1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CAO SU THIÊN NHIÊN VÀO THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ

82 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 4,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt hàng cao su tự nhiên của nước ta đã được xuất khẩu tới hơn 70 thị trường trên thế giới, góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào những thị trường truyền thống như Trung Quốc hay Malaysia..

Trang 1

KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ ĐỐI NGOẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

TÊN ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CAO SU THIÊN NHIÊN VÀO THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ

Họ và tên : Vũ Đạt Lớp: Anh 15

Khoá: 50 Giáo viên hướng dẫn: Ths Trần Bích Ngọc

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CAO SU THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM…2 1.1 Đôi nét về cây cao su và sản phẩm cao su thiên nhiên: 3

1.1.1 Cây cao su 3

1.1.2 Sản phẩm cao su thiên nhiên 4

1.2 Tổng quan về ngành cao su tự nhiên thế giới 5

1.2.1 Lịch sử ngành: 5

1.2.2 Nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên 6

1.2.3 Khả năng cung cấp 8

1.2.4 Diễn biến giá trong thời gian qua 10

1.2.5 Các yếu tố tác động đến giá cao su trong những năm gần đây 14

1.3 Ngành cao su tự nhiên Việt Nam 15

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển 15

1.3.2 Vai trò của ngành đối với phát triển kinh tế - xã hội 16

1.3.3 Các sản phẩm chính và thị trường tiêu thụ 18

1.3.4 Thuận lợi và khó khăn phát triển ngành 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CAO SU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ 22

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trong nước 22

2.1.1 Tình hình sản xuất 22

2.1.2 Tình hình tiêu thụ 25

2.2 Kết quả xuất khẩu cao su của Việt Nam trong thời gian qua 27

2.2.1 Sản lượng và Kim ngạch xuất khẩu 27

2.2.2 Cơ cấu – chủng loại 29

2.2.3 Cơ cấu thị trường 30

2.3 Đặc điểm thị trường cao su Ấn Độ 31

2.3.1 Tình hình kinh tế 31

2.3.2 Khả năng sản xuất 36

2.3.3 Nhu cầu tiêu thụ 38

2.3.4 Tình hình nhập khẩu cao su tự nhiên những năm qua 40

Trang 3

2.4.1 Kim ngạch và số lượng 43

2.4.2 Chất lượng và giá cả sản phẩm 46

2.4.3 Hình thức xuất khẩu 48

2.4.4 Đối thủ cạnh tranh 49

2.5 Đánh giá về hoạt động xuất khẩu cao su sang thị trường Ấn Độ 52

2.5.1 Những kết quả đạt được 52

2.5.2 Những tồn tại và nguyên nhân 53

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CAO SU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ 56

3.1 Dự báo thị trường cao su thế giới và Ấn Độ 56

3.1.1 Dự báo về thị trường cao su thế giới 56

3.1.2 Dự báo về thị trường cao su Ấn Độ 57

3.2 Định hướng và mục tiêu phát triển hoạt động sản xuất và xuất khẩu cao su của Việt Nam 59

3.2.1 Về sản xuất 59

3.2.2 Về xuất khẩu 60

3.3 Những giải pháp thúc đẩy xuất khẩu cao su Việt Nam sang thị trường Ấn Độ 61 3.3.1 Giải pháp từ phía nhà nước 61

3.3.2 Về phía các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu cao su 65

Trang 4

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Association

Hiệp hội các nhà sản xuất săm lốp

Devepopment

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông

thôn

Trang 5

Bảng 2.1 Cơ cấu vùng trồng cao su tại Ấn Độ năm 2012-2013 45 Bảng 2.2: Chủng loại cao su nhập khẩu tại Ấn Độ 50 Bảng 2.3: Thuế suất trung bình của Ấn Độ trong Hiệp định AITIG đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ chốt của ta 52 Bảng 2.4: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su vào thị trường Ấn Độ 53 Bảng 2.5: So sánh chỉ tiêu của các quốc gia với sản phẩm TSR 10 54

Trang 6

Hình 1.1: Tiêu thụ cao su thiên nhiên theo sản phẩm 13

Hình 1.2: Sản lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên và tăng trưởng GDP thế giới 14

Hình 1.3: Sản lượng và tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu 16

Hình 1.4: Thị phần sản xuất cao su tự nhiên 17

Hình 1.5: Biến động giá cao su thiên nhiên theo các sự kiện kinh tế giai đoạn 2008-2014 18

Hình 1.5: Tỷ trọng xuất khẩu cao su tự nhiên trong tổng kim ngạch xuất khẩu 24

Hình 1.6: tỷ trọng xuất khẩu cao su theo chủng loại năm 2013 26

Hình 2.1: Diện tích, sản lượng và năng suất cao su của một số nước 30

Hình 2.2 : Sản lượng và năng suất cao su Việt Nam giai đoạn 2000-2014 31

Hình 2.3: Diện tích trồng và thu hoạch cao su 32

Hình 2.4: Sản xuất và tiêu thụ cao su trong nước 34

Hình 2.5: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên 36

Hình 2.6: Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm cao su xuất khẩu 38

Hình 2.7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su thiên nhiên 39

Hình 2.8: Cơ cấu sản phẩm ngành công nghiệp ô tô Ấn Độ 42

Hình 2.9: Tăng trưởng ngành công nghiệp ô tô Ấn Độ 43

Hình 2.10: Sản xuất cao su tại Ấn Độ 46

Hình 2.11: Tiêu thụ cao su theo sản phẩm tại Ấn Độ 47

Hình 2.12: Sản xuất và tiêu thụ cao su tại Ấn Độ 48

Hình 2.13: Nhập khẩu cao su tại Ấn Độ 49

Hình 2.14: Thị phần các nước xuất khẩu cao su vào Ấn Độ 51

Hình 2.15: So sánh giá cao su TSR 20 F.O.B của Việt Nam, Indonesia và giá TSR 20 nội địa tại Ấn Độ 56

Hình 2.16: Cơ cấu sản phẩm của Việt Nam, Thái Lan và Indonesia 60

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xu thế mở cửa hội nhập kinh tế thế giới như ngày nay, thị trường hàng hóa nói chung không ngừng được mở rộng và cao su Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó Mặt hàng cao su tự nhiên của nước ta đã được xuất khẩu tới hơn

70 thị trường trên thế giới, góp phần làm giảm sự phụ thuộc vào những thị trường truyền thống như Trung Quốc hay Malaysia Trong số các thị trường mới của mặt hàng này, Ấn Độ là nổi bật hơn cả Đây là một trong những quốc gia có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, trong đó có ngành công nghiệp ô tô phát triển rực

rỡ Đây cũng là ngành công nghiệp sử dụng tới hơn 70% cao su tự nhiên và điều này góp phần làm tăng nhu cầu cao su Ấn Độ những năm qua Xuất khẩu cao su của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ đã đạt được sự tăng trưởng ấn tượng Khối lượng cao su xuất khẩu qua Ấn Độ tăng không ngừng qua từng năm và hiện chúng ta là quốc gia xuất khẩu cao su lớn thứ 3 vào thị trường này Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng so với Trung Quốc và Malaysia, lượng cao su xuất khẩu vào Ấn Độ còn rất nhỏ bé, uy tín cũng như vị thế của cao su Việt Nam tại thị trường này là chưa cao, trình độ quản lý cũng như chất lượng sản phẩm còn yếu kém so với các đối thủ cạnh tranh như Thái Lan hay Indonesia

Trước tình hình đó, để góp phần đánh giá lại thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Ấn Độ, người viết đã

chọn đề tài “Thực trạng và những giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu cao

su thiên nhiên vào thị trường Ấn Độ” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận đi sâu vào phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động xuất khẩu cao su Việt Nam vào thị trường Ấn Độ, từ dó nêu ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu cao su của nước ta vào thị trường này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xuất khẩu cao su thiên nhiên Việt Nam vào thị trường Ấn Độ

Trang 9

- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xuất khẩu cao su thiên nhiên của Việt Nam vào thị trường Ấn Độ trong mối liên hệ với quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ thời kỳ 2004-2014

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như thu thập thông tin, số liệu, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh…

5 Kết cấu luận văn

Ngoài lời mở đầu, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục các từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Khóa luận bao gồm 3 chương chính:

Chương 1: Tổng quan về ngành cao su thế giới và Việt Nam

Chương 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu cao su tự nhiên Việt Nam vào thị trường Ấn Độ

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cao su Việt Nam sang thị trường Ấn Độ

Người viết xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến cô giáo hướng dẫn – Ths.Trần Bích Ngọc đã dành thời gian giúp đỡ, góp ý tạo điều kiện cho người viết hoàn thành khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng do hiểu biết còn hạn chế, người viết không tránh khỏi những sai sót nhất định Người viết kính mong nhận được sự đóng góp của thầy cô giáo, bạn đọc… để hoàn thiện thêm bài viết và kiến thức của người viết

Sinh viên

Vũ Đạt

Trang 10

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CAO SU THẾ GIỚI

VÀ VIỆT NAM

1.1 Đôi nét về cây cao su và sản phẩm cao su thiên nhiên:

1.1.1 Cây cao su

Cao su là một loại cây thân gỗ, thuộc họ Đại kích (Euphorbiaceae), có nguồn gốc từ Nam Mỹ Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas ở đây đã biết lấy nhựa của cây này để tẩm vào quần áo chống ướt và tạo ra những quả bong để vui chơi trong những dịp hội hè Họ gọi chất nhựa này là Caouchouk, theo thổ ngữ Mainas nghĩa

là “nước mắt của cây” Charles Marie de La Condamine là người đầu tiên phát hiện

và gửi các mẫu cây này đến học viện hàn lâm Pháp vào năm 1736, đồng thời ông cũng mô tả các đặc tính của cây cao su trong một bản báo cáo được công bố năm

1755 Ở Anh, vào năm 1770 Joseph Priestley quan sát thấy rằng chất liệu cao su có tác dụng rất tốt trong việc xóa vết bút chì trên giấy trên giấy, ông đã công bố phát minh của mình và gọi chất liệu này là "rubber" Đây có thể coi là ứng dụng đầu tiên của cao su, khiến cho cây được biết đến nhiều hơn sau này

