Hoạt động thương mại quốc tế phát triển đồng nghĩa với việc số lượng và giá trị hợp đồng xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày một tăng lên, kèm theo đó là tính đa dạng, phức tạp trong
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 4
1.1 Hợp đồng thương mại quốc tế 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Đặc điểm 8
1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế 10
1.2 Hủy hợp đồng thương mại quốc tế 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Đặc điểm 14
1.2.3 Điều kiện áp dụng hủy hợp đồng thương mại quốc tế 15
1.3 Điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế 17
CHƯƠNG 2 HỦY HỢP ĐỒNG THEO BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 22
2.1 Giới thiệu chung về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 22
2.2 Quy định và thực tiễn hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 25
2.2.1 Các trường hợp hủy hợp đồng 26
2.2.2 Thủ tục hủy hợp đồng 41
2.2.3 Hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng 45
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 54
3.1 Một số bất cập trong quy định và thực tiễn pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế của Việt Nam 54
3.1.1 Về căn cứ hủy hợp đồng 54
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.1.2 Về thủ tục hủy hợp đồng 62
3.1.3 Về hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng 63
3.2 Định hướng hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế 65
3.3 Một số giải pháp cụ thể 70
3.3.1 Về căn cứ hủy hợp đồng 70
3.3.2 Về thủ tục hủy hợp đồng 74
3.3.3 Về hậu quả pháp lý của hủy hợp đồng 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO iii
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế chung của toàn cầu hóa, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế một cách toàn diện, sâu, rộng trên mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thương mại quốc tế Hoạt động thương mại quốc tế phát triển đồng nghĩa với việc số lượng và giá trị hợp đồng xuất nhập khẩu của Việt Nam ngày một tăng lên, kèm theo đó là tính
đa dạng, phức tạp trong việc đàm phán, ký kết, thực hiện hợp đồng, khiến cho nguy cơ phát sinh tranh chấp cũng gia tăng, các bên đi đến quyết định hủy bỏ hợp đồng Thực tế, số lượng các vụ tranh chấp trong hoạt động thương mại của Việt Nam ngày một tăng Tính từ năm 1993 đến nay, VIAC đã giải quyết hơn 700 vụ tranh chấp trong lĩnh vực hợp đồng thương mại quốc tế, Tòa án kinh tế cũng ghi nhận số vụ tranh chấp về hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài trung bình mỗi năm khoảng hơn 400 vụ và có xu hướng tăng lên Cùng với đó, một kết cục phổ biến trong những tranh chấp này là hợp đồng thương mại quốc tế bị hủy bỏ, gây ra tổn hại không nhỏ cho doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thực trạng này là do kiến thức pháp lý của các thương nhân cũng như hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế nói chung và hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng còn nhiều hạn chế Tìm hiểu về chế tài hủy hợp đồng thương mại quốc tế, làm rõ bản chất, đánh giá những ưu nhược điểm trong quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế là một hướng đi hợp lý lúc này giúp khắc phục được những thực trạng nói trên
Có nhiều nguồn luật điều chỉnh vấn đề hủy hợp đồng thương mại quốc tế, mỗi nguồn luật có những quy định, lý giải khác nhau Trong đó, không thể không kể đến
Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (Principles of International Commercial Contracts, viết tắt là PICC) của Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư UNIDROIT PICC là thành quả sau nhiều năm nghiên cứu với sự cộng tác của nhiều luật gia nổi tiếng nhằm đưa ra khung pháp lý chung điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế Về lý luận, nó có những quy định mang tính hiện đại, phù hợp hơn những văn bản pháp lý trước đó điều chỉnh cùng một vấn đề hợp đồng thương
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mại quốc tế Cho đến nay, sau hơn hơn 20 năm kể từ ngày được ban hành, PICC đã phát huy được vai trò nhất định, được cộng đồng pháp lý và các doanh nghiệp đánh giá cao Nhiều luật sư tham khảo PICC như bộ luật mẫu để có hướng nghiên cứu, vận dụng thích hợp Các doanh nghiệp cũng đã nhìn nhận PICC như một luật chung để điều chỉnh quan hệ hợp đồng Trong bài nghiên cứu “An Empirical Study of the UNIDROIT Principles – International and British Responses” của Sarah Lake, luật sư của Pitmans LLP tại London, có chỉ ra rằng 60% doanh nghiệp tham khảo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để soạn thảo hợp đồng và 94% đánh giá Bộ Nguyên tắc rất hữu dụng Từ những đánh giá đó, có thể thấy, việc tìm hiểu Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế là điều cần thiết đối với doanh nghiệp, với các nhà làm luật trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt khi mà các quy định pháp lý của ta còn thiết sót
Đặt trong bối cảnh nhu cầu cấp thiết phải tìm hiểu chế tài hủy hợp đồng thương mại quốc tế và những đánh giá tích cực với Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng
thương mại quốc tế như trình bày ở trên, người viết đã chọn đề tài: "Hủy hợp đồng
thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam" làm đề tài khoá luận
tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, đề tài hướng đến hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các quy định về hủy hợp đồng trong Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, trong pháp luật Việt Nam và các tranh chấp cụ thể trong thực tiễn có liên quan đến vấn đề này
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn ở việc phân tích những quy định hủy hợp đồng của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mại quốc tế và của pháp luật Việt Nam Về mặt thời gian, phạm vi nghiên cứu giới hạn từ năm 1994, khi phiên bản đầu tiên của Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế ra đời cho đến nay
Muốn hiểu rõ được quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói chung thì phải tìm kiếm, phân tích, tổng hợp thông tin từ sách, báo, các website, các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật, các bài nghiên cứu liên quan tới hủy hợp đồng thương mại quốc tế Vì vậy, người viết lựa chọn phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp đối với các thông tin liên quan tới lý thuyết
Bên cạnh đó, để làm rõ những ưu, nhược điểm về quy định hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và theo pháp luật Việt Nam, người viết sẽ nghiên cứu một số án lệ và thực hiện đánh giá so sánh giữa các quy định với nhau Do đó, phương pháp bình luận án lệ, phương pháp so sánh luật học cũng được áp dụng trong Chương 2 và Chương 3 của khóa luận
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khoá luận gồm
3 chương:
- Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
- Chương 2 Hủy hợp đồng theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế
- Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Võ Sỹ Mạnh – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và tận tình giúp đỡ em có thể hoàn thành khóa luận này Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể giảng viên trường Đại học Ngoại thương đã dạy bảo và giúp em trang bị những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỦY HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Để tìm hiểu một vấn đề trước hết cần xuất phát từ những lý luận cơ bản làm nền tảng vững chắc cho những lập luận và định hướng về sau Bởi vậy Chương 1 khóa luận sẽ đi nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hủy hợp đồng thương mại quốc tế, trong đó tập trung tìm hiểu về cơ sở lý luận đối với hợp đồng thương mại quốc tế, hủy hợp đồng thương mại quốc tế và điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế Nội dung cụ thể như sau:
1.1 Hợp đồng thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm
Trong thực tiễn nghiên cứu về khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế có nhiều quan điểm khác nhau Việc phân tích, bình luận về tên gọi, khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế trong văn bản pháp lý cần có sự linh hoạt và gắn với bối cảnh hình thành, mục đích, phạm vi điều chỉnh của văn bản ấy
Đầu tiên, hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng Khái niệm hợp đồng được
đưa vào quy định pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới:
Theo Bộ luật dân sự Pháp năm 1804: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay
nhiều bên về việc chuyển giao vật, làm hay không làm một công việc”
Theo Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ: “Hợp đồng là khối nghĩa vụ pháp lý
phát sinh từ thỏa thuận giữa các bên theo quy định của luật này và những quy định khác có liên quan”
Theo pháp luật Trung Quốc, tại Điều 2, Luật Hợp đồng năm 1999 quy định: “Hợp
đồng là sự thỏa thuận về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể bình đẳng, tự nhiên của các tổ chức”
Trong pháp luật Việt Nam không có khái niệm riêng về hợp đồng, mà thay vào đó là khái niệm hợp đồng dân sự Điều 388 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định:
“Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm
dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Khái niệm này cũng có tính khái quát cao, như một khái
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
niệm chung, áp dụng được cho mọi loại hợp đồng chứ không giới hạn áp dụng cho hợp đồng dân sự
Từ những quy định trên có thể thấy yếu tố cơ bản nhất để hình thành nên hợp đồng là sự thỏa hiệp ý chí, hay sự ưng thuận giữa các bên với nhau trên cơ sở tự do hợp đồng trong khuôn khổ quy định của pháp luật Như vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận, nhằm quy định quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi thực hiện một công việc, một hoạt động hoặc một hành vi nhất định nào đó phù hợp với quy định của pháp luật Tương ứng với đó, hợp đồng thương mại quốc tế trước hết là một hợp đồng nên cũng là sự thỏa thuận giữa các bên, nhằm thực hiện các hoạt động thương mại phù hợp với quy định của pháp luật
Thứ hai, hợp đồng thương mại quốc tế là hợp đồng thương mại Hiện nay không
có một định nghĩa cụ thể thống nhất chung về hợp đồng thương mại, có thể hiểu được khái niệm này khi tìm hiểu về thuật ngữ “thương mại”
