Mục tiêu nghiên cứu Thứ nhất, hệ thống hóa các lý thuyết về chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử, mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử; Thứ hai
Trang 1Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-*** -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
MÔ HÌNH THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Hà Nội, tháng 05 năm 2015
Họ và tên sinh viên
Mã sinh viên Lớp
Khóa Người hướng dẫn khoa học
: Phạm Đình Ngọc : 1111110375 : Anh 4 – Khối 1 KT : 50
: TS Trần Sĩ Lâm
Trang 2Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH v
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ 3
1.1 Tổng quan chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 3
1.1.1 Chuỗi cung ứng 3
1.1.2 Ngành công nghiệp điện tử 7
1.1.3 Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 11
1.2 Mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 15
1.2.1 Các loại hình tham gia vào chuỗi 15
1.2.2 Lợi ích khi tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 17 1.2.3 Các yếu tố tác động đến sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu hàng điện tử 20
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 26
2.1 Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan 26
2.1.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Thái Lan 26
2.1.2 Những chính sách phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan 27
2.1.3 Thực trạng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan 30
2.2 Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Malaysia 32
2.2.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Malaysia 32
2.2.2 Những chính sách phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Malaysia 34
Trang 3Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
2.2.3 Thực trạng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Malaysia 39
2.3 Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc 41
2.3.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Trung Quốc 41 2.3.2 Những chính sách phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc 43 2.3.3 Thực trạng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Trung Quốc 46
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SỰ THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ CỦA VIỆT NAM 503.1 Thực trạng tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam 50
3.1.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Việt Nam 50 3.1.2 Những chính sách phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam 53 3.1.3 Thực trạng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam 56
3.2 Hạn chế về tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam 59
3.2.1 Doanh nghiệp FDI đóng vai trò chính trong sự tham gia vào chuỗi cung ứng, trong khi vai trò của doanh nghiệp nội địa còn rất mờ nhạt 59 3.2.2 Công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử còn kém phát triển 59 3.2.3 Doanh nghiệp điện tử Việt Nam số lượng còn ít, chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa 60 3.2.4 Ngành công nghiệp điện tử phụ thuộc vào nhập khẩu 61
3.3 Một số vấn đề đặt ra đối với sự tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam 61
3.3.1 Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển ngành công nghiệp điện tử 61
Trang 4Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3.3.2 Quan điểm, định hướng phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp
điện tử Việt Nam 64
3.3.3 Cơ hội và thách thức về việc tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 65
3.4 Một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử 67
3.4.1 Chú trọng công tác xây dựng chính sách phát triển ngành công nghiệp điện tử 68
3.4.2 Thu hút FDI vào ngành công nghiệp điện tử có chọn lọc 69
3.4.3 Khuyến khích chuyển giao công nghệ 70
3.4.4 Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành công nghiệp điện tử 70
