Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, và với mong muốn đóng góp được phần nào cho việc hoàn thiện các chính sách phát triển nước nhà, tôi xin chọn đề tài “Phân tích những điều chỉnh t
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
PHÂN TÍCH NHỮNG ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO VÀ MỘT SỐ ĐỀ
XUẤT TRONG THỜI GIAN TỚI
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên Lớp
Khóa Người hướng dẫn khoa học
: Nguyễn Thị Hà Thanh : 1111110663
: Anh 17 : 50 : PGS.TS Bùi Thị Lý
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA WTO 4
1.1 Vài nét về sự ra đời và cách thức hoạt động của WTO 4
1.2 Những nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch vụ của WTO 5
1.2.1 Khái niệm về dịch vụ và một số các loại hình dịch vụ 5
1.2.2 Khái niệm Chính sách thương mại dịch vụ và phân loại chính sách thương mại dịch vụ 9
1.2.3 Những nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch vụ của WTO 10
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP WTO 21
2.1 Những điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO 21
2.1.1 Những chính sách chung về thương mại dịch vụ của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 21
2.1.2 Chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam đối với một số lĩnh vực điển hình sau khi gia nhập WTO 24
2.2 Đánh giá chung về mức độ phù hợp của chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam 34
2.2.1 Những điểm phù hợp của chính sách thương mại đối với dịch vụ của Việt Nam 34
2.2.2 Những điểm chưa phù hợp của chính sách thương mại đối với dịch vụ của Việt Nam 36 2.3 Những khó khăn và thách thức đối với Việt Nam khi điều chỉnh chính sách thương mại dịch vụ khi gia nhập WTO 41
2.4 Đánh giá tác động của chính sách thương mại dịch vụ hiện nay của Việt Nam đến một số phân ngành dịch vụ điển hình 45
2.4.1 Tác động tổng quan của chính sách thương mại dịch vụ đến sự phát triển các ngành dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam 45
2.4.2 Tác động của chính sách đến một số phân ngành dịch vụ trọng yếu 49
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM 68
3.1 Những giải pháp chung cho cả ngành dịch vụ 68
3.2 Giải pháp cho một số ngành dịch vụ cụ thể 72
3.2.1 Dịch vụ vận tải 72
3.2.2 Dịch vụ ngân hàng 73
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.2.3 Dịch vụ bảo hiểm 75
3.2.4 Dịch vụ viễn thông 76
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSTM Chính sách thương mại
CSTMDV Chính sách thương mại dịch vụ
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ GDP Tổng thu nhập quốc dân
IXP Nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet MFN Nguyên tắc tối huệ quốc
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tỷ trọng chi phí dịch vụ theo ngành ở Việt Nam năm 2014 42 Bảng 2.2 Tình hình xuất nhập khẩu dịch vụ giai đoạn 2010-2014 45 Bảng 2.3 Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2014…… 47 Bảng 2.4 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành
2014 54
Bảng 2.10 Số lượng các tổ chức tín dụng giai đoạn 1997-2008 56 Bảng 2.11 Kết quả hoạt đông bưu chính viễn thông giai đoạn 2010-2014 64
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập thế giới của Việt Nam ngày càng diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO Vấn đề về tự do hóa thương mại ngày càng được coi trọng và đề cao tại nước ta, đồng nghĩa với việc Nhà nước ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều chính sách để thúc đẩy sự mở cửa hội nhập và phát triển nền kinh tế Nhờ những chính sách và nỗ lực thay đổi để phù hợp với thị trường, với thế giới này mà Việt Nam đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đáng mừng mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập trong chính sách thương mại của Việt Nam, đặc biệt là chính sách thương mại dịch vụ Vậy liệu những chính sách mà Việt Nam đã đưa ra có phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và với thời kỳ hội nhập? Những chính sách đấy đã có tác động như thế nào đến sự phát triển kinh tế, dịch vụ của Việt Nam? Liệu chúng ta có thể cải tiến hay thay đổi như thế nào để khắc phục những bất cập và nâng cao hiệu quả làm việc? Đây
là vấn đề mà nhiều nhà kinh tế quan tâm, thảo luận và tranh luận trong thời gian qua Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề này, và với mong muốn đóng góp được phần nào cho việc hoàn thiện các chính sách phát triển nước nhà, tôi xin chọn đề tài “Phân tích những điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ Việt Nam khi gia nhập WTO và một số đề xuất trong thời gian tới” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận này, tôi đã đề ra những mục tiêu nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu về chính sách thương mại dịch vụ của WTO và Việt Nam
- Thực trạng trong việc áp dụng chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam
- Tác động của chính sách tới sự phát triển các ngành dịch vụ tại Việt Nam
- Đưa ra kiến nghị giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại dịch vụ của nước ta
để đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại và phù hợp với tình hình phát triển của đất nước và thế giới
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chính sách thương mại dịch vụ là một vấn đề rất rộng, vì vậy trong phạm vi của khóa luận, phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong việc phân tích chính sách thương mại dịch vụ mà Việt Nam áp dụng trước và sau khi gia nhập WTO
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống chính sách thương mại dịch vụ và các công cụ thực hiện chính sách thương mại dịch vụ
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp tìm kiếm thông tin từ sách, báo, Internet, các báo cáo tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu trước đó để phân tích thông tin phục vụ nghiên cứu
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận này chia làm
3 chương:
Chương I: Một số nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch của WTO
Chương II: Những điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO
Chương III: Một số đề xuất điều chỉnh trong chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành được khóa luận này, tôi xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Giảng viên hướng dẫn – PGS.TS Bùi Thị Lý vì những hướng dẫn tận tình, quý báu cũng như sự giúp đỡ của cô trong suốt quá trình thực hiện viết khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo trường đại học Ngoại Thương Hà Nội, gia đình, bạn bè, đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian vừa qua
Sinh viên Nguyễn Thị Hà Thanh
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CHÍNH
SÁCH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA WTO
1.1 Vài nét về sự ra đời và cách thức hoạt động của WTO
WTO là chữ viết tắt của Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) WTO được thành lập ngày 1/1/1995, ra đời trên cơ sở kế thừa và mở rộng từ Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)
Sau chiến tranh Thế giới lần thứ II, khi mà các hoạt động hợp tác kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi nổi, do các chính sách bảo hộ quá nghiêm ngặt, các nước đã nhất trí thành lập một tổ chức thứ ba để phụ trách riêng trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và thương mại quốc tế, gọi là ITO Tuy nhiên do vẫn tồn tại một số nước khác không đồng tình mà ITO không được thành lập Mặc dù vậy, và sau vòng đàm phán thuế quan đầu tiên là 45.000 ưu đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham gia đàm phán, 23 nước sáng lập đã cùng nhau ký hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT), chính thức có hiệu lực vào 1/1948
Từ 1948 đến 1995, GATT đã có 8 vòng đàm phán, tập trung chủ yếu về thuế quan Nhưng từ thập kỷ 70, GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán về nhiều lĩnh vực hơn, chẳng hạn về điều tiết các hàng rào phi quan thuế, quyền sở hữu trí tuệ, về thương mại dịch vụ, về thương mại hàng nông sản, hàng dệt may, các biện pháp đầu tư có liên quan tới thương mại, về cơ chế giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vốn chỉ là một thỏa thuận có nội dung hạn chế và tập trung ở thương mại hàng hóa đã tỏ ra không còn thích hợp Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrkesh (Maroc), các bên đã kết thúc hiệp định thành lập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp GATT WTO chính thức được thành lập độc lập với hệ thống Liên Hợp Quốc và đi vào hoạt động từ 1/1/1995