Theo pháp luật của Pháp, trong Điều 1 và 2 Bộ luật thương mại Pháp năm 2006 quy định đối tượng điều chỉnh của luật thương mại, theo đó các hoạt động được coi là hoạt động thương mại bao gồm mua bán động sản, mua bất động sản để bán lại, các hoạt động trung gian mua bán hoặc cho thuê, hoạt động đầu tư cổ phiếu, hoạt động ngân hàng, môi giới, vận tải, bảo hiểm Luật pháp của Pháp không đưa ra một tiêu chí cụ thể mà lựa chọn cách liệt kê các hoạt động thương mại, quy định như vậy tuy rõ ràng nhưng lại dễ dẫn đến thiếu sót
Theo pháp luật Nhật Bản, trong Bộ luật thương mại số 48 ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận
và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt,
uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng Pháp luật Nhật Bản bên cạnh việc liệt kê các hoạt động là hoạt động thương mại còn đưa ra tiêu chí “mục đích lợi nhuận” để xác định một hợp đồng có phải hợp đồng thương mại hay không, như vậy khái niệm thương mại đã được hiểu ra rộng hơn, không bó buộc trong bất kỳ hình thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cụ thể nào
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Với quan điểm tương tự, theo luật Việt Nam, tính thương mại là đặc điểm cơ bản
để phân biệt loại hợp đồng này với hợp đồng dân sự Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại
Việt Nam năm 2005 giải thích: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Yếu tố trong pháp luật Việt Nam đưa ra
để xác định một hợp đồng thương mại là mục đích sinh lợi, nghĩa là hợp đồng có mục đích lợi nhuận, không đồng nghĩa phải có lợi nhuận
Trong các hiệp định của Tổ chức thương mại thế giới WTO, khái niệm thương mại bao gồm: thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; thương mại liên quan đến đầu
tư; thương mại quyền sở hữu trí tuệ Tức là khái niệm thương mại được phân cụ thể
thành bốn lĩnh vực rõ ràng, bất cứ hoạt động nào thuộc vào bốn lĩnh vực kể trên thì được coi là hoạt động thương mại
Trong PICC, giới hạn của từ thương mại lại không đi theo quan điểm truyền thống phân biệt đây là giao dịch “thương mại” chứ không phải giao dịch “dân sự” PICC không ép buộc các bên trong hợp đồng thương mại phải là thương nhân hay giao dịch phải bắt buộc có mục đích lợi nhuận mà từ thương mại trong PICC chỉ có mục đích loại bỏ các giao dịch với “người tiêu dùng” Theo quan điểm của PICC, khái niệm hợp đồng thương mại phải được hiểu theo một nghĩa rộng nhất có thể, không chỉ bó hẹp là hợp đồng mua bán hàng hóa dịch vụ, mà còn có thể bao gồm nhiều hình thức giao dịch kinh tế khác như đầu tư, ủy thác, cung cấp dịch vụ chuyên môn…
Như vậy, đáp ứng với xu thế phát triển trong hoạt động kinh doanh ngày càng mở rộng, khái niệm thương mại cũng nên được hiểu theo nghĩa rộng nhất có thể, là các hoạt động không nhằm mục đích tiêu dùng Hợp đồng thương mại quốc tế cũng nên được hiểu là hợp đồng không nhằm mục đích tiêu dùng
Thứ ba, hợp đồng thương mại phải có yếu tố nước ngoài Pháp luật của quốc gia
và trên thế giới đưa ra những tiêu chí khác nhau để xác định yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật của Pháp: để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng thì dựa trên hai tiêu chuẩn: tiêu chuẩn kinh tế và tiêu chuẩn pháp lý Theo tiêu chuẩn kinh tế,
sự di chuyển qua biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai nước cấu thành nên
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
yếu tố nước ngoài trong hợp đồng Theo tiêu chuẩn pháp lý, căn cứ vào quốc tịch, nơi
cư trú của các bên, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguồn vốn thanh toán…để xác định yếu tố nước ngoài
Trong pháp luật Việt Nam, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 không quy định cụ thể về yếu tố nước ngoài đối với hợp đồng thương mại mà chỉ có quy định với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – một hình thức của hợp đồng thương mại quốc tế Tại
Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005: “Mua bán hàng hoá quốc tế được thực
hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập
và chuyển khẩu” Các hoạt động này đều mang đặc điểm chung là hàng hóa được giao
qua biên giới Do đó có thể thấy việc hàng hóa phải được giao qua biên giới là một tiêu chí để xác định yếu tố nước ngoài theo luật Việt Nam
Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 4 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 có quy định:
“Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật
khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự” Do đó, đối với những hợp đồng
thương mại quốc tế mà hàng hóa không được chuyển giao qua biên giới quốc gia (như hợp đồng mua bán hàng hóa giữa một thương nhân Việt Nam với một thương nhân nước ngoài nhưng hàng hóa chỉ được chuyển dịch trong nội bộ lãnh thổ Việt Nam) hay các hợp đồng dịch vụ thì hoàn toàn có thể áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài nói chung để điều chỉnh Theo Điều 758 Bộ luật
dân sự năm 2005: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất
một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân,
tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” Vậy không chỉ dựa trên tiêu chí hàng hóa được giao qua biên giới, quốc
tịch, nơi cư trú của các bên trong hợp đồng cũng là cơ sở để xác định yếu tố nước ngoài của hợp đồng
Về vấn đề này, PICC không có quy định trực tiếp tại điều khoản nào về tính chất
quốc tế của hợp đồng nhưng phần bình luận trong lời mở đầu có nêu rằng: “Pháp luật
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quốc gia và pháp luật quốc tế đã và đang đưa ra nhiều giải pháp để xác định tính chất quốc tế của hợp đồng như dựa vào trụ sở hay nơi thường trú của các bên tại các quốc gia khác nhau, áp dụng những tiêu chí mang tính chất tổng quát như hợp đồng có các mối liên hệ mật thiết với hơn một quốc gia, hợp đồng đòi hỏi có sự lựa chọn giữa pháp luật của các quốc gia khác nhau, hợp đồng có ảnh hưởng đến các lợi ích trong thương mại quốc tế” Vậy là với PICC không lựa chọn cụ thể bất cứ một tiêu chí nào Theo
quan điểm của PICC thì chỉ không coi là hợp đồng không có tính quốc tế nếu nó không
có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào - nghĩa là tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia duy nhất
Ngày nay, với sự mở rộng của các quan hệ thương mại quốc tế, yếu tố nước ngoài cũng nên được hiểu theo một nghĩa rộng nhất có thể như nhận định của PICC, tức là chỉ không coi là hợp đồng không có tính quốc tế nếu nó không có bất kỳ một yếu tố quốc tế nào, như vậy mới có thể bao quát toàn diện các hợp đồng thương mại quốc tế
Từ những phân tích nêu trên, một cách khái quát nhất có thể kết luận: Hợp đồng
thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên, đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi thực hiện một hoạt động nhất định nào đó phù hợp với quy định của pháp luật, không nhằm mục đích tiêu dùng, trong đó các yếu tố cơ bản của hợp đồng
có liên quan đến hai hay nhiều quốc gia
1.1.2 Đặc điểm
Từ khái niệm của hợp đồng thương mại quốc tế, có thể thấy đặc điểm của hợp đồng thương mại quốc tế sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng thương mại, bên cạnh đó còn có các đặc điểm là biểu hiện của tính chất quốc tế
Trước tiên, hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên
Sự tự do ý chí trong giao kết hợp đồng được đề cao Nội dung cụ thể, các điều khoản trong hợp đồng do các bên thỏa thuận thống nhất với nhau trong khuôn khổ pháp luật Luật pháp tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, khi thỏa thuận đạt được nó có tính chất ràng buộc đối với các bên tham gia ký kết, như là luật cao nhất điều chỉnh quan hệ các bên trong hợp đồng
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Mục đích của hợp đồng thương mại quốc tế là sinh lợi Đặc điểm này phân biệt hợp đồng thương mại quốc tế với hợp đồng dân sự Các giao dịch dân sự hình thành vì mục đích tiêu dùng, không vì mục đích kinh doanh hay nghề nghiệp Còn các giao dịch thương mại hướng tới mục đích tìm kiếm lợi nhuận và các mục đích có được các lợi ích kinh tế khác
Chủ thể của hợp đồng thương mại quốc tế có thể là cá nhân, pháp nhân hay nhà nước Chủ thể của hợp đồng phải hợp pháp, tức là có năng lực pháp lý và người ký kết đầy đủ năng lực hành vi cũng như thẩm quyền ký kết Tư cách pháp lý của chủ thể còn phụ thuộc vào pháp luật quốc gia mà chủ thể đó mang quốc tịch Trong pháp luật Việt Nam, chủ thể bên Việt Nam phải là thương nhân hoặc tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến thương mại được phép hoạt động thương mại trực tiếp với nước ngoài
Trong bình luận Lời mở đầu của PICC có nói: “Việc áp dụng Bộ Nguyên tắc không phụ
thuộc vào việc các bên có tư cách thương nhân hay không và/hoặc giao dịch về bản chất có thật sự mang tính thương mại hay không” Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, chủ
thể của hợp đồng thương mại quốc tế không bắt buộc phải là thương nhân mà chỉ cần đảm bảo đầy đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi theo quy định của luật quốc tịch của chủ thể đó; có tham gia vào các hoạt động thương mại và có đầy đủ thẩm quyền ký kết các hợp đồng thương mại quốc tế Quan hệ giữa các chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế hoàn toàn bình đẳng, không phụ thuộc vào quốc tịch, quy mô, loại hình doanh nghiệp Trường hợp đặc biệt nếu Nhà nước là chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế thì Nhà nước được hưởng quyền miễn trừ tư pháp
Nội dung của hợp đồng thương mại quốc tế là toàn bộ quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, việc thanh toán tiền Những nội dung này phải đảm bảo tính hợp pháp, nếu không hợp đồng sẽ trở nên vô hiệu
Bên cạnh các đặc điểm chung, hợp đồng thương mại quốc tế còn có những đặc điểm khác đặc trưng cho tính chất quốc tế:
- Về chủ thể của hợp đồng thương mại quốc tế: Chủ thể trong hợp đồng thương mại quốc tế thường là các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau Yếu tố
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
quốc tịch có thể là một căn cứ xác định tính quốc tế nhưng không phải yếu tố duy nhất quyết định Trên thực tế, phần lớn các thương nhân có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau có quốc tịch khác nhau, nhưng cũng không loại trừ trường hợp họ cùng quốc tịch
- Về đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế: Đối tượng của hợp đồng có thể được di chuyển qua biên giới quốc gia Đối tượng của hợp đồng thương mại quốc tế có thể là hàng hóa hữu hình hoặc hàng hóa vô hình, trong đó, hàng hóa hữu hình vẫn được giao dịch phổ biến hơn cả