3.4.5 Phát triển khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp điện tử 72
3.4.6 Phát triển cụm công nghiệp điện tử 73
3.4.7 Thiết lập cơ quan quản lý chuyên trách ngành công nghiệp điện tử 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 1 84
PHỤ LỤC 2 85
Trang 5Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BOI Board Of Investment Ủy ban đầu tư
CM Contract Manufacturer Nhà sản xuất theo hợp đồng
EEI Electrical and Electronics Institute Viện Điện và Điện tử
EMS Electronic Manufacturing Service Dịch vụ chế tạo điện tử
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
M&A Mergers and Acquisitions Mua bán và sáp nhập
MIDA Malaysian Investment
Development Authority
Cơ quan Phát triển đầu tư Malaysia
MNC Multinational Company Công ty đa quốc gia
OBM Original Brand Manufacturer Nhà sản xuất theo thương hiệu riêng ODM Original Design Manufacturer Nhà sản xuất thiết kế gốc
OEM Original Equipment Manufacturer Nhà sản xuất thiết bị gốc
R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
TNC Transnational Company Công ty xuyên quốc gia
Trang 6Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
1 Danh mục bảng
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp ngành điện tử Thái Lan theo vốn đăng ký và loại hình doanh nghiệp năm 2006 26Bảng 2.3 Phần trăm giá trị xuất khẩu và giá trị sản xuất ngành công nghiệp của công nghiệp điện – điện tử Malaysia giai đoạn 2012 - 2015 39Bảng 2.4 Phần trăm thị phần toàn cầu một số sản phẩm điện tử dân dụng của Trung Quốc giai đoạn 2008 – 2009 42
2 Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm điện tử của Thái Lan giai đoạn
2007 – 2011 31Biểu đồ 2.2 Các thị trường xuất khẩu chính sản phẩm điện tử của Thái Lan giai đoạn
2001 - 2014 32Biểu đồ 2.3 Các thị trường xuất khẩu chính sản phẩm điện tử của Malaysia giai đoạn
2001 - 2014 40Biểu đồ 2.4 Doanh thu ngành công nghiệp điện tử Trung Quốc giai đoạn 2001-2009 41Biểu đồ 2.5 Tỷ trọng giá trị xuất khẩu một số sản phẩm điện tử của Trung Quốc
so với thế giới giai đoạn 2008 - 2014 42Biểu đồ 2.6 Giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử Trung Quốc và tỷ lệ phần trăm so với tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử của thế giới giai đoạn 2011 - 2014 46Biểu đồ 2.7 Giá trị nhập khẩu sản phẩm điện tử Trung Quốc và tỷ trọng so với tổng giá trị nhập khẩu sản phẩm điện tử của thế giới giai đoạn 2011 - 2014 48Biểu đồ 2.8 Các thị trường xuất khẩu chính sản phẩm điện tử của Trung Quốc giai đoạn 2001 - 2014 48Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng xuất khẩu các nhóm hàng điện tử Việt Nam giai đoạn
2010 - 2014 52
Trang 7Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Biểu đồ 3.2 Giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử và tỷ trọng trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2014 57Biểu đồ 3.3 Tỷ trọng các thị trường xuất khẩu chủ yếu sản phẩn điện tử của Việt Nam 58Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp điện tử phân theo quy mô lao động tại thời điểm 31/12 hàng năm 60
3 Danh mục hình
Hình 1.1 Ba dòng chảy trong chuỗi cung ứng 5Hình 1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng 6Hình 1.3 Chuỗi cung ứng công nghiệp điện tử tổng quát 13Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Chiến lược và Khoa học công nghệ Quốc gia Thái Lan 28
Trang 8Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành công nghiệp điện tử Việt Nam được hình thành từ trước những năm 1975
ở miền Nam, hoạt động chủ yếu là lắp ráp sản phẩm điện tử gia dụng Trải qua hơn
40 năm phát triển, hiện nay công nghiệp điện tử đạt được những thành tựu đáng kể
Từ năm 2012, giá trị sản xuất ngành công nghiệp điện tử luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá trị sản xuất ngành công nghiệp, đồng thời công nghiệp điện tử cũng là ngành