Cho đến cuối thế kỷ 19, Brazil vẫn là nước kiểm soát nguồn cung mủ cao su Việc buôn bán mủ hay xuất khẩu hạt giống cao su ra bên ngoài bị kiểm soát nghiêm ngặt Tuy nhiên, vào năm 1876, một thương nhân tên là Henry Wickam đã lén đưa 70.000 hạt giống cây cao su ra khỏi Brazil để đến vườn thực vật hoàng gia Kew, nước Anh Chỉ 2.400 hạt giống trong số chúng này mầm và được chuyển đến Ấn

Độ, Sri Lanka, Indonesia, Singapore, Maylaisia (những nước thuộc địa của Anh vào thời điểm đó) Tại châu Phi, vào đầu thế kỷ 20, Congo được biết đến là nước sản xuất nhựa cao su lớn, sau đó đến lượt Liberia và Nigeria cũng bắt đầu trồng loại cây này

Cây cao su có thể cao trên 30m, vỏ cây có các mạch mủ, có thể cho mủ màu vàng hay trắng Lúc cây được 5 đến 6 tuổi cũng là lúc người ta bắt đầu cho thu hoạch mủ, năng suất mủ thu được nhiều nhất khi cây trong độ tuổi 11 đến 25 Cây già hơn sẽ không cho mủ nhưng sẽ thích hợp để cho gỗ Việc thu hoạch mủ cao su thường được tiến hành trong 9 tháng, 3 tháng còn lại (tháng 1 đến tháng 3 hằng

Trang 11

năm) là thời điểm cây rụng lá, nếu thu hoạch trong thời điểm này cây sẽ chết Cây cao su phát triển rất tốt ở những vùng nhiệt đới ẩm, nơi mà nhiệt độ quanh năm từ

22 °C đến 30 °C (tốt nhất ở 26 °C đến 28 °C) với lượng mưa lớn (trên 2000mm) Tuy nhiên cây lại không chịu được ngập úng và gió, những yếu tố khiến năng suất

mủ bị giảm hoặc cây chết

1.1.2 Sản phẩm cao su thiên nhiên

Cao su thiên nhiên được sản xuất từ mủ cây cao su Đây là một loại vật liệu có tính chất cơ học tốt, đặc biệt bền với kéo xé Tính chất nổi bật của cao su thiên nhiên so với cao su tổng hợp là tính tưng nảy và tính phục hồi tốt của nó Cao su thiên nhiên sau khi bị kéo giãn, phục hồi lại gần như hoàn toàn kích thước ban đầu của chúng khi được thả ra và sau đó từ từ phục hổi lại một phần biến dạng dư Tính kháng của cao su thiên nhiên về thời tiết và lão hóa tương đối kém Không giống như vật liệu đàn hổi tổng hợp, cao su thiên nhiên mềm khi bị lão hóa bởi ánh sáng mặt trời do chuỗi polime bị cắt đứt Nó chỉ có tính kháng trung bình với ozone

Cao su thiên nhiên có tính kháng rất tốt với hầu hết các dung dịch muối vô cơ, kiềm và acid không oxy hóa (ngoại trừ hydrochloric acid vì nó sẽ phản ứng với cao

su và hình thành rubber hydrochloride) Các môi trường oxy hóa mạnh như acid nitric, acid sulfuric đậm đặc, permanganates, dichromates, chlorine dioxide và sodium hypochloritetấn công mạnh cao su Các dầu khoáng và dầu thực vật, gasoline, benzene, toluene và chlorinated hydrocarbons gây trương nở cao su Trong khi đó, nước lạnh có khuynh hướng bảo quản cao su thiên nhiên

Do có các tính chất lý hóa như trên, cao su thiên nhiên được ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực bao gồm giao thông, công nghiệp, tiêu dùng, vệ sinh và y

tế

Trang 12

xe khí nén làm từ cao su của John Boyd Dunlop năm 1888 được biết tới như một cú hích trong việc nâng cao năng suất của các phương tiện vận tải Để rồi đến tận 2 thế

kỷ sau, dù đã trải qua nhiều lần sửa đổi, nhưng những chiếc lốp xe bơm hơi vẫn được sử dụng rộng rãi không chỉ cho ô tô, xe máy mà còn cho cả máy bay Năm

1950, tuyến đường rải Bitum đầu tiên ( là một loại chất lỏng hữu cơ có thành phần

là cao su ) được xây dựng tại London, giảm được 1/3 độ trơn trượt và chịu được nhiệt độ thấp Năm 1952, cao su latex lần đầu tiên được ứng dụng để làm chỉ sợi cao su, một nguyên liệu quan trọng trong ngành dệt may…

Nhu cầu cao cùng với các vấn đề chính trị phức tạp và việc khai thác khó khăn

đã khiến cho mức giá cao su tăng lên chóng mặt từ mức 256 bảng Anh đến 655

Cao su tự nhiên

Giao thông vận tải

tế

Băng chuyền, lốp xe nâng hàng, bình đựng, ống nước, găng tay

Quần áo, dày dép, chỉ may, cục tẩy, bóng đánh golf, tấm thảm

Săm lốp, dây đai

an toàn

Găng tay kỹ thuật, sản phẩm ngừa thai, vòi ớt-tát dùng trong

Trang 13

bảng Anh trong những năm đầu thế kỷ 20, làm thúc đẩy nhu cầu sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế Năm 1909, nhà hóa học người Đức Fritz Hoffmann đã phát minh ra cao su tổng hợp làm từ dầu mỏ, mở ra một chương mới cho ngành sản xuất cao su lúc bấy giờ Năm 1930 và 1931, các hãng Pithokon và Dupont lần lượt bán sản phẩm cao su tổng hợp ra thị trường

Trong Chiến tranh thế giới thứ II, Nhật đã xâm chiếm phần lớn các quốc gia Đông Nam Á, khu vực sản xuất cao su tự nhiên chính của thế giới và phong tỏa nguồn cung khiến nhu cầu sử dụng cao su tổng hợp tăng mạnh tại quốc gia phương Tây làm tương quan sản lượng tiêu thụ giữa cao su tự nhiên và cao su tổng hợp thay đổi nhanh chóng Sản lượng cao su tổng hợp đã vượt qua cao su tự nhiên trong thập niên 60 và chiếm đến 70 % tổng số nhu cầu cao su trên thế giới những năm 80 Tuy nhiên, kể từ những năm 1980, giá dầu mỏ có xu hướng tăng và thị trường

xe hơi tại Ấn Độ và Trung Quốc bùng nổ Bên cạnh đó, cao su tự nhiên có nguồn gốc thân thiện hơn với môi trường so với nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch của cao

su tổng hợp Những nguyên nhân đó khiến nhu cầu sử dụng cao su tự nhiên phục hồi và hiện nay chiếm khoảng 43% sản lượng tiêu thụ cao su trên toàn thế giới

1.2.2 Nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên

Cao su tự nhiên có sản phẩm thay thế là cao su nhân tạo, là nguồn nguyên liệu quan trọng trong nhiều lĩnh vực, trong đó ngành công nghiệp sản xuất săm lốp tiêu thụ gần 70% lượng cao su tự nhiên được sản xuất Vậy nên nhu cầu tiêu thụ cao su

tự nhiên phụ thuộc rất lớn vào thị trường xe hơi, biến động kinh tế và giá dầu mỏ

Từ năm 2004 đến năm 2008, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới, nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên tăng đều khoảng 6%/ năm Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ và sau đó là khủng hoảng nợ công châu Âu giai đoạn 2008-

2010 đã đưa nền kinh thế thế giới bước vào thời kỳ suy thoái, đây là nguyên nhân chính khiến cho sản lượng tiêu thụ cao su tự nhiên thời kỳ này giảm mạnh so với trước, cụ thể là giảm 7,7% so với năm 2008

Trang 14

Hình 1.1: Tiêu thụ cao su thiên nhiên theo sản phẩm

Nguồn: ANRPC

Giai đoạn 2010-2014, kinh tế thế giới trên đà phục hồi mặc dù tăng trưởng có chậm hơn so với trước Nhu cầu tiêu dùng tăng cao thúc đẩy sự phát triển trở lại của các ngành công nghiệp, trong đó có ngành ô tô, cùng với đó là việc giá dầu mỏ tiếp tục tăng đã khiến cho sản lượng tiêu thụ cao su tự nhiên liên tục tăng cao, đạt đỉnh

và vượt cả mức trước khủng hoảng

Hình 1.2: Sản lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên và tăng trưởng GDP thế giới