- Về đồng tiền dùng trong thanh toán: Đồng tiền dung để thanh toán có thể là ngoại tệ với một hoặc cả hai bên Việc hình thành các tổ chức liên minh sử dụng đồng tiền chung như đồng EURO của Liên minh châu Âu EU, khiến cho hoạt động thương mại ở các nước này diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn
- Về luật điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế: Luật điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế hết sức phức tạp, đa dạng Không có luật quốc gia nào có giá trị bắt buộc để điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế, việc áp dụng luật nào là hoàn toàn do các bên tự lựa chọn Luật điều chỉnh có thể là pháp luật nước ngoài đối với một hoặc/và cả hai bên, có thể là điều ước quốc tế, luật tập quán quốc tế hay án lệ…
- Về cơ quan giải quyết tranh chấp: khi phát sinh tranh chấp đối với hợp đồng thương mại quốc tế, có thể tòa án một quốc gia hoặc do một tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết
1.1.3 Phân loại hợp đồng thương mại quốc tế
Không có văn bản pháp lý thống nhất phân chia hợp đồng thương mại quốc tế gồm những loại nào, tuy nhiên căn cứ vào đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế
có thể tạm phân chia hợp đồng thương mại quốc tế thành các nhóm cơ bản sau đây: Thứ nhất, hợp đồng thương mại quốc tế liên quan đến mua bán, trao đổi hàng hóa Đây là loại này là loại hợp đồng chủ yếu trong hoạt động thương mại quốc tế, bao gồm:
- Hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Hợp đồng trao đổi hàng hóa;
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
- Hợp đồng mua bán thông qua đấu thầu, đấu giá
Trong hệ thống các hợp đồng thương mại quốc tế thì có hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chiếm vị trí trung tâm, là hình thức phổ biến nhất được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế Chính vì lẽ đó nên hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được nhiều quốc gia và nhiều tổ chức thương mại quốc tế quan tâm đặc biệt, nhiều quy phạm pháp luật dùng để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ra đời, được áp dụng tương tự luật để điều chỉnh các loại hợp đồng thương mại quốc tế khác Vì vậy trong các văn bản pháp lý của Luật thương mại quốc tế xây dựng khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được coi là cơ sở để xây dựng các khái niệm của các hợp đồng thương mại quốc tế khác nói chung
Thứ hai, các loại hợp đồng liên quan đến hoạt động cung cấp dịch vụ khác nhau Trong hoạt động thương mại quốc tế có những loại hình dịch vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ hàng hóa cũng như phát triển kinh doanh thương mại nói chung Hợp đồng liên quan đến thương mại dịch vụ có các loại
cơ bản như sau:
- Hợp đồng vận chuyển hàng hóa;
- Hợp đồng bảo hiểm;
- Hợp đồng gia công sản phẩm;
- Hợp đồng thuê tài chính;
- Hợp đồng bao thanh toán;
- Bảo lãnh ngân hàng…
Thứ ba, các loại hợp đồng thương mại quốc tế liên quan đến hoạt động tổ chức kinh doanh ở nước ngoài, có liên quan đến với pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ, pháp luật chống cạnh tranh Loại hợp đồng này chủ yếu có các loại sau:
- Hợp đồng đại diện thương mại;
- Hợp đồng chuyển giao công nghệ;
- Hợp đồng chuyển nhượng thương mại
Thứ tư, các hợp đồng thương mại quốc tế trong lĩnh vực tổ chức kinh doanh ở nước ngoài, tiêu biểu trong loại hình này có hợp đồng đại diện thương mại
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Trên đây là các loại hợp đồng thương mại quốc tế chủ yếu, ranh giới để phân chia giữa những loại hợp đồng này không phải là tuyệt đối Trong hoạt động thương mại quốc tế, có một số loại hợp đồng liên quan đến cả thương mại hàng hóa, cả thương mại dịch vụ và cả thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ, ví dụ như hợp đồng độc quyền phân phối Bởi vậy việc phân loại hợp đồng này chỉ để hình dung cụ thể hơn về hợp đồng thương mại quốc tế, vẫn cần hiểu hợp đồng thương mại quốc tế một cách bao quát như chính nội hàm khái niệm của nó vậy: là hợp đồng có tính thương mại và có yếu tố nước ngoài
1.2 Hủy hợp đồng thương mại quốc tế
1.2.1 Khái niệm
Bản chất của hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên, đi đến thống nhất quyền và nghĩa vụ giữa các bên khi thực hiện một hoạt động nhất định nào đó phù hợp với quy định của pháp luật Bên này thỏa thuận cam kết thực hiện cho bên kia một nghĩa vụ với điều kiện bên kia cũng cam kết trở lại, thực hiện cho bên này một nghĩa vụ, từ đó lợi ích các bên mới được cân bằng và hợp đồng mới duy trì được Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, vì nguyên nhân nào đó mà một bên không thực hiện được các nghĩa vụ của mình như cam kết thỏa thuận ban đầu khiến cho cân bằng lợi ích giữa các bên bị phá vỡ, một bên phải chịu thiệt hại do bên kia gây ra Lúc này pháp luật cho phép bên bị vi phạm được phép thực hiện các biện pháp nhằm khắc phục những tổn thất phải chịu hay nói cách khác đây là việc buộc bên vi phạm phải thực hiện đúng hợp đồng nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích nhận được của các bên từ việc thực hiện hợp đồng
Trong thương mại quốc tế, có nhiều biện pháp để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm, chẳng hạn: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng… Những biện pháp ban đầu đều hướng đến mục tiêu khắc phục được những tổn thất, lập lại cân bằng lợi ích trong hợp đồng với mong muốn tiếp tục duy trì hợp đồng Tuy nhiên không phải lúc nào điều kiện cũng cho phép các bên thực hiện được các biện pháp này, có thể do khả năng tài chính lúc này không đáp ứng được, thiếu hụt nhân công, điều kiện tự
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nhiên không thuận lợi hay thậm chí chính bên vi phạm không còn ý thức muốn duy trì hợp đồng Bên bị vi phạm cần được đảm bảo quyền lợi của mình, khi không còn được nhận những gì bên kia đã cam kết thì cũng có quyền đòi lại những gì mình đã thực hiện cho bên đó Đó là nội dung cơ bản của chế tài hủy bỏ hợp đồng nói chung và hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng
Có thể thấy, hủy hợp đồng thương mại quốc tế là chế tài nghiêm khắc nhất khi khắc phục hậu quả của vi phạm hợp đồng, bởi nó gây ra hậu quả pháp lý thực sự nghiêm trọng cho cả hai bên chủ thể của hợp đồng Thông thường luật pháp các nước không định nghĩa trực tiếp thế nào là hủy hợp đồng thương mại quốc tế, tuy nhiên ta có thể hiểu thêm về khái niệm này qua cách quy định về chế tài hủy hợp đồng thương mại Theo luật hợp đồng của Anh năm 2013 (English Contract Law), hủy hợp đồng là biện pháp khắc phục theo đó một bên (bên bị vi phạm) được giải phóng khỏi các nghĩa vụ của mình vì lỗi lầm hay sự không thực hiện của bên kia
Theo luật hợp đồng của Trung Quốc năm 1999 (Contract Law of the People's Republic of China), hủy hợp đồng là một biện pháp khắc phục không thực hiện hợp đồng mà khi xảy ra, những nghĩa vụ của hợp đồng chưa được thực hiện sẽ chấm dứt còn những nghĩa vụ đã thực hiện thì tùy từng điều kiện và bản chất của hợp đồng, các bên có thể khôi phục về tình trạng ban đầu hoặc có biện pháp khắc phục khác
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định hủy hợp đồng bao gồm hai trường hợp hủy bỏ hoàn toàn hoặc một phần hợp đồng, hủy bỏ hoàn toàn là việc bãi bỏ thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng, hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực Như vậy theo pháp luật Việt Nam, hủy hợp đồng thương mại
quốc tế có thể hiểu là việc bãi bỏ thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng
Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ (Uniform Commercial Code) tại Điều
2-106, có sự phân biệt cho hai trường hợp của hủy hợp đồng: hủy hợp đồng do hai bên thỏa thuận trước, hủy hợp đồng do một bên vi phạm hợp đồng Tuy nhiên bản chất của hủy hợp đồng trong Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ vẫn là việc hai bên không
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
còn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ của hợp đồng, trừ những nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp đồng
Như vậy, hủy hợp đồng là một biện pháp khắc phục khi có hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến hậu quả pháp lý là việc hai bên sẽ giải thoát cho nhau tất cả mọi nghĩa vụ của hợp đồng, trừ những nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp đồng Tương ứng với đó,
khái niệm hủy hợp đồng thương mại quốc tế có thể được hiểu như sau: Hủy hợp đồng
thương mại quốc tế là biện pháp khắc phục khi có hành vi vi phạm hợp đồng thương mại quốc tế, từ đó giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ của hợp đồng đã giao kết, trừ nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp đồng
ý kiến cho rằng hủy hợp đồng khiến cho những cố gắng thực hiện hợp đồng từ trước đến nay của các bên trở nên vô nghĩa thì không được coi là một biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, hủy hợp đồng là một lựa chọn đúng đắn khi các giải pháp khác được đưa ra không có khả năng thực hiện do năng lực của bên vi phạm không cho phép hoặc bên vi phạm không còn mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng Lúc này nếu áp dụng hủy hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền đòi lại những gì đã thực hiện cho bên kia, điều này rõ ràng hạn chế tổn thất hơn là việc bên bị vi phạm trông chờ vào việc sẽ không xảy ra rằng bên kia sửa chữa những lỗi lầm đã gây ra
Thứ hai, hủy hợp đồng thương mại quốc tế giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ của hợp đồng, trừ những nghĩa vụ phát sinh sau khi hủy hợp đồng Đặc điểm này được đưa
vào quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật:
Khoản 1 Điều 314 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Sau khi huỷ
bỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp”
Khoản 1 Điều 7.3.5 của Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế PICC
quy định: “Việc huỷ hợp đồng giải phóng các bên khỏi những nghĩa vụ của mình trong
tương lai”
Quy định tương tự cũng xuất hiện trong Điều 9:305 của Bộ nguyên tắc hợp đồng
chung châu Âu – PECL: “Hủy hợp đồng giải phóng cả hai bên khỏi nghĩa vụ mà họ
phải thực hiện và nhận được thực hiện trong tương lai, nhưng với các Điều 9:306, 9:307 và 9:308, không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ trả nợ đến thời điểm hủy hợp đồng”
Như vậy, với các nghĩa vụ hợp đồng chưa được thực hiện tại thời điểm hủy, các bên không còn nghĩa vụ phải thực hiện chúng sau này Khi hủy hợp đồng, bên bị vi phạm hoàn toàn có thể từ chối việc thực hiện nghĩa vụ của mình, hoặc giữ lại hoạt động đáng ra cần thực hiện Trường hợp hủy một phần của hợp đồng thì chỉ phần nghĩa vụ tương ứng tại phần bị hủy đó mới được chấm dứt Ngoài ra hủy hợp đồng không làm mất đi các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng
Thứ ba, hủy hợp đồng thương mại quốc tế là biện pháp nghiêm khắc nhất trong các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng thương mại quốc tế
Vì hủy hợp đồng thương mại quốc tế mang lại những hậu quả pháp lý hết sức nặng nề đối với cả hai bên, giải phóng các bên khỏi nghĩa vụ của hợp đồng nên nó là một biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng cứng rắn hơn cả Khi có vi phạm xảy ra, thông thường người ta không áp dụng ngay hủy hợp đồng mà sẽ ưu tiên áp dụng trước những biện pháp khác như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, buộc thực hiện hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hợp đồng… Chỉ khi có những điều kiện đặc biệt mới áp dụng đến chế tài nghiêm khắc này
1.2.3 Điều kiện áp dụng hủy hợp đồng thương mại quốc tế
Khi xảy ra vi phạm, thông thường các bên chỉ lựa chọn hủy hợp đồng như một giải pháp cuối cùng bởi hậu quả do hủy hợp đồng đối với các bên đều rất nặng nề Bởi
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
vậy, không thể tự do áp dụng chế tài này mà chỉ được áp dụng khi thỏa mãn được
những điều kiện nhất định, bao gồm điều kiện về nội dung và điều kiện về hình thức
Điều kiện về nội dung: Pháp luật quốc gia hay pháp luật quốc tế có những quy
định không giống nhau về các trường hợp được áp dụng chế tài hủy hợp đồng
Chẳng hạn, Khoản 4 Điều 312 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định:
“Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, chế tài hủy
bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây: a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng; b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng” Hay như Khoản 1 Điều 7.3.1 của Bộ Nguyên tắc về hợp đồng
thương mại quốc tế PICC yêu cầu: “Một bên có thể huỷ hợp đồng nếu có trường hợp
không thực hiện cơ bản của bên kia” Tương tự, Khoản 1 Điều 9:301 của Bộ nguyên tắc hợp đồng chung châu Âu PECL quy định: “Một bên có thể hủy hợp đồng nếu không thực hiện của bên kia là cơ bản”
Có những căn cứ mà các bên trong hợp đồng buộc phải tuân theo một cách chặt chẽ mới được phép áp dụng biện pháp hủy hợp đồng Có thể đó là một điều kiện rõ ràng mà hai bên đã có thỏa thuận với nhau hoặc đó là một vi phạm nghiêm trọng cấu thành vi phạm cơ bản Trường hợp đã có thỏa thuận với nhau từ trước thì sẽ dễ dàng xác định việc tuân thủ có được đảm bảo nghiêm ngặt hay không, có phải áp dụng hình thức hủy hợp đồng hay không Tuy nhiên, trường hợp còn lại để xác định một vi phạm
cơ bản hay một không thực hiện cơ bản thì pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế chưa có thống nhất cho vấn đề này
Về bản chất, để xem xét sự không thực hiện của bên kia có đến mức độ phải hủy bỏ hợp đồng hay không cần căn cứ vào yếu tố lỗi và mức độ không thực hiện nghĩa vụ Một bên không thực hiện nghĩa vụ có thể do cố ý, cũng có thể do những trở ngại khách quan vượt quá tầm kiểm soát của bên đó Nếu đã là từ nguyên nhân cố ý không thực hiện thì lúc này, việc bên bị vi phạm có mở ra một cơ hội nữa cho bên kia như thêm thời gian thực hiện hoặc buộc sửa chữa lỗi lầm cũng sẽ là điều vô nghĩa Bên cạnh đó, mức độ vi phạm phải là đáng kể Một nghĩa vụ nhỏ nhặt không được thực hiện trong hợp đồng không thể dẫn đến hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, điều này sẽ đi ngược lại nguyên
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tắc thiện chí và gây ra tổn thất nặng nề cho cả hai bên, ngoại trừ những trường hợp đặc biệt mà bên kia rõ ràng không còn muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng nữa Khi những điều kiện về căn cứ hủy hợp đồng này được thỏa mãn, bên bị vi phạm mới có quyền hủy bỏ hợp đồng
Điều kiện về hình thức: cũng vì mang lại hậu quả pháp lý nặng nề, nên các hệ
thống pháp luật đều đưa ra quy định buộc bên muốn tuyên bố hủy bỏ hợp đồng phải đưa ra thông báo cho bên kia trước khi áp dụng chế tài này
Điều 315 Luật thương mại Việt Nam năm 2005 quy định: “Bên tạm ngừng thực
hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc tạm ngừng, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng” Khoản 1
Điều 9:303 của Bộ nguyên tắc hợp đồng chung châu Âu PECL có quy định: “Quyền
hủy hợp đồng của một bên phải được thực hiện bằng cách thông báo cho bên kia”
Như vậy, việc thực hiện thông báo hủy hợp đồng phải được tiến hành ngay khi có thể Bởi nếu trì hoãn thực hiện thông báo có thể khiến bên kia vẫn nỗ lực tiếp tục thực hiện hợp đồng, đến khi hợp đồng bị hủy, bên đó sẽ phải gánh chịu những tổn thất không mong muốn Nhất là trong kinh doanh thương mại, yếu tố thời gian rất quan trọng, việc thông báo sớm cũng giúp các bên sớm nắm được tình hình và lựa chọn được phương án giải quyết hợp lý hơn Nếu một bên không đưa ra thông báo trong thời gian hợp lý, bên đó sẽ phải có trách nhiệm bồi thường, thậm chí mất quyền hủy bỏ hợp đồng, tùy theo quy định pháp luật của từng quốc gia
Đây là hai điều kiện cơ bản cần xem xét trước khi đi đến quyết định hủy hợp đồng thương mại quốc tế Phải có đầy đủ hai điều kiện này một bên mới được hủy hợp đồng, nếu không bên quyết định hủy hợp đồng sẽ phải bồi thường cho bên kia khi có thiệt hại phát sinh
1.3 Điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế
Điều chỉnh pháp luật là việc nhà nước dùng pháp luật, dựa vào pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo những hướng nhất định Đây là hoạt động của nhà nước thể hiện trong việc quy định, ban hành ra luật pháp để đáp ứng nhu cầu mà pháp luật cần điều chỉnh Ở đây, chủ thể của điều chỉnh pháp luật là nhà nước với hoạt động lập
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
pháp và khách thể là những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật Điều chỉnh pháp luật được coi là phương pháp phổ biến và chủ yếu để nhà nước quản lí xã hội, thiết lập trật tự cho xã hội trên cơ sở các điều kiện khách quan và chủ quan
Quan hệ hủy hợp đồng thương mại quốc tế cũng không nằm ngoài phạm vi của điều chỉnh của pháp luật Bàn về cơ sở để điều chỉnh pháp luật đối với hủy hợp đồng thương mại quốc tế, có hai quan điểm như sau: một là tự do hủy bỏ hợp đồng, hai là phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện hủy bỏ
Quan điểm đầu lập luận dựa trên bản chất của hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận ý chí giữa hai bên, một khi thiện chí thực hiện hợp đồng không còn nữa thì có thể tuyên bố hủy hợp đồng, pháp luật nên tôn trọng ý chí tự nguyện giữa hai bên chủ thể hợp đồng Theo như lập luận này, các bên chỉ cần thỏa thuận với nhau về điều kiện
áp dụng hủy hợp đồng, khi điều kiện đó xảy ra là lúc phát sinh quyền hủy bỏ hợp đồng Như vậy có phải các bên sẽ được thỏa thuận về điều kiện hủy hợp đồng là bất cứ yếu tố nào mà ý chí các bên mong muốn? Phạm vi áp dụng hủy hợp đồng có thể mở rộng ra không giới hạn Khi đó không thể kiểm soát được hết các trường hợp của hủy hợp đồng Những điều kiện đi ngược lại với lợi ích xã hội cũng có khả năng được đưa vào làm căn cứ hủy hợp đồng hoặc do vị thế thương mại mà một bên phải chịu những yêu cầu vô lý từ phía bên kia đưa ra, không được pháp luật bảo vệ Như vậy quan điểm này bộc lộ những hạn chế nhất định
Quan điểm thứ hai cho rằng, trong quan hệ hợp đồng cần đảm bảo cân bằng lợi ích giữa hai bên chủ thể, việc hủy bỏ hợp đồng ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi các bên trong giao dịch nên không thể tiến hành một cách tự do, tùy tiện mà phải đưa
ra một khuôn khổ pháp lý nghiêm ngặt điều chỉnh vấn đề này Pháp luật thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng, tuy nhiên sự tự do này cũng có giới hạn trong chừng mực, không thể đi ngược lại các giá trị đạo đức xã hội, các điều cấm của pháp luật, xâm phạm quyền lợi chính đáng của các bên Nếu hủy hợp đồng thương mại quốc tế diễn ra một cách tự do, quyền lợi chính đáng của các bên trong hợp đồng sẽ không được bảo
vệ gây ra tình trạng bất ổn trong môi trường kinh doanh cũng như trong môi trường
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
pháp lý Cần hiểu là xây dựng các quy phạm pháp luật nghiêm ngặt mô hình hóa hành
vi của chủ thể thông qua quan hệ pháp luật cụ thể để điều chỉnh pháp luật không đồng nghĩa với những quy định gò bó, cứng nhắc mà cần cả tính linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp điều kiện của hợp đồng thương mại quốc tế
Thực tế, quan điểm thứ hai được thế giới công nhận và áp dụng Ngày càng có nhiều văn bản quy phạm pháp luật ra đời điều chỉnh vấn đề hủy hợp đồng thương mại quốc tế Đồng thời điều chỉnh pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế cũng theo hướng tuân thủ tính nghiêm ngặt của quy định pháp lý và đảm bảo được sự linh hoạt trong áp dụng quy định
Theo nghiên cứu của Harry M Flechtner trên tạp chí Journal of Law and Commerce số 8/1998: Ban đầu, hủy hợp đồng nói chung chỉ cho phép hủy đối với những vi phạm nghiêm trọng, nhưng bên bị vi phạm muốn được mở rộng quyền hủy hợp đồng Bên bị vi phạm có lý do hợp lý để hủy hợp đồng khi mà bên kia thực hiện quá chậm trễ khiến cho việc thực hiện lúc này không còn ý nghĩa hoặc khi bên vi phạm mất khả năng tài chính và không thể thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, khi đó vi phạm xảy ra không quá to tát nhưng hủy hợp đồng lại là một lựa chọn đúng đắn hơn Ngược lại, bên vi phạm thường có mong muốn hạn chế các trường hợp hủy hợp đồng bởi bên đó có thể mất tất cả hoặc hầu hết những nỗ lực đã thực hiện nếu hủy hợp đồng xảy ra Lợi ích của hai bên trái ngược với nhau nên tự do thỏa thuận hủy hợp đồng sẽ rất khó đạt được Pháp luật đã có sự can thiệp linh hoạt, điều chỉnh vấn đề này theo hướng cho phép hủy hợp đồng với cả những vi phạm không quá nghiêm trọng nhưng phải đảm bảo thỏa mãn những điều kiện nghiêm ngặt nhất định
Việc đưa quan hệ hủy hợp đồng thương mại quốc tế vào điều chỉnh pháp luật trải qua các giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Định ra các quy phạm pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế Sự kiện này đưa ra các quy phạm pháp luật là khuôn mẫu buộc các chủ thể phải hành động theo Tùy thuộc tính chất của quan hệ hủy hợp đồng mà pháp luật sẽ xác định nội dung quy phạm đó là cho phép, bắt buộc hoặc cấm đoán