có giá trị xuất khẩu lớn nhất Tuy nhiên, những thành tựu đạt được của ngành công nghiệp điện tử nêu ở trên lại được đóng góp chủ yếu bởi doanh nghiệp FDI Mặc dù doanh nghiệp FDI chỉ chiếm khoảng 30% số doanh nghiệp ngành điện tử nhưng chiếm tới 80% giá trị sản xuất và hơn 90% giá trị xuất khẩu Các doanh nghiệp nội địa trong ngành công nghiệp điện tử chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Các doanh nghiệp này có công nghệ tương đối lạc hậu so với doanh nghiệp nước ngoài, hạn chế về vốn nên năng lực cạnh tranh thấp, thường không đáp ứng đủ các tiêu chuẩn
để trở thành nhà cung ứng của các hãng điện tử lớn Trong khi những doanh nghiệp điện tử lớn của Việt Nam thì hầu như vẫn chưa xây dựng được chuỗi cung ứng sản phẩm điện tử của riêng mình Vì vậy, sự tham gia của doanh nghiệp điện tử của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu ngành công nghiệp điện tử vẫn còn hạn chế Từ
những lý do trên Tác giả lựa chọn đề tài “Mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử ở một số nước châu Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa các lý thuyết về chuỗi cung ứng, chuỗi cung ứng ngành
công nghiệp điện tử, mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử;
Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc trong việc
thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp điện tử vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử;
Thứ ba, đề xuất những chính sách cho Chính phủ để thúc đẩy sự tham gia của
doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
Trang 9Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sự tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của các doanh nghiệp Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số chính sách vĩ mô liên quan tới một
số sản phẩm của ngành công nghiệp điện ở Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc và Việt Nam trong thời gian gần đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu;
- Chương 1: Tổng quan về tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
- Chương 2: Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
ở một số nước châu Á
- Chương 3: Giải pháp thúc đẩy sự tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Việt Nam
Trang 10Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG
NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ 1.1 Tổng quan chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
1.1.1 Chuỗi cung ứng
1.1.1.1 Định nghĩa
Chuỗi cung ứng xuất hiện trong khoảng những năm 50 của thế kỷ XX tại Hoa Kỳ
và đã phát triển qua 4 giai đoạn chính, và hiện nay đang ở giai đoạn phát triển thứ 5 (Wisner, J.D., Tan, K.C, and Leong, G.K, 2012, tr.12) Trong xu thế toàn cầu hóa, chuỗi cung ứng ngày càng đóng vai trò quan trọng, then chốt trong các hoạt động kinh tế từ cấp độ địa phương cho tới toàn cầu
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng, nhưng trong mỗi nghiên cứu lại đưa ra định nghĩa chuỗi cung ứng riêng, chưa
có sự thống nhất Dưới đây, Tác giả tổng hợp một số định nghĩa chuỗi cung ứng trong một số nghiên cứu đã công bố
Theo Ganeshan và cộng sự, “chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng.”
(Ganeshan, Ram và Terry P.Harrison, 1995, An Introduction to Supply Chain
Management)
Theo Lambert, Stock và Ellram, “chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường.” (Lambert, Stock và Ellram,
1998, Fundamentals of Logistics Management)
Theo Chopra và Meindl, “chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung ứng, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng Hay chuỗi cung ứng hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối các nhà cung ứng, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh.” (Chopra, S., and Meindl, P., 2007, tr.3)