Mặc dù WTO ra đời nhưng GATT vẫn là văn bản pháp lý quan trọng của WTO WTO quản lý việc thực hiện các hiệp định thương mại của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên WTO cũng là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO Đồng thời, WTO sẽ giám sát các CSTM của các nước thành viên, giúp đỡ và đào tạo các nước đang phát triển,…
Về cơ chế ra quyết định trong WTO, hầu hết các quyết định trong WTO được thông qua bằng cơ chế đồng thuận Có nghĩa là chỉ khi không một nước nào bỏ phiếu chống thì một quyết định hay quy định mới được xem là “được thông qua”
Do đó hầu hết các quy định, nguyên tắc hay luật lệ trong WTO đều là “hợp đồng” giữa các thành viên, tức là họ tự nguyện chấp thuận chứ không phải bị áp đặt; và WTO không phải là một thiết chế đứng trên các quốc gia thành viên
Tuy nhiên, trong các trường hợp dưới đây quyết định của WTO được thông qua theo các cơ chế bỏ phiếu đặc biệt (không áp dụng nguyên tắc đồng thuận):
- Giải thích các điều khoản của các Hiệp định: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ;
- Dừng tạm thời nghĩa vụ WTO cho một thành viên: Được thông qua nếu có 3/4 số phiếu ủng hộ;
- Sửa đổi các Hiệp định (trừ việc sửa đổi các điều khoản về quy chế tối huệ quốc trong GATT, GATS và TRIPS): Được thông qua nếu có 2/3 số phiếu ủng hộ
1.2 Những nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch vụ của WTO
1.2.1 Khái niệm về dịch vụ và một số các loại hình dịch vụ
1.2.1.1 Khái niệm về dịch vụ và thương mại dịch vụ
Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm
1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ.Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
(nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện, nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao
Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào
đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể
Việc coi các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa…thuộc khu vực dịch vụ
và được hạch toán trong hệ thống kinh tế quốc dân có thể đuợc lý giải dưới bốn góc độ:
- Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, mọi sản phẩm đều là hàng hóa, mọi hoạt động đều là kinh doanh, mà kinh doanh là bỏ vốn ra để thu được lợi ích nhất định Các ngành giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa…muốn hoạt động được cần đầu tư vốn và kết quả mang lại là sự phát triển toàn diện của con người, lợi ích đó còn giá trị hơn nhiều
so với lợi nhuận mà một nhà kinh doanh hàng hóa vật thể đem lại Người làm giáo dục,
y tế, văn hóa cũng phải biết tính toán lỗ lãi, thiệt hơn
- Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, tư nhân được quyền hoạt động giáo dục, khám chữa bệnh, lập các đoàn nghệ thuật, đoàn làm phim thì mục đích không phải chủ yếu là phục vụ không công cho xã hội mà mục đích là thu lợi, trực tiếp là lợi nhuận, tức
là kinh doanh, tất nhiên nếu không đạt được mục tiêu xã hội thì cũng không thể kinh doanh được
- Thứ ba, trong các ngành sự nghiệp như giáo dục, y tế, văn hóa đều có các doanh nghiệp, mà đã là doanh nghiệp tất yếu phải kinh doanh, như Công ty thiết bị trường học, Công ty dược, Nhà xuất bản… là các doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh; còn các trường học, bệnh viện, đoàn nghệ thuật, câu lạc bộ bóng đá cũng có thể coi là doanh nghiệp
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Thứ tư, những người được phục vụ nói chung đều phải trả tiền, phải tính toán thiệt hơn để thụ hưởng sự phục vụ có hiệu quả nhất
Thương mại là một ngành kinh tế độc lập mà hoạt động của nó là mua, bán hàng hóa và dịch vụ Luật thương mại quốc tế lại coi hoạt động đầu tư, tín dụng và chuyển giao công nghệ cũng là hoạt động thương mại.Trong ngành thương mại có ba lĩnh vực chính, đó là thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và thương mại đầu tư, trong đó thương mại dịch vụ là hoạt động mua bán các loại dịch vụ.Trong hoạt động thương mại lại có các loại hoạt động hỗ trợ như xúc tiến thương mại, dịch vụ thương mại Dịch vụ thương mại là các dịch vụ phục vụ cho việc mua bán hàng hóa và dịch vụ, như maketing chẳng hạn
Thương mại dịch vụ có một số đặc điểm:
- Thứ nhất: Dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không sờ mó, nhìn thấy được nhưng lại được cảm nhận qua tiêu dùng trực tiếp của khách hàng Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau.Có loại xẩy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả sau nhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5-10 năm mới có thể đánh giá đầy
đủ Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thương mại hàng hóa
- Thứ hai: Thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu
dùng cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao động đơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chất xám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục…, do
đó đây là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay
- Thứ ba: Thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, do đó tác dụng của thương mại dịch vụ là rất lớn
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Người ta tính rằng, nếu thương mại dịch vụ được tự do hóa thì lợi ích của nó còn cao hơn thương mại hàng hóa hiện nay và xấp xỉ bằng lợi ích thu được khi tự do hóa thương mại hàng hóa hoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa công nghiệp
- Thứ tư: Thương mại dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tính của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng hóa, sản phẩm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soát con người trong thương mại dịch vụ, vì thế mà thương mại dịch vụ phải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào thương mại so với thương mại hàng hóa Các cuộc thương lượng để đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn hơn tự do hóa thương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa của nước cung cấp và nước tiếp nhận dịch vụ đó
1.2.1.2 Một số các loại hình dịch vụ
- Dịch vụ kinh doanh bao gồm các dịch vụ nghề nghiệp như dịch vụ pháp lý, dịch vụ kiểm toán, thiết kế; các dịch vụ nghiên cứu và triển khai; dịch vụ máy tính; dịch vụ liên quan đến bất động sản và các dịch vụ kinh doanh khác
- Dịch vụ thông tin liên lạc bao gồm: bưu điện, chuyển phát nhanh, viễn thông, nghe nhìn…
- Dịch vụ xây dựng và thi công bao gồm: xây dựng nhà cửa, xây dựng công chính, lắp đặt máy móc, hoàn thiện công trình…
- Dịch vụ phân phối bao gồm: đại lý hoa hồng, đại lý độc quyền, bán buôn, bán lẻ…
- Dịch vụ đào tạo bao gồm: tiểu học, trung học, đại học, cao học, chuyờn sõu
- Dịch vụ môi trường bao gồm: thoát nước, xử lý chất thải, vệ sinh…
- Dịch vụ tài chính bao gồm: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoỏn…
- Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ bao gồm: chữa bệnh, bệnh viện…
- Dịch vô du lịch và lữ hành bao gồm: khách sạn và nhà hàng, đại lý và điều hành du lịch, hướng dẫn viên du lịch…
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ giải trí, văn hoá, thể thao bao gồm: giải trí (nhà hát, rạp chiếu phim, xiếc), thư viện, bảo tàng, thể thao…
- Dịch vụ vận tải bao gồm: vận tải đường biển, vận tải thuỷ nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải ô tô, vận tải đường ống, vận tải vũ trụ, các dịch vụ phụ trợ liên quan
- Các dịch vụ khác
1.2.2 Khái niệm Chính sách thương mại dịch vụ và phân loại chính sách thương mại dịch vụ
1.2.2.1 Khái niệm chính sách thương mại dịch vụ
Chính sách thương mại dịch vụ là những công cụ được tạo lập để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Các công cụ này là tập hợp các quy tắc, quyết định, quy đinh, các đường lối và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ trong từng thời kỳ nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong từng thời kỳ
1.2.2.2 Phân loại chính sách thương mại dịch vụ
Dựa trên tác động của các chính sách thì chính sách thương mại dịch vụ được phân thành 2 loại:
- Chính sách phát triển: là các chính sách về khuyến khích đầu tư, xúc tiến thương mại
- Chính sách quản lý: là các chính sách về bảo hộ thương mại dịch vụ trong nước, chính sách hạn chế mở cửa,…
Dựa trên các công cụ của chính sách:
- Các chính sách về hạn chế tiếp cận thị trường: việc tiếp cận thị trường của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thường gặp các rào cản như hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ, hạn chế số lượng giao dịch, hạn chế giá trị giao dịch, hạn chế về các hình thức pháp lý, hạn chế sự tham gia của vốn đầu tư nước ngoài
- Các chính sách hạn chế về đối xử quốc gia (NT): bao gồm các chính sách về thuế nôi địa như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhà thầu,…; các quy định trong nước có phân biệt đối xử như chính sách hạn chế quyền kinh doanh; các quy định về cư trú, đăng ký, cấp phép
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.3 Những nội dung cơ bản trong chính sách thương mại dịch vụ của WTO
CSTM dịch vụ của WTO chủ yếu được thể hiện dựa trên Hiệp định GATS GATS
là hiệp định đầu tiên mang tính đa biên điều chỉnh thương mại dịch vụ Hiệp định có 29 điều khoản chủ yếu, có các phụ lục đi kèm và bao gồm 3 phần chính:
Phần I: là một phần hiệp định khung về các nguyên tắc và nghĩa vô chung bao gồm các điều khoản sau:
- Điều 1: Phạm vi và định nghĩa
- Điều 2: Đối xử tối huệ quốc
- Điều 3: Sự minh bạch
- Điều 3b: Sự tiết lộ các thông tin bí mật
- Điều 4: Sự gia nhập ngày càng tăng của các nước đang phát triển
- Điều 5: Liên kết kinh tế
- Điều 5b: Các hiệp định về liên kết thị trường lao động
- Điều 6: Quy định trong nước
- Điều 7: Sự thừa nhận bằng cấp
- Điều 8: Độc quyền và các nhà cung cấp dịch vụ độc quyền
- Điều 9: Thông lệ kinh doanh
- Điều 10: Các biện pháp tự vệ khẩn cấp
- Điều 11: Các khoản thanh toán và chuyển tiền
- Điều 12: Các hạn chế nhằm bảo hộ cán cân thanh toán
- Điều 13: Mua sắm của chính phủ
- Điều 14: Các loại trừ chung
- Điều 15: Trợ cấp
Phần II: là các cam kết cụ thể bao gồm các điều khoản sau
- Điều 16: Tiếp cận thị trường
- Điều 17: Đối xử quốc gia
- Điều 18: Các cam kết bổ sung
- Điều 19: Đàm phán các cam kết cụ thể
- Điều 20: Lịch trình thực hiện các cam kết cụ thể
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Điều 21: Sửa đổi lịch trình
- Điều 22: Tham vấn
- Điều23: Giải quyết tranh chấp và thi hành
- Điều 24: Hội đồng thương mại dịch vô
- Điều 25: Hợp tác kỹ thuật
- Điều 26: Quan hệ với các tổ chức quốc tế khác
- Điều 27: Từ chối các lợi ích
- Điều 28: Các định nghĩa
Phần III: là các phụ lục về một số loại hình dịch vụ bao gồm các phụ lục thuộc điều
29 như sau:
- Phụ lục về các miễn trừ đối với điều 2
- Phụ lục về sự di chuyển của các tự nhiên nhân cung cấp dịch vụ theo hiệp định
- Phụ lục về các đàm phán về dịch vụ viễn thông cơ bản
Để tiện cho đàm phán, GATS thống nhất quy định 4 phương thức cung cấp dịch
vụ, bao gồm:
- Phương thức 1: Cung cấp qua biên giới
- Phương thức 2: Tiêu dùng ngoài lãnh thổ
- Phương thức 3: Hiện diện thương mại, và
- Phương thức 4: Hiện diện thể nhân
Phương thức cung cấp qua biên giới là phương thức mà theo đó, dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của một thành viên này sang lãnh thổ của một thành viên khác, ví dụ như giáo dục từ xa qua mạng Internet Theo phương thức này, cả người cung cấp dịch
vụ lẫn người tiêu dùng dịch vụ đều không di chuyển ra khỏi lãnh thổ nước mình Dịch
vụ được cung cấp và tiêu thụ "qua biên giới"
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ là phương thức mà theo đó, người tiêu dùng của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để tiêu dùng dịch
vụ, ví dụ như khách du lịch nước ngoài sang Việt Nam tham quan và mua sắm
Phương thức hiện diện thương mại là phương thức mà theo đó, nhà cung cấp dịch
vụ của một thành viên thiết lập các hình thức hiện diện như công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh, chi nhánh v.v…trên lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch vụ, ví dụ như Ngân hàng HSBC thành lập ngân hàng con 100% vốn HSBC tại Việt Nam để kinh doanh
Phương thức hiện diện thể nhân là phương thức theo đó thể nhân cung cấp dịch vụ của một thành viên di chuyển sang lãnh thổ của một thành viên khác để cung cấp dịch
vụ, ví dụ như các nhà quản lý cấp cao, các nghệ sĩ nước ngoài sang Việt Nam biểu diễn nghệ thuật
- Phạm vi áp dụng của GATS
Các quy tắc của GATS được áp dụng cho tất cả các loại hình dịch vụ ở cả hiện tại
và tương lai.Tuy nhiên mức độ mở cửa thị trường của từng nước không được quy định một cách tự động mà được xác định thông qua đàm phán Một số điều khoản của GATS như nghĩa vụ MFN và minh bạch hoá được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực dịch
vụ, nhưng các điều khoản liên quan tới tiếp cận thị trường và đãi ngộ quốc gia cho tới nay chỉ được áp dụng trong những lĩnh vực cụ thể mà các nước có đưa ra cam kết Mức
độ cam kết của các nước thành viên khác nhau rất xa và chưa có thành viên nào đưa ra cam kết trong tất cả các lĩnh vực dịch vụ.Quy tắc của GATS cũng được áp dụng đối với mọi biện pháp của các nước thành viên có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ
“Biện pháp” ở đây được hiểu rất rộng, đó là bao gồm “bất kỳ biện pháp nào của một nước thành viên, cho dù dưới hình thức một luật lệ, một quy định, một quy tắc, thủ tục, quyết định, hoạt động quản lý hành chính hay bất kỳ một hình thức nào khác ” Các biện pháp có thể “do Chính phủ, các cơ quan trung ương, vùng hay địa phương áp dụng” hoặc “do các cơ quan phi chính phủ áp dụng khi thực hiện các quyền hạn mà các
cơ quan chính phủ, trung ương, vùng hay địa phương giao cho”
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mặc dù phạm vi của GATS rất rộng, đề cập đến tất cả các biện pháp có ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ, song một số vấn đề quan trọng có ảnh hưởng lớn đến các nhà cung cấp dịch vụ vẫn nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của GATS như:
+ Các quy định về nhập cảnh
+ Các dịch vụ được cung cấp theo thẩm quyền của các cơ quan chính phủ
+ Các chính sách tài chính và các biện pháp thuế
+ Quản lý tỷ giá ngoại hối
+ Các vấn đề về tư nhân hoá
Nội dung chủ yếu trong CSTM của GATS là:
1.2.3.1 Về các phương thức trao đổi dịch vụ
Hiệp định đưa ra định nghĩa về bốn phương thức trao đổi dịch vụ như sau:
- Phương thức cung ứng dịch vụ qua biên giới (cross-border supply) tức là dịch vụ được cung cấp từ lãnh thổ của nước này sang lãnh thổ của nước khác (ví dụ gọi điện thoại quốc tế)
- Phương thức tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài (consumptio n abroad) tức là ngư ời tiêu dùng hay doanh nghiệp của nước này sử dụng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ dịch vụ
du lịch quốc tế)
- Phương thức hiện diện thương mại (commercial presence) nghĩa là một công ty nước ngoài thành lập các công ty con hoặc chi nhánh để cung cấp dịch vụ tại một nước khác (ví dụ các ngân hàng nước ngoài thành lập chi nhánh hoạt động ở nước khác)
- Phương thức hiện diện của thể nhân (presence of natural persons ) có nghĩa là các cá nhân di chuyển từ nước họ sang cung ứng dịch vụ ở nước khác (ví dụ dịch vụ người mẫu hay dịch vụ các nhà tư vấn)
1.2.3.2 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN)
Một nguyên tắc cơ bản của thương mại quốc tế, vốn là nền tảng của GATT là nguyên tắc MFN Nguyên tắc này yêu cầu một nước thành viên phải dành cho tất cả các nước thành viên WTO còn lại sự đối xử ưu đãi nhất đã dành cho bất cứ nước thành viên WTO nào là đối tác thương mại của mình ngay lập tức và vô điều kiện Sự phân biệt đối xử với các nước thứ ba bị cấm hoàn toàn Hơn 40 năm qua nguyên tắc này đã
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tạo nền tảng cho tù do hoá thương mại hàng hoá trên khắp thế giới với một tốc độ không thể ngờ được GATS cũng chứa đựng nguyên tắc này: “Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ phải dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ nước thành viên nào sự đối xử không kém ưu đãi hơn mức đã dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của một nước thành viên bất kỳ một cách ngay lập tức và vô điều kiện” Nghĩa vụ này được áp dụng đối với tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ, ở tất cả các ngành, cho dù
đó có cam kết cụ thể hay chưa Tuy vậy, khi áp dụng quy chế tối huệ quốc trong GATS các thành viên có thể được hưởng một số ngoại lệ với điều kiện các ngoại lệ đó phải do các thành viên đưa ra và đáp ứng được các điều kiện của Phụ lục về các trường hợp ngoại lệ của điều 2 Các trường hợp ngoại lệ này sẽ được Hội đồng thương mại dịch vụ xem xét lại sau 5 năm kể từ ngày GATS có hiệu lực Nói chung, các ngoại lệ này không được kéo dài quá 10 năm kể từ ngày GATS có hiệu lực (không quá 2004) và phụ thuộc vào đàm phán về tự do hoá thương mại dịch vụ sau này Ngoài các ngoại lệ được một nước thành viên đưa vào danh sách miễn trừ, nếu thành viên này đã tham gia vào một hiệp định thương mại dịch vô khu vực thì được tạm thời chưa phải thực hiện nguyên tắc MFN với điều kiện hiệp định đó phải bao trùm những lĩnh vực quan trọng, xoá bỏ những biện pháp phân biệt đối xử đối với người cung cấp dịch vụ của các nước khác tham gia vào hiệp định và cấm áp dụng những biện pháp phân biệt đối xử mới Nguyên tắc MFN nhằm mục tiêu đạt được mức độ tự do hoá dịch vụ cao như đối với thương mại hàng hoá, thông qua việc áp dụng nguyên tắc này đối với càng nhiều nước càng tốt và trên tất cả các ngành dịch vụ Các nước thành viên dành cho nhau những ưu đãi thương mại không phải dựa trờn cỏc đánh giá hẹp theo từng ngành mà dựa trờn cơ sở lợi Ých thương mại tổng thể trờn cỏc ngành và cho tất cả các nước Do vậy nguyên tắc MFN là một công cụ hữu hiệu trong thúc đẩy tự do hoá thương mại 1.2.3.3 Vấn đề về đãi ngộ Quốc gia (NT) và tiếp cận thị trường
Đãi ngộ quốc gia trong GATS có nội dung về việc không phân biệt đối xử giữa người nước ngoài với người trong nước Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia chỉ ra rằng: “mỗi nước thành viên sẽ dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một nước
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thành viên nào khác sự đối xử trong tất cả các biện pháp có ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ không kém ưu đãi hơn mức dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của nước mình” (điều 17) Có ba mức xem xét, kiểm tra để đảm bảo không có sự phân biệt đối xử Đó là:
Thứ nhất, có thể không dành cho người nước ngoài sự đối xử giống hệt như mức dành cho công dân nước đó, nhưng điều này phải là thông lệ
Thứ hai, sự đối xử giống về mặt hình thức hay sự đối xử khác biệt về mặt hình thức “đều được chấp nhận với điều kiện là không tạo ra sự đối xử kém thuận lợi hơn” Thứ ba, sự đối xử sẽ bị coi là kém ưu đãi hơn nếu nó làm thay đổi các điều kiện cạnh tranh theo hướng có lợi cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của nước thành viên
đó so với dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất cứ thành viên nào khác Đối với các cam kết, các nước thành viên không bị ràng buộc phải đưa ra cam kết
về tất cả các ngành dịch vụ Nếu như một nước không muốn cam kết về mức độ cạnh tranh của nước ngoài trong một ngành dịch vụ cụ thể, nước này chỉ cần tuân thủ nghĩa nghĩa vụ tối thiểu như bảo đảm minh bạch trong các điều tiết ngành dịch vụ đó và không phân biệt đối xử giữa các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài với nhau Còn khi một quốc gia đã chấp nhận mơ cửa một ngành dịch vụ cho cạnh tranh nước ngoài thì quốc gia này không được hạn chế việc chuyển tiền nước ngoài dưới danh nghĩa chi trả cho các dịch vụ đã tiêu dùng trong ngành dịch vụ đó Tuy nhiên, vẫn có ngoai lệ, đấy là một nước có thể áp dụng các hạn chế khi gặp khó khăn về cán cân thanh toán, nhưng ngay cả trong trường hợp này thì hạn chế chỉ có thể được áp dụng tạm thời và phải tuân thủ những điều kiện nhất định
Để đảm bảo cho người cung cấp dịch vụ nước ngoài được hưởng những điều kiện
về cạnh tranh tương đương với người cung cấp dịch vụ trong nước, GATS quy định các thành viên phải loại bỏ sáu hạn chế sau đây trong lĩnh vực có cam kết mở của thị trường, dù là ở quy mô vùng hay trên toàn lãnh thổ:
- Hạn chế về số lượng nhà cung cấp dịch vụ dưới hình thức hạn ngạch, độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;
- Hạn chế số lượng các hoạt động dịch vụ hoặc số lượng dịch vụ đầu ra tính theo số lượng, đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế;
- Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanh thông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ;
- Hạn chế về tỉ lệ vốn của bên nước ngoài bằng việc quy định giới hạn phần trăm tối đa
cổ phần của bên nước ngoài tính đơn hoặc tính gộp
1.2.3.4 Minh bạch hóa chính sách
Đây là nguyên tắc và nghĩa vụ vô điều kiện của GATS đối với các nước thành viên Nó cũng là nguyên tắc cốt yếu để tiến tới tự do hoá đa phương Nguyên tắc này giúp các thành viên và các doanh nghiệp xác định được những hạn chế và bảo hộ từ đó
đề ra các chính sách, chiến lược phù hợp.GATS yêu cầu các nước thành viên phải đảm bảo tính minh bạch của pháp luật điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ Các quốc gia cần phải công bố tất cả các luật và quy định phù hợp để các quốc gia khác có thể lấy thông tin liên quan đến các quy định điều chỉnh các ngành dịch vụ, và nếu như có sự điều chỉnh hay thay đổi gì, các nước đều phải báo cho WTO về những sự thay đổi đấy
Theo nguyên tắc này, tính minh bạch thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Tất cả các quy định, văn bản pháp lý, các hiệp định quốc tế có liên quan hoặc tác động đến TMDV mà các nước thành viên tham gia phải được công bố, ấn hành một cách công khai, rộng rãi Các quy định này phải được công bố chậm nhất vào ngày những quy định đó có hiệu lực pháp lý
- Mọi nước thành viên phải có nghĩa vụ đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của bất kỳ các nước thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan đến việc áp dụng các quy định nêu trên Các nước thành viên phải thành lập ít nhất một cơ quan chuyên trách cung cấp thông tin này cho các nước thành viên khác khi họ yêu cầu Các cơ quan này được thành lập 2 năm kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lức Đối với từng nước thành viên riêng biệt là nước đang phát triển, có thể thỏa thuận thời hạn linh hoạt thích
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hợp cho việc thành lập những cơ quan đó Các cơ quan chuyên trách này không nhất thiết phải là nơi lưu trữ các văn bản phát luật
- Tất cả các nước thành viên phải có nghĩa vụ thông báo khẩn trương và ít nhất mỗi năm một lần cho hội đồng TMDV của WTO về việc ban hành hoặc bất kỳ sửa đổi nào trong các luật, quy chế hoặc hướng dẫn hành chính có tác động cơ bản đến TMDV thuộc các cam kết cụ thể theo hiệp đinh này
- Các nước thành viên đưa ra những quyết định hành chính có nguy cơ ảnh hưởng tới TMDV, thiết lập những công cụ mang tính khách quan để rà soát các quyết định này nhằm đảm bảo chúng không bóp méo quá đáng các điều kiện cạnh tranh công bằng của thị trường nội địa
1.2.3.5 Nguyên tắc công nhận lẫn nhau
Nhằm xóa bỏ sự phân biệt đối xử trên thực tế đối với các dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài, nguyên tắc này ra đời để khuyến khích các nước thành viên công nhân các thủ tục của nhau liên quan đến giáo dục, đào tạo, cấp giấy phép và các thủ tuc khác cần phải có trong việc đáp ứng các yêu cầu, điều kiện cần thiết cho phép nhà cung ứng dịch vụ hoạt động trên thị trường Các nước thành viên phải thông báo cho hội đồng TMDV về các biện pháp công nhận hiện thời và thông báo những biện pháp đó là dựa trên sự thỏa thuận hay công nhận tự động, ví dụ, một các nhân có đủ những điều kiện yêu cầu thì họ được gia nhập thị trường một các tự động mà không phụ thuộc vào quốc tịch cá nhân đó
1.2.3.6 Nguyên tắc dự do hóa từng bước thương mai dịch vụ
Nguyên tắc tự do hóa từng bước thương mại dịch vụ tạo điều kiện cho các nước đang phát triển ở hai điểm sau:
- Từng bước tự do hóa thị trường phù hợp với trình độ phát triển và mục tiêu của chính sách quốc gia của các thành viên đang phát triển Các nước đang phát triển không phải mở rộng thị trường nhanh chóng và ở nhiều lĩnh vực như các nước phát triển Các nước này có thể mở rộng việc tiếp cận thị trường một các dần dần để phù hợp với tình hình phát triển và có thể quy đinh các điều kiện đi kèm khi mở cửa thị trường cho người cùng cấp dịch vụ nước ngoài
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Tăng cường sự tham gia của các nước đang phát triển vào TMDV Những cam kết của các nước đang phát triển phải được thiết lập nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực dịch vụ tại thị trường trong nước, tăng cường khả năng cung cấp các dịch vụ ở thị trường nước ngoài thông qua việc tiếp cận công nghệ mới, nâng cao khả năng tiếp cận các kênh phân phối, hệ thống thông tin ở nước ngoài, đặc biệt là tiếp cận thị trường trong các lĩnh vực cũng như phương thức cung cấp gắn liền với mối quan tâm xuất khẩu của họ
Nguyên tắc tự do hóa từng bước thương mại dịch vụ đạt được một cách thực tế nếu như các nước thành viên có những cam kết cụ thể về biện pháp mở cửa thị trường dịch
vụ, xóa bỏ rào cản cản trở sự thâm nhập của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Mỗi nước thành viên phải có những cam kết cụ thể theo những điều kiện sau để thực hiện tiến trình tự do hóa thị trường dịch vụ:
- Các điều kiện, quy định, giới hạn về mở cửa thị trường
- Các điều kiện và tiêu chuẩn về đãi ngộ quốc gia
- Những đảm bảo liên quan đến các cam kết bổ sung
- Lộ trình thực hiện các cam kết đó
- Thời hạn các cam kết đó có hiệu lực
1.2.3.7 Nguyên tắc liên quan đến các quy tắc trong nước
Nguyên tắc này công nhận chủ quyền của các nước thành viên trong việc đưa ra các quy định điều chỉnh các lĩnh vực dịch vụ trong nước và cố gắng thúc đẩy các nước thành viên minh bạch hóa các quy định, chính sách của mình Điều khoản về quy tắc trong nước phải đảm bảo nguyên tắc chung là những biện pháp nội bộ phải được quản
lý một cách khách quan, hợp lý và không thiên vị Những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài có thể phản đối các quyết định của tòa án và phải được thông báo về kết quả của việc xem xét các yêu cầu của họ Các nước thành viên phải đảm bảo rằng các thủ tục
và việc xem xét các yêu cầu thực tế phải được tiến hành một cách khách quan và bình đẳng.Yêu cầu xin được cung cấp dịch vụ phải được giải quyết trong một thời hạn hợp
lý Đây là nghĩa vụ chung được áp dụng cho tất cả các lĩnh vực dịch vụ mà không cần xem xét đến lĩnh vực dịch vụ đó có nằm trong danh mục cam kết hay không
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.3.8 Nguyên tắc liên quan đến vấn đề độc quyền và đặc quyền cung cấp dịch vụ Các nước thành viên có thể cho một số ngành dịch vụ được hưởng độc quyền và đặc quyền Nếu một nước thành viên cho phép độc quyền và đặc quyền mới đối với một lĩnh vực dịch vụ nào đó phù hợp với Danh mục cam kết thì nước thành viên đó phải thông báo cho hội đồng TMDV chậm nhất là ba tháng trước khi dự kiến thực hiện việc cho phép độc quyền, đặc quyền Trong trường hợp này, các thành viên đó phải tiến hành những điều chỉnh có tính bù đắp phù hợp với những quy định thông thường
về sửa đổi hoặc rút các cam kết.Việc thông báo như vậy cho phép các nước thành viên khác đánh giá được liệu trình trạng độc quyền có ảnh hưởng tới vị trí của nhà cung cấp dịch vụ của họ trên thị trường của nước thành viên có đọc quyền hay không
Các nước thành viên cũng có nghĩa vụ cung cấp cho các nước thành viên khác, theo yêu cầu của họ những thông tin liên quan đến cách thức và cấu trúc của độc quyền cung cấp một loại dịch vụ được phép hoạt đọng trên lãnh thổ của mình
1.2.3.9 Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt cho các nước thành viên đang phát triển hoặc đang trong quá trình chuyển đổi
Nguyên tắc này thể hiện ở những nội dung sau:
- Những cam kết thông qua đàm phán, phải đảm bảo cho các nước thành viên là những nước đang phát triển có thể tăng cường được năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ của mình Các nước phát triển phải tạo điều kiện nâng cao khả năng tiếp cận các kênh phân phối và hệ thống thông tin cho các nước đang phát triển, đồng thời phải
mở của thị trường trong các lĩnh vực và phương thức cung cấp gắn liền với mối quan tâm xuất khẩu của các nước thành viên đang phát triển
- Về đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ, những nước phát triển phải áp dụng phương pháp loại trừ, nhưng các nước đang phảt triển được phép áp dụng phương pháp
“chọn-cho” Như vậy, mở cửa lĩnh vực nào thì liệt kê lĩnh vực không cam kết
- Trong thời hạn hai năm kể từ ngày các hiệp định của WTO có hiệu lực, các nước thành viên phát triển và các thành viên khác, tùy theo khả năng, sẽ lập những điểm liên lạc để tạo điều kiện cho những người cung cấp dịch vụ của các nước thành viên đang phát triển tiếp cận thông tin về thị trường của những nước đó
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2.3.10 Nguyên tắc liên quan đến thanh toán và chuyển tiền quốc tế
Để có thể tự do hóa các giao dịch kinh tế, các nước cần có kỷ luật áp dụng cho việc
di chuyển tư bản Vì thế, GATS quy định các thành viên phải cho phép thực hiện “việc chuyển tiền và thanh toán quốc tế liên quan đến các giao dịch hàng ngày có quan hệ với các cam kết đặc biệt”.Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng các cam kết về giao dịch trong một khu vực bị ảnh hưởng xấu vởi các hạn chế về thanh toán và chuyển tiền gần với việc cung cấp dịch vụ.Những hạn chế này không thể được duy trì hoặc đưa vào Danh sách các cam kết
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2: NHỮNG ĐIỀU CHỈNH TRONG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ CỦA VIỆT NAM KHI GIA NHẬP
và các chính sách cụ thể nhằm phát triển thị trường dịch vụ, được đề ra ở các giai đoạn khác nhau trong từng thời kỳ phát triển của đất nước
Dịch vụ chiếm tỉ lệ lớn trong nền kinh tế của các nước phát triển Ở Việt Nam, đóng góp của dịch vụ chỉ chiếm khoảng 40% GDP, thương mại dịch vụ dưới 10% tổng thương mại.Vì thế, dịch vụ của Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển trong những năm tới
Trong những năm qua, với các chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước, thương mại dịch vụ đã có nhiều khởi sắc và đã đạt được một số thành tựu đáng kể Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO, và hàng loạt chính sách dịch vụ được thay đổi để phù hợp với tình hình phát triển hiện tại của Việt Nam Ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức được WTO kết nạp tại Geneva (Thuỵ Sỹ) và trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này Với sự kiện mang tính bước ngoặt này, Việt Nam đã hoàn toàn có đủ quyền lợi và nghĩa vụ như một thành viên trong WTO và
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
được giao thương bình đẳng, không phân biệt đối xử với 149 thành viên còn lại trong
tổ chức này Gia nhập tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam phải tiến hành cam kết về
tự do hoá thương mại trong đó có tự do hoá Thương mại dịch vụ
Theo hiệp định GATS, Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ như:
- Nghĩa vụ về Đối xử tối huệ quốc (MFN): Việt Nam phải đối xử bình đẳng (về chính sách, pháp luật, thủ tục…) giữa các nhà cung cấp dịch vụ đến từ các nước khác nhau (nếu các nước này đều là thành viên WTO)
- Nghĩa vụ Minh bạch hóa: Việt Nam phải công bố tất cả các quy định, yêu cầu, thủ tục
có ảnh hưởng tới thương mại dịch vụ cho các nước Thành viên WTO; công khai các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (luật, pháp lệnh, nghị định…) để lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân có liên quan trong ít nhất 60 ngày
Trong Biểu cam kết dịch vụ, Việt Nam đã đưa ra cam kết mở cửa (phải cho phép doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường Việt Nam tối thiểu ở mức như đã cam kết) đối với 11 ngành dịch vụ (bao gồm khoảng 110 phân ngành dịch vụ):
Như vậy, so sánh với phân loại các ngành dịch vụ của WTO (12 ngành với khoảng
155 phân ngành), ngành dịch vụ duy nhất mà Việt Nam không cam kết là "các dịch vụ khác"
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Về các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam cam kết cho phép nhà đầu tư nước ngoài được tham gia cung cấp dịch vụ tại Việt Nam dưới các hình thức:
- Hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam;
- Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam;
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Tuy nhiên, đây chỉ là cam kết nền (cam kết chung) Điều kiện tham gia thị trường đối với mỗi hình thức cũng như lộ trình thực hiện (thời điểm cho phép) trong từng ngành, phân ngành dịch vụ sẽ căn cứ vào cam kết trong từng ngành, phân ngành cụ thể
- Về chi nhánh: Việt Nam chưa cam kết cho phép các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài được lập chi nhánh tại Việt Nam, trừ trong một số dịch vụ cụ thể (nêu trong Biểu cam kết đối với từng phân ngành)
- Về văn phòng đại diện: Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nước ngoài được lập văn phòng đại diện tại Việt Nam với điều kiện các văn phòng đại diện này không được phép tham gia các hoạt động sinh lời trực tiếp
Cam kết dịch vụ trong WTO của Việt Nam trong đa số các ngành dịch vụ phù hợp với hiện trạng chính sách pháp luật Việt Nam về ngành đó
Tuy nhiên, cam kết trong một số ngành lại thoáng hơn hoặc chặt hơn so với chính sách, pháp luật Việt Nam hiện hành.Hiện tại, các văn bản pháp luật trong nước đã và đang được sửa đổi cho phù hợp với cam kết trong WTO (hoặc thoáng hơn cam kết nếu điều kiện thực tế đòi hỏi) Do đó, khi tìm hiểu các quy định, điều kiện hoạt động thực
tế trong mỗi ngành dịch vụ, doanh nghiệp cần căn cứ vào các văn bản pháp luật trong nước, đồng thời tham khảo thêm cam kết trong WTO để dự đoán xu hướng thay đổi Sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam đã tiến bộ đáng kể trong việc cắt giảm các rào cản thương mại dịch vụ và cải cách để tuân thủ yêu cầu của WTO Năm 2009, Việt Nam đã bắt đầu triển khai “Đề án 30” - một chương trình của chính phủ nhằm cắt giảm, đơn giản hóa tất cả thủ tục hành chính cấp quốc gia và cấp tỉnh thành có ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và người dân trên cả nước
Mới đây, Việt Nam có điều chỉnh một số chính sách mới Ví dụ dịch vụ cung cấp
đồ ăn và đồ uống: từ 2014 sẽ chấm dứt quy định về việc nhà cung cấp dịch vụ nước
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ngoài hoạt động trong khi cung cấp dịch vụ này phải tiến hành song song với đầu tư xây dựng, nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn Nói cách khác, từ 11/1/2014 nhà đầu tư nước ngoài được phép tự do mở nhà hàng ăn uống tại VN mà không kèm điều kiện về đầu tư khách sạn
Ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế
Thời gian gần đây, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh các chính sách thương mại trong khuôn khổ WTO nữa, mà đã mở rộng và gia nhập thêm nhiều tổ chức khác nữa
Trong năm 2015, hàng loạt hiệp định thương mại tự do sẽ được ký kết Ngoài việc chính thức thành lập Công đồng Kinh tế ASEAN (AEC), Việt Nam có thể ký kết 6 hiệp định thương mại tự do (FTAs), bao gồm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), ASEAN+6 FTA (RCEP), Việt Nam-EU FTA, Việt Nam-Hàn Quốc FTA, Việt Nam- Liên minh Hải quan Nga-Belarus-Kazaxtan FTA, và EFTA (FTA giữa VN và 4 nước Trung, Bắc Âu)
Những nỗ lực mở cửa lần này được đánh giá là rất “dũng cảm”, bởi không nước nào trong ASEAN dám tham gia đầy đủ các hạng mục với các đối tác lớn trong các FTAs, nhất là TPP, như Việt Nam Hơn thế, trong hầu hết các FTAs, Việt Nam thường
là nước có trình độ phát triển thấp nhất nhưng dám “bước chân” vào chung sân chơi và chơi sòng phẳng cùng các ông lớn
2.1.2 Chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam đối với một số lĩnh vực điển hình sau khi gia nhập WTO
2.1.2.1 Dịch vụ phân phối và tiêu dùng
Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa tất cả các phân ngành dịch vụ phân phối theo phân loại của WTO, bao gồm:
- Dịch vụ đại lý hoa hồng;
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ bán buôn;
- Dịch vụ bán lẻ (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp);
- Dịch vụ nhượng quyền thương mại
Việt Nam cam kết mở cửa các dịch vụ phân phối đối với tất cả các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam kể từ ngày 11/1/2007, trừ một số mặt hàng thuộc 07 nhóm sau đây (áp dụng cho cả 4 hình thức phân phối: Dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, nhượng quyền thương mại):
- Dầu thô và dầu đã qua chế biến;
- Gạo, đường mía và đường củ cải
Việc hạn chế phân phối những loại mặt hàng này được dỡ bỏ dần theo lộ trình (giảm dần các mặt hàng thuộc diện bị cấm phân phối đối với nhà phân phối có vốn đầu
tư nước ngoài)
Ngoại lệ:
Hạn chế về loại hàng hóa được phép phân phối này không áp dụng đối với các nhà phân phối có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam trước ngày 11/1/2007 (thời điểm Việt Nam gia nhập WTO) nếu giấy phép đầu tư cho phép họ phân phối các mặt hàng này
Việt Nam cam kết cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được thực hiện hoạt động phân phối tại Việt Nam dưới các hình thức sau:
- Lập liên doanh với đối tác Việt Nam với điều kiện phần vốn nước ngoài trong liên doanh không quá 49% (từ ngày 1/1/2008 sẽ không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh);
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Lập doanh nghiệp phân phối 100% vốn nước ngoài (với điều kiện là phải lập sau ngày 1/1/2009)
Một hạn chế chung trong hoạt động của các hình thức hiện diện thương mại này là
họ chỉ được phép cung cấp dịch vụ bán lẻ thông qua việc lập cơ sở bán lẻ (cửa hàng, siêu thị ) Tuy nhiên, các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được
tự động mở một địa điểm bán lẻ, việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở thứ nhất) phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép
Trước khi gia nhập WTO, trên thực tế Việt Nam đã cho phép các doanh nghiệp phân phối nước ngoài được thiết lập liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp phân phối có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép trước đó (kể cả các doanh nghiệp, siêu thị 100% vốn đầu tư nước ngoài) sẽ tiếp tục được hoạt động với các điều kiện như đã quy định trong giấy phép
Tuy nhiên, kể từ thời điểm 11/1/2007, việc thành lập mới các doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực phân phối phải tuân thủ đúng cam kết (khó khăn hơn trước đây)
Việt Nam không cam kết về việc cho phép doanh nghiệp phân phối nước ngoài được lập chi nhánh để thực hiện các hoạt động đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ
Tuy nhiên, đối với dịch vụ nhượng quyền thương mại, từ ngày 11/01/2007, các doanh nghiệp nước ngoài có thể lập chi nhánh để cung cấp dịch vụ này với điều kiện trưởng chi nhánh phải là người thường trú tại Việt Nam
Các văn bản pháp luật trong nước điều chỉnh dịch vụ phân phối bao gồm:
- Luật Doanh nghiệp 2005;
- Luật Đầu tư năm 2005;
- Luật Thương mại 2005;
- Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Quyết định 10/2007/QĐ-BTM công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa;
- Thông tư 09/2007/TT-BTM hướng dẫn thi hành Nghị định số 23/2007/NĐ-CP;
- Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp
2.1.2.2 Dịch vụ vận tải
Dịch vụ vận tải Việt Nam là một trong những lĩnh vực có khả năng cạnh tranh và
có sự tăng trưởng cao Gia nhập WTO, Việt Nam đưa ra cam kết mở cửa thị trường đối với các loại dịch vụ vận tải sau đây:
- Đối với dịch vụ vận tải biển: cam kết mở cửa đối với các dịch vụ vận tải hành khách
và vận tải hàng hóa, trừ vận tải nội địa (vận tải ven bờ);
- Đối với dịch vụ vận tải đường thuỷ nội địa: cam kết mở cửa đối với dịch vụ vận tải hành khách và vận tải hàng hóa;
- Đối với dịch vụ vận tải hàng không: cam kết mở cửa các lĩnh vực dịch vụ bán và tiếp thị sản phẩm hàng không, dịch vụ đặt chỗ, giữ chỗ bằng máy tính, dịch vụ bảo dưỡng
và sửa chữa máy bay;
- Đối với dịch vụ vận tải đường sắt: cam kết mở cửa các dịch vụ vận tải hành khách và vận tải hàng hóa;
- Đối với dịch vụ vận tải đường bộ: cam kết mở cửa dịch vụ vận tải hành khách và vận tải hàng hóa;
- Đối với dịch vụ hỗ trợ các phương thức vận tải: cam kết mở cửa các dịch vụ xếp dỡ công-ten-nơ, dịch vụ thông quan (môi giới hải quan), dịch vụ kho bãi công-ten-nơ (lưu kho công-ten-nơ trong khu vực cảng hay trong nội địa nhằm chất hàng vào/dỡ hàng ra, sửa chữa và chuẩn bị công-ten-nơ sẵn sàng cho việc gửi hàng)
2.1.2.3 Dịch vụ ngân hàng
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã đưa ra cam kết mở cửa trong các ngành sau:
- Dịch vụ nhận tiền gửi (nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng);
- Dịch vụ cho vay (cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại);
- Dịch vụ thuê mua tài chính;
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Dịch vụ thanh toán (tất cả các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng);
- Bảo lãnh và cam kết;
- Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của khách hàng, tại sở giao dịch, trên thị trường giao dịch thoả thuận hoặc bằng cách khác, các loại: Công cụ thị trường tiền tệ (bao gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); Ngoại hối; Các công cụ tỷ giá và lãi suất, bao gồm các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn; Vàng khối
- Môi giới tiền tệ;
- Quản lý tài sản (quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu
tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác);
- Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính (bao gồm chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác);
- Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp các dịch vụ tài chính khác
Theo cam kết gia nhập WTO của Việt Nam, các ngân hàng nước ngoài được hưởng đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia đầy đủ, tức là các ngân hàng này có quyền thiết lập và vận hành các máy rút tiền tự động (ATM) như các ngân hàng Việt Nam Hiện nay đối với các ngân hàng Việt Nam, không có hạn chế số lượng các máy rút tiền tự động mà các ngân hàng này được phép lắp đặt
Các tổ chức tín dụng nước ngoài cũng được phép phát hành thẻ tín dụng tại Việt Nam như các ngân hàng Việt Nam
2.1.2.4 Dịch vụ bảo hiểm
Khi gia nhập WTO, Việt Nam có cam kết mở cửa thị trường trong các phân ngành dịch vụ bảo hiểm sau
- Bảo hiểm nhân thọ (trừ bảo hiểm y tế);
- Bảo hiểm phi nhân thọ;
- Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm;
- Trung gian bảo hiểm (môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm);
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Các dịch vụ hỗ trợ bảo hiểm (tư vấn, dịch vụ tính toán, đánh giá rủi ro và giải quyết bồi thường)
Theo cam kết trong lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm, các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm nước ngoài được quyền hiện diện ở Việt Nam dưới các hình thức:
- Văn phòng đại diện (tuy nhiên các văn phòng đại diện không được phép kinh doanh sinh lời trực tiếp);
- Liên doanh với đối tác Việt Nam;
- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (với những hạn chế về loại dịch vụ được phép cung cấp theo lộ trình);
- Chi nhánh (với điều kiện mở sau 11/1/2012 và chi nhánh chỉ cung cấp dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ)
Hiện nay có một số văn bản chủ yếu điều chỉnh luật bảo hiểm Việt Nam như sau:
- Nghị định số 45 ngày 27 tháng 3 năm 2007 về hoạt động thị trường và các thông thư hướng dẫn thi tiết một số Điều của Luật kinh doanh bảo hiểm;
- Nghị định số 46 ngày 27 tháng 3 năm 2007 về một số vấn đề tài chính, biên độ thanh toán và dự trữ cùng các thông tư hướng dẫn Nghị định này;
- Nghị định số 115/1997/NĐ-CP và Quyết định số 23/2007 liên quan tới bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba mà người đi mô tô, xe máy bắt buộc phải mua;
- Quyết định số 175/2003/QĐ-TT ngày 29 tháng 8 năm 2003 thông qua chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm giai đoạn 2003 tới năm 2010;
- Quyết định số 153/2003/QĐ-BTC ngày 22 tháng 9 năm 2003 đưa ra các tỷ lệ tài chính mà Vụ bảo hiểm, Bộ Tà chính sẽ sử dụng để quản lý, giám sát;
- Nghị định số 118/2003/NĐ-CP ngày 13 tháng 10 năm 2003 quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm;
- Nghị định số 18/2005/NĐ-CP tháng 2 năm 2005 đề ra khuôn khổ pháp lý cho phép các doanh nghiệp cùng ngành thành lập hoạt động bảo hiểm tương hỗ;
- Các Thông tư số 155/2007/TT-BTC và số 156/2007/TT-BTC ngày 20 tháng 12 năm 2007 đề ra hướng dẫn chi tiết để thực hiện Nghị định số 45-2007-NĐ-CP và Nghị định số 46- 2007-NĐ-CP;
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC ngày 9 tháng 4 năm 2007 ban hành quy chế bảo hiểm bắt trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với chủ xe cơ giới, đề ra hạn mức, phí bảo hiểm và quy định đối với các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với bên thứ 3
Quy định và giám sát của Nhà nước
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm giám sát tất cả các “ngân hàng, tổ chức tài chính phi ngân hàng và các dịch vụ tài chính”, kể cả ngành bảo hiểm phi nhân thọ và xem xét các đơn xin cấp phép Trách nhiệm này được quy định rõ trong Nghị định số 100/Cp năm
1993 và miêu tả chi tiết trong Chương V Nghị định số 45/2007/NĐ-CP Trách nhiệm quản lý của Bộ Tài chính bao gồm:
- Hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; xây dựng các chính sách, chế độ liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam;
- Cấp và thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; cấp và thu hồi Giấy phép đặt Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;
- Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm;
- Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu cầu
về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;
- Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại, tố cáo và
xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
Năm 2008, Vụ Bảo hiểm thuộc Bộ Tài chính được chuyển thành Vụ Giám sát bảo hiểm với chức năng độc lập hơn và phạm vi rộng hơn Vụ Bảo hiểm thực hiện chức năng giám sát thị trường bảo hiểm, bao gồm hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm
và tái bảo hiểm, đại lý, môi giới bảo hiểm Tuy nhiên, hoạt động điều chỉnh tổn thất chưa được điều chỉnh Cho tới trước năm 2003, khi Nghị định số 77/2003/NĐ-CP xác định chức năng, nhiềm vụ, thẩm quyền và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính được ban hành, Vụ bảo hiểm chỉ là một đơn vị không quan trọng của Bộ, tuy nhiên, từ năm 2003,
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Vụ đã được nâng cấp, phản ánh sự quan tâm ngày càng tăng của Chính phủ đối với dịch vụ này Không có sự phân biệt chính thức giữa thị trường nhân thọ, thị trường phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và môi giới, tuy nhiên việc giám sát được phân chia một cách không chính thức thành ba mảng: nhân thọ, phi nhân thọ và các loại hình khác Các quy định về giám sát các hoạt động kinh doanh bảo hiểm được nêu lên tại các Điều 120 - 129 của Luật bảo hiểm (số 24/2000/QH 10), và làm rõ trong Nghị định số 45 năm 2007 Việc thanh tra các doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện ít nhất 1 lần 1 năm.Vụ bảo hiểm đang thực hiện kiểm soát khá chặt chẽ, công bằng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, tuy nhiên có một số ý kiến cho rằng Vụ đang áp dụng luật quá chặt chẽ Vụ đã tuyên bố ý định có hành động đối với việc tuyển dung đại lý sai trái, vi phạm tỷ lệ hoa hồng và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Vụ sẽ tăng cường hoạt động thanh tra và xử phạt nếu cần thiết
- Các văn bản có giá cước dịch vụ thấp hơn 10 lần giá cước của một bức thư tiêu chuẩn gửi trong nước ở nấc khối lượng đầu tiên hoặc thấp hơn 9 Đô la Mỹ (USD) khi gửi quốc tế;
- Tổng khối lượng của các vật phẩm (cho 01 lần chuyển phát) trên 2000 gam
Các công ty chuyển phát nhanh và dịch vụ chuyển phát nhanh nước ngoài sẽ được đối
xử bình đẳng với Bưu chính Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ mà Việt Nam
đã cam kết mở cửa
Những dịch vụ không cam kết mở cửa sẽ chỉ dành cho các doanh nghiệp bưu chính trong nước
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã mở cửa cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ chuyển phát nhanh (hoạt động dưới hình thức liên doanh)
Các công ty chuyển phát nhanh hàng đầu thế giới như Federal Express (FedEx), DHL, TNT, UPS… đều đã có mặt tại và cung cấp dịch vụ trên thị trường Việt Nam thông qua liên doanh với các đối tác Việt Nam
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa các dịch vụ viễn thông sau đây cho nhà đầu tư nước ngoài (với mức độ mở cửa khác nhau tuỳ vào việc nhà cung cấp
có cơ sở hạ tầng mạng hay không)
Cho tới thời điểm 11/1/2007, thị trường viễn thông Việt Nam đã là một thị trường tương đối cạnh tranh trong hầu hết tất cả các loại hình dịch vụ
Các thành phần kinh tế khác nhau đã tham gia thị trường dịch vụ viễn thông, đã có nhiều doanh nghiệp 100% vốn tư nhân hoặc tư nhân nắm quyền kiểm soát trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng
Dịch vụ viễn thông đã thu hút được hơn 2 tỷ USD đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, tính cạnh tranh của thị trường này còn nhiều điểm hạn chế:
- Nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép tham gia vào thị trường này thông qua hình thứcHợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC);
- Chỉ doanh nghiệp mà vốn Nhà nước chiếm đa số mới có quyền sở hữu dịch vụ hạ tầng mạng
Gia nhập WTO, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng cho các nhà đầu tư nước ngoài như sau:
- Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản (dịch vụ thoại, truyền số liệu, thuê kênh riêng,….), nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức:
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh;
+ Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện vốn góp tối đa của phía nước ngoài không quá 49% vốn pháp định của liên doanh
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Đối với các dịch vụ viễn thông gia tăng giá trị (thư điện tử, fax, chuyển đổi giao thức,….), các nhà đầu tư nước ngoài chỉ được phép đầu tư để cung cấp dịch vụ ở Việt Nam dưới các hình thức:
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh; hoặc
+ Doanh nghiệp liên doanh với đối tác Việt Nam (là nhà khai thác dịch vụ Việt Nam đã được cấp phép trong lĩnh vực đó) với điều kiện tỷ lệ vốn góp nước ngoài trong liên doanh không quá 50%
Theo cam kết về dịch vụ viễn thông của Việt Nam trong WTO, các doanh nghiệp nước ngoài được kết nối dung lượng cáp quang biển (dung lượng hai chiều) của các tuyến cáp quang biển mà Việt Nam là thành viên, với các trạm cập bờ của Việt Nam và bán dung lượng truyền dẫn này cho các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế có hạ tầng mạng (như VNPT, VIETTEL, VP Telecom) được cấp phép tại Việt Nam
Kể từ ngày 11/1/2008, các doanh nghiệp nước ngoài được phép bán dung lượng nêu trên chocác nhà cung cấp dịch vụ mạng riêng ảo VPN và dịch vụ kết nối Internet IXP quốc tế được cấp phép (như FPT, VNPT, VIETTEL, VP Telecom)
Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cơ quan quản lý nhà nước về viễn thông
và công bằng, các chính sách và quyết định sẽ không thiên vị đối với bất kỳ doanh nghiệp nào
Ngoài ra, Việt Nam còn điều chỉnh nhiều chính sách để hỗ trợ phát triển ngành viễn thông Năm 2009, Việt Nam có điều chỉnh và bổ sung nhiều loại luật, như: luật về tần số, luật bưu chính, luật viễn thông, luật báo chí (sửa đổi, bổ sung)
Ngày 28 tháng 8 năm 2008, Việt Nam ban hành Nghị định số 97/2008/NĐ -CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ internets, thay thế Nghị định số 55/2001/NĐ -CP
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ngày 23 tháng 8 năm 2001 Nghị định này nâng cao việc quản lý dịch vụ Internet, quy định quyền được cung cấp thông tin và trách nhiệm của người sử dụng dịch vụ Internet khi công bố thông tin, cho phép các thành phần kinh tế được cung cấp dịch vụ Internet Ngoài ra, quyết định số 155/2008/QD-TTg ngày 01 tháng 12 năm 2008 thông qua
kế hoạch điều chỉnh cước dịch vụ điện thoại cố định trong nước Về việc đầu tư vào dịch vụ viễn thông, chính phủ ban hành Nghị định số 121/2008/NĐ-CP về đầu tư vào lĩnh vực viễn thông và cung cấp dịch vụ Theo quy định này, các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng mạng phải thành lập liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh với doanh nghiệp trong nước được cấp phép Các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, không phân biệt quy mô vốn, nếu tham gia vào lĩnh vực bưu chính viễn thông phải có dự án đầu tư và phải tuân thủ các quy định pháp luật
về đầu tư quy định trong nghị định
Các dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài không phân biệt quy mô vốn, các dự án tín dụng trong nước để cung cấp dịch vụ viễn thông không có hạ tầng mạng phải có vốn từ 300 tỷ đồng trở lên và phải được thẩm định để cấp giấy chứng nhận đầu tư Điều kiện đối với các chủ thể tham gia dự án xây dựng hạ tầng mạng để cung cấp dịch
vụ viễn thông là nhà đầu tư phải là doanh nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước chiếm cổ phần chi phối Nếu là nhà đầu tư nước ngoài thì phải lập liên doanh với các nhà đầu tư trong nước đã được cấp phép thiết lập cơ sở hạ tầng mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam và có tỷ lệ tham gia vốn phù hợp với cam kết của Việt Nam trong WTO Vốn tối thiểu đối với các dự án này là 160 tỷ đồng
2.2 Đánh giá chung về mức độ phù hợp của chính sách thương mại dịch vụ của Việt Nam
2.2.1 Những điểm phù hợp của chính sách thương mại đối với dịch vụ của Việt Nam
Để đánh giá được mức độ phù hợp của chính sách thương mại dịch vụ, thông thường chúng ta thường quan tâm tới các mục tiêu như: tạo môi trường kinh doanh hiệu quả, minh bạch với chi phí giao dịch giảm; bảo vệ lợi ích người tiêu dùng bằng việc xác nhận năng lực và bảo đảm hoạt động hiệu quả của các nhà cung cấp dịch vụ;
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
bảo đảm sự tiếp cận rộng rãi tới những dịch vụ thiết yếu nhất (điện, nước sinh hoạt, viễn thông, giáo dục, y tế,…); tạo nguồn thu để chi trả cho các chức năng hành chính của chính phủ; thực hiện các mục tiêu chính sách quốc gia
Theo Đánh giá Tổng thể tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO (CIEM-2013) thì Việt Nam đã thực hiện “đầy đủ và bám sát” các cam kết gia nhập WTO về dịch vụ, kể cả đối với những ngành/phân ngành mà Việt Nam cam kết
mở cửa nhanh như dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, phân phối với hàng loạt các văn bản pháp lý được ban hành để điều chỉnh theo các cam kết WTO
Tóm lại, trong tổng thể, về diện cam kết, Việt Nam được đánh giá là khá mở cửa
về dịch vụ (với 11 trong 12 ngành dịch vụ trong WTO)
Sau khi chính thức trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện các cam kết của mình với tổ chức này trong tất cả các lĩnh vực như thuế, phi thuế,
sở hữu trí tuệ, dịch vụ Sự nghiêm túc của Việt Nam được các thành viên WTO và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước đánh giá cao và đó cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đầy ấn tượng trong những năm vừa qua
Bên cạnh đó, Việt Nam không ngừng điều chỉnh, bổ sung, đổi mới các điều luật, các chính sách thương mại, để phù hợp hơn với thị trường và tình hình phát triển kinh
tế Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc mở cửa thị trường dịch vụ, đa dạng hóa các loại hình và giảm thiểu sự độc quyền nhà nước Chính vì chính sách thương mại dần cởi mở, mà Việt Nam có thể thu hút nhiều nguồn đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho
sự tham gia sâu rộng các thành phần kinh tế Với số lượng các văn phòng đại diện ngày càng nhiều, ở tất cả các lĩnh vực dịch vụ, hoạt động của thị trường dịch vụ của Việt Nam ngày càng sôi động và cạnh tranh gay gắt Việt Nam cũng đẩy mạnh nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các chủng loại dịch vụ, góp phần thúc đẩy sử phát triển của ngành
Kể từ Đại hội Đảng lần thứ 6, nhiều cải cách tự do hóa, theo định hướng thị trường
đã được đưa ra trong giai đoạn đổi mới, trong đó có nhiều chính sách đã ảnh hưởng trực tiếp hoăc gián tiếp tới các hoạt động dịch vụ Chính sách thương mại dịch vụ trong