Chất dính Sản phẩm khác

-3 -2 -1 0 1 2 3 4 5

% GDP thế giới

Trang 15

Theo thống kê của IRSG,

Thái Bình Dương vẫn tiế

tấn, chiếm 72,08 % tổng nhu c

Âu, Trung Đông và châu Phi ) v

1303 nghìn tấn (chiếm 14,

tự nhiên nhiều nhất trên th

đến 3 đại diện lần lượt là Trung Qu

%), Mỹ (8,04%) là nước tiêu th

quốc gia có dân số đông, n

ô tô phát triển mạnh, đặc bi

này đã chiếm hơn một nử

nên giá cao su thế giới nhìn chung ph

từng nước trong nhóm này

Hình 1.3: Tỷ trọng các khu v

1.2.3 Khả năng cung cấ

Việc gia tăng hay c

trực tiếp vào nguồn cầu, v

72.27

13.02

14.71

2013

Châu Á-Thái Bình Dương

a IRSG, trong 9 tháng đầu năm năm 2014, khu v

ếp tục dẫn đầu về tiêu thụ cao su tự nhiên

ng nhu cầu trên thế giới, tiếp theo là EMEA ( khu vchâu Phi ) với 1174 nghìn tấn (chiếm 13,23 %) và châu M

m 14,69%) Nếu xét theo quốc gia, trong 4 nước tiêu th

t trên thế giới thì khu vực Châu Á- Thái Bình D

t là Trung Quốc (36,5%), Ấn Độ (8,47%) và Nh

c tiêu thụ nhiều thứ 3 thế giới Có thể thấy đây đđông, nền kinh tế tăng trưởng nóng cùng với ngành công nghi

c biệt là Trung Quốc và Ấn Độ Nhìn chung ch

ửa sản lượng tiêu thụ cao su thiên nhiên của th

i nhìn chung phụ thuộc rất lớn vào động thái tiêu dùng c

c gia tăng hay cắt giảm sản lượng cao su tự nhiên trên thế

u, vậy nên xu hướng tăng trưởng về sản lư

Hoa Kỳ 8%

Nhật Bản 6%

Thái Lan 5%

Indonesia 5%

Malaysia 4%

Khác 27%

72.08

13.23 14.69

9M2014 Thái Bình Dương EMEA Châu Mỹ

năm 2014, khu vực châu Á –

với 6393 nghìn EMEA ( khu vực Châu

23 %) và châu Mỹ với

c tiêu thụ cao su Thái Bình Dương đóng góp

và Nhật Bản (6,27

y đây đều là những

i ngành công nghiệp Nhìn chung chỉ 4 quốc gia

a thế giới, vì vậy

ng thái tiêu dùng của

c tiêu dùng cao su thiên nhiên

Ấn Độ 8% Hoa Kỳ

8%

Trang 16

nhiên tương đối giống với nhu cầu tiêu thụ Sản lượng cao su tự nhiên từ năm 2001 tăng trưởng bình quân 4,8%/năm tuy nhiên mức tăng trưởng này không đều Từ năm 2003, sản lượng tăng rất nhanh trung bình đến 9% trong 3 năm, sau đó chững lại ở giai đoạn 2006 – 2008 và giảm nhẹ vào năm 2009 do tác động của khủng hoảng tài chính ở Mỹ và sau đó là khủng hoảng nợ công ở châu Âu Từ năm 2010 đến nay, nguồn cung bắt đầu tăng trở lại với mức tăng trưởng trung bình 3%/năm sau khi chứng kiến sự hồi phục của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc và sự tăng trưởng mạnh đến từ nền kinh tế Ấn Độ

Hình 1.3: Sản lượng và tiêu thụ cao su tự nhiên toàn cầu

(Đơn vị: nghìn tấn)

Nguồn: Malaysia Rubber Board

Nhìn chung sau 15 năm, sản lượng cao su đã tăng gần gấp đôi, cụ thể là 6,8 triệu tấn năm 2000 lên hơn 12 triệu tấn năm 2013 Sản lượng có thể tăng mạnh như vậy là nhờ việc mở rộng liên tục diện tích trồng cao su và áp dụng giống mới cũng như các tiến bộ kỹ thuật, tăng năng suất khai thác Việc nâng cao sản lượng đã khiến cho chênh lệch cung cầu cao su tự nhiên ngày càng giảm Từ năm 2000 đến

2010 sản lượng cao su tự nhiên sản xuất ra không đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ,

Trang 17

tuy nhiên từ năm 2010 tr

ngày càng lớn

Nguồn cung cao su t

Á với tỷ lệ trên 92 % , còn l

nước sản xuất cao su tự

Việt Nam và Malaysia đ

gia xuất khẩu cao su hàng đ

nhiều cây cao su nhưng nh

năm vì lượng cung không đ

Hình 1.4: Th

1.2.4 Diễn biến giá trong th

tháng 7 năm 2008, giá cao su th

sang giai đoạn 2008 – 2009

cầu sụt giảm khiến cho

những dấu hiệu khả quan, giá cao su không ng

2011 Kể từ đó trở về sau, giá cao su di

giảm

Việt Nam 9%

Malaysia 8%

Ấn Độ

8%

Trung Quốc

7%

năm 2010 trở đi đã xuất hiện tình trang dư cung, với m

n cung cao su tự nhiên trên thế giới chủ yếu đến từ các nư

trên 92 % , còn lại là các nước châu Phi và châu Mỹ Latinh

nhiên nhiều nhất thế giới lần lượt là Thái Lan

t Nam và Malaysia đã chiếm đến 80% tổng sản lượng, đây cũng l

u cao su hàng đầu Ấn Độ và Trung Quốc cũng là nhữ

u cây cao su nhưng nhìn chung vẫn phải nhập khẩu một lượng l

ng cung không đủ đáp ứng nhu cầu

Hình 1.4: Thị phần sản xuất cao su tự nhiên

(Đơn v

Ngu

n giá trong thời gian qua

y cảm với những tác động của nền kinh tế Từgiá cao su thế giới có tăng trưởng mạnh mẽ Tuy nhiên bư

2009, khi nền kinh tế thế giới lâm vào khủ giá cao su giảm mạnh Giai đoạn 2010-2011quan, giá cao su không ngừng tăng và đạt đỉnh vàosau, giá cao su diễn biến thất thường và đi theo xu hư

Thái Lan 30%

Indonesia

Khác 11%

ng lớn cao su hàng

(Đơn vị: phần trăm)

Nguồn: ANRPC

ừ năm 2002 đến Tuy nhiên bước ủng hoảng, nhu

2011, kinh tế có

nh vào đầu năm

ng và đi theo xu hướng

Thái Lan 30%

Indonesia 27%

Trang 18

Giai đoạn 2008 - 2009: Đây là giai đoạn khó khăn cho ngành cao su Vào thời điểm tháng 8/2008, giá cao su đã tăng đến mức kỷ lục trong vòng 56 năm, trên 3000 USD/kg, rồi lại bất ngờ sụt giảm chỉ còn 1,102 USD/kg vào tháng 12 năm 2008 do cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan rộng ra toàn cầu Bắt đầu từ năm 2009, kinh tế thế giới có dấu hiệu phục hồi, các gói kích thích kinh tế cũng được các quốc gia áp dụng, hàng loạt các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để kích thích tiêu dùng và sản xuất Chính vì thế, giá cao su đã có những mức tăng đáng kể Trong năm này, lượng nhập khẩu cao su vẫn tăng mạnh ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ hay Malaysia Tháng 1/2009, giá cao su RSS3 tại Tokyo ở mức 138 JPY /kg tăng 17,9 % so với 12/2008, tính đến tháng 12/2009, giá cao su RSS3 vào khoảng 256 JPY /kg, tăng 85,5% so với đầu năm Hay giá cao su SVR giao tại Thái Lan đạt 1,55 USD/kg vào

đầu năm và giá cao su loại này đạt khoảng 3 USD/kg, tăng 93,5% so với đầu năm

Hình 1.5: Biến động giá cao su thiên nhiên theo các sự kiện kinh tế giai

đoạn 2008-2014

Nguồn: VRG, Malaysia Rubber Board

Năm 2010: Từ tháng 1 - 4, năm 2010, mức giá cao su lại tiếp tục tăng cao Vào tháng 4/2010 giá cao su RSS3 tại Tokyo đạt 350 JPY /kg Kể từ tháng 5 giá

Trang 19

cao su lại suy giảm do Trung Quốc đã tung lượng dự trữ cao su nhằm làm giảm nhiệt tăng của loại hàng hóa này cho tới tháng 7/2010 với mức giảm kỉ lục, giá cao

su RSS3 giao tại Tokyo chỉ còn 287 JPY /kg, nguyên nhân là do lo ngại đà phục hồi kinh tế chậm lại cùng với sản lượng cao su tăng lên do đến mùa thu hoạch Bắt đầu

từ tháng 8, giá cao su lại tiếp tục tăng trở lại cho tới cuối năm do thời tiết bất lợi của các nước sản xuất cao su

Năm 2011: năm 2011 cũng là một năm biến động mạnh của giá cao su, những tháng đầu năm giá cao su lại tiếp tục tăng và đạt đỉnh vào tháng 2/2011 ở mức 522 JPY/kg cho cao su RSS3 giao tại Tokyo, tiếp sau đó cao su lại suy giảm vào tháng 3

do động đất và sóng thần xảy ra tại Nhật Bản, thị trường tiêu thụ cao su lớn của thế giới và tăng trở lại vào tháng 4 Tuy nhiên 4 tháng đầu năm giá cao su đều đạt mức rất cao Kể từ tháng 4, giá cao su bắt đầu trượt dốc nhanh chóng do nỗi lo suy giảm kinh tế thế giới, khủng hoảng nợ ở châu Âu, nền kinh tế Mỹ tăng trưởng chậm lại và Trung Quốc thắt chặt tiền tệ Giá cao su thấp nhất là vào tháng 11, chỉ còn 257 JPY /kg cho cao su RSS3 Cho tới cuối năm, giá có tăng nhưng không đáng kể ở mức

271 JPY /kg Tuy nhiên, nhìn chung giá cả cao su năm 2011 vẫn duy trì ở mức cao

đã đề ra giải pháp cắt giảm sản lượng 450.000 tấn nhằm giảm xuất khẩu 300.000 tấn

và tái canh 100.000 ha vườn cây cao su già hiệu quả kém, đồng thời bố trí ngân sách để thu mua cao su cho nông dân khoảng 200.000 đến 300.000 tấn khi giá cao

su giảm sát giá thành.Sau tuyên bố của ba nước cao su về giải pháp nâng đỡ giá, đồng thời Trung Quốc tăng cường mua cao su trước khi nghỉ lễ Quốc khánh, giá

Trang 20

được cải thiện trong tháng 9 Giá cao su SVR 3L đã tăng lên được 2.900 USD/tấn ngày 26/9/2012

Từ đầu năm 2013, giá cao su thế giới đã liên tục lao dốc và chạm mức thấp nhất vào cuối tháng 6 do dự báo nguồn cung từ khu vực Đông Nam Á sẽ tăng sau khi 3 nước sản xuất cao su hàng đầu thế giới không đồng ý hạn chế xuất khẩu Mặt khác, do chịu tác động bởi nhu cầu của Trung Quốc giảm do kinh tế tăng trưởng chậm và tồn kho ở mức cao nên giá cao su trong tháng 7 vẫn giảm so với tháng 6