Trang 11Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Theo Wisner, Tan và Leong, chuỗi cung ứng là chuỗi các doanh nghiệp tham gia tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng cho người tiêu dùng, bao gồm tất cả các chức năng cho phép thực hiện việc sản xuất, vận chuyển và tái thu hồi các nguyên vật liệu, bán thành phẩm và sản phẩm, dịch vụ cuối cùng (Joel D.Wisner, Keah-Choon Tan, and
G Keong Leong, 2012, Principles of Supply Chain Management: A Balanced
Approach, 3 rd edition)
Từ các định nghĩa trên rút ra một số vấn đề cơ bản của chuỗi cung ứng:
- Về bản chất: Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các tổ chức kinh tế với các mối
liên kết trực tiếp hoặc gián tiếp Các mỗi liên kết được hình thành dựa trên quan hệ
sở hữu (ví dụ công ty mẹ - công ty con) hay dưới quan hệ hợp đồng
- Về mục đích: Chuỗi cung ứng thực hiện chức năng tạo ra sản phẩm đáp ứng
nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng
- Về hoạt động: Chuỗi cung ứng bao ba hoạt động cơ bản:
o Cung ứng các nguyên liệu, thành phần đầu vào cho quá trình sản xuất;
o Sản xuất: Là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng;
o Phân phối: Là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, …
Như vậy, chuỗi cung ứng có thể hiểu là một mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình thu mua nguyên liệu ban đầu, sản xuất ra sản phẩm đến phân phối sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng cuối cùng
1.1.1.2 Đặc điểm
Một chuỗi cung ứng có những đặc điểm cơ bản sau:
a) Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều mắt xích
Trong một chuỗi cung ứng luôn bao gồm rất nhiều các doanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp vào chuỗi Tương ứng với 3 hoạt động cơ bản trong chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp cũng được chia thành 3 nhóm cơ bản là nhà cung ứng, nhà sản xuất, nhà phân phối Nhà cung ứng là những doanh nghiệp nằm ở đầu chuỗi Họ đảm nhận trách nhiệm thu mua các nguyên liệu cơ bản cho sản xuất hàng hóa để cung cấp cho các doanh nghiệp sản xuất Nhà sản xuất là những doanh nghiệp
sở hữu những nhà máy, xí nghiệp với những dây chuyền sản xuất để chuyển đổi từ
Trang 12Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nguyên liệu thu mua từ nhà cung ứng thành bán thành phẩm, thành phẩm cuối cùng Nhà phân phối là những doanh nghiệp ở cuối mỗi chuỗi cung ứng Họ đảm nhận nhiệm vụ đưa sản phẩm từ nhà máy tới người tiêu dùng cuối cùng thông qua các hệ thống các kênh phân phối
b) Ba dòng chảy chính trong chuỗi cung ứng
Hình 1.1 Ba dòng chảy trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Huỳnh Thị Thu Sương, 2012, tr.19
Dòng sản phẩm dịch vụ: Chiều dịch chuyển của dòng sản phẩm, dịch vụ bắt
đầu từ nhà cung ứng, đi qua chuỗi và tới người tiêu dùng cuối cùng Bắt đầu từ các nhà cung ứng, vật chất sẽ được nhà sản xuất thu mua dưới dạng các nguyên vật liệu Qua quá trình sản xuất, nguyên vật liệu ban đầu biến đổi lý, hóa thành bán thành phẩm, thành phẩm và được tiếp tục hoàn thiện Tiếp theo, sản phẩm cuối cùng sẽ được nhà phân phối vận chuyển để cung cấp đến tay người tiêu dùng
Dòng tiền: Vì mục đích của chuỗi cung ứng nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ
cho người tiêu dùng nên người tiêu dùng chính là đối tượng cung ứng nguồn tiền để chi trả cho tất cả các hoạt động tham gia tạo ra sản phẩm, dịch vụ Vì vậy, chiều dịch chuyển của dòng tiền xuất phát từ người tiêu dùng, dịch chuyển qua các mắt xích trong chuỗi và hướng về nhà cung ứng Chuỗi cung ứng dưới góc độ giá trị cũng được xem là một chuỗi giá trị Các mắt xích trong chuỗi đảm nhận việc tạo giá trị tăng thêm cho vật chất khi nó di chuyển qua mắt xích đó Dòng tiền sẽ được phân bổ cho các mắt xích tương ứng với phần giá trị tăng thêm mà mắt xích đó tạo ra Việc phân bổ dòng tiền này ở các mắt xích là không giống nhau Dòng tiền sẽ phân bổ ít hơn ở những mắt xích liên quan tới các hoạt động sử dụng trình độ công nghệ thấp như sơ chế, lắp ráp; và phân bổ nhiều hơn ở những mắt xích liên quan tới hoạt động sử dụng công nghệ cao như thiết kế, phát triển sản phẩm mới
Trang 13Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Dòng thông tin: Dòng thông tin là một dòng chảy vô hình trong chuỗi nhưng
có vai trò vô cùng quan trọng để kết nối dòng vật chất và dòng tiền, cũng như kết nối tất cả các mắt xích trong chuỗi, giúp chuỗi hoạt động trơn tru, nhịp nhàng và hiệu quả Dòng chảy của thông tin là dòng có tính hai chiều: chiều từ phía khách hàng ngược về phía trước chuỗi mang những thông tin thị trường, đặc điểm sản phẩm, nhu cầu của khách hàng, và những ý kiến phản hồi của khách hàng sau khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ; chiều từ nhà cung cấp, phản ánh tình hình hoạt động của thị trường nguyên liệu (Huỳnh Thị Thu Sương, 2012, tr.19)
1.1.1.3 Cấu trúc
Trong một chuỗi cung ứng được cấu thành bởi các thành viên cơ bản: nhà cung ứng, nhà sản xuất, nhà phân phối/nhà bán lẻ trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau (Chopra, S., and Meindl, P., 2007, tr.5) Ba bộ phận cơ bản trên của chuỗi cung ứng được gọi là thành viên chính của chuỗi Các thành viên chính thực hiện các công đoạn chính của quá trình tạo ra sản phẩm/dịch vụ Bên cạnh các thành viên chính, mỗi chuỗi đều có các doanh nghiệp cung ứng cấp dịch vụ bảo hiểm, tư vấn, cho thuê tài sản, vận tải, kho bãi,… cho những thành viên chính gọi là các thành viên hỗ trợ
Hình 1.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Nguồn: Chopra, S., and Meindl, P., 2007, tr.5
Nhà cung ứng: Đây là những tổ chức thực hiện chức năng chính là thu mua
các nguyên vật liệu và sau đó cung cấp cho các nhà sản xuất Trong chuỗi cung ứng
có thể có nhiều lớp nhà cung ứng Mỗi nhà cung ứng ở lớp sau đóng vai trò là khách hàng của nhà cung ứng liền trước
Nhà sản xuất: Bao gồm các công ty sản xuất nguyên vật liệu, linh kiện, phụ
kiện, hợp phần và các công ty sản xuất thành phẩm
Nhà phân phối: Là các doanh nghiệp đóng vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất
và khách hàng, thực hiện chức năng đưa sản phẩm từ nhà máy ra thị trường Khi nhà
Nhà cung
ứng
Nhà sản xuất
Nhà phân phối
Người tiêu dùng
Thành viên hỗ
Nhà bán
lẻ
Trang 14Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phân phối thu mua sản phẩm với số lượng lớn từ nhà sản xuất để cung cấp cho những đơn vị bán hàng nhỏ hơn thì còn được gọi là nhà bán sỉ
Nhà bán lẻ: là các tổ chức thực hiện chức năng chính là bán sản phẩm cho
người tiêu dùng Nhà bán lẻ có thể mua sản phẩm trực tiếp từ nhà sản xuất hoặc mua lại từ nhà phân phối Nhà bán lẻ có thể là cửa hàng bán lẻ, hệ thống siêu thị hay các cửa hàng giới thiệu sản phẩm
1.1.2 Ngành công nghiệp điện tử
1.1.2.1 Định nghĩa
Ngành công nghiệp điện tử hiện đang được coi là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn trên thế giới Các hoạt động trong ngành công nghiệp điện tử ngày càng phức tạp và các sản phẩm của ngành ngày càng phong phú, đa dạng Chính vì vậy, việc bao hàm hết phạm vi ngành công nghiệp điện tử vào một định nghĩa là việc không dễ dàng Một điểm chung ở trên thế giới và Việt Nam là ngành công nghiệp điện tử được xếp vào ngành công nghiệp sản xuất công nghệ thông tin, cụ thể là ngành sản xuất công nghệ thông tin Dưới đây là một số định nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam đề cập tới phạm vi ngành công nghiệp điện tử
Theo định nghĩa về công nghiệp công nghệ thông tin theo Tiêu chuẩn quốc tế Phân loại công nghiệp của tất cả các hoạt động kinh tế của Liên Hiệp Quốc - ISIC (International Standard Industrial Classification of All Economic Activities) phiên bản 4 do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) ban hành, công nghiệp sản xuất công nghệ thông tin là ngành sản xuất các linh kiện, bảng mạch điện tử; máy tính và thiết bị ngoại vi; thiết bị thông tin liên lạc; điện tử tiêu dùng; dụng cụ từ tính
và quang học (OECD/WTO, 2013, tr.19)
Theo Quyết định số 1290/QĐ-TTg ban hành ngày 01/08/2014 về “Phê duyệt kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp điện tử thực hiện chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”, công nghiệp điện tử được hiểu là các hoạt động bao gồm các loại hình thiết kế, chế tạo sản phẩm phần cứng; lắp ráp, gia công sản phẩm phần cứng; cung cấp dịch vụ công nghiệp phần cứng
Sản phẩm phần cứng bao gồm: Máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi; Điện tử nghe nhìn; Điện tử gia dụng; Điện tử chuyên dùng; Thiết bị thông tin – viễn thông,
Trang 15Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thiết bị đa phương tiện; Phụ tùng, linh kiện điện tử; Các sản phẩm phần cứng khác Các thuật ngữ “Điện tử nghe nhìn”, “Điện tử gia dụng”, “Điện tử chuyên dùng”,
“Thiết bị thông tin – viễn thông, thiết bị đa phương tiện” được giải thích trong nghị định 71/2007/NĐ-CP của Chính phủ về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Công nghệ Thông tin về Công nghiệp Công nghệ Thông tin” như sau:
- Thiết bị điện tử nghe nhìn: Là sản phẩm điện tử có khả năng ghi, thu, lưu trữ,
truyền, phát, cung cấp thông tin bằng hình ảnh, âm thanh cho người dùng ở bất kể định dạng thông tin nào Thiết bị điện tử nghe nhìn bao gồm các thiết bị tivi, đầu đĩa VCD, DVD, dàn âm thanh, máy nghe nhạc số, máy ảnh số, máy quay phim số
- Thiết bị điện tử gia dụng: Là thiết bị điện tử dùng trong các hoạt động của gia
đình Thiết bị điện tử gia dụng bao gồm thiết bị điều hoà không khí, tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi, lò vi sóng
- Thiết bị điện tử chuyên dùng: Là thiết bị điện tử sử dụng trong các chuyên
ngành cụ thể Thiết bị điện tử chuyên dùng bao gồm thiết bị đo lường, tự động hoá, trang thiết bị y tế, sinh học và các ngành khác
- Thiết bị thông tin - viễn thông, đa phương tiện: Bao gồm các thiết bị tổng đài,
truyền dẫn, đầu cuối mạng, cáp quang, cấp thông tin, thiết bị thông tin vệ tinh, thiết
bị truyền dẫn - phát sóng
Về dịch vụ phần cứng bao gồm: Tư vấn, trợ giúp khách hàng lắp đặt sản phẩm phần cứng; Phân phối, lưu thông các sản phẩm phần cứng; Lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành sản phẩm phần cứng; Xuất nhập khẩu sản phẩm phần cứng; Các dịch vụ phần cứng khác
Như vậy, có thể hiểu phạm vi ngành công nghiệp điện tử như sau:
- Về các hoạt động trong ngành bao gồm: Thiết kế, chế tạo, lắp ráp, gia công,
phân phối, lưu thông, lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành, xuất nhập khẩu sản phẩm phần cứng
- Về sản phẩm của ngành bao gồm: Máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi;
Điện tử nghe nhìn; Điện tử gia dụng; Điện tử chuyên dùng; Thiết bị thông tin – viễn thông, thiết bị đa phương tiện; Phụ tùng, linh kiện điện tử
Trang 16Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.1.2.2 Đặc điểm
Ngành công nghiệp điện tử là một ngành sản xuất kinh doanh với những đặc điểm
cơ bản sau:
a) Có tính chuyên môn hóa sâu và toàn cầu hóa rộng
Công nghiệp điện tử được chia thành nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn lại thực hiện một chức năng cơ bản như R&D, thiết kế, sản xuất linh kiện, lắp ráp, phân phối Sự phân chia thành nhiều công đoạn dẫn tới tính chuyên môn hóa sâu trong ngành công nghiệp điện tử Đồng thời, sự chuyên môn hóa cùng với lợi thế của các quốc gia đã tạo điều kiện để rất nhiều quốc gia tham gia vào ngành công nghiệp điện tử Điều này dẫn tới sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử có tính toàn cầu hóa cao
b) Có tính cạnh tranh cao thông qua sự cạnh trong khốc liệt trên toàn cầu và sự giảm giá
Công nghiệp điện tử bao gồm nhiều công đoạn khác nhau, trong mỗi công đoạn luôn có rất nhiều các doanh nghiệp tham gia, vì vậy tính cạnh tranh trong ngành công nghiệp là rất lớn Trong ngành công nghiệp điện tử, các doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp hoạt động trên phạm vi nhiều quốc gia, cũng có những doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong phạm vi một quốc gia Do đó, các doanh nghiệp trong ngành không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước khác mà còn cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp trong ngành luôn tìm cách để tối thiểu các chi phí giúp doanh nghiệp có thể giảm giá
thành đầu ra, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường
c) Đòi hỏi sự đổi mới liên tục
Để tồn tại qua cạnh tranh, doanh nghiệp phải hoạt động hiệu quả, nâng cao năng suất Để đạt được điều này, doanh nghiệp sẽ phải đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, quy trình quản lý để tận hiệu quả các nguồn lực
Trang 17Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
d) Sử dụng công nghệ cao, vốn đầu tư lớn
Quá trình sản xuất trong ngành công nghiệp điện tử sử dụng công nghệ tương đối hiện đại Một doanh nghiệp tham gia vào công nghiệp điện tử đòi hỏi phải có sự đầu
tư về công nghệ sản xuất
e) Công nghiệp điện tử cần sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghiệp hỗ trợ nội địa
để phát triển
Ngành công nghiệp hỗ trợ đóng vai trò nền tảng cho ngành công nghiệp điện tử, thông qua việc cung cấp các phụ tùng, linh kiện và các quy trình xử lý kỹ thuật Công nghiệp hỗ trợ nội địa phát triển sẽ tạo ra nguồn cung đầu vào ổn định cho hoạt động lắp ráp các sản phẩm điện tử, giảm sự phụ thuộc vào linh phụ kiện nhập khẩu, qua đó nâng cao tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm điện tử, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng
cao tính cạnh tranh cho sản phẩm điện tử (Hoàng Văn Châu, 2013)
f) Sản phẩm phong phú
Ngành công nghiệp điện tử bao gồm nhiều phân ngành nhỏ, mỗi phân ngành nhỏ lại bao gồm rất nhiều dòng sản phẩm khác nhau Bên cạnh đó, do ngành công nghiệp điện tử có hoạt động R&D và thiết kế sản phẩm phát triển, kết hợp với quá trình sản xuất sử dụng quy trình công nghệ hiện đại nên tạo ra vô số các sản phẩm điện tử với tính năng, mẫu mã khác nhau
g) Vòng đời sản phẩm ngắn
Do năng lực R&D trong ngành công nghiệp điện tử rất mạnh, do đó các sản phẩm liên tục có sự cải tiến và nâng cấp Một mặt, sự cải tiến sản phẩm này nhằm đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng, mặt khác là do kết quả từ sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành nên tạo ra động lực để đổi mới sản phẩm Điều này dẫn tới đặc điểm sản phẩm của ngành công nghiệp có vòng đời tương đối ngắn
1.1.2.3 Phân loại
Ngành công nghiệp điện tử là một ngành vô cùng rộng lớn, bao hàm nhiều phân ngành nhỏ Dựa theo tiêu chí loại sản phẩm, ngành công nghiệp điện tử được chia thành 5 phân ngành nhỏ, đó là:
Trang 18Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
a) Công nghiệp linh kiện điện tử: Nhóm này bao gồm một số lượng lớn các doanh
nghiệp tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất, phân phối, marketing, bán hàng loạt các linh kiện như bô lông, kẹp, ốc vít, thiết bị bán dẫn, mạch tích hợp, vi xử lý, dây cáp, công tác, cảm biến, bàn phím, ổ cắm,… Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu, Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong là những quốc gia và khu vực đang dẫn đầu thế giới về công nghiệp linh kiện điện tử Trong nhóm này, ngành công nghiệp bán dẫn là ngành có
có giá trị lớn nhất và có lợi nhuận rất cao
b) Công nghiệp thiết bị văn phòng và máy tính: Nhóm này bao gồm các cơ sở
tham gia sản xuất và cung ứng về phần cứng máy tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm
và các thiết bị tự động dùng trong văn phòng
c) Công nghiệp thiết bị thông tin liên lạc: Sản phẩm chính của nhóm này là điện
thoại, các thiết bị đầu cuối
d) Công nghiệp điện tử dân dụng: Nhóm này liên quan tới việc thiết kế, sản xuất,
phân phối các thiết bị, sản phẩm điện tử được sử dụng trong đồi sống sinh hoạt hàng ngày như radio, Tivi, đầu video, tủ lạnh,…
e) Thiết bị điện tử công nghiệp: Nhóm này bao gồm các cơ sở khác nhau tham
gia vào quá trình thiết kế, phát triển, sản xuất, bán các linh kiện điện tử và các các hệ thống được sử dụng trong các thiết bị và dây chuyền tự động trong môi trường công nghiệp
1.1.3 Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
1.1.3.1 Định nghĩa
Ngành công nghiệp điện tử ngày nay đang trở một ngành công nghiệp hàng đầu của các quốc gia trên thế giới Công nghiệp điện tử cũng giữ một vai trò quan trọng đối với các ngành công nghiệp khác, bởi hầu hết các ngành công nghiệp đều sử dụng sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử Đặc điểm của ngành công nghiệp điện tử
là ngành có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ hiện đại, bao gồm nhiều công đoạn khác nhau nên các hãng điện tử thường không thực hiện tất cả mọi công đoạn để tạo
ra sản phẩm cuối cùng Bởi việc một công ty tự mình thực hiện tất cả các công đoạn
sẽ không đạt được tính hiệu quả về chi phí, đồng thời khả năng để thay đổi công nghệ, phát triển sản phẩm mới cũng kém linh hoạt Điều này dẫn tới tính chuyên môn hóa trong ngành công nghiệp điện tử Quá trình từ khi lên ý tưởng sản phẩm tới khi sản
Trang 19Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phẩm cuối cùng được phân phối đến tay người tiêu dùng được phân đoạn thành nhiều công đoạn nhỏ hơn Mỗi công đoạn lại có sự tham gia của các công ty khác nhau Các công ty được liên kết với nhau thông qua các quan hệ về sở hữu (công ty mẹ - công
ty con) hay quan hệ hợp đồng để hình thành một chuỗi liên tiếp để tạo ra sản phẩm, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng cuối cùng Chuỗi liên kết các doanh nghiệp trong trường hợp này chính là chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử là mạng lưới liên kết giữa các doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào các công đoạn từ thu mua nguyên liệu, sản xuất linh kiện, hợp phần điện tử, lắp ráp sản phẩm, đến phân phối các sản phẩm cuối cùng tới người tiêu dùng cuối cùng
1.1.3.2 Đặc điểm
Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử có một số đặc điểm nổi bật sau:
a) Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử là chuỗi cung ứng toàn cầu, mang tính toàn cầu hóa
Đặc điểm này của chuỗi thể hiện ở 2 phương diện Thứ nhất về thị trường tiêu thụ sản phẩm: sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử được tiêu thụ ở khắp nơi trên thế giới Nhờ sự phát triển của hệ thống phân phối và vận tải, các sản phẩm của ngành công nghiệp điện tử được cung cấp cho thị trường toàn cầu Thứ hai về thành viên trong chuỗi: các thành viên trong chuỗi là các tổ chức, doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau Lợi thế so sánh quốc gia và sự chuyên môn hóa lao động quốc tế đã tạo điều kiện cho sự tham gia vào chuỗi cung ngành công nghiệp điện tử của các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau
b) Chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử được dẫn dắt bởi các hãng điện
tử dẫn đầu (lead firms) đến từ Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc
Khởi nguồn của ngành công nghiệp điện tử ngày nay được bắt đầu tư các nước phát triển Trải qua hàng thập kỷ, ngành công nghiệp điện tử ngày càng phát triển về
cả chất lượng và giá trị Công nghệ kỹ thuật trong ngành công nghiệp điện tử ngày càng hiện đại, tân tiến Việc nắm giữ lợi thế về công nghệ cao giúp các quốc gia này giành được lợi thế trong việc tham gia vào chuỗi ở những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng lớn và đồng thời cũng đóng vai trò dẫn dắt chuỗi Những công đoạn tạo giá trị gia tăng cao chủ yếu là nghiên cứu, thiết kế, phát triển sản phẩm, marketing và phân
Trang 20Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
phối Những công đoạn tạo ra giá trị gia tăng thấp như sản xuất, gia công, lắp ráp, thