dụng để tận dụng lợi thế độc quyền, đặc biệt khi việc phát triển thị trường trong nước vi phạm luật chống độc quyền

FDI hỗn hợp: Được áp dụng khi doanh nghiệp chủ đầu tư và doanh nghiệp

tiếp nhận đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực và các ngành nghề khác nhau

Theo định hướng của nước nhận đầu tư

Theo tiêu chí này FDI được chia thành ba hình thức:

FDI thay thế nhập khẩu: Hoạt động FDI này sẽ giúp nước nhận đầu tư sản xuất được những sản phẩm mà trước đây nước này phải nhập khẩu Các yếu tố ảnh hưởng đến hình thức này là dung lượng thị trường, các rào cản thương mại của nước nhận đầu tư và chi phí vận tải

FDI tăng cường xuất khẩu: Với hình thức này, chủ đầu tư không chỉ nhắm đến thị trường của nước nhận đầu tư mà muốn mở rộng ra trên toàn thế giới Các yếu tố cần lưu ý là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào với giá rẻ của các nước nhận đầu tư như nguyên vật liệu, bán thành phẩm

FDI theo các định hướng khác của chính phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư

có thể áp dụng các biện pháp khuyến khích đầu tư để điều chỉnh dòng vốn FDI chảy vào nước mình theo đúng ý đồ của mình

Theo định hướng của chủ đầu tư

Theo tiêu chí này thì FDI được chia thành hai hình thức là:

Trang 11

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

FDI phát triển: chủ đầu tư có mục đích khai thác các lợi thế về quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước nhận đầu tư Hình thức này giúp tăng lợi nhuận bằng cách tăng doanh thu do việc mở rộng thị trường ra nước ngoài

FDI phòng ngự: Chủ đầu tư có mục đích khai thác nguồn lao động giá rẻ để giảm chi phí sản xuất, từ đó tăng lợi nhuận

Doanh nghiệp liên doanh: Đây là một hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng chia sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc các hoạt động nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh kí kết giữa các bên tham gia phù hợp với các quy định của nước sở tại

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là doanh nghiệp do các nhà ĐTNN đầu tư 100% vốn, do đó hoàn toàn thuộc sở hữu của các nhà ĐTNN, chịu sự điều hành, quản lý của các nhà ĐTNN nhưng vẫn là pháp nhân nước sở tại, chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại

Ngoài ra, còn có một số hình thức FDI khác như: Hình thức BOT (Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao), BTO (Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh), BT (Xây dựng – Chuyển giao), được thành lập khi nước chủ nhà có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm nhưng nước chủ nhà lại không có khả năng đáp ứng Đặc biệt với những nước có cơ sở hạ tầng yếu kém thì hình thức này được ưa chuộng vì họ không có đủ vốn để xây dựng các hệ thống hạ tầng cho nền kinh tế

Trang 12

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

1.1.3 Vai trò của hoạt động FDI đối với nước nhận đầu tư

FDI là một đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới hiện đại, một yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn, khó có một lợi ích nào không đòi hỏi chi phí FDI mang lại lợi ích và cả rủi ro cho nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Tuy nhiên trong nghiên cứu này ta chỉ xem xét tác động của FDI tới nước nhận đầu tư – chủ yếu là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Những lợi thế của FDI

Thứ nhất, FDI bổ sung nguồn vốn cho nước chủ nhà phát triển kinh tế mà không làm tăng gánh nặng nợ nần

Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, các nước đang phát triển đều bị thiếu vốn đầu tư do tích lũy nội bộ thấp hoặc không có tích lũy Điều này đã hạn chế đến quy mô đầu tư và đổi mới công nghệ, trang thiết bị kĩ thuật ở các nước này FDI là loại hình đầu tư không quy định vốn đầu tư tối đa mà chỉ quy định mức đầu tư tối thiểu, do vậy cho phép nước sở tại khai thác được nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để phát triển kinh tế Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của kinh tế xã hội và thường là nguồn vốn đầu tư dài hạn, do các nhà ĐTNN tự quản lý và tự chịu kết quả kinh doanh nên có hiệu quả để tăng trưởng kinh tế bền vững

Bên cạnh đó, như đã nói FDI là nguồn vốn do các nhà ĐTNN “tự làm, tự chịu”, nó khác với các khoản viện trợ chính thức (ODA) hay các khoản tín dụng quốc tế khác là không gây ra gánh nặng nợ nần cho nước tiếp nhận đầu tư nên các nước đang chịu sức ép nợ nần ở khu vực Châu Á, đặc biệt là khu vực Mỹ Latinh rất mong muốn tiếp nhận nguồn vốn đầu tư này

Thứ hai, FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản

lý kinh doanh của nước ngoài

Ở các nước đang phát triển, công nghệ thường là công nghệ cổ truyền, lạc hậu với năng suất thấp Bên cạnh đó, với trình độ phát triển kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học kĩ thuật không cao, các nước này có ít khả năng phát triển những công nghệ mới và hiện đại Mặt khác, với số vốn tích lũy ít ỏi, khả năng tự nhập khẩu

Trang 13

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

công nghệ của các nước này cũng rất hạn chế Trong hoàn cảnh đó, FDI được xem

là phương tiện hữu hiệu để các nước này có thể tiếp cận với công nghệ cao, hiện đại của nước ngoài

Thông thường, khi triển khai dự án đầu tư vào một nước, chủ ĐTNN không chỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật như máy móc thiết

bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kĩ năng tiếp cận thị trường (còn gọi là công nghệ mềm) cũng như đưa chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo các chuyên gia bản xứ

về các lĩnh vực đó Điều này cho phép nước nhận đầu tư không chỉ có được những công nghệ đơn thuần mà còn nắm vững các kĩ năng nguyên lý vận hành, sửa chữa,

mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được công nghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ Ví dụ, một nghiên cứu được thực hiện với 8 chi nhánh công ty nước ngoài và 16 công ty thầu phụ trong nước trong lĩnh vực của Singapore cho thấy sự chuyển giao công nghệ lớn nhất được thực hiện thông qua các cơ hội học tập mà các chi nhánh của công ty nước ngoài đưa ra qua việc kiểm tra và phản hồi thông tin Sự chuyển giao công nghệ trực tiếp như đề cập

ở trên có tầm quan trọng không lớn và có phần lớn được thực hiện thông qua việc cung cấp các kĩ năng như cố vấn hoặc đào tạo về quản lý chất lượng hoặc các kĩ năng về sản xuất hàng hóa khác Loại công nghệ chuyển giao chủ yếu liên quan đến các quá trình sản xuất, đặc biệt là những kĩ năng liên quan đến quản lý chất lượng

Với hình thức doanh nghiệp liên doanh, nước chủ nhà tham gia quản lý cùng các nhà ĐTNN nên có điều kiện tiếp cận và học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài trong sản xuất kinh doanh, nâng dần kiến thức kinh doanh hiện đại của cán bộ và tay nghề của đội ngũ công nhân như kinh nghiệm xây dựng và đánh giá dự án, kinh nghiệm tổ chức và điều hành doanh nghiệp, quản lý tài chính, kế toán, quản lý công nghệ, nghiên cứu thị trường, nghệ thuật tiếp thị, thông tin quảng cáo, tổ chức mạng lưới dịch vụ,…

Thứ ba, FDI mở rộng cơ hội hội nhập kinh tế thế giới

Hiện nay, các nước đang phát triển đều đã nhận thức ra rằng sự phát triển kinh tế của mình phải dựa vào thị trường thế giới, phải tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế và họ luôn tìm cách để thực hiện quá trình đó một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất

Trang 14

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hội nhập kinh tế thế giới có nghĩa là định hướng phát triển kinh tế từ thay thế nhập khẩu hướng sang xuất khẩu Các nghiên cứu về quá trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy một trong những nhân tố đảm bảo cho chiến lược hội nhập thành công là thu hút FDI Điều này về mặt lý thuyết là do đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn bó chặt chẽ với thương mại, còn về mặt thực tiễn là do các nước đang thiếu kinh nghiệm và khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài Hầu hết các nước đang phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao và tạo ra những chuyển biến trong cơ cấu thương mại của mình là nhờ thu hút FDI vào các ngành công nghệ tiên tiến và những ngành sản xuất các sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường thế giới

Bên cạnh đó, các nước đang và chậm phát triển được thu hút vào mạng lưới phân công lao động quốc tế và khu vực Một thí dụ là ngành công nghiệp ô tô ở các nước Đông Nam Á Các hãng sản xuất ô tô nổi tiếng như Toyota, Honda, Nissan,…đều thực hiện chiến lược thiết lập mạng lưới sản xuất và lắp ráp được bố trí và sản xuất ở các nước khác nhau và được gắn bó với nhau thông qua buôn bán nội bộ công ty Quá trình này được thúc đẩy mạnh mẽ bởi tự do hóa thương mại trong khu vực

Thứ tư, FDI thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa (CNH-HĐH)

Bằng việc chuyển giao công nghệ thường đã mất sức cạnh tranh ở chính quốc, nhưng lại còn khá mới mẻ và hiện đại ở các nước nhận đầu tư, FDI góp phần cải thiện cơ cấu kinh tế các nước tiếp nhận đầu tư theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa và quốc tế hóa Ở những nền kinh tế mới CNH, đầu tư của các công ty xuyên quốc gia thường tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế tạo

Mặt khác, vốn đầu tư vào các ngành dịch vụ ngày càng tăng, do đó cũng góp phần thúc đẩy kinh tế theo hướng CNH-HĐH ở các nước tiếp nhận vốn

Thứ năm, FDI góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp và nâng cao thu nhập

Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, mục đích chủ yếu của các công ty nước ngoài là thu lợi nhuận cao, tìm kiếm thị trường mới, củng cố chỗ đứng và duy

Trang 15

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Do đó các công ty này đặc biệt chú trọng đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở nước tiếp nhận đầu tư Thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô các doanh nghiệp hiện có, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng khá lớn người lao động tại nước tiếp nhận, đặc biệt là những nước đang phát triển-nơi có nguồn lao động dồi dào, nhưng thiếu vốn để khai thác và sử dụng ví dụ

Song song với tạo ra việc làm, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn làm tăng thu nhập cho người lao động bởi tiền lương trả từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường cao hơn các doanh nghiệp trong nước, điều này góp phần nâng cao mặt bằng tiền lương chung tại nước tiếp nhận thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, một bộ phận dân cư có thể có mức thu nhập cao và kéo theo đó là mức tiêu dùng cũng như tiết kiệm sẽ cao hơn, điều đó sẽ thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển cũng như mở rộng hoạt động tái đầu tư

Tóm lại, FDI đóng vai trò khá toàn diện với sự phát triển kinh tế xã hội ở nước tiếp nhận đầu tư Với những ưu điểm nổi bật trên thì việc thu hút FDI đã trở thành chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ ngày nay Tuy nhiên, song song với những nỗ lực thu hút FDI cũng phải xem chừng đến những tác động tiêu cực mà FDI có thể gây ra

Những mặt trái của FDI

FDI có thể gây ra những mặt trái cho nước nhận đầu tư, sau đây là một số mặt tiêu cực có thể dễ dàng nhận thấy:

Một là, chi phí thu hút FDI đôi khi quá cao

Ngày nay, thấy rõ lợi ích từ việc thu hút FDI mang lại, cùng với chiến lược phát triển dựa trên sự hòa nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới, các quốc gia ngày càng tích cực hơn trong việc tìm kiếm nguồn vốn FDI Một trong các biện pháp mà các nước thường đưa ra là các khuyến khích đầu tư Đây chính là các ưu đãi mà nước chủ nhà dành cho các nhà đầu tư nước ngoài, thông thường nó có các hình thức sau:

Các khuyến khích về tài chính: nước chủ nhà trực tiếp cung cấp vốn cho các nhà đầu tư nước ngoài dưới dạng tài trợ đầu tư và tín dụng ưu đãi (chẳng hạn như

Trang 16

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

việc cho nhà đầu tư vay vốn với lãi suất ưu đãi khi đầu tư vào vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn như Trung Quốc đang áp dụng)

Các khuyến khích về thuế: được đặt ra nhằm giảm bớt gánh nặng về thuế cho các nhà đầu tư như việc miễn giảm thuế trong thời gian đầu hoạt động

Các khuyến khích gián tiếp: được đặt ra nhằm tăng khả năng sinh lời cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua việc chính phủ cung cấp đất đai hoặc cơ sở hạ tầng với giá thấp hơn giá thương mại thông thường

Như vậy có thể nhận thấy là các khuyến khích đầu tư này chính là chuyển một phần lợi ích từ các nước tiếp nhận sang các nhà đầu tư nước ngoài Đó chính là chi phí của thu hút đầu tư Trong nhiều trường hợp, khi mà nước chủ nhà không đánh giá chính xác được toàn bộ các tác động tích cực mà một dự án FDI mang lại thì sẽ rất dễ xảy ra tình trạng chi phí bỏ ra để thu hút được dự án còn lớn hơn tổng lợi nhuận mà dự án đem lại Có thể nói việc này là khá nguy hiểm nếu không có một chính sách thu hút FDI đúng đắn vì khi đó FDI không những không thúc đẩy được sự phát triển kinh tế mà còn làm thất thoát nguồn vốn quốc gia

Hai là, nước nhận đầu tư có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ

Mục tiêu của các nhà đầu tư khi đầu tư ra nước ngoài là đạt được lợi nhuận cao nhất bởi vậy các nhà đầu tư bao giờ cũng tận dụng tối đa các yếu tố sản xuất bên cạnh đó, dưới tác động của khoa học kĩ thuật nên máy móc, công nghệ rất mau trở nên lạc hậu, điều này luôn tạo ra sức ép buộc các nhà sản xuất phải nhanh chóng đổi mới công nghệ, đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm kéo dài thời gian khai thác công nghệ bằng cách đầu tư ra bên ngoài chính là biện pháp giải quyết được hai mục tiêu trên Vì lẽ đó mà hầu hết công nghệ mà các nhà đầu tư sang các nước đang và chậm phát triển đều là máy móc đã qua sử dụng, thậm chí có những công nghệ đã rất lạc hậu

Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho nước nhận đầu tư, đó là: thứ nhất, rất khó tính được giá trị thực của những máy móc, thiết bị đó, do vậy nước chủ nhà thường bị các nhà đầu tư khai tăng giá công nghệ dẫn đến thiệt hại trong tỉ lệ góp vốn và cuối cùng là trong việc phân chia lợi nhuận.; thứ hai là việc gây ô nhiễm môi trường; thứ ba, công nghệ lạc hậu thì chất lượng

Trang 17

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và do đó, sản phẩm của nước nhận đầu tư khó

có khả năng cạnh tranh trên thị trường trên thế giới

Tuy nhiên, các quốc gia nhận đầu tư có thể hạn chế bớt các tác động tiêu cực này thông qua chính sách công nghệ thích hợp của mìn Ngoài ra, các quốc gia này nên chú ý việc lựa chọn công nghệ phải phù hợp với pháp luật, chính sách và bảo vệ môi trường

Ba là, hoạt động của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN rất khó để quản lý

Có thể nói đầu tư trực tiếp nước ngoài đang là một chiến lược hàng đầu của các công ty xuyên quốc gia trong xu thế quốc tế hóa các nền kinh tế hầu hết các chủ đầu tư nước ngoài rất giàu kinh nghiệm, sành sỏi trong kinh doanh, họ luôn tìm cách né tránh sự quản lý của chính phủ nước nhận đầu tư về vốn đầu tư trực tiếp nói riêng và các mặt quản lý khác nói chung, nhất là quản lý lợi nhuận phát sinh Do đó nhà nước rất khó nắm bắt chính xác số liệu từ các doanh nghiệp nước ngoài

Mặt khác, với mục đích chính là lợi nhuận, các nhà đầu tư thường đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có hiệu suất lợi nhuận cao như bảo hiểm, ngân hàng,

du lịch, dầu khí,…trong khi nước nhận đầu tư lại mong muốn các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các ngành trong nước chưa phát triển như nông nghiệp, xây dựng

cơ sở hạ tầng và vì thế có thể gây ra tình trạng mất cân đối trong đầu tư của nền kinh tế nếu nhà nước không có những quy hoạch và cơ chế quản lý hữu hiệu sẽ có thể dẫn tới tình trạng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, ô nhiễm môi trường trầm trọng, cơ cấu kinh tế méo mó, từ đó tích tụ những nguy cơ gây hại tới nền kinh tế

Bốn là, nước nhận đầu tư có nguy cơ bị biến thành nơi tiêu thụ sản phẩm và

bị phụ thuộc vào vốn đầu tư và mô hình công ty ở chính quốc

Rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài khi chọn nước đầu tư để đầu tư mang theo mong muốn mở rộng thị trường tại nước nhận đầu tư Đây chính là chiến lược xuất khẩu sản phẩm ngay tại thị trường nội địa và cũng lại là một mâu thuẫn lớn với chính sách hướng về xuất khẩu của nước nhận đầu tư Do đó trên thực tế luôn xuất hiện các hành vi tiêu cực làm trái với các quy định pháp luật và các thỏa thuận hợp

Trang 18

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đồng ban đầu về tiêu thụ sản phẩm nếu sản phẩm có khả năng xuất khẩu được thì các nhà đầu tư luôn nắm giữ và độc quyền thị trường tiêu thụ

Bên cạnh đó, thông qua nguồn vốn đầu tư trực tiếp, các công ty xuyên quốc gia thiết lập một hệ thống các công ty, xí nghiệp ở nước ngoài theo hình ảnh và cơ chế của bản thân chủ đầu tư Điều này đã tạo sự lệ thuộc tất yếu nhiều mặt của các

cơ sở kinh tế nước ngoài vào chính quốc hạn chế này đã gây ra mâu thuẫn giữa mong muốn duy trì một cơ cấu kinh tế dân tộc, độc lập, tự chủ với xu hướng chuyển hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thành một chi nhánh của công ty tư bản độc quyền

Tuy FDI có những mặt trái nhưng không thể phủ nhận được những lợi ích to lớn của nó, chỉ lưu ý rằng chúng ta không nên quá kì vọng vào FDI và phải có những biện pháp hữu hiệu để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của FDI Bởi vì mức độ thiệt hại mà FDI gây ra chủ nhà nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước nhận đầu tư

1.2 Tổng quan về ngành du lịch

1.2.1 Khái niệm và đặc điểm

Du lịch là hoạt động đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau, sau đây là quan niệm về du lịch theo cách tiếp cận phổ biến

Theo lý thuyết du lịch của Mill và Morrison (1985), du lịch là hoạt động xảy

ra khi con người vượt biên giới một nước, hay ranh giới một vùng, một khu vực nhằm mục đích giải trí, hoặc công vụ và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá một năm Như vậy, có thể xem xét du lịch thông qua hoạt động đặc trưng mà con người mong muốn trong các chuyến đi Du lịch có thể được hiểu là “hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”

Với cách tiếp cận trên thì du lịch mới chỉ được giải thích dưới góc độ là một hiện tượng, một hoạt động thuộc nhu cầu của khách du lịch Xem xét du lịch một cách toàn diện hơn thì cần phải cân nhắc tới toàn bộ các chủ thể tham gia vào hoạt

Trang 19

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

động du lịch thì mới hiểu được bản chất của du lịch một cách đầy đủ Các chủ thể

đó bao gồm:

Khách du lịch: Là người có nhu cầu, mong muốn đi du lịch, họ lựa chọn và

quyết định nơi đến du lịch và các hoạt động tham gia, thưởng thức trong các chuyến

đi

Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ du lịch,: đây là cơ hội để kiếm

lợi nhuận thông qua việc cung ứng hàng hóa và các dịch vụ nhằm đáp ứng cho nhu cầu của thị trường khách du lịch

Chính quyền sở tại: Những người lãnh đạo chính quyền địa phương nhìn

nhận du lịch như nhân tố có tác dụng tốt cho nền kinh tế thông qua triển vọng về thu nhập từ các hoạt động về kinh doanh cho dân địa phương, ngoại tệ thu được từ khách quốc tế và tiền thuế thu được cho ngân quỹ một cách trực tiếp và gián tiếp

Dân cư địa phương: coi du lịch như một nhân tố tạo ra việc làm và giao lưu

văn hóa

Theo cách tiếp cận này, “Du lịch là tổng hợp các hiện tượng và các mối quan

hệ phát sinh từ tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch” ( Trần Đức Thanh, 2003, tr 21)

Theo Điều 10 Pháp lệnh của Du lịch Việt Nam vào ngày 20/02/1999: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”

Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về du lịch, cần làm rõ khái niệm “sản phẩm du lịch”: Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó

Như vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa Sản phẩm du lịch có đầy đủ bốn đặc điểm của du lịch, đó là:

Tính vô hình: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể) Thực ra

nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể Mặc dù trong cấu thành

Trang 20

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

sản phẩm du lịch có hàng hóa Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không cụ thể nên rất

dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng tiếp, ) việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn hơn kinh doanh hàng hóa

Tính không đồng nhất: Do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy mà

khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây khó khăn cho việc chọn sản phẩm do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là rất quan trọng

Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch

xảy ra cùng một thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng Do đó không thể đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản xuất ra sản phẩm

du lịch

Tính mau hỏng và không dự trữ được: Sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ

như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống,…Do đó về cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất mau hỏng

Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn một số các đặc điểm khác như: sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ, sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch

1.2.2.Các hình thức du lịch

Việc phân loại các hình thức du lịch có ý nghĩa to lớn, cho phép chúng ta xác định được vai trò của du lịch, từ đó có thể xác định được cơ cấu khách hàng và mục tiêu của điểm du lịch

Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi

Du lịch quốc tế: Là những chuyến đi du lịch mà nơi cư trú của khách du lịch

và nơi đến du lịch thuộc hai quốc gia khác nhau, khách du lịch đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch Du lịch quốc tế bao gồm:

Du lịch quốc tế đến (du lịch quốc tế nhận khách): Là hình thức du lịch của khách ngoại quốc đến một nước nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó Quốc gia nhận khách

du lịch nhận được ngoại tệ do du khách mang đến nên được gọi là quốc gia xuất khẩu du lịch

Trang 21

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Du lịch ra nước ngoài (du lịch quốc tế gửi khách): Là chuyến đi của một cư dân trong một nước đến một nước khác và tiêu tiền kiếm được ở đất nước của mình Quốc gia gửi khách được gọi là quôc gia nhập khẩu du lịch

Du lịch trong nước: Là hình thức đi du lịch và cư trú của công dân trong một nước đến địa phương khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình Hay nói cách khác là nơi đến du lịch và nơi cư trú của du khách trên cùng một quốc gia

Căn cứ theo mục đích chuyến đi

Du lịch thiên nhiên: Hấp dẫn những người thích tận hưởng bầu không khí ngoài trời, thích phong cảnh đẹp và đời sống thực vật hoang dã

Du lịch văn hóa: Thu hút những người mà mối quan tâm chủ yếu của họ là truyền thống lịch sử, phong tục tập quán, nền văn hóa nghệ thuật của nơi đến

Du lịch xã hội: Hấp dẫn những người mà đối với họ sự tiếp xúc, giao lưu với người khác là quan trọng

Du lịch hoạt động: Thu hút khách du lịch bằng một hoạt động được xác định trước và thách thức phải hoàn thành trong chuyến đi

Du lịch giải trí: Thu hút những người mà lí do chủ yếu của họ đối với chuyến

đi là sự hưởng thụ và tận hưởng kì nghỉ

Du lịch thể thao: Thu hút những người đam mê thể thao để nâng cao thể chất, sức khỏe

Căn cứ vào loại hình lưu trú

Du lịch ở trong khách sạn: Là loại hình du lịch phổ biến nhất, loại hình này phù hợp với những người lớn tuổi, những người có thu nhập cao Vì ở đây các dịch

vụ hoàn chỉnh hơn, có hệ thống hơn, chất lượng phục vụ tốt hơn nhưng giá cả cao hơn

Du lịch ở trong Motel: Motel là các khách sạn được xây dựng ven đường xa

lộ nhằm phục vụ cho khách du lịch bằng xe hơi Ở đây có các gara để xe cho du khách Các dịch vụ trong motel phần lớn là tự phục vụ Du khách tự nhận phòng, tự gọi ăn trong nhà hàng Các dụng cụ ở đây là loại sử dụng một lần Giá cả trong motel thường rẻ hơn ở trong khách sạn

Trang 22

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Du lịch ở trong nhà trọ: Nhà trọ là những khách sạn loại nhỏ của tư nhân, giá

cả thường rất thích hợp với du khách có thu nhập thấp, đặc biệt là các gia đình có con nhỏ đi cùng Ở nước ta loại hình này cũng rất phát triển, đặc biệt là ở Hà Nội

Du lịch cắm trại: Là loại hình du lịch được phát triển với nhịp độ cao, được giới trẻ ưa chuộng Nó rất thích hợp với khách đi du lịch bằng xe đạp, mô tô, xe hơi Đầu tư cho loại hình du lịch này không cao, chủ yếu cắm lều trại,bạt, giường ghế gấp và một số dụng cụ đơn giản rẻ tiền Khách tự thuê lều bạt, tự dựng và tự phục

vụ

Đây là loại hình du lịch có nhiều triển vọng vì: Công nghiệp xe hơi phát triển nhanh, số người sử dụng phương tiện này nhiều, họ quan tâm đến vấn đề đi lại nhiều hơn vấn đề ăn nghỉ Chi phí cho dịch vụ ở đây rẻ, du khách có thể dùng tiền

để đi lâu hơn, nhiều nơi hơn Du khách muốn thoát khỏi cuộc sống thường ngày, muốn gần gũi với thiên nhiên

Du lịch theo đoàn không thông qua tổ chức du lịch : Đoàn đi tự chọn chuyến hành trình, thời gian đi, những nơi sẽ đến,…Có thể đoàn đã thỏa thuận từ trước hoặc tới nơi mới tìm nơi lưu trú, ăn uống

Du lịch cá nhân: Là loại hình du lịch mà khách du lịch đi riêng lẻ một hoặc hai người với những cách thức và mục đích khác nhau , loại này cũng bao gồm hai loại:

Có thông qua tổ chức du lịch: Họ đi theo những chương trình đã định trước của các tổ chức du lịch, tổ chức công đoàn hay các tổ chức xã hội khác Khách du lịch tuân theo các điều kiện đã được thông báo và chuẩn bị từ trước

Trang 23

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Không thông qua tổ chức du lịch: Khách du lịch đi lại tự do

1.2.3.Vai trò của du lịch đối với nền kinh tế

Du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế, là một trong những ngành mũi nhọn, có nhiều tiềm năng để phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, góp phần phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa,…có thể kể đến những đóng góp tích cực của du lịch đối với sự phát triển kinh tế như:

Thứ nhất, du lịch góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: có những quốc

gia tùy thuộc vào đặc điểm chính trị của nước mình, đã thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, là công cụ cứu cánh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác phát triển Đối với một số quốc gia đang phát triển, nông nghiệp vẫn chiếm tỉ trọng lớn, tuy nhiên thu nhập từ nông nghiệp không mang lại giá trị cao, trong khi công nghiệp thì lại cần đầu tư một số vốn lớn và không thể thấy ngay kết quả trong thời gian ngắn Du lịch được xem như một ngành “công nghiệp không khói”, tận dụng các yếu tố tự nhiên mà không cần phải đầu tư quá nhiều như các ngành khác, có thể thấy một ví dụ như Việt Nam – một quốc gia đang

có sự chuyển mình trong cơ cấu các ngành từ một quốc gia nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khi nhìn dưới góc độ kinh tế

Thứ hai, du lịch tạo ra nhiều việc làm cho xã hội: Theo UNWTO, số lao

động hoạt động trong lĩnh vực du lịch chiếm 8% lao động toàn cầu, cứ mỗi việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra hai việc làm cho các ngành khác Ngành du lịch cũng sử dụng lao động vượt trội hơn so với các ngành khác: gấp 6 lần ngành công nghiệp ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng và gấp 3 lần ngành tài chính Khi nhìn dưới góc độ kinh tế - xã hội, du lịch luôn là ngành có tính trường tồn và bền vững cao so với các ngành kinh tế khác Nguyên do vì, các nguồn tài nguyên dưới dạng vật thể và phi vật thể theo quy luật chung luôn được coi là hữu hạn, thì bên cạnh đó cũng có một số hợp phần khác cần tính đến Chúng được khéo léo ẩn và tích tụ trong các “chuỗi dịch vụ” để hình thành nên các sản phẩm du lịch và thậm chí tồn tại trong cả những đối tượng sử dụng dịch vụ - đó là những người “khách du lịch” Trong thế giới ngày càng phát triển với các tiến bộ trong khoa học kĩ thuật vượt bậc, giao thông thuận tiện, các phương tiện truyền thông tiện ích,…thì nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, đầu tư,…giữa các vùng, các quốc gia ngày càng gia tăng, từ đó

Trang 24

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

kéo theo các nhu cầu dịch vụ, sản phẩm du lịch cũng tăng, dẫn tới việc người dân có thêm nhiều điều kiện để kinh doanh và kiếm thêm thu nhập

1.3.Tổng quan về FDI vào ngành du lịch

1.3.1.Vai trò của FDI đối với ngành du lịch

Bất cứ một ngành nào đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng không những giúp cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục mà còn thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng

và hội nhập kinh tế nhanh chóng, hiệu quả Cũng như các ngành kinh tế khác, thu hút FDI có vai trò rất quan trọng đối với ngành du lịch Để đưa du khách đến với các địa điểm du lịch, cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lưu trú,…Do đó, FDI đóng vai trò rất cần thiết để phát triển ngành du lịch với các lí do sau:

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế: Mô hình Harrod – Domar đã chỉ ra rằng vốn đầu tư của nền kinh tế

có ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng: Mức tăng trưởng GDP = vốn đầu tư/ ICOR Muốn tăng trưởng hàng năm với tốc độ cao thì phải giảm ICOR xuống hoặc hạn chế không tăng Như vậy, thu hút đầu tư sẽ làm cho lượng vốn đầu tư tăng lên,

và do đó sản lượng đầu ra cũng sẽ tăng lên góp phần thúc đẩy phát triển ngành du lịch nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung

Thu hút FDI vào ngành du lịch góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu kinh tế được hình thành hợp lý Ngành du lịch là một bộ phận cấu thành nền kinh tế do đó, thu hút FDI vào ngành du lịch sẽ làm ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cùng với vai trò chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút vốn đầu tư vào ngành

du lịch còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thời tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển bền vững Định hướng và biện pháp thu hút vốn đầu tư hợp lý còn tác động đến cơ cấu thành phần kinh tế, và tác động đến mối quan hệ giữa đầu tư khu vực nhà nước và

Trang 25

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khu vực tư nhân Đầu tư công cộng nhà nước phải tác động lôi kéo, dẫn dắt mà ko làm suy giảm, lấn át đầu tư tư nhân

Thu hút vốn đầu tư vào phát triển ngành du lịch góp phần tăng cường khoa học kĩ thuật và nâng cao năng lực quản lý, điều hành kinh doanh: Thu hút FDI để phát triển ngành du lịch sẽ làm cho trình độ khoa học kĩ thuật của ngành du lịch được tăng lên thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay thế các thiết bị, công nghệ lạc hậu Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích lũy vốn và công nghệ thấp nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ công nghệ sẵn có, do đó rút ngắn thời gian và giảm đi những rủi ro trong áp dụng công nghệ mới, do đó rút ngắn thời gian và giảm rủi ro trong việc áp dụng công nghệ mới, đồng thời thu hút FDI vào phát triển du lịch sẽ góp phần nâng cao được trình độ quản lý, năng lực điều hành của một số nhà quản lý doanh nghiệp

Thu hút FDI vào ngành du lịch góp phần tạo công ăn việc làm cho địa phương và tăng nguồn thu cho NSNN: Thu hút FDI còn góp phần tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, làm cho nguồn nhân lực phát triển cả về số lượng và chất lượng; đồng thời tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần tăng thu ngân sách nhà nước

1.3.2.Các yếu tố của nước nhận đầu tư ảnh hưởng đến việc thu hút FDI vào ngành du lịch

Việc tìm hiểu môi trường đầu tư có ý nghĩa rất quan trọng để các nhà đầu tư

có thể áp dụng những chính sách đúng đắn, đầu tư hiệu quả và giúp giảm thiểu rủi

ro khi đầu tư sang một thị trường mới Theo UNTACD, có 3 nhóm yếu tố của nước nhận đầu tư ảnh hưởng đến việc thu hút FDI đó là: khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư, các yếu tố của môi trường kinh tế, yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh Các nhà đầu tư khi đầu tư vào ngành du lịch cũng cần phải quan tâm đến các yếu tố này:

Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư đối với ngành du lịch

Khung chính sách nằm trong nhóm môi trường đầu tư mềm, bao gồm hệ thống các quy định hành chính, luật pháp và chiến lược của nhà nước để trên cơ sở

đó chính phủ, các cơ quan hay địa phương có thể điều hành hoạt động kinh tế nhằm

Trang 26

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

đạt được các mục tiêu phát triển Khung chính sách về FDI của nước nhận đầu tư vào ngành du lịch gồm các quy định liên quan trực tiếp đến FDI và ảnh hưởng gián tiếp đến FDI vào ngành du lịch