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Giai đoạn 2: Xuất hiện các quan hệ pháp luật mà nội dung của nó là xuất hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể (cá biệt hóa các khuôn mẫu của hành vi trong giai đoạn đầu thành các xử sự cụ thể)
Giai đoạn 3: Các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý Các chủ thể bằng hành vi của mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý trong thực tiễn hủy hợp đồng thương mại quốc tế
Sự phân chia ra các giai đoạn này cũng chỉ mang tính chất tương đối, chỉ là sự khái quát hóa để đưa ra một mô hình chung, thực tế quá trình điều chỉnh pháp luật nói chung và điều chỉnh pháp luật đối với hủy hợp đồng thương mại quốc tế nói riêng sẽ còn phụ thuộc vào các hoàn cảnh xác định với không gian, thời gian xác định
Thông qua quá trình này, quan hệ hủy hợp đồng thương mại quốc tế được đưa vào điều chỉnh pháp luật và để có một định hướng đúng đắn cho sự điều chỉnh còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác nữa Các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, pháp luật của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề này Cùng với đó, đây là điều chỉnh pháp luật quan hệ hủy hợp đồng thương mại quốc tế nên cần đặc biệt coi trọng yếu tố về pháp luật quốc tế Điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế phải dựa vào các nguyên tắc thương mại toàn cầu, có định hướng chuyển hóa các nguyên tắc, quy định pháp luật quốc tế vào văn bản pháp luật trong nước, như vậy mới đảm bảo sự phù hợp cả với điều kiện trong và ngoài của một quốc gia
Trên đây là cơ sở, quá trình và các yếu tố ảnh hưởng đến điều chỉnh pháp luật đối với hủy hợp đồng thương mại quốc tế Việc điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế là điều cần thiết, đồng thời cần có được định hướng phù hợp đối với vấn đề này
Kết luận: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hợp đồng thương mại quốc tế, hủy
hợp đồng thương mại quốc tế và điều chỉnh pháp luật về hủy hợp đồng thương mại quốc tế, có thể nhận thấy khái niệm hợp đồng thương mại quốc tế mang nghĩa rất rộng Nghiên cứu những quy định có liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế, đặc biệt là hủy hợp đồng thương mại quốc tế cần bám sát vào bản chất đối tượng để tránh những trường hợp bị bỏ sót Điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề này là điều quan trọng,
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
không chỉ dựa trên những lý luận chung mà còn cần kiểm chứng quy định trong thực tiễn Do đó, nắm chắc về bản chất hủy hợp đồng thương mại quốc tế sẽ là cơ sở đáng tin cậy để đi đến nghiên cứu quy định và thực tiễn vấn đề này trong pháp luật quốc gia cũng như trên thế giới
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2 HỦY HỢP ĐỒNG THEO BỘ NGUYÊN TẮC UNIDROIT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận chung, Chương 2 sẽ tiếp tục làm rõ những vấn đề về hủy hợp đồng thương mại quốc tế cả về quy định và thực tiễn theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế Để làm được điều này, nội dung của Chương 2 sẽ đưa ra giới thiệu chung về Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế; quy định và thực tiễn hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế từ các trường hợp hủy hợp đồng, thủ tục hủy hợp đồng và hậu quả pháp lý của hủy hợp đồng Sau đây là nội dung
PICC được soạn thảo và ban hành vào tháng 5 năm 1994 Đến năm 2004, Viện UNIDROIT đã soạn thảo và ban hành phiên bản thứ hai của PICC và đến năm 2010, phiên bản thứ ba của PICC ra đời với một số nội dung được sửa đổi và bổ sung Theo phiên bản mới nhất phát hành năm 2010, PICC bao gồm 211 điều (phiên bản 1994 gồm
120 điều, phiên bản năm 2004 gồm 185 điều) được bố cục như sau: Lời mở đầu;
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Chương 1: Những quy định chung; Chương 2: Giao kết hợp đồng và thẩm quyền đại diện; Chương 3: Hiệu lực của hợp đồng; Chương 4: Giải thích hợp đồng; Chương 5: Nội dung hợp đồng; Chương 6: Thực hiện hợp đồng; Chương 7: Không thực hiện hợp đồng; Chương 8: Bù trừ; Chương 9: Chuyển giao quyền, chuyển giao nghĩa vụ, chuyển giao hợp đồng; Chương 10: Thời hiệu; Chương 11: Quyền và nghĩa vụ đa số
Bộ nguyên tắc là công sức nghiên cứu của nhiều nhà luật học nổi tiếng cùng với
sự cộng tác, đóng góp ý kiến của nhiều chuyên gia hàng đầu về luật hợp đồng, luật thương mại quốc tế cũng như của nhiều nhà khoa học đến từ các quốc gia khác nhau Năm 1971, khi vấn đề thống nhất luật thương mại được Viện UNIDROIT đặt ra, một
uỷ ban chuyên trách gồm những giáo sư có kinh nghiệm được thành lập, bước đầu để xác định những yêu cầu của việc soạn thảo PICC Năm 1980, nhóm công tác đặc biệt được thành lập để bắt tay vào nghiên cứu, soạn thảo PICC Qua các nghiên cứu so sánh luật học cho thấy tuy pháp luật thương mại ở mỗi quốc gia mang đặc điểm riêng, song có một số nguyên tắc liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế lại giống nhau và được các thương nhân áp dụng thống nhất Căn cứ vào đó, nhóm công tác của Viện UNIDROIT đã tập hợp, sắp xếp lại theo một trật tự khoa học và soạn thảo nên Bộ Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế – PICC
Với sự ra đời của PICC, các nhà nghiên cứu mong muốn có một hệ thống các quy phạm pháp luật đặc biệt điều chỉnh về hợp đồng thương mại quốc tế mà đáp ứng được các yêu cầu trong giao dịch thương mại quốc tế, đồng thời thiết lập được một hệ thống hài hòa các quy phạm pháp luật có thể áp dụng tại mọi quốc gia trên thế giới Với mong muốn này, Bộ Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế PICC được trình bày theo hình thức giống như các bộ luật thông thường, gồm các chương, mục, điều khoản, có nội dung đề cập hầu như tất cả các vấn đề pháp lý trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế Tuy nhiên, đi cùng với mỗi điều khoản đều có thêm phần bình luận và các ví dụ minh họa giúp giải thích quy định một cách rõ ràng, rất thuận tiện khi tra cứu và áp dụng Bởi vậy, sự ra đời của PICC đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hài hòa, thống nhất pháp luật thương mại nói riêng, pháp luật quốc tế nói chung
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Từ những nguyên nhân, mục đích hình thành như được giới thiệu ở trên, Bộ Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế PICC ra đời và mang những đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, PICC là một hệ thống các nguyên tắc được tập hợp và sắp xếp theo một cách khoa học từ những quy định giống nhau liên quan đến hợp đồng thương mại được
áp dụng rộng rãi bởi các thương nhân ở tất cả các nước Đặc điểm này giống với các tập quán thương mại, tuy nhiên PICC được soạn thảo, ban hành và bảo trợ bởi một tổ chức liên chính phủ là Viện quốc tế về nhất thể hóa luật tư UNIDROIT, do đó, PICC còn mang tính chất pháp lý và tính chất quốc tế
Thứ hai, PICC mang tính chất quốc tế PICC khi được xây dựng không căn cứ theo duy nhất một hệ thống pháp luật cụ thể nào, nó là công trình nghiên cứu trên cơ sở rất nhiều các khái niệm, định nghĩa và cách hiểu của các hệ thống luật quốc gia khác nhau Hầu hết các điều khoản phản ánh những khái niệm đã được công nhận ở phần lớn hệ thống luật trên thế giới Nó có thể được áp dụng phù hợp với cả các nước theo
hệ thống luật common law hay civil law, không phân biệt truyền thống lập pháp, các yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo…Điều này thể hiện ở việc PICC chỉ sử dụng những từ ngữ mang tính trung lập nhất để có thể thống nhất được với nhau tránh dùng những từ ngữ chỉ cá biệt cho một quốc gia Ngay cả các lời bình luận về các điều khoản cũng không liên hệ tới luật quốc gia hay nêu xuất xứ của chúng, chỉ những điểm tương đồng với Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế mới được nêu xuất xứ
Thứ ba, PICC mang tính chất linh hoạt Bản thân PICC là một văn bản pháp luật không mang tính chất bắt buộc Điều này có nghĩa là khi muốn áp dụng PICC không cần quốc gia phải tham gia ký kết hay phê chuẩn, các bên muốn áp dụng có thể lựa chọn áp dụng toàn bộ hay chỉ áp dụng một phần PICC, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của giao dịch Đặc điểm này khiến PICC linh hoạt hơn nhiều so với các điều ước quốc tế thông thường Việc thừa nhận áp dụng PICC như thế nào trong quá trình ký kết, thực hiện các hợp đồng tùy thuộc vào ý chí của các bên, như vậy hoàn toàn phù hợp với yếu
tố tự do ý chí trong thương mại
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Thứ tư, PICC mang tính hiện đại Với tư cách là một bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế, PICC có thể thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện để phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn thương mại Điều này giúp PICC thích nghi cao với điều kiện thế giới đang biến động không ngừng, loại bỏ được các quy định lạc hậu, không phù hợp Cần hiều là việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn Bộ nguyên tắc PICC, đảm bảo những quy định chung nhất được duy trì, không làm mất đi tính ổn định của các quy định pháp lý
Thứ năm, PICC mang tính khách quan Trước hết, những người có đóng góp trong việc soạn thảo ra PICC là các nhà luật học nổi tiếng, các chuyên gia hàng đầu về luật hợp đồng, luật thương mại quốc tế và nhiều nhà khoa học đến từ các quốc gia khác nhau, đi theo các hệ thống pháp luật và truyền thống văn hóa khác nhau, chứ không đại diện cho bất cứ một tổ chức, một nhà nước nào Do đó chỉ các nguyên tắc, tập quán được áp dụng phổ biến nhất mới được trình bày và công nhận, hoàn toàn không bị chi phối bởi một thế lực chính trị, tôn giáo nào Vì thế, các giải pháp được đưa ra trong PICC là khách quan, công bằng, hợp lý
Trên đây là những giới thiệu cơ bản về PICC Sau hơn hơn 20 năm kể từ ngày được ban hành, PICC đã phát huy được vai trò nhất định Việc xem xét, tìm hiểu PICC là điều cần thiết, từng mục đích, đặc điểm của PICC đều thể hiện trong từng điều khoản cụ thể, mang giá trị to lớn đối với cả doanh nghiệp và cộng đồng pháp lý
2.2 Quy định và thực tiễn hủy hợp đồng thương mại quốc tế theo Bộ Nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế
PICC có nội dung hầu như bao trọn các vấn đề của hợp đồng thương mại quốc tế, trong đó không thể thiếu các quy định về hủy hợp đồng thương mại quốc tế Vấn đề này được quy định trong Mục 3 Chương 7 của PICC – Hủy hợp đồng, theo đó, đưa ra các quy định từ các trường hợp hủy hợp đồng, thông báo hủy hợp đồng đến những hậu quả pháp lý của việc hủy hợp đồng Nội dung chi tiết của từng quy định như trình bày dưới đây
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2.1 Các trường hợp hủy hợp đồng