Dự trữ cao su tại Thanh Đảo, chiếm phần lớn lượng cao su tồn kho của Trung Quốc, đạt 330.300 tấn, giảm so với 341.900 tấn vào đầu tháng 7 nhưng vẫn cao hơn mức bình thường 250.000 tấn Nhập khẩu cao su tự nhiên của Trung Quốc trong tháng 6 giảm xuống còn 130.000 tấn so với 180.000 tấn trong tháng 5, do các nhà máy sản xuất lốp ô tô hạn chế mua cao su từ nước ngoài, trong khi tồn kho cao su ở Thượng Hải, Sơn Đông, Vân Nam, Hải Nam và Thiên Tân vẫn tăng và đạt 114.230 tấn Tuy nhiên, từ đầu tháng 7/2013, giá cao su thế giới đã bắt đầu điều chỉnh tăng lên do một số nguyên nhân: sự suy yếu của đồng yên Nhật so với USD và doanh số bán xe

ô tô tại Mỹ tăng cao đẩy sản lượng lốp ô tô tăng Xu hướng tăng giá tiếp tục được duy trì sang đầu tháng 8 do thời tiết mưa nhiều tại Ấn Độ, Indonesia, Malaysia và Thái Lan ảnh hưởng đến việc khai thác mủ cao su, khiến nguồn cung bị giảm trong ngắn hạn Mặc dù tình hình kinh tế thế giới chưa thực sự khởi sắc, nhưng giá cao su trung bình tháng 7 tại Tokyo cho kỳ hạn giao hàng tháng 8 vẫn tăng gần 2% so với tháng 7, lên mức 242 yên/kg Giá cao su kỳ hạn giao tháng 9 và tháng 10 cũng tăng 2,06% và 1,92% lên mức lần lượt 242,6 và 243,5 yên/kg

Năm 2014, giá cao su tiếp tục giảm sâu và được xem là chạm mức thấp nhất

kể từ năm 2010 Cụ thể, tháng 1 năm 2014, giá cao su thiên nhiên ở mức 2.072 USD/tấn, tháng 2 còn 2.054 USD/tấn Từ tháng 3 đến tháng 9-2014, trung bình mỗi tháng, giá cao su thiên nhiên xuất khẩu giảm đều xuống mức dưới 1.900 USD/tấn Kết thúc năm 2014, giá cao su RSS3 kỳ hạn trên thị trường TOCOM đóng cửa tại mức 1.647 USD/tấn, khép lại một năm ảm đạm của thị trường cao su thiên nhiên thế giới Nguyên nhân được cho là do sức ép từ việc giá dầu liên tục giảm và thị trường tiếp tục lo ngại về khả năng tiêu thụ cao su của Trung Quốc khi chỉ số năng lực mua hàng (PMI) của quốc gia này trong tháng 10 đã giảm xuống mức thấp nhất trong

Trang 21

vòng 5 năm qua Trong khi nền kinh tế tại một số nước tăng trưởng chưa như mong muốn khiến cho nhu cầu cao su tăng chậm thì sản lượng cao su vẫn tăng mạnh và chưa thấy có dấu hiệu cắt giảm, điều này làm cho chênh lệch cung cầu cao su hiện nay đang ngày càng trầm trọng làm giảm cơ hội phục hồi của giá cao su trong tương lai gần

1.2.5 Các yếu tố tác động đến giá cao su trong những năm gần đây

Từ diễn biến trên thế giới những năm qua, có thể thấy giá cao su tự nhiên phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, kể cả khách quan và chủ quan:

- Đầu tiên có thể kể tới giá dầu Giá cao su chịu ảnh hưởng của giá dầu thế giới, thường là biến động cùng chiều Có thể thấy cao su nhân tạo có thành phần chính là dầu mỏ là sản phẩm thay thế của cao su tự nhiên, khi giá dầu tăng làm giá cao su nhân tạo tăng dẫn đến việc thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên và ngược lại Tuy nhiên quy luật này tỏ ra không đúng trong những năm gần đây khi giá dầu quá cao là nguyên nhân cản trở sự phục hồi của các nền kinh tế, và cũng làm giảm đi nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên

giới khi có tới 70% sản lượng cao su được sản xuất ra dùng cho ngành chế tạo săm lốp Chính vì thế sự biến động của ngành ôtô gây ra những biến động lớn về giá cả cao su Ấn Độ, Trung Quốc là những quốc gia có ngành công nghiệp ô tô phát triển nóng thời gian qua và cũng là những nước tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới

Vào mùa thu hoạch chính, giá cao su thường giảm do nguồn cung lớn Với khí hậu diễn biến phức tạp, gây bất lợi cho ngành cao su từ khâu trồng trọt, lấy mủ, làm giảm năng suất là yếu tố đẩy giá cao su lên Ngày nay, các nước sản xuất cao su lớn đều nằm trong Hiệp hội các quốc gia Sản xuất Cao su thiên nhiên (ANRPC) nên giá

có thể được điều chỉnh bởi các thành viên Lượng tiêu thụ cao su cũng làm cho mức giá biến động cùng chiều Cao su được tiêu thụ khá tập trung bởi những nước có ngành công nghiệp ôtô phát triển như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản hay Ấn Độ Chính vì thế, những biến động về kinh tế của các nước này cũng làm cho giá cao su

có những biến động mạnh Sự chênh lệch giữa lượng cung và lượng cầu cũng là

Trang 22

nguyên nhân để giá cao su tăng hay giảm, có thể thấy dư cung là nguyên nhân lớn nhất dẫn đến sự sụt giảm của giá cao su tự nhiên trong vòng 5 năm trở lại đây

bởi biến động về khí hậu và thời tiết Chính vì thế giá cao su cũng chịu ảnh hưởng của những biến động này Những năm qua các hiện tượng thời tiết bất thường và có ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su như El NiNo, La Nina gây

ra hạn hán, lũ lụt hoặc bão ở nhiều nơi, đặc biệt là Đông Nam Á gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản lượng cũng như chất lượng của cao su

1.3 Ngành cao su tự nhiên Việt Nam

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Ngay từ những ngày đầu xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã tìm cách mang cây cao su vào trồng ở nước ta song tuổi thọ của những cây cao su đầu tiên quá ngắn ngủi Phải đợi đến 1897, dược sĩ Raoul, sau khi đi công cán ở các thuộc địa Anh đã mang về vườn Thực Vật Sài Gòn 2.000 cây cao su thì việc trồng cao su mới được xem là chính thức bắt đầu ở Việt Nam

Việc trồng cao su ở các vườn thí nghiệm đã mang lại kết quả khả quan Bằng chứng là trong vườn thí nghiệm Nha Trang, trại thí nghiệm Thủ Dầu Một, nhà bác học Yersin đã cùng với kỹ sư nông nghiệp Vernet (người đã nghiên cứu nhiều về các vấn đề cao su) nêu lên những căn cứ khoa học cho cách trồng tỉa và phương pháp lấy mủ cao su Sau đó, chính Yersin là người có tiếng nói quyết định trong việc kiến lập nền kỹ nghệ cao su ở Nam Kỳ

Phát triển công trình nghiên cứu của Yersin, các nhà nông học Pháp đã đi đến kết luận là với những điều kiện đất đai, khí hậu ở miền Đông Nam Kỳ, cao su có thể phát triển một cách thuận lợi Nắm lấy kết quả trên các nhà khoa học Pháp, giới tư bản Pháp đã nhanh chóng áp dụng ngay những thành quả đó vào việc kinh doanh cao su ở Đông Dương nói chung và Nam Kỳ nói riêng Kể từ đó cao su gắn chặt đời mình với các vùng đất đỏ basalte ở Việt Nam Và nếu tính từ 1897 đến nay thì cây cao su cũng đã hơn 100 tuổi Trong khoản thời gian đó, cùng với đất nước và con người Việt Nam, cây cao su cũng có nhiều thay đổi

Kinh doanh cao su là vấn đề sinh tử của tư bản Pháp, do vậy họ cố bám riết lấy nó cho đến khi chấm dứt chiến tranh năm 1945 Năm 1907, người Pháp thành

Trang 23

lập công ty cao su đầu tiên ở Việt Nam với tên gọi là Suzannah ở Đồng Nai Tiếp theo đó, trong vòng 33 năm đã có 8 công ty và nhiều đồn điền cao su được thành lập

và tập trung chủ yếu ở Đông Nam Bộ Diện tích trồng cao su cũng không ngừng được mở rộng, đến năm 1920 có khoảng 20.000 ha tập trung chủ yếu ở Đông Nam

Bộ, năm 1932 đã lên đến 103.000 ha Sau đó, trong những năm tháng chiến tranh, diện tích trồng cao su đã dần bị thu hẹp do bom đạn và chất độc hóa học tàn phá Trong thời kỳ trước năm 1975, để có nguồn nguyên liệu cho nền công nghiệp miển Bắc, cây cao su đã được trồng vượt lên vĩ tuyến 17 (Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Phú Thọ ) Trong những năm 1958-1963, bằng nguồn giống

từ Trung Quốc, diện tích trồng ở đây đã lên đến 6000 ha

Kể từ sau ngày giải phóng, chấm dứt chiến tranh, ngành cao su mới bắt đầu được phục hồi và mở rộng Nước ta đã thành lập nông trường quốc doanh dựa trên các đồn điền cao su đã có của Pháp để thành lập các nông trường cao su mới, sau đó phát triển lên thành Tổng công ty cao su Việt Nam và trở thành tập đoàn cao su Việt Nam như ngày nay

Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn cao su Việt Nam đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau Lúc mới thành lập có tên là Ban cao su Nam Bộ Tháng 4/1975 chuyển thành Tổng cục cao su thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam Tháng 7 năm 1977 chuyển sang Tổng công ty cao su Việt Nam trực thuộc bộ Nông nghiệp Tháng 3 năm 1980 chuyển thành Tổng cục cao su trực thuộc Hội đồng bộ trưởng Đến năm 1989 chuyển thành Tổng công ty cao su Việt Nam trực thuộc Bộ Nông Nghiệp và Công nghiệp thực phẩm Theo quyết định số 249QĐ/TTg vào ngày 30/10/2006, Tổng công ty cao su Việt Nam chính thức chuyển thành Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam

1.3.2 Vai trò của ngành đối với phát triển kinh tế - xã hội

phục vụ cho một số các ngành công nghiệp trong nước như chế biến săm, lốp cho các xe hạng nặng, xe mô tô và xe đạp , các trang thiết bị máy móc và các sản phẩm dùng mủ cao su (găng tay,nệm) Tuy nhiên, lượng cao su tự nhiên tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ chiếm khoảng 18% với sản lượng tiêu thụ , còn lại chủ yếu để phục vụ mục đích xuất khẩu Tính đến năm 2014, Việt Nam là nhà cung cấp cao su tự nhiên

Trang 24

đứng thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Thái Lan và Indonesia Ngành cao su tự nhiên đã mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ ổn định cho đất nước và có đóng góp lớn vào chuỗi giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả nước

Hình 1.5: Tỷ trọng xuất khẩu cao su tự nhiên trong tổng kim ngạch xuất

khẩu

Nguồn: Tổng cục thống kê

Nếu như trong năm 2007 xuất khẩu cao su tự nhiên chỉ đạt 715 nghìn tấn, thu

về 1.4 tỷ USD thì đến năm 2011, con số đó đã là 816 nghìn tấn và 2.4 tỷ USD, tăng 14% về lượng và 71.4% về giá trị, đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu cũng rất

ấn tượng với trung bình hơn 3% Tuy nhiên kể từ năm 2011 trở đi, giá cao su tự nhiên liên tục giảm và chưa cho thấy có dấu hiệu phục hồi là nguyên nhân chính khiến cho giá trị xuất khẩu mặt hàng này liên tục giảm, mặc dù sản lượng vẫn có mức tăng nhẹ hoặc tương đương

- Đối với xã hội: Chương trình phát triển cây cao su gắn với giải quyết nhu cầu việc làm cho khoảng 110.000 lao động khối quốc doanh và 77.000 hộ nông dân tiểu điền, tham gia các chương trình định canh định cư, xây dựng vùng kinh tế mới và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, nhất là ở các vùng nông thôn hẻo lánh Tạo được việc làm, thu nhập cho người lao động đặc biệt có ý nghĩa đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa, góp phần xóa đói giảm nghèo ở những vùng đặc biệt khó khăn Hơn thế nữa, phát triển cây cao su trên quy mô lớn

0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4

Sản lượng xuất khẩu (tấn)

Giá trị xuất khẩu (nghìn USD)

Trang 25

sẽ phủ xanh được các vùng đất trống, đồi trọc và đang bị xói mòn, rửa trôi Ngoài ra trồng cây cao su dọc các tuyến biên giới sẽ tạo ra một tuyến phòng thủ góp phần giữ vững an ninh, trật tự xã hội cho đất nước

1.3.3 Các sản phẩm chính và thị trường tiêu thụ

Cao su tự nhiên sau khi khai thác sẽ được chuyển thành các dạng hình thể để xuất khẩu và tiêu thụ theo các mục đích khác nhau Hiện nay trong ngành công nghiệp cao su đang tồn tại 3 dạng sản phẩm chính là mủ dạng khối, cao su xông khói RSS và mủ Latex:

- Cao su dạng khối bao gồm các sản phẩm như SVR 3L, SVR 5L, SVR 5, SVR

10, SVR CV 50, SVR CV 60 Các loại cao su này được chế biến từ mủ tạp đông, đặc tính cứng, tính kháng mòn và có độ đàn hồi cao Hầu hết các sản phẩm này được sử dụng để sản xuấ lốp xe Riêng dòng sản phẩm SVR CV 50-60 do độ mềm dẻo cao, thích hợp cho quá trình cán, luyện nên thích hợp để làm dây thun, keo dán, mặt hông lốp xe, mặt vợt bóng bàn… Đây là dòng sản phẩm có giá thành rất cao và được các nhà sản xuất ưa chuộng hiện nay

- Cao su xông khói RSS có lực kéo dãn cao, ít bị lão hóa nên thích hợp cho các dòng sản phẩm đòi hỏi tính kháng đứt cao, kháng mòn, độ cứng cao RSS được ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật như làm lốp ô tô, dây chuyền băng tải

- Mủ Latex là mủ dạng nước, dùng để sản xuất nệm mút, gối, găng tay…

Nhìn chung, chủng loại cao su xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam vẫn là dạng khối SVR (47%) có chất lượng không cao do chủ yếu được chế biến bởi khu vực tiểu điền có công nghệ lạc hậu, trong khi đó khu vực nhà nước có thế mạnh về công nghệ chỉ chiếm hơn 50% sản lượng Các chủng loại cao su chất lượng cao như RSS

và SVR 20, SVR CV 50-60 chỉ chiếm khoảng 7% sản lượng xuất khẩu Với chất lượng không cao nên cũng dễ hiểu tại sao giá xuất khẩu cao su của Việt Nam lại thấp hơn giá thế giới, bên cạnh đó, một phần lượng cao su sản xuất ra được xuất khẩu lậu qua đường tiểu ngạch nên khó kiểm soát được giá cả

Trang 26

Hình 1.6: Tỷ

Hơn 80% sản lượng cao su khai thác đư

cách: xuất khẩu trực tiếp (theo đư

và giao hàng tại cảng – CIF), xu

VRG ( Tập đoàn công ng

mại trong nước, các công ty này s

Hiện nay Việt Nam đ

cao su đã được du nhập vào nư

triển bền vững, người lao đ

và chế biến mủ Hơn thế

SVR 10 15.9%

ỷ trọng xuất khẩu cao su theo chủng loại năm 2013

(Đơn v

Nguồn: Vietnam Bussiness News

ng cao su khai thác được xuất khẩu ra nướ

p (theo đường tiểu ngạch – DAF, giao hàng lên tàu CIF), xuất khẩu gián tiếp theo hình thức ủy thác thông qua

p đoàn công nghiệp cao su Việt Nam) và bán lại cho các công ty thương

c, các công ty này sẽ xuất khẩu sau đó

t Nam đã xuất khẩu cao su đến hơn 70 thị trường qu

n là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm hơn 44% s, EU, Mỹ, Hàn Quốc…

i và khó khăn phát triển ngành

ớc có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, lượng mưa hàng năm

ợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây cao su

ồng nhiều ở Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và đbazan màu mỡ như Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Ngoài ra, cây

p vào nước ta từ rất sớm nên có một bề dày lịch s

i lao động có nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc, khai thác

ế nữa, Việt Nam là một quốc gia xuất phát t

SVR 10 15.9%

Khác 17.5%

i năm 2013

(Đơn vị: phần trăm)

Vietnam Bussiness News

ớc ngoài theo 3 DAF, giao hàng lên tàu – FOB

Trang 27

có một nguồn dồi dào dân số trong độ tuổi lao động, phần lớn trong số họ là những con người cần cù, chịu khó, cộng thêm giá nhân công thấp Tất cả những điều đó tạo nên một lợi thế cạnh tranh vô cùng lớn về giá của cao su Việt Nam so với các

đối thủ cạnh tranh

Đối với những vấn đề về thị trường, kinh tế thế giới hiện đang dần phục hồi với những điểm sáng ở Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản là cơ sở đảm bảo cho việc gia tăng nhu cầu về cao su trong tương lai Hơn thế nữa, ở nhiều nước sản xuất cao su lớn, nguồn cung có xu hướng chững lại do nông dân bỏ trồng.Cụ thể là sản lượng cao su thiên nhiên của Thái Lan năm 2014 giảm 4,1% xuống 4 triệu tấn, Indonesia giảm 2,6% xuống 3,15 triệu tấn Theo tổ chức Nghiên cứu Cao su Quốc tế (IRSG)

dự báo dư thừa cao su toàn cầu có thể giảm 46% trong năm 2015 và tiến tới bão hòa vào năm 2016

Sự tương quan cùng chiều giữa giá dầu và giá cao su tự nhiên đã không còn đúng trong 3 năm trở lại đây Với diễn biến giảm mạnh của giá dầu, nền kinh tế các nước tiêu thụ cao su nhiều như Trung Quốc (35% sản lượng), Ấn Độ (9%), Nhật Bản (7%) sẽ được hưởng lợi, đẩy nhu cầu tiêu thụ cao su tự nhiên lên cao Ngoài ra, giá xăng giảm cũng sẽ kích thích ngành công nghiệp ô tô, đẩy mạnh nhu cầu cao su

tự nhiên cho sản xuất săm lốp, vốn chiếm 70% tiêu thụ cao su tự nhiên

1.3.4.2 Khó khăn:

Về phía chất lượng sản phẩm, hiện nay nước ta chủ yếu xuất khẩu sản phẩm thô, chủ yếu là cao su thiên nhiên đã qua sơ chế và nhựa cao su Latex (chưa qua sơ chế) máy móc chế biến chưa được đầu tư đúng mức khiến cho chất lượng sản phẩm kém hơn so với các đối thủ cạnh tranh Việc trộn mủ cao su với các tạp chất khác để hưởng lợi hiện đang là một vấn đề nhức nhối, không chỉ làm giảm chất lượng của sản phẩm mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế Giá cao su của chúng ta thường thấp hơn khoảng 10% so với các nước khác Thái Lan, Malaysia…

Về cơ cấu sản phẩm, có thể nói cơ cấu sản phẩm của chúng ta hiện nay chưa thực sự hợp lý Theo dự báo của Tổ chức Nghiên cứu cao su quốc tế (IRSG), đến năm 2020, tổng nhu cầu tiêu thụ cao su thế giới vào khoảng 15 triệu tấn, trong đó khoảng 72% là dùng để sản xuất lốp xe các loại So sánh với những nước sản xuất

Trang 28

cao su trong khu vực hiện nay như Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ thì cơ cấu sản phẩm của ngành cao su VN rõ ràng đã không đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thế giới Lý do

là trong nước đang có thế mạnh về sản xuất cao su chủng loại SVR 3L, trong khi nhu cầu tiêu thụ SVR 3L đến năm 2020 của thế giới chỉ vào khoảng 150.000 tấn, tức chỉ bằng 1/3 sản lượng SX hiện nay của VN Còn cao su SVR 20, dự báo thế giới sẽ cần 7,5 triệu tấn vào năm 2020 nhưng trong năm 2013 VN mới chỉ xuất khẩu vỏn vẹn 15.000 tấn SVR 20