Các quy định và chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút FDI bao gồm những quy định liên quan đến: việc thành lập và hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài Đối với ngành du lịch, hầu hết FDI liên quan đến việc xây dựng các cơ

sở lưu trú như khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng,các khu vui chơi giải trí,…hầu hết các lĩnh vực này được cho phép, tự do quyền sở hữu với các dự án Tuy nhiên trong một

số lĩnh vực cũng cần chú ý việc hạn chế với các dự án (ví dụ như xây dựng sân golf) các tiêu chuẩn đối xử với FDI vào ngành du lịch, cơ chế hoạt động của thị trường có

sự tham gia của thành phần kinh tế có vốn Các quy định này sẽ giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư hay không, vì hoạt động đầu tư còn phụ thuộc vào lĩnh vực đầu tư, nếu như lĩnh vực đầu tư bị hạn chế và không có nhiều biện pháp khuyến khích, hỗ trợ đầu tư thì nhà đầu tư sẽ cân nhắc và tìm những nơi có khung chính sách phù hợp

Ngoài các chính sách trong ngành du lịch, nhà đầu tư còn quan tâm đến các chính sách nói chung như: Chính sách tư nhân hóa liên quan đến việc cổ phần hóa công ty, tạo nhiều cơ hội và sự lựa chọn cho các nhà đầu tư; Chính sách tiền tệ và thuế: ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế, các chủ đầu tư sẽ lựa chọn những thị trường

có tỷ lệ lạm phát thấp, thuế thấp; Chính sách lao đông: có hạn chế hay không lao động nước ngoài; Chính sách tỷ giá hối đoái: ảnh hưởng đến giá tài sản ở nước nhận đầu tư, một nước theo đuổi chính sách đồng tiền quốc gia yếu sẽ có lợi cho việc thu hút ĐTNN,…

Các yếu tố của môi trường kinh tế của nước nhận đầu tư đối với ngành

du lịch

Các yếu tố kinh tế bao gồm các nhân tố hữu hình và vô hình, có sẵn, là thước

đo đánh giá quy mô, mức độ của một nền kinh tế Đối với các nhà đầu tư, đây là yếu

tố tiên quyết khi quyết định việc đầu tư ở một thị trường mới Tùy thuộc vào động

cơ tìm kiếm thị trường, các yếu tố sau sẽ ảnh hưởng đến dòng vốn FDI vào ngành

du lịch:

Trang 27

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Các chủ đầu tư vào ngành du lịch thường thuộc nhóm chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản: quan tâm đến tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ,

cơ sở hạ tầng,…Ngành du lịch có đặc điểm là tài nguyên thiên nhiên sẵn có, với các địa điểm tự nhiên thu hút khách du lịch, do đó nhà đầu tư chỉ cần khai thác thế mạnh của những tài nguyên sẵn có, cùng với việc xây dựng các cơ sở lưu trú, khu resort, giải trí, nguồn lao động giá rẻ là yếu tố thuận lợi để các nhà đầu tư cân nhắc Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng cũng là một yếu tố để các nhà đầu tư quan tâm, bởi nếu

cơ sở hạ tầng chưa tốt là một bất lợi cho việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

Yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh vào ngành du lịch

Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh để thu hút FDI vào ngành

du lịch gồm các chính sách xúc tiến đầu tư, các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu

tư, các cải cách thủ tục hành chính của ngành du lịch để nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước, doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực du lịch, việc nâng cao chất lượng các dịch vụ và tiện ích xã hội nhằm hỗ trợ cuộc sống của các nhà đầu tư cùng các dịch vụ hậu đầu tư Bản thân du lịch cũng là một ngành dịch vụ, do

đó đây là những yếu tố rất quan trọng bởi một khi có được những thuận lợi cho kinh doanh và cuộc sống, các nhà đầu tư mới có thể yên tâm và quyết định việc lựa chọn cũng như gắn bó với nước nhận đầu tư một cách lâu dài

Trang 28

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH

DU LỊCH VIỆT NAM 2.1.Các yếu tố thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam

2.1.1.Khung chính sách về FDI của Việt Nam đối với ngành du lịch

Khi quyết định đầu tư vào một quốc gia, nhà đầu tư luôn quan tâm đến khung chính sách bởi điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới lĩnh vực mà nhà đầu tư quan tâm Với đặc thù du lịch là có tính đa dạng , liên ngành, du lịch còn liên quan đến rất nhiều ngành khác như xây dựng, vận tải, bất động sản…Đảng và nhà nước đã xác định du lịch là ngành kinh tế trọng điểm, cần được khuyến khích phát triển, do đó ngành du lịch cũng được nằm trong danh sách các ngành được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư Điều này là một lợi thế rất lớn bởi các nhà đầu tư vào lĩnh vực này thường khai thác các điều kiện tự nhiên sẵn có, hạn chế gây ô nhiễm môi trường hơn các hoạt động công nghiệp Kể từ năm 2006 sau khi Việt Nam gia nhập WTO, lượng vốn FDI vào Việt Nam tăng đột biến: năm 2008 đạt mức kỉ lục 72 tỷ USD, tuy sau đó FDI liên tục giảm: năm 2009 đạt 23,107 tỷ USD, năm 2010 đạt 19, 764 tỷ USD, năm 2011 đạt 14,969 tỷ USD, năm 2011 đạt 16,3 tỷ USD, năm 2013 đạt 21,6 tỷ USD (Hoàng Xuân Hòa, 2014) Trong đó, ngành dịch vụ thường chiếm 30%-40% lượng vốn FDI và trong ngành dịch vụ, ngành du lịch thường chiếm trên 10% Do đó, việc tạo ra khung chính sách phù hợp

có ý nghĩa quan trọng để thu hút FDI vào ngành du lịch

Kể từ năm 2014, Việt Nam đã ban hành Luật Đầu tư sửa đổi có hiệu lực từ ngày 01/07/2015 và có những ưu tiên mới, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu

tư nước ngoài Du lịch nằm trong số những ngành hưởng ưu đãi đầu tư Nếu như trước đây, hoạt động xây dựng sân golf phải chịu mức thuế tiêu thụ đặc biệt thì theo Luật Đầu tư 2014, xây dựng sân golf đã được khuyến khích xây dựng, đây là một điểm mới so với Luật Đầu tư 2005 trước đây

Bên cạnh đó, đối với dự án FDI trong nước dưới 15 tỷ đồng và thuộc lĩnh vực đầu tư vào ngành du lịch như xây dựng khách sạn, khu vui chơi giải trí, dịch vụ

lữ hành,…thì nhà đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư và cũng không cấp Giấy chứng nhận đầu tư Đối với dự án FDI trong nước có quy mô từ 15 tỷ đồng đến dưới 300 tỷ đồng vào ngành du lịch, nhà đầu tư chỉ cần đăng ký theo mẫu trước

Trang 29

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khi thực hiện dự án mà không cần phải có giấy Chứng nhận đầu tư, trường hợp nhà đầu tư có nhu cầu, cơ quan quản lý sẽ cấp giấy chứng nhận đầu tư Đối với dự án FDI có quy mô vốn dưới 300 tỷ đồng vào ngành du lịch, nhà đầu tư chỉ cần đăng ký theo mẫu để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản đăng ký hợp lệ Các quy định về đất đai như: nhà đầu tư được miễn tiền thuê đất trong vòng 3 năm, trường hợp nhà đầu tư thuê lại đất của người sử dụng đất được nhà nước giao đất thì nhà đầu tư có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện việc bồi thường, giải phóng mặt bằng Luật cũng quy định nhà đầu tư được mua ngoại tệ để đáp ứng cho giao dịch vốn và giao dịch khác theo luật định Đồng thời, nhà đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế cho phần thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua

cổ phần vào tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về thuế sau khi tổ chức kinh tế đó đã nộp đủ thuế thu nhập doanh nghiệp

Nhìn chung, ngành du lịch là ngành được khuyến khích phát triển nên được hưởng khá nhiều ưu đãi Các chính sách thu hút FDI vào ngành du lịch nói riêng tuân thủ theo Luật Đầu tư nói chung, tuy nhiên chưa có một chính sách đầu tư riêng cho ngành du lịch, các chính sách còn chồng chéo, gây khó khăn cho nhà đầu tư khi muốn tìm hiểu thông tin

2.1.2 Các yếu tố kinh tế Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế

Việt Nam có lợi thế để thu hút khách du lịch với môi trường chính trị ổn định, tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Với lợi thế nằm ở trung tâm Đông Nam

Á, phía Đông bán đảo Đông Dương, phía Đông và Nam trông ra biển Thái Bình Dương, Việt Nam là cầu nối phần lục địa với các quần đảo bao bọc xung quanh biển Đông, là đầu mối giao thông từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương Việt Nam có hàng nghìn con sông lớn nhỏ, với hơn 100 bãi biển, đồi núi chiếm ¾ diện tích lãnh thổ, nhiều điểm đến hấp dẫn nhất hành tinh như: Vịnh Hạ Long – một

trong 7 kì quan thiên nhiên của thế giới mới, Động Phong Nha – Kẻ Bàng, phố cổ

Hội An, đảo Phú Quốc,…hấp dẫn khách du lịch, đó là những yếu tố thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư

Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng nhanh so với các nước trong khu vực, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp –

Trang 30

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

dịch vụ - nông nghiệp, nền kinh tế tiếp tục hội nhập sâu rộng với thế giới là một trong những yếu tố tạo tâm lý an tâm để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài

Sự tăng trưởng của ngành du lịch

Theo Báo cáo của Tổng cục Du lịch năm 2014, trong suốt hơn hai thập kỉ qua, số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng trưởng mạnh với tốc độ trung bình trên 12%/năm (ngoại trừ suy giảm do dịch SAR 2003 (-8%) và suy thoái kinh

tế thế giới 2009 (-11%) Nếu lấy dấu mốc lần đầu tiên phát động năm du lịch Việt Nam 1990 – khởi đầu thời kì đổi mới với 250.000 nghìn lượt khách quốc tế thì đến nay, với 7,87 triệu lượt năm 2014, số khách quốc tế đến Việt Nam đã tăng trên 30 lần trong 23 năm và gấp 2 lần sau 4 năm phục hồi khủng hoảng năm 2009 Sự tăng trưởng không ngừng về lượng khách đã thúc đẩy mở rộng quy mô hoạt động của ngành du lịch trên mọi lĩnh vực

Biểu đồ 2.1: Số lượng khách quốc tế đến Việt Nam năm 2008-2014

Đơn vị: lượt người

0 1000000 2000000 3000000 4000000 5000000 6000000 7000000 8000000 9000000

Nguồn: Tổng cục Du lịch

Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực và trên thế giới đã không ngừng tăng lên Theo UNWTO, từ chỗ chiếm 4,6% thị phần khu vực Đông Nam Á, 1,7% thị phần khu vực Châu Á- Thái Bình Dương và 0,2% thị phần khu vực toàn cầu vào năm 1995, đến năm 2014 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị

Trang 31

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

phần khu vực ASEAN, 2,4% thị phần khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và 0,68% thị phần toàn cầu Vị trí của du lịch Việt Nam đang được cải thiện đáng kể trên bản đồ thế giới Với tiềm năng phong phú của mình, ngành du lịch hoàn toàn

có thể phát triển và tiến xa hơn nữa cả về quy mô và chất lượng, tuy nhiên có nhiều yếu tố của ngành du lịch với nhiều hạn chế và cần được quan tâm để thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài

Cơ sở hạ tầng

Cơ sở lưu trú

Trong kinh doanh, cơ sở lưu trú là một phần quan trọng, đó là những khách sạn, motel, bungalow, làng du lịch hoặc những những biệt thự nhỏ Bộ phận quan trọng nhất trong cơ sở lưu trú là khách sạn Từ năm 2008 đến năm 2014, số lượng

cơ sở lưu trú của Việt Nam không ngừng tăng lên

Bảng 2.1 Số lượng cơ sở lưu trú của ngành du lịch giai đoạn 2008-2014

Số lượng cơ sở 10.406 11.467 12.352 13.756 15.381 15.667 16.787 Tăng trưởng

(%)

14,6 10,2 7,7 11,4 11,8 11,9 12.8

Số buồng 202.776 216.675 237.111 256.739 277.661 324.800 345.900 Tăng trưởng

(%)

Công suất buồng bình quân (%)

59,9 56,9 58,3 59,7 58,8 59,1 59.6

Nguồn: Vụ khách sạn (TCDL) các Sở VHTT&DL

Tuy lượng cơ sở tăng mạnh nhưng nhìn chung hệ thống khách sạn Việt Nam còn bị phân tán, không đồng bộ, mang tính chất nhỏ, số khách sạn từ 3-5 sao ở Việt Nam là 686 khách sạn, chỉ chiếm hơn 21%, số khách sạn có số phòng nhỏ (dưới 100 phòng) chiếm đến 70% (theo khảo sát của Grant Thornton tại Việt Nam), vì vậy, không chỉ gặp khó khăn khi đón tiếp các phái đoàn lớn mà ngành khách sạn còn rất hạn chế trong việc bổ sung, khai thác các dịch vụ cũng như nâng cao trình độ nghiệp vụ

Chính sự thiếu hụt các khách sạn lớn là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài

có thể đầu tư và gia nhập thị trường, bởi tại những quốc gia đã phát triển, số lượng

Trang 32

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khách sạn cao cấp rất nhiều Với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, việc các doanh nghiệp trong nước xây dựng khách sạn 5 sao có quy mô tầm cỡ là khá khó khăn, đây chính là lợi thế để các nhà đầu tư nước ngoài chiếm lĩnh phân khúc cao cấp này

Hệ thống giao thông vận tải

Giao thông vận tải có tầm quan trọng đặc biệt với du lịch Nhưng trong điều kiện nước ta chưa phát triển, nguồn vốn tích lũy chưa nhiều nên hệ thống giao thông của nước ta còn nhiều hạn chế Số lượng hãng hàng không quốc gia chiếm tỷ lệ rất nhỏ (chỉ có 2/53 hãng hàng không), đồng thời số đường bay quốc tế cũng ít, khiến việc đi lại của khách quốc tế gặp nhiều khó khăn, tốn kém về thời gian và tiền bạc