Hủy hợp đồng là biện pháp khắc phục cứng rắn nhất, đặc biệt là trong bối cảnh kinh doanh thương mại trên toàn thế giới ngày một gia tăng thì việc hạn chế xảy ra hủy hợp đồng là cần thiết Không phải bất kỳ vi phạm nào cũng dấn đến hủy hợp đồng, mà thường có điều kiện đặc biệt – không thực hiện cơ bản (fundamental non-performance) Thật vậy, không thực hiện cơ bản là một trong những điều kiện tiên quyết quyết định
quyền hủy hợp đồng của bên bị vi phạm Khoản 1 Điều 7.3.1 của PICC quy định: “Một
bên có thể hủy hợp đồng nếu có trường hợp không thực hiện cơ bản của bên kia” Như
vậy, sự khác biệt giữa không thực hiện “không cơ bản” và “cơ bản” mang ý nghĩa quan trọng, nó là yếu tố để xác định các biện pháp khác nhau cho bên bị vi phạm Khoản 2 Điều 7.3.1 của PICC có giải thích rõ hơn về khái niệm này:
“Để xác định yếu tố cấu thành việc không thực hiện cơ bản, đặc biệt căn cứ vào
những tình tiết sau đây:
a Việc không thực hiện làm mất đi chủ yếu những gì người có quyền được mong đợi từ hợp đồng, trừ trường hợp bên có nghĩa vụ đã không dự tính trước hoặc đã không thể dự tính trước một cách hợp lý hậu quả này;
b Việc thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ là bản chất của hợp đồng;
c Việc không thực hiện là cố ý hoặc không tính đến hậu quả;
d Việc không thực hiện khiến cho bên có quyền tin rằng không thể tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai;
e Trong trường hợp hủy hợp đồng, bên có nghĩa vụ có thể sẽ phải chịu những tổn thất quá mức do sự chuẩn bị hoặc việc thực hiện hợp đồng”
Theo cách quy định này, có năm yếu tố làm căn cứ xác định một không thực hiện
cơ bản, năm yếu tố này tương ứng với năm trường hợp của hủy hợp đồng: việc không thực hiện hợp đồng làm mất đi một cách đáng kể mong đợi của bên kia, hợp đồng quy đinh việc thực hiện nghiêm ngặt nghĩa vụ là bản chất, việc không thực hiện hợp đồng là cố ý, không có tin tưởng về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng và tổn thất của bên có nghĩa vụ là quá mức
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Bên cạnh đó PICC cũng đưa ra những trường hợp khác mà mức độ không thực hiện chưa đến mức cơ bản nhưng có những điều kiện đặc biệt khác dẫn đến hủy hợp đồng, đó là: hủy hợp đồng trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng trong thời gian gia hạn hợp đồng; hủy hợp đồng trong trường hợp không thực hiện hợp đồng trước thời hạn; hủy hợp đồng trong trường hợp không có bảo đảm đầy đủ cho việc thực hiện đúng hợp đồng
Sau đây là phân tích từng trường hợp cụ thể cho hủy hợp đồng theo quy định tại PICC
2.2.1.1 Không thực hiện hợp đồng làm mất đi một cách đáng kể mong đợi của bên kia
Khi ký kết hợp đồng, các bên có quyền hi vọng vào những quyền lợi sẽ nhận được, nhưng một bên không thực hiện và nghĩa vụ không được thực hiện chiếm phần đáng kể trong hợp đồng, khiến cho bên kia bị tước đoạt những quyền lợi mong đợi từ hợp đồng thì được coi là không thực hiện cơ bản và có thể hủy hợp đồng
Quyền lợi mong đợi từ hợp đồng không chỉ giới hạn là lợi ích vật chất thực tế, mà mang nghĩa rộng hơn gồm cả lợi ích phi vật chất như mất khách hàng, mất khả năng bán lại hay bị mang tiếng xấu…Còn về mức độ thế nào là một “tước đi một cách đáng kể”, thì phụ thuộc từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể Theo đó thì mức độ thiệt hại không dựa vào số lượng các tổn thất thực tế, mà căn cứ vào tầm quan trọng của các lợi ích mà hợp đồng hứa hẹn tạo ra cho các bên Các lợi ích kỳ vọng không phải là lợi ích cá nhân theo ý kiến chủ quan của phía người bị vi phạm mà phải là những lợi ích có thể được đánh giá bằng cách nhìn vào hợp đồng, nói cách khác, sự mong đợi của bên bị vi phạm phải được thấy rõ từ hợp đồng Lợi ích thấy được không chỉ thể hiện trong ngôn ngữ của hợp đồng mà trong cả hoàn cảnh xung quanh mối quan hệ hợp đồng của các bên Tuy nhiên, cũng theo PICC, một bên không được hủy hợp đồng nếu bên không thực hiện chứng minh được rằng họ đã không dự tính trước hoặc đã không thể dự tính trước một cách hợp lý về hậu quả nghiêm trọng cho bên kia do việc không thực hiện gây ra Điều này có nghĩa rằng không thực hiện hợp đồng là cơ bản nếu bên không thực hiện phải thấy trước các thiệt hại Vì vậy, không thực hiện cơ bản không chỉ phụ
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thuộc vào những hậu quả của nó mà còn trên khả năng lường trước được bởi các bên Vậy một không thực hiện như thế nào thì có khả năng lường trước được?
Tính lường trước được có thể phụ thuộc vào kiến thức của các bên và đánh giá đến các sự kiện có liên quan, kinh nghiệm, nhận thức của bản thân… Tuy nhiên, các tiêu chí này hoàn toàn chủ quan, nếu không thực hiện xảy ra, không thể suy diễn rằng một bên thực sự đã không thấy trước hậu quả nghiêm trọng từ hành vi không thực hiện của mình bởi bên đó có năng lực chuyên môn ở mức dưới trung bình Bên không thực hiện có thể cố tình không thừa nhận rằng họ đã thấy trước một kết quả bất lợi sẽ xảy ra
Do đó, đánh giá tính lường trước được còn có thể xem xét một tiêu chí khác, đó là xem một người bình thường trong hoàn cảnh tương tự có thể thấy trước kết quả hay không Tuy nhiên tiêu chí này vẫn còn khá mơ hồ bởi rất khó để có một người tương tự, cũng
ở trong hoàn cảnh tương tự Do đó, kết luận không thực hiện là cơ bản hay không trong trường hợp này cần hết sức cẩn thận, tôn trọng nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh thương mại
2.2.1.2 Khi hợp đồng quy định việc tuân thủ nghiêm ngặt nghĩa vụ là bản chất của hợp đồng
Bản chất của nghĩa vụ hợp đồng là nghiêm ngặt thì việc không thực hiện nghĩa vụ đó sẽ thực sự nghiêm trọng và được coi là không thực hiện cơ bản Ví dụ, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, thời điểm giao hàng có thể coi là nghiêm ngặt; trong giao dịch về tín dụng chứng từ thì bộ hồ sơ phải tuân thủ nghiêm ngặt theo những điều khoản ghi trong thư tín dụng, một khác biệt nhỏ trong chứng từ cũng có thể bị từ chối thanh toán…
Bản chất của hợp đồng có thể được xác định thông qua thỏa thuận rõ ràng của các bên hoặc các thông lệ chính thức trong thói quen kinh doanh thương mại Điều quan trọng khi áp dụng yếu tố này là phải chứng minh có hay không có điều khoản nghiêm ngặt trong hợp đồng, hay có hay không có tập quán thương mại đó Nếu không, một bên không thể tuyên bố hành vi không thực hiện của bên kia là không thực hiện cơ bản
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
và không có cơ sở để tuyên bố hủy bỏ hợp đồng Phân tích một vụ án số 9797 của trung tâm Trọng tài quốc tế ICC tại Geneva như dưới đây sẽ làm rõ hơn điều này1:
Nguyên đơn: công ty ACBU, thuộc tập đoàn AWO
Bị đơn: công ty AABU, thuộc tập đoàn AWO
Diễn biến tranh chấp: Ban đầu AWO hoạt động thống nhất, AWSC là cơ quan
hành chính của AWO, có nhiệm vụ chính là phối hợp việc thực hiện giữa các công ty thành viên Đến năm 1989, AWO tái cấu trúc chia làm hai đơn vị kinh doanh AABU và ACBU: AABU thực hiện công việc kiểm toán, chứng thực, thuế và tư vấn tài chính còn công việc của ACBU là đưa ra chiến lược và dịch vụ tư vấn khác Cả hai vẫn hoạt động dưới sự điều phối của AWSC nhưng mối quan hệ giữa hai đơn vị liên tục xấu đi Một mặt, AABU bắt đầu phát triển dịch vụ tư vấn riêng của họ; mặt khác, ACBU cho rằng hành vi như vậy của phía AABU là vi phạm vào chuyên môn của mình, trong bối cảnh đó AWSC lại không có bất cứ hoạt động gì điều phối lại mối quan hệ của hai bên Năm 1997, ACBU nộp đơn kiện cho trung tâm Trọng tài quốc tế ICC tại Geneva ACBU cho rằng, tái cơ cấu năm 1989 hình thành hai đơn vị kinh doanh riêng biệt với phạm vi hoạt động riêng biệt còn AABU cho rằng tái cơ cấu không phải một quy định nghiêm ngặt chia rẽ phạm vi hoạt động giữa các công ty thành viên
Vấn đề pháp lý: Quy định về phạm vi hoạt động của các thành viên sau tái cơ
cấu có phải là nghiêm ngặt hay không?
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án trọng tài của trung tâm
Trọng tài quốc tế ICC tại Geneva đã lựa chọn áp dụng PICC để giải quyết tranh chấp này Tòa án cho rằng tái cơ cấu năm 1989 áp đặt giới hạn về phạm vi hoạt động của các thành viên để ngầm ngăn ngừa AABU cạnh tranh với ACBU AABU đã không đảm bảo được nguyên tắc thiện chí nhưng chưa đến mức không thực hiện cơ bản AWSC có nhiệm vụ đảm bảo sự hợp tác giữa các công ty thành viên, nhiệm vụ này là quy định rõ ràng trong điều lệ công ty, mang tính nghiêm ngặt Khi cuộc xung đột giữa các các công ty thành viên AABU và ACBU trở nên căng thẳng, AWSC vẫn không có bất kỳ
1 UNILEX, Vụ án số 9797, <http://www.unilex.info/case.cfm?id=668>, ngày truy cập 28/03/2015
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hành động gì để đảm bảo sự hợp tác, phối hợp giữa các bên, đây là không thực hiện cơ bản
Như nội dung vụ án này có thể thấy việc xác định bản chất nghiêm ngặt của một nghĩa vụ trong hợp đồng không thể suy đoán tùy tiện, tái cơ cấu năm 1989, giữa hai bên AABU và ACBU không nói rõ nghĩa vụ không được phép cạnh tranh với nhau mà chỉ mang tính suy diễn, còn điều lệ quy định nghĩa vụ của AWSC rất rõ ràng thì đây được coi là nghĩa vụ nghiêm ngặt Vậy, cần có căn cứ rõ ràng để xác định bản chất nghiêm ngặt của một nghĩa vụ trong hợp đồng, từ đó mới có thể đi đến kết luận không thực hiện nghĩa vụ đó có là hành vi không thực hiện cơ bản hay không
2.2.1.3 Khi cố ý không thực hiện hợp đồng
Theo quy định này, ngay cả khi không thực hiện hợp đồng gây hậu quả không đáng kể, hợp đồng vẫn có thể bị hủy, nếu có dấu hiệu về tính cố ý không thực hiện Tuy vậy, việc chấm dứt hợp đồng khi một bên không thực hiện, dù là có chủ đích, có thể đi ngược với nguyên tắc thiện chí khi hành vi không thực hiện này không nghiêm trọng lắm Việc chứng minh một bên đã cố ý không thực hiện không thể chỉ căn cứ vào một suy đoán chủ quan Xem xét một vụ án của Trung tâm Trọng tài Mexico, nội dung tóm tắt như sau2:
Nguyên đơn: một nhà phân phối của Mỹ
Bị đơn: một nông dân ở Mexico
Diễn biến tranh chấp: Nguyên đơn ký hợp đồng độc quyền với Bị đơn, theo đó,
Bị đơn sản xuất bí và dưa chuột cung cấp cho Nguyên đơn trong vòng một năm, Nguyên đơn sẽ phân phối hàng hóa trên thị trường California Sau đó Bị đơn đã không cung cấp hàng hóa được cho Nguyên đơn với lý do mưa bão bất thường và lũ lụt làm mất mùa nhưng lại bán sản phẩm của mình tại Los Angeles Nguyên đơn yêu cầu chấm dứt hợp đồng với lý do Bị đơn đã cố ý không thực hiện hợp đồng và kiện ra Trung tâm Trọng tài tại Mexico
Vấn đề pháp lý: Có hành vi cố ý không thực hiện hợp đồng hay không?
2 UNILEX, Vụ án của Trung tâm Trọng tài Mexico, < http://www.unilex.info/case.cfm?id=1149 >, ngày truy cập 01/04/2015
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án trọng tài áp dụng Điểm
c, Khoản 2, Điều 7.3.1 của PICC, cho rằng Bị đơn đã cố ý vi phạm điều khoản độc quyền trong hợp đồng, cấu thành không thực hiện cơ bản và Nguyên đơn có quyền hủy hợp đồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại
Trong vụ án này, doanh số bán hàng tại Los Angeles của Bị đơn là căn cứ xác đáng chứng minh có sự cố ý không thực hiện hợp đồng Nếu chỉ nhìn vào sự việc Bị đơn đã không cung cấp hàng hóa mà kết luận ngay vi phạm cơ bản thì có thể đã phạm phải sai lầm bởi mất mùa do mưa bão bất thường và lũ lụt hoàn toàn có khả năng là sự thật Việc chứng minh có sự cố ý không thực hiện hợp đồng nhất thiết cần có bằng chứng thuyết phục
2.2.1.4 Khi một bên không có tin tưởng về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng
Khi một bên không thực hiện hợp đồng khiến bên kia không thể tin tưởng vào việc tiếp tục thực hiện hợp đồng thì cũng được coi là không thực hiện cơ bản Nếu một bên thực hiện nghĩa vụ làm nhiều lần, những sai sót trong quá trình thực hiện lặp đi lặp lại, bên còn lại có thể chấm dứt hợp đồng, ngay cả khi sai sót trong những lần trước đó
là nhỏ nhặt Đôi khi, việc không thực hiện hợp đồng có chủ đích có thể cho thấy rằng bên không thực hiện là không đáng tin cậy, bên có quyền có thể chấm dứt hợp đồng
Để xác định độ tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai thì còn tùy thuộc vào từng hoàn cảnh Chẳng hạn, một bên có hành vi lừa dối như làm hóa đơn giả, thì dù số tiền trong hóa đơn không quá lớn nhưng bên có quyền có thể không tin vào việc tiếp tục thực hiện hợp đồng của bên kia Đây là một trường hợp đơn giản nhưng trong trường hợp khác thì căn cứ xác định quyền này sẽ khó khăn hơn Chẳng hạn một vụ án của Trọng tài vụ việc Ý như sau3:
Nguyên đơn: một công ty Ý
Bị đơn: một công ty xây dựng
3 UNILEX, Vụ án của Trọng tài vụ việc Ý, < http://www.unilex.info/case.cfm?id=1880 >, ngày truy cập 03/04/2015
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Diến biến tranh chấp: Nguyên đơn ký với Bị đơn 3 hợp đồng để bảo trì công
trình của Bị đơn tại Rome Bị đơn cho rằng trong quá trình thực hiện hợp đồng thứ hai, việc bảo trì đã không diễn ra Nguyên đơn nhiều lần phủ nhận cáo buộc này cho đến khi một chuyên gia kỹ thuật độc lập đã xác nhận không có việc thực hiện bảo trì, Bị đơn hủy hợp đồng thứ ba và yêu cầu bồi thường vì cho rằng có thể việc thực hiện hợp đồng thứ ba cũng sẽ không diễn ra
Một năm sau khi chấm dứt hợp đồng, Nguyên đơn kiện ra trọng tài yêu cầu Tòa
án trọng tài tuyên bố việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của Bị đơn là sai và yêu cầu
Bị đơn phải bồi thường thiệt hại Nguyên đơn không phủ nhận việc đã không bảo trì các công trình trong hợp đồng số 2 nhưng chứng minh được rằng mối quan hệ với Bị đơn vẫn tiếp tục và Nguyên đơn cho thấy có khả năng đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của
Bị đơn, Bị đơn không thể đưa ra lý do mất niềm tin vào việc thực hiện của Nguyên đơn cho hợp đồng số 3 mà hủy bỏ hợp đồng này
Vấn đề pháp lý: Xác định một bên mất niềm tin vào việc thực hiện hợp đồng của phía bên kia hay không?
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án Trọng tài áp dụng PICC
để giải quyết vụ việc này Tòa án cho rằng Bị đơn đã chấm dứt hợp đồng với lý do
"thiếu niềm tin" vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai Theo quan điểm của Tòa
án một lần không thực hiện nghĩa vụ là chưa đủ cơ sở khẳng định mất niềm tin vào việc tiếp tục thực hiện hợp đồng, đồng thời Nguyên đơn có chứng cứ chứng minh đủ khả năng thực hiện tiếp hợp đồng Bộ Nguyên tắc PICC cũng nói rằng “bên có quyền tin rằng không thể tin cậy vào việc thực hiện hợp đồng trong tương lai” thì mới được coi là không thực hiện cơ bản Trường hợp này Bị đơn hủy hợp đồng là sai
Qua vụ án này có thể thấy, trên thực tế việc xác định ranh giới “thiếu niềm tin” hay “mất niềm tin” không phải là chuyện dễ dàng Áp dụng quy định này cần cẩn trọng xem xét điều kiện thực hiện hợp đồng, mối quan hệ hợp tác giữa hai bên, uy tín trên thị trường…để đưa ra quyết định đúng đắn, tránh phát sinh những tranh chấp đáng tiếc sau này
2.2.1.5 Khi tổn thất của bên có nghĩa vụ là quá mức
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Điểm e Khoản 2 Điều 7.3.1 PICC liên quan đến trường hợp, theo đó bên không thực hiện đã tin tưởng vào hợp đồng và đã chuẩn bị thực hiện hoặc đã thực hiện hợp đồng Trong trường hợp này, cần phải lưu ý đến khả năng bên không thực hiện sẽ phải chịu một tổn thất quá mức nếu chấm dứt hợp đồng Việc không thực hiện hợp đồng ít nghiêm trọng hơn nếu như chúng xảy ra chậm trễ – sau khi chuẩn bị thực hiện hợp đồng, thay vì chúng xảy ra sớm – trước khi việc chuẩn bị thực hiện được tiến hành Ngoài ra, cũng cần phải quan tâm xem liệu việc xúc tiến thực hiện hợp đồng có đem lại lợi ích gì cho bên không thực hiện hợp đồng hay không, nếu nó bị từ chối hay bị trả lại cho bên này Chẳng hạn những hợp đồng mua bán sản phẩm được thiết kế riêng, đặc thù cho một bên, nếu vì một lỗi như chậm giao hàng mà bên có quyền hủy hợp đồng thì bên có nghĩa vụ không thể bán lại sản phẩm đã thiết kế riêng cho một bên thứ ba nào khác, tổn thất là quá mức Trong trường hợp này, bên có quyền chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại chứ không được hủy hợp đồng
2.2.1.6 Bên có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng trong thời gian gia hạn thực hiện hợp đồng
Khoản 3 Điều 7.3.1 của PICC quy định: “Trong trường hợp chậm trễ, bên có
quyền cũng có thể hủy hợp đồng nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện trong thời hạn được quy định tại Điều 7.1.5” Điều này dẫn đến một khái niệm quy định tại Điều 7.1.5
về thời hạn bổ sung thực hiện nghĩa vụ, theo đó khi một bên không thực hiện nghĩa vụ thì bên kia có thể gia hạn thêm một thời hạn bổ sung Quy định này của PICC bắt nguồn từ thủ tục Nachfrist trong luật Đức Theo Mathias Reimann và Reinhard Zimmermann, trong cuốn The Oxford Handbook of Comparative Law có giải thích:
“Nachfrist là một nguyên tắc theo đó một bên sẽ cung cấp thời hạn bổ sung để bên kia
hoàn thành nghĩa vụ, bảo vệ lợi ích cho các bên trong hợp đồng”
Nachfrist được xem như cơ hội thứ hai đưa ra cho bên có nghĩa vụ để thực hiện nhiệm vụ của mình mà không làm phương hại đến các biện pháp xử lý khác của bên có quyền như dừng thực hiện các nghĩa vụ liên quan và đòi bồi thường thiệt hại, dù việc thực hiện lúc này là chậm trễ Trong nhiều trường hợp, bên có quyền mong muốn việc thực hiện chậm trễ còn hơn là không có một nghĩa vụ nào được thực hiện Công cụ này
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
được đưa ra thể hiện thái độ thiện chí của các bên trong quan hệ hợp đồng thương mại, đảm bảo nguyên tắc pacta sunt servanda trong tư pháp quốc tế Đồng thời quy định này cũng mang tính kinh tế hơn là quy định hủy hợp đồng ngay lập tức bởi việc chấm dứt hợp đồng luôn gây thiệt hại lớn cho các bên và chỉ được xem như biện pháp cuối cùng
để khắc phục hậu quả khi có vi phạm hợp đồng
Tuy nhiên có một chút khác biệt giữa hai quy định trong PICC và luật Đức: PICC quy định rằng hủy hợp đồng chỉ được phép trong trường hợp không thực hiện là cơ bản, khi chưa chắc chắn về mức độ nghiêm trọng của không thực hiện, hủy hợp đồng
có thể thông qua Nachfrist; Luật Đức cho rằng bên có quyền đầu tiên phải gia hạn một khoảng thời gian để cho phép bên có nghĩa vụ có một cơ hội nữa, nhưng khoảng thời gian gia hạn thêm đó không cần thiết trong trường hợp vi phạm cơ bản là rõ ràng hoặc
vi phạm không thể sửa chữa Tức là theo PICC, khi còn chưa chắc chắn mức độ không thực hiện, ngay cả khi không thực hiện có khả năng là cơ bản, bên không thực hiện vẫn
có thể được hưởng thời hạn bổ sung, luật Đức không cho phép điều này Đây được xem như một tiến bộ so với nguồn gốc ban đầu của quy định, mang tính thiện chí hơn trong quan hệ hợp tác thương mại
Hủy hợp đồng sau khi thời hạn bổ sung thực hiện nghĩa vụ kết thúc được quy định tại Khoản 3, 4, Điều 7.1.5 của PICC Hủy hợp đồng chỉ xảy ra khi khoảng thời gian gia hạn là hợp lý và việc không thực hiện có vai trò đáng kể đối với toàn bộ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Có hai vấn đề cần xem xét ở đây là: một thời hạn hợp lý và vai trò của nghĩa vụ không được thực hiện so với toàn bộ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
Thứ nhất, thời hạn bổ sung thực hiện nghĩa vụ như thế nào là hợp lý? Không có
định nghĩa cụ thể cho khái niệm này, để xem xét một khoảng thời gian gia hạn thế nào
là hợp lý phụ thuộc tùy từng hoàn cảnh và điều kiện thực hiện mà các bên cân nhắc điều chỉnh với nhau Chẳng hạn một công ty sản xuất hàng hóa không giao đủ được số lượng hàng theo quy định của hợp đồng khi đến hạn, mà theo hiệu suất của máy móc và năng suất lao động của nhân công lúc đó, công ty cần ít nhất một tháng nữa mới sản xuất đủ số lượng hàng hóa như yêu cầu thì bên có quyền phải xem xét gia hạn cho công
ty này khoảng thời gian tối thiểu là một tháng
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Thứ hai, xem xét vai trò của nghĩa vụ không được thực hiện với toàn bộ nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ Nếu vai trò của nghĩa vụ đó đó chỉ chiếm phần rất nhỏ, hủy hợp
đồng cũng không thể xảy ra Chẳng hạn một vụ án của Tòa án nhân dân Thâm Quyến như sau4
:
Nguyên đơn: một công ty ở Thâm Quyến, Trung Quốc
Bị đơn: một công ty dược phẩm tại Quảng Châu, Trung Quốc
Diễn biến tranh chấp: Hai bên ký kết hợp đồng, theo đó công ty dược phẩm
phải nghiên cứu một loại thuốc mới, tiến hành thử nghiệm lâm sàng, chờ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm phê duyệt rồi sản xuất Mặc dù Nguyên đơn đã đồng ý thanh toán, Bị đơn lại trì hoãn việc tiến hành thử nghiệm lâm sàng, ngay cả sau khi gia hạn Nguyên đơn sau đó chấm dứt hợp đồng, kiện ra Tòa án nhân dân Thâm Quyến, đòi bồi hoàn số tiền họ đã thanh toán cũng như các thiệt hại phát sinh từ việc chậm trễ của Bị đơn
Vấn đề pháp lý: không thực hiện nghĩa vụ tiến hành các thí nghiệm lâm sàng có phải là không thực hiện một phần đáng kể nghĩa vụ của hợp đồng hay không?
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Trong phần bình luận vụ án,
thẩm phán Tòa án nhân dân Thâm Quyến đã viện dẫn Điều 7.3.1 của PICC để hỗ trợ cho quyết định của mình Tòa án cho rằng nghĩa vụ tiến hành các thí nghiệm lâm sàng
là một phần đáng kể trong các nghĩa vụ của hợp đồng nên chậm trễ này cấu thành một không thực hiện cơ bản
Trong tình huống này, các nghĩa vụ của hợp đồng bao gồm nghiên cứu một loại thuốc mới, tiến hành thử nghiệm lâm sàng, chờ phê duyệt rồi sản xuất Trong chế biến dược phẩm, khâu tiến hành thử nghiệm lâm sàng đóng vai trò quan trọng nên nghĩa vụ này chiếm một phần đáng kể trong tổng thể các nghĩa vụ của hợp đồng Bởi vậy việc
Bị đơn trì hoãn thực hiện nghĩa vụ này ngay cả sau khi gia hạn đã thỏa mãn các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 7.3.1 của PICC, Nguyên đơn hoàn toàn có quyền hủy hợp đồng
4 UNILEX, Vụ án của Tòa án nhân dân Thâm Quyến, Trung Quốc, < http://www.unilex.info/case.cfm?id=1445 >, ngày truy cập: 07/04/2015
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Vậy việc đánh giá mức độ vi phạm trong từng tình huống cần cẩn trọng, đôi khi phải cần đến kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực đó mới có thể kết luận được nghĩa vụ bị vi phạm có chiếm một phần đáng kể trong hợp đồng hay không
Cuối cùng, cần lưu ý rằng bên có quyền không thể chấm dứt hợp đồng trong thời gian gia hạn mà ngay khi thời hạn bổ sung kết thúc, quyền chấm dứt hợp đồng mới phát sinh
2.2.1.7 Khi một bên không thực hiện hợp đồng trước thời hạn thực hiện hợp đồng
Điều 7.3.3 của PICC quy định: “Một bên có căn cứ để hủy hợp đồng nếu, trước
thời hạn, rõ ràng sẽ có việc không thực hiện cơ bản từ phía bên kia” Điều này đưa ra
một nguyên tắc theo đó không cần phải đợi đến khi việc không thực hiện cơ bản xảy ra cũng có quyền hủy hợp đồng nếu có một cơ sở rõ ràng rằng sẽ không có việc thực hiện Nguyên tắc này có nguồn gốc từ thuyết “vi phạm hợp đồng trước thời hạn – anticipatory breach”, ra đời từ án lệ của Anh trong vụ kiện nổi tiếng giữa Hochster v
De La Tour năm 18535, có thể tóm lược vụ kiện này như sau:
Nguyên đơn: Hochster, một người làm dịch vụ chuyển phát
Bị đơn: De La Tour
Diễn biến tranh chấp: Vào tháng 4/1852, De La Tour thuê Hochster làm người
chuyển phát quanh châu Âu của ông trong ba tháng kể từ ngày 1/6/1852 Ngày 11/5/1852, De La Tour sa thải Hochster và hủy hợp đồng Ngày 22/5, Hochster đưa đơn kiện cho rằng sự từ bỏ của Bị đơn là một hành vi vi phạm hợp đồng và Nguyên đơn cần phải được bồi thường thiệt hại Còn Bị đơn lập luận rằng, Hochster vẫn phải ở lại để chuẩn bị thực hiện một nghĩa vụ đã đến thời hạn, do đó ông ta không thể lên đường làm người chuyển phát được nên có thể nhận thấy hành vi của Hochster là vi phạm hợp đồng trước ngày thực hiện hợp đồng
Vấn đề pháp lý: có được phép hủy hợp đồng khi có vi phạm hợp đồng trước ngày thực hiện hợp đồng hay không?
5 Án lệ Hochster v De La Tour năm 1853, < farnsworth/performance-and-breach/hochster-v-de-la-tour/ >, ngày truy cập : 08/04/2015
Trang 39http://www.casebriefs.com/blog/law/contracts/contracts-keyed-to-Hoi Can Su FTU http://www.casebriefs.com/blog/law/contracts/contracts-keyed-to-Hoi Can Su FTU http://www.casebriefs.com/blog/law/contracts/contracts-keyed-to-Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Thẩm phán bác đơn của
Nguyên đơn, chấp nhận hủy hợp đồng khi có vi phạm hợp đồng trước ngày thực hiện hợp đồng
Từ vụ kiện đấy, thuyết này được phát triển, lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước theo hệ thống pháp luật common law Tuy nhiên đến nay vẫn tồn tại hai luồng ý kiến về lý thuyết này
Một là, những người phản đối lý thuyết cho rằng vi phạm khi thời hạn chưa đến là bất hợp lý Khi hợp đồng được ký kết, một bên phải thực hiện nghĩa vụ khi đến một thời hạn hay sự kiện xác định, khi thời hạn hay sự kiện đó còn chưa đến thì chưa thể có
vi phạm thực tế Và như vậy, lý thuyết này đã bắt một bên phải chịu trách nhiệm về những nghĩa vụ mà họ chưa buộc phải thực hiện, điều này không phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng
Hai là, theo quan điểm của những người ủng hộ, có những nguy cơ vi phạm hợp đồng có thể lường trước được, việc quyết định hủy hợp đồng sớm hơn sẽ giảm bớt thiệt hại cho bên có nguy cơ bị vi phạm Hơn nữa, hủy hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện phải tuân thủ một số điều kiện nghiêm ngặt: đó là tính rõ ràng của căn cứ và mức
độ nguy cơ vi phạm phải là đáng kể Về nguy cơ vi phạm tương tự như các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 7.3.1 Về tính rõ ràng, khái niệm này còn phụ thuộc tùy từng hoàn cảnh khách quan cũng như hành vi của một bên không phù hợp với việc thực hiện hợp đồng trong tương lai
Tính rõ ràng có thể được kết luận từ kết quả các hành động của bên kia hoặc từ chứng cứ chứng minh bên kia không sẵn sàng hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ Ví dụ sự từ chối của người mua về yêu cầu mở một thư tín dụng cho người bán được coi là đủ đáp ứng với tiêu chuẩn của tính rõ ràng Trường hợp khác, trước khi giao hàng, người mua đã kết luận rằng có không thực hiện cơ bản sẽ xảy ra dựa trên kết quả thử nghiệm các mẫu người bán cung cấp, hoặc vì các bản vẽ thiết kế để sản xuất hàng hóa mà người bán đã đưa ra bị lỗi, đây là các cơ sở chắc chắn để khẳng định rằng nghĩa vụ trong hợp đồng sẽ bị vi phạm nghiêm trọng Trong một vụ án tại Tòa án nhân
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
dân Bắc Kinh năm 2008, thuộc sơ sở dữ liệu của UNILEX cũng có tình huống tương
tự6:
Nguyên đơn: một cá nhân ở Bắc Kinh
Bị đơn: một công ty ở Sơn Tây
Diễn biến tranh chấp: Nguyên đơn ký hợp đồng với Bị đơn để đặt phòng khách
sạn của Bị đơn cuối tháng và đã trả tiền đặt cọc Trong tháng Nguyên đơn được thông báo rằng căn phòng đã không còn nữa, bởi vì toàn bộ khách sạn đã được những người khác đặt Nguyên đơn kiện Bị Đơn ra Tòa án nhân dân Bắc Kinh vì vi phạm hợp đồng
Vấn đề pháp lý: Thông báo không thực hiện hợp đồng trước thời hạn có là căn
cứ rõ ràng của không thực hiện hợp đồng trước thời hạn hay không?
Quan điểm của cơ quan giải quyết tranh chấp: Trong bình luận vụ án, do pháp
luật quốc gia không quy định trường hợp này, Thẩm phán Tòa án nhân dân Bắc Kinh đã viện dẫn Điều 7.3.3 của PICC về không thực hiện trước thời hạn và ra quyết định đồng ý với Nguyên đơn Trong vụ việc này, thông báo từ bên có nghĩa vụ là sẽ không thực hiện hợp đồng đã cấu thành một căn cứ rõ ràng, bởi vậy hủy hợp đồng trước thời hạn là hợp lý
Nhận xét: Trong tình huống này, căn cứ thông báo sẽ không thực hiện hợp đồng
để hủy hợp đồng trước thời hạn là rất rõ ràng, nhưng thực tế không phải trường hợp nào căn cứ xác định không thực hiện trước thời hạn cũng tường minh như vậy Bên có quyền nhất thiết phải cẩn trọng xem xét điều kiện, tình hình, tiến độ thực hiện hợp đồng của bên kia để có quyết định xác đáng, tránh vì một nghi ngờ thiếu căn cứ mà phá hỏng mối quan hệ hợp tác giữa các bên
Qua những xem xét trên đây, ta có được cái nhìn tổng quan về trường hợp hủy hợp đồng khi không thực hiện trước thời hạn Một bên có quyền hủy hợp đồng trước thời hạn nếu rõ ràng sẽ có sự không thực hiện cơ bản từ phía bên kia, việc hủy hợp đồng sớm sẽ hạn chế được thiệt hại cho các bên, với điều kiện phải có căn cứ chắc
6 UNILEX , Vụ án số (2008)yizhongminzhongzi 157, < http://www.unilex.info/case.cfm?id=1754 >, ngày truy cập 10/04/2015