Về thị trường tiêu thụ, chúng ta hiện đã xuất khẩu cao su tự nhiên sang hơn 70 quốc gia trên thế giới, tuy nhiên phần lớn lượng cao su xuất khẩu là sang nước láng giềng Trung Quốc Vì thế nên có thể nói ngành cao su nước ta đang chịu ảnh hưởng rất nhiều từ quốc gia này, từ các chính sách kinh tế nhằm khống chế đầu ra của sản phẩm cho đến việc gặp khó khăn trong đàm phán giá bán Cụ thể hơn, năm 2014 là một trong những năm khó khăn nhất của ngành cao su trong nước và là một năm chứng kiến giá cao su thấp nhất trong 5 năm qua khi chạm đáy với giá 1.500 đô la Mỹ/tấn Nguyên nhân được VRG chỉ ra là Trung Quốc, thị trường tiêu thụ lớn nhất với 60% lượng cao su Việt Nam trong nhiều năm qua “ngưng mua” vào Kết quả, doanh nghiệp trong nước có muốn bán cũng không bán được Dự đoán trong năm

2015, tình hình sẽ có khăn hơn cho việc xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc vì những căng thẳng trên Biển Đông đang có dấu hiệu xuất hiện trở lại

Trong khi đó, bản thân ngành cao su là một ngành đầu tư dài hạn, không thể cho lợi nhuận trong ngắn hạn Ngoài ra trồng cao su đòi hỏi một lượng vốn ban đầu khá lớn trong việc mua giống, chăm sóc cây và đặc biệt là đầu tư vào quỹ đất.V iệc phải bỏ nhiều vốn trong khi lãi suất ngân hàng cao như hiện nay cũng là một khó khăn, một cản trở mà ngành gặp phải

Trang 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU CAO SU VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG ẤN ĐỘ

2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cao su trong nước

2.1.1 Tình hình sản xuất

Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su tự nhiên đứng thứ 6 trên thế giới, sau các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn độ, và Trung Quốc Tuy nhiên tính đến năm 2012, Việt Nam đã vươn lên đứng hàng thứ 5 về diện tích và hàng thứ 3 về sản lượng, vượt qua cả Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia Hiện nước

ta chiếm khoảng 9% tổng sản lượng cao su tự nhiên của thế giới và chỉ xếp sau Thái Lan, Indonesia Năm 2014, sản lượng cao su Việt Nam tăng 15% so với năm 2013, lên 1,09 triệu tấn

Hình 2.1: Diện tích, sản lượng và năng suất cao su của một số nước

Nguồn: ANRPC

Sản lượng khai thác cao su của Việt Nam có mức tăng trưởng khá cao qua từng năm, trung bình 10%/năm kể từ năm 2000 Mức sản lượng tăng cao một phần nhờ diện tích trồng liên tục được mở rộng trong các năm qua và năng suất cũng không ngừng tăng lên từ 1,2 đến 1,7 tấn/ha cho thấy khoản tiến bộ kỹ thuật Việt Nam đã bắt kịp các nước bạn Năng suất cạo mủ của Việt Nam ngang bằng với Thái Lan- quốc gia xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới và vượt qua Indonesia và

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 1.8 2

Trang 30

Malaysia Ở các vùng trồng cao su chủ lực như Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương cho năng suất thu hoạch cao nhất với 1,8 tấn/ ha đến 2,1 tấn/ ha

Hình 2.2 : Sản lượng và năng suất cao su Việt Nam giai đoạn 2000-2014

Nguồn: Tổng cục thống kê

Diện tích trồng cao su ban đầu chỉ bao phủ khu vực Đông Nam Bộ nhưng đến nay đã trải rộng từ Tây Bắc, Tây Nguyên, Miền Trung và Đông Nam Bộ, trong đó chủ yếu diện tích trồng cao su tập trung nhiều nhất tại miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Các tỉnh Bình Dương và Bình Phước là hai tỉnh có diện tích trồng cao su nhiều nhất hiện nay với diện tích trồng lần lượt chiếm khoảng 18% và 22% cả nước Theo quy hoạch từ năm 2015 đến năm 2020, diện tích trồng cao su sẽ ổn định ở mức 800.000 ha (thực tế diện tích trồng đã vượt kế hoạch từ năm 2011)

Tốc độ tăng trưởng diện tích trồng cao su giai đoạn 2008-2012 là cao nhất, do đây là giai đoạn giá cao su tăng chóng mặt, mang lại lợi nhuận hấp dẫn nên doanh nghiệp và người dân đua nhau mở rộng diện tích trồng Theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), đến nay diện tích cây cao su cả nước đã vượt hơn 155.700 ha so với quy hoạch, trong đó, vùng Đông Nam Bộ vượt trên 135.000

ha, chủ yếu do dân tự chuyển đổi từ cây trồng khác (mía, sắn, điều…) sang trồng cây cao su vì đây là vùng thuận lợi cho cây cao su phát triển và năng suất cao Hiện

cả nước có khoảng 29 tỉnh thành trồng cao su, trong đó 11 tỉnh có diện tích cao su vượt so với định hướng quy hoạch khoảng 162.000 ha, chủ yếu tập trung ở các tỉnh

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 1.8 2

Trang 31

Đông Nam Bộ như: Bình Phước vượt 82.000 ha, Tây Ninh vượt 33.200 ha, Bình Thuận vượt 10.800 ha, Bình Dương vượt 7.300 ha… Dù các cơ quan quản lý đã khuyến cáo nông dân không mở rộng diện tích trồng cao su ồ ạt nhưng trước nguồn lợi giá cao su tăng cao những năm trước mà người dân đã thay thế dần các cây nông nghiệp khác để chuyển sang trồng cao su

Hình 2.3: Diện tích trồng và thu hoạch cao su

(Đơn vị: Nghìn ha)

Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

Tuy nhiên, do thiếu quy hoạch chặt chẽ đã khiến các khu vực tiểu điền (hộ nông dân) tuy chiếm tỷ trọng cao nhất về diện tích trồng cây nhưng chỉ chiếm hơn 20% sản lượng, do năng suất của khu vực này thấp hơn nhiều so với khu vực đại điền (công ty nhà nước và công ty tư nhân) Có những vùng cao su được trồng trên những vùng đất không thích nghi về độ dốc, nhóm đất, mực nước ngầm, tầng mặt đất… dẫn tới cho năng suất thu hoạch thấp từ đó giá bán không đủ bù chi phí trong giai đoạn cao su rớt giá như hiện nay

Trước tình hình khó khăn hiện tại, nhiều nông dân đã dùng giải pháp chặt cây cao su để chuyển sang trồng loại cây ngắn ngày khác Đây là tình trạng chung của ngành nông nghiệp Việt Nam khi người dân luôn ở trong vòng luẩn quẩn “trồng – chặt – trồng” vì chạy theo các loại cây trồng vật nuôi có giá tăng mạnh, đến kỳ thu hoạch mà giá rớt thì họ lại chặt bỏ và trồng cây khác Tình trạng này khiến cho quy

Trang 32

hoạch của nhiều địa phương bị phá vỡ và tiềm ẩn nhiều rủi ro Việc tuyên truyền hướng dẫn và cả giám sát là cần thiết để tránh những thiệt hại về lâu dài cho nông dân

Một động thái hỗ trợ từ Hiệp hội cao su Việt Nam VRA là đã khuyến cáo người dân đánh giá lại vườn cây của mình để tìm ra giải pháp sản xuất phù hợp Theo đó, những vườn cây có 19-20 năm thu hoạch thì đã đạt tỷ suất lợi nhuận/ vốn trên 30% mêm vẫn có thể giữ vườn nếu năng suất vẫn còn cao Nếu năng suất quá thấp hoặc hiệu quả kém, nên cưa đốn để bán gỗ tạo vốn tái canh hoặc chuyển sang trồng cây khác Khi trồng lại, cần sử dụng những giống năng suất cao trên 2-3 tấn/ha được Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam khuyến cáo phù hợp theo vùng để đạt hiệu quả kinh tế cao Riêng đối với những vườn cao su phát triển ngoài vùng quy hoạch hoặc trên những vùng đất không phù hợp, chất lượng vườn cây kém, người dân nên chuyển đổi sang mục đích khác hoặc cây trồng khác đang được Nhà nước khuyến khích và hỗ trợ

Trong năm 2014 đã có hơn 4.000 ha cao su đã được người dân phá bỏ để chuyển sang cây trồng khác Đây là diện tích cao su già cỗi, khai thác mủ không hiệu quả và diện tích trồng sai kỹ thuật (trồng trên đất ruộng, chất lượng cây giống kém…) Con số này nếu so với diện tích cao su cả nước gần 1 triệu ha thì không ảnh hưởng Tuy nhiên do cây cao su là loại cây công nghiệp có mức sống trên 25 năm nên bài toán kinh tế cần tính toán để tránh thiệt hại cho người nông dân

2.1.2 Tình hình tiêu thụ

Nước ta tuy đứng thứ 3 thế giới về sản lượng cao su nhưng lượng tiêu dùng trong nước là rất nhỏ, tuy nhiên vẫn tăng trưởng qua các năm Trong giai đoạn 2003-2014, tốc độ tăng trưởng của mức tiêu thụ cao su thiên nhiên bình quân tại Việt Nam đạt 12,6%/năm, mức tiêu thụ bình quân 5 năm gần nhất đạt khoảng 135.000 tấn/năm, tỷ lệ tiêu thụ so với sản lượng khai thác bình quân đạt 17% Cụ thể năm 2008 đạt 100.000 tấn và đến năm 2014 đã tăng lên mức 154.000 tấn Trong những năm tiếp theo, mặc dù lượng cao su tự nhiên vẫn chủ yếu phục vụ mục đích xuất khẩu nhưng tiêu dùng trong nước vẫn được dự báo là tăng do ngành săm lốp trong nước vẫn đang tăng trưởng cao

Hình 2.4: Sản xuất và tiêu thụ cao su trong nước

Trang 33

(Đơn vị: Nghìn tấn)

Nguồn: Hiệp hội cao su Việt Nam

Cao su thiên nhiên tại Việt Nam chủ yếu (70-80%) dùng cho sản xuất săm lốp, găng tay y tế, gối nệm…Ngoài ra, tiêu thụ cao su thiên nhiên tại Việt Nam được đóng góp một phần không nhỏ từ hoạt động tạm nhập nguyên liệu để tái xuất Tiêu thụ cao su trong nước đạt tỷ lệ thấp một phần là do quy mô sản xuất công nghiệp các sản phẩm từ cao su trong nước chưa cao, nhưng nguyên nhân chính vẫn là các doanh nghiệp sản xuất mủ cao su trong nước phần lớn chỉ chú trọng vào xuất khẩu nhằm đạt hiệu quả và mức lợi nhuận cao hơn Cụ thể là tỷ trọng sản xuất cao su SVR 3L vẫn cao do giá bán cao hơn các loại khác, trong khi nguồn cung nội địa đối với loại SVR 10 hay SVR 20 dùng cho sản xuất săm lốp lại không đủ, nhiều doanh nghiệp trong nước buộc phải nhập khẩu

Việc tiêu thụ trong nước hiện nay phần lớn được thể hiện thông qua hình thức mua bán giữa các doanh nghiệp sản xuất cao su thiên nhiên với các công ty thương mại trong nước, sau đó các công ty này mang đi xuất khẩu Thực tế trong cơ cấu tiêu thụ của các doanh nghiệp cao su tự nhiên niêm yết, thì khoảng 40-50% sản lượng được tiêu thụ trong nước và hầu hết lượng hàng này được xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các công ty thương mại Vì vậy, xét về thực chất, lượng tiêu thụ cao su trong nước chỉ chiếm khoảng 15-16% so với tổng nguồn cung Điều này cho thấy với nguồn cung cao su dồi dào như thế, nếu sản xuất với một cơ cấu sản phẩm

Trang 34

hợp lý sẽ mang đến một lợi thế rất lớn cho các doanh nghiệp sử dụng cao su làm nguyên liệu sản xuất trong nước và cũng là cơ sở để thu hút các doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất chế biến các sản phẩm từ cao su như: lốp xe, nệm, băng tải, găng tay, bao cao su,… đầu tư sản xuất tại Việt Nam

2.2 Kết quả xuất khẩu cao su của Việt Nam trong thời gian qua 2.2.1 Sản lượng và Kim ngạch xuất khẩu

Lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng mạnh Trong giai đoạn 2005-2007 cao su xuất khẩu lại không ngừng tăng, trong đó năm tăng trưởng mạnh nhất là năm 2006, tăng 20,6 % so với năm trước và tiếp tục duy trì ở mức cao vào năm 2007 Năm 2007 cũng là năm Việt Nam gia nhập WTO, đánh dấu thời kỳ mở cửa cho các mặt hàng xuất khẩu của nước ta Tuy nhiên năm 2008, kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng Kinh tế suy thoái dẫn đến

sự trì trệ của các ngành công nghiệp Do đó lượng cầu cao su tự nhiên trên toàn cầu giảm mạnh Do lượng cầu giảm, giá cao su cũng đổi chiều giảm theo Lượng xuất khẩu cao su năm này giảm 7,9% so với năm 2007 Sang năm 2009, khi kinh tế đã chạm đáy khủng hoảng và bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi, giá cao su cũng bắt đầu tăng trở lại Lượng cao su xuất khẩu lại lấy lại đà tăng trưởng 11,1% so với năm

2008 Và tiếp tục tăng khá đều trong năm tiếp theo Dù mức tăng trung bình thấp hơn nhiều so với giai đoạn 2001 -2007, tuy nhiên về số lượng thì những năm này đều đạt những con số kỉ lục Tuy nhiên, kể từ năm 2012 trở đi, khi cung cao su thế giới ngày càng dư thừa so với cầu, diễn biến giá cao su bắt đầu xấu đi, xuất khẩu tuy vẫn tăng nhưng với tốc độ rất thấp Năm 2014 nước ta xuất khẩu 1,07 triệu tấn cao su tự nhiên, tăng 0,2% về khối lượng so với năm 2013

Hình 2.5: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cao su thiên nhiên

Trang 35

Nguồn: Tổng cục thống kê

Về kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu cao su giai đoạn 2005-2008 tăng trưởng rất cao, bình quân đạt 50,68% do giá cao su xuất khẩu tăng đột biến lên tới 43,52% còn về sản lượng xuất khẩu thì tăng ở mức khá khoảng 19,3% Năm

2005 tổng kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 787 triệu USD nhưng sang năm 2006 đã lần đầu tiên vượt mức 1 tỷ USD, đạt 1,27 tỷ USD tăng 61,3% Cùng với đà tăng trưởng năm 2007 đạt 1,36 tỷ USD, 8 tháng đầu năm 2008, giá cao su xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục, đạt mức kỷ lục hơn 3.000 USD/tấn vào tháng 8/2008 và sụt giảm mạnh vào những tháng còn lại của năm Tuy nhiên nhờ giá xuất khẩu cao những tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu năm 2008 vẫn đạt 1,6 tỷ USD dù năm này lượng xuất khẩu cũng giảm sau chuỗi tăng trưởng trong nhiều năm trước đó Năm 2009, giá cao su bắt đầu tăng trở lại tuy nhiên trung bình vẫn thấp hơn giá năm

2008 do kinh tế thế giới có những biến đổi tích cực nhưng việc phục hồi là khá chậm chạp Tính chung năm 2009, xuất khẩu cao su của cả nước đạt 731.383 tấn, trị giá 1,227 tỷ USD, tăng 11,1% về lượng nhưng giảm 23,5% về giá trị so với năm

2008 do giá cao su giảm 31,1% Cùng với đà tăng trưởng kinh tế thế giới, năm 2010 tiếp tục là một năm thành công của xuất khẩu cao su tự nhiên Việt Nam Trong năm này giá cao su tiếp tục tăng cao cùng với lượng xuất khẩu duy trì ở mức cao đã đưa

về cho ngành cao su tới 2,39 tỷ USD, tạo nên một kỷ lục mới So với năm 2009, kim ngạch xuất khẩu cao su đã tăng với một con số ấn tượng 94,7% tương đương

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500

Trang 36

với 1,16 tỷ USD, và đây lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này vượt mốc 2

tỷ USD Năm 2011, mặc dù trải qua quý IV ảm đạm, nhưng ngành cao su Việt Nam

đã có một năm thắng lớn về giá bán và kim ngạch xuất khẩu Năm 2011 lượng cao

su tự nhiên xuất khẩu chỉ tăng 4,4%, nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng vọt lên đến 3,2

tỷ USD, tăng 35,4% về trị giá so với năm 2010, đạt 102,1% kế hoạch năm đề ra Do mức giá cao su năm này được duy trì ở mức cao và đạt đỉnh vào tháng 2, giá bình quân là 6.545 USD/ tấn, cao nhất trong vòng 20 năm qua

Tuy nhiên, kể từ năm 2012 đến nay, giá cao su thế giới liên tục giảm phần lớn xuất phát từ việc nguồn cung cao su vượt quá nhu cầu do sự quản lý lỏng lẻo về diện tích trồng của các nước trồng cao su trên thế giới Mức giá bán cao su cao từ năm 2010 đã thu hút nông dân và các doanh nghiệp tăng cường mở rộng diện tích trồng cao su, trong khi đó nhu cầu đã giảm nhịp tăng do sự chững lại của kinh tế Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, chiếm đến 30 - 40% nhu cầu cao su toàn cầu Kết thúc năm 2014, giá cao su RSS3 kỳ hạn trên thị trường TOCOM đóng cửa tại mức 1.647 USD/tấn, khép lại một năm ảm đạm của thị trường cao su thiên nhiên thế giới cũng như trong nước Tính riêng năm 2014, giá cao su tại TOCOM đã giảm khoảng 35% và giảm khoảng 75% so với mức giá kỷ lục 6.545 USD/tấn vào tháng 2/2011 Kết quả là mặc dù sản lượng xuất khẩu có tăng nhẹ, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm mạnh Xuất khẩu cao su năm 2014 chỉ đạt 1,8 tỷ USD, giảm 27,7% giá trị so với 2013

2.2.2 Cơ cấu – chủng loại

Việt Nam hiện nay có 3 chủng loại cao su được chế biến xuất khẩu như sau:

- Cao su khối SVR: Là loại cao su mủ khối, trong đó loại 3L chiếm tỷ lệ cao nhất trong sản lượng xuất khẩu, đây là loại cao su có chất lượng cao, giá thường cao hơn SVR 10, SVR 20 khoảng 200 USD/tấn, dùng để sản xuất săm xe Tuy nhiên nhu cầu về loại cao su này của thế giới được đánh giá là không cao như SVR 10, SVR 20

- Cao su tờ xông khói RSS 3: cao su RSS 3 là loại sản phẩm thô, được ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật như làm mặt lốp ôtô, RSS tạo thành tờ nên cường lực kéo đứt rất cao , ít bị lão hoá hơn cao su cốm rất thích hợp cho các sản phẩm đòi hỏi tính kháng đứt cao, kháng mòn, cũng như độ cứng cao

Trang 37

- Cao su mủ Latex: Ly tâm mủ nước được thực hiện nhờ vào máy ly tâm đĩa,

ly tâm tách nước ra một phần để có hàm lượng cao su đông đặc mà ta mong muốn

Vì bản thân của cao su là chất lỏng chứa hạt cao su phân tán nên rất thuận lợi trong

việc định hình sản phẩm như các loại nệm, găng tay (y tế, kỹ thuật), keo dán, bong

bóng …

Hình 2.6: Chuyển dịch cơ cấu sản phẩm cao su xuất khẩu

Nguồn: Vietnam Bussiness News

Trong những năm qua, cao su SVR 3L và SVR 10 vẫn là loại được xuất khẩu

nhiều nhất, mặc dù SVR 3L vẫn chiếm một tỷ trọng cao (khoảng 40 %) trong cơ cấu

sản phẩm mủ cao su xuất khẩu của Việt Nam nhưng đang có xu hướng giảm dần do

nhu cầu của thế giới về loại này không cao, giá thành tuy có cao nhưng doanh

nghiệp vẫn rất khó bán Ngược lại, tỷ trọng của cao su SVR 10, RSS 3 hay cao su

mủ Latex đang có xu hướng tăng Đây là sự thay đổi tích cực trong cơ cấu sản

phẩm, cho thấy ngành cao su nước ta đang dần đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của

thế giới, tiến tới đa dạng hóa sản phẩm và thị trường chứ không còn lệ thuộc quá

nhiều vào thị trường Trung Quốc như trước

2.2.3 Cơ cấu thị trường

Hình 2.7: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su thiên nhiên

Trang 38

Nguồn: Tổng cục thống kê

Kim ngạch xuất khẩu cao su tự nhiên của Việt Nam chủ yếu xuất qua Trung Quốc, Asean, Ấn Độ Riêng xuất sang Trung Quốc chiếm đến gần 50% tổng lượng xuất khẩu do nước này có chính sách miễn thuế cho SVR 3L Vì vậy một rủi ro tiềm tàng là Việt Nam dễ dàng bị ép giá bán và nếu Trung Quốc giảm nhập khẩu mặt hàng này và bổ sung bằng nguồn sản xuất từ bản địa thì ngành cao su Việt Nam bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trong những năm qua, có thể thấy toàn ngành đã có những nỗ lực trong việc đa dạng hóa thị trường Tỷ trọng cao su xuất khẩu sang Ấn

Độ và Malaysia tăng nhanh nhất, bên cạnh một số thị trường tiềm năng như Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ

2.3 Đặc điểm thị trường cao su Ấn Độ

2.3.1 Tình hình kinh tế

Kể từ khi dành được độc lập, Ấn Độ chọn đường lối kinh tế trung ương kế hoạch hóa, với mục đích đảm bảo một sự phân phối công bằng và hiệu quả tài nguyên quốc gia cho mục tiêu phát triển kinh tế cân bằng Ủy ban kế hoạch được thành lập do đích than Thủ tưởng làm chủ tịch soạn và chỉ đạo các kế hoạch 5 năm Lĩnh vực tư nhân được giám sát chặt chẽ bởi các qui định ngặt nghèo Ấn Độ đã hầu như tự cô lập với các thị trường thế giới nhằm bảo hộ nền kinh tế còn mong manh của mình Tuy vậy, Ấn Độ không hoàn toàn là một nền kinh tế quốc doanh, mà là

Trang 39

một nền kinh tế hỗn hợp, vừa có một vài đặc tính kinh tế thị trường vừa tuân thủ những mệnh lệnh kinh tế chỉ huy

Cuối những năm 1980, Ấn Độ lâm vào khủng hoảng kinh tế Từ năm 1991, nước này tiến hành cải cách kinh tế toàn diện và sâu rộng theo hướng tự do hóa và

mở cửa, tích cực hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới, trong đó chú trọng cải cách cơ cấu, nâng cao hiệu quả của hệ thống tài chính, ngân hàng, nâng cấp cơ sở

hạ tầng và tăng đầu tư vào những khu vực có khả năng tạo nhiều việc làm, phi đầu

tư hóa các cơ sở hoạt động kém hiệu quả Cho đến nay, công cuộc cải cách kinh tế

đã đem lại cho nền kinh tế Ấn Độ bước phát triển đáng khích lệ Trong hai thập kỷ qua, tầng lớp trung lưu đã tăng gấp 4 lần, lên đến 300 triệu người, trong khi đó mỗi năm đều giảm nghèo được 1% dân số (đã khấu trừ tăng dân số)

Ấn Độ được đánh giá là một trong những nước có thành tích kinh tế tốt nhất thế giới trong thời gian qua Đặc biệt trong giai đoạn 2004-2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ luôn được xếp vào loại cao nhất trên thế giới với mức tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 8%/năm, riêng năm tài chính 2006-2007 (năm tài chính được tính từ ngày 1 tháng 4 năm nay đến hêt ngày 31 tháng 3 năm sau), GDP của Ấn Độ tăng 9.6% Với mức tăng trưởng là 9% năm tài chính 2007-2008, Ấn Độ đánh dấu năm thứ 5 liên tiếp đạt mức tăng trưởng GDP trên 8%

Năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế bùng phát ở Mỹ rồi lan ra khắp toàn cầu Kinh tế thế giới chính thức bước vào suy thoái Đây được cho là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử kinh tế thế giới trong vòng hơn 60 năm Nhưng bất chấp điều đó, kinh tế Ấn Độ vẫn phát triển nhanh, từ 6,7% trong năm tài chính 2008-2009 lên 7,4% trong tài khóa 2009-2010

Hình 2.8: Tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm tại Ấn Độ

Trang 40

Nguồn: Trading Ecomonics

Tuy nhiên đến năm 2010, kinh tế Ấn Độ bắt đầu phải đối mặt với nhiều khó khăn, như thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai, tỷ lệ lạm phát tăng cao, vốn đầu tư và kim ngạch xuất khẩu giảm, đồng Rupi mất giá so với các đồng ngoại tệ khác, niềm tin của các nhà đầu tư suy giảm.Với mức tăng trưởng 5%, tài khóa 2012 đã trở thành năm tăng trưởng thấp nhất của nền kinh tế Ấn Độ kể từ tài khóa 2002-2003 với 4% Đứng trước hoàn cảnh đó, Chính phủ Ấn Độ đã có những biện pháp cải cách quyết liệt và dần lấy lại lòng tin của thị trường, giới đầu

tư và người dân Thị trường chứng khoán Ấn Độ bùng nổ và thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh dòng vốn tháo chạy khỏi các nền kinh tế mới nổi khác, đồng Rupi khá vững chắc, ngân hàng trung ương Ấn Độ cũng đã tăng lượng dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục 330 tỷ USD Kết quả là GDP của Ấn Độ đạt mức tăng trưởng ấn tượng 7,5% trong năm 2014, các nhà phân tích đồng loạt dự báo Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc để trở thành nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong 1 - 2 năm tới

Tính đến năm 2014, nếu xét GDP tính theo tỷ giá USD, WB (Word Bank) đánh giá Ấn Độ là nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới với GDP đạt 2000 tỷ USD, còn dựa vào GDP tính theo ngang giá sức mua (PPP), Ấn Độ là nền kinh tế thế giới đứng thứ 3 thế giới sau Mỹ, và Trung Quốc Tuy nhiên, dân số khổng lồ đã làm cho GDP bình quân đầu người chỉ đạt mức 1.509 USD, đứng thứ 142 trên thế giới và được WB xếp trong nhóm các nước có nền kinh tế đang phát triển

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ngô Văn Huân, 2014, Những bài học về chính sách phát triển cây cao su ở Việt Nam, tạp chí cao su Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học về chính sách phát triển cây cao su ở Việt Nam
3. Thái Cẩm Linh, 2009, “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ”, Khóa luận tốt nghiệp ĐH Ngoại Thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ”
4. Liên Phương – Hứa Chung, 2014, Vỡ quy hoạch trồng cao su, hàng nghìn ha cao su bị chặt hạ, Thông tấn xã Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỡ quy hoạch trồng cao su, hàng nghìn ha cao su bị chặt hạ
6. Lê Thị Quỳnh, 2011, Hoạt động xuất khẩu cao su tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp phát triển, Khóa luận tốt nghiệp ĐH Ngoại Thương Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xuất khẩu cao su tại Việt Nam, thực trạng và giải pháp phát triển
10. Sơn Nhung, 2014, Nghịch lý cao su nguyên liệu, Báo Người lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghịch lý cao su nguyên liệu
14. Trần Đức Viên, 2008, Phát triển bền vững ngành cao su trong bối cảnh hội nhập quốc tế, trường Đại học nông nghiệp Hà Nội.TÀI LIỆU TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững ngành cao su trong bối cảnh hội nhập quốc tế
16. I.R. Clemitson, 2011, Polyurethane Casting Primer, NXB CRC Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Polyurethane Casting Primer
Nhà XB: NXB CRC Press
19. John Loadman, Tears of the tree, NXB Oxford University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tears of the tree
Nhà XB: NXB Oxford University Press
1. Bộ Công thương, 2013, Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của Ấn Độ giai đoạn 1995-2012 Khác
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2014, Quyết định 1003/QĐ-BNN-CB về việc nâng cao giá trị gia tăng của ngành hàng nông lâm thủy sản trong chế biến và giảm tổn thất sau thu hoạch Khác
7. Nguyễn Thị Mộng Tuyền, 2008, Quá trình đầu tư và khai thác thuộc địa về cao su của tư bản Pháp tại Việt Nam (1958-1945) Khác
8. Sacombank, tháng 11 năm 2014, Báo cáo cập nhật ngành cao su Khác
9. Sở công thương Tây Ninh, 2012, Một số nét cơ bản về chính sách thị trường của Ấn Độ Khác
11. Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, 2014, Tham luận: Về thị trường tiêu thụ cao su năm 2014 và dự báo thị trường năm 2015 Khác
12. Thủ tướng Chính phủ, 2009, Quyết định số: 750/QĐ-TTg ngày 03/06/2009 về phê duyệt quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 Khác
13. Tổng cục thống kê, trị giá xuất nhập khẩu phân theo vùng và lãnh thổ chủ yếu sơ bộ giai đoạn 2007-2014 Khác
14. Accenture Strategy, 2014, Extracting Valtue from Natural Rubber Trading Markets Khác
15. Association of Natural Rubber Producing Countries, 2014, Natural Rubber Trends and Statistics Khác
17. International Rubber Study Group, 2014, Rubber Industry Report Khác
18. M. Krishnaveni và R. Vidya, 2015, Growth of Indian Automobile Industry Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w