Số lượng sân bay quốc tế còn ít, cả nước có tất cả 8 sân bay quốc tế, trong đó hai sân bay là Nội Bài (Hà Nội) và Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) được sử dụng nhiều hơn cả

Bảng 2.2 Một số thống kê của ngành hàng không

Số lượng sân bay đang hoạt động ở Việt Nam

21

Hệ thống sân bay quốc tế tại Việt Nam 8

Số lượng hãng hàng không hoạt động tại Việt Nam

53 (51 hãng hàng không nước ngoài,

2 hãng không Việt Nam) Tổng số đường bay quốc tế đến và đi từ Việt

Nam

54

Nguồn: Cục Hàng không Việt Nam 2014

Bên cạnh đó, hệ thống đường bộ của nước ta tương đối kém so với khu vực, 47% là đường xấu, chỉ có khoảng 7% chiều dài đường quốc lộ là tương đối tốt Mật

độ đường sắt của chúng ta cao hơn các nước Đông Nam Á nhưng chủ yếu phát triển

ở miền bắc, chất lượng đường xấu, giao thông hàng không chưa phát triển, giá cả còn cao Đối với giao thông đường thủy, các cảng biển phân bố không đồng đều, chủ yếu ở miền Trung trong khi lượng khách chủ yếu lại tập trung ở miền Bắc và

Trang 33

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

miền Nam Hơn nữa, hàng năm lại có lũ lụt, hạn hán kéo dài nên việc khai thác giao thông đường thủy đạt hiệu quả chưa cao

Bảng 2.3 Thống kê lượt khách và mức tăng trưởng của một số ngành vận tải

Tổng lượt khách (triệu lượt khách)

Mức tăng trưởng

VT hành khách đường bộ 2875,7 7.8%

VT hành khách đường sông

147,3 4,6%

VT hành khách đường biển

VT hành khách đường hàng không

Nguồn nhân lực

So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam có lợi thế về dân số rất lớn Với khoảng 90 triệu dân và có tới 50 triệu dân trong độ tuổi lao động, Việt Nam đã đạt đến cơ cấu “dân số vàng” Bên cạnh đó, chi phí cho lao động ở Việt Nam rất rẻ so với các nước trong khu vực như Malaysia, Singapore,…Tuy nhiên, lao động trong ngành du lịch có đặc thù là cần trình độ cao nhưng lực lượng lao động trong ngành

du lịch lại đang rất thiếu

Theo bà Hà Thanh Hải, phó chủ tịch HĐQT khách sạn Metropole Hà Nội, theo nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong tiểu ngành khách sạn, số nhân lực

Trang 34

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng – khách sạn rất thấp và còn kém so với tiêu chuẩn quốc tế Nghiên cứu của Trung tâm phát triển du lịch cho thấy, trong tiểu ngành khách sạn – một lĩnh vực rất quan trọng của ngành du lịch, số lao động có bằng sau đại học chỉ chiếm 1,36%, lao động được đào tạo qua đại học, cao đẳng chiếm 17,89%, số lao động được đào tạo phổ thông chiếm 41,47% và số lao động chưa qua đào tạo chiếm 39,28%

Biểu đồ 2.2: Nhân lực trong lĩnh vực nhà hàng – khách sạn phân theo trình độ

Nguồn: Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh trong tiểu ngành khách sạn – nhà hàng, khách sạn Metropole

Đây là một thực tế đáng lo ngại bởi ngành du lịch là ngành yêu cầu nhân lực với trình độ cao, với năng lực quản lý và ngoại ngữ, giao tiếp tốt Tuy nhiên thực tế cho thấy, nguồn lao động trong ngành du lịch đang rất thiếu những người được đào tạo bài bản, đó là nguyên nhân mà Việt Nam có tiềm năng du lịch lớn nhưng chưa được khai thác, quản lý một cách hiệu quả

2.1.3 Các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh

Trong thời đại mà quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng thì sức ép cạnh tranh trong việc thu hút FDI không chỉ diễn ra ở các nước đang phát triển mà còn giữa các quốc gia phát triển với quốc gia đang phát triển Việc tạo ra một hành lang pháp lý hoàn thiện và thông thoáng cũng như việc phát huy các thế mạnh của các nhân tố của nền kinh tế quốc gia mới chỉ tạo điều kiện cho việc hình thành một

Trang 35

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU

khuôn khổ nhằm thiết lập một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư nhờ thế giúp họ có thể tham gia vào cuộc chơi Tuy nhiên, tại Việt Nam các ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng cần cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư để thu hút hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài Đối với ngành du lịch, các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút FDI là:

Hoạt động hỗ trợ đầu tư: Tại Việt Nam có cục Đầu tư nước ngoài, thuộc Bộ

Kế hoạch và Đầu tư cùng với Tổng cục Du lịch là những cơ quan hỗ trợ nhà đầu tư trong việc cung cấp thông tin liên quan đến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư, xây dựng và triển khai dự án Tuy nhiên, hoạt động hỗ trợ này còn rất hạn chế Chẳng hạn, với Tổng cục Du lịch, thông tin về các dự án còn rời rạc, chưa có nhiều thông tin cụ thể, gây khó khăn cho nhà đầu tư

Hoạt động xúc tiến đầu tư: Tổng cục Du lịch cũng như các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành du lịch đã có nhiều biện pháp để đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, thông qua việc tham gia các hội chợ, tham gia cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các phái đoàn của chính phủ tham gia vận động đầu tư ở nước ngoài, chủ động tham gia các hội chợ xúc tiến thương mại như JATA tại Nhật Bản, CTIM tại Trung Quốc, MITT tại Nga, ATB Asia tại Singapore,….Tuy nhiên chưa

có một kênh online chính thức nào về hoạt động thu hút FDI vào ngành du lịch, trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư và ngay cả Tổng cục Du lịch cũng chưa thực sự chú trọng việc thu hút FDI vào ngành này

Bên cạnh đó, Việt Nam vốn gây mất thiện cảm với nhà đầu tư bởi các thủ tục hành chính rườm rà, luật chồng chéo và tình trạng tham nhũng, hối lộ cao Các dịch vụ cũng chưa thực sự tốt và chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư khi muốn định cư hay làm việc lâu dài ở Việt Nam

2.2.Thực trạng thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam

2.2.1.Tình hình chung

Những năm gần đây trung bình mỗi năm Việt Nam đón tiếp khoảng 7 triệu lượt khách du lịch, do vậy vấn đề môi trường du lịch và cơ sở hạ tầng cho du lịch ngày càng cần được chú trọng trong tình hình hiện nay Cùng với sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài thì lĩnh vực du lịch ngày càng thu hút nhiều dự án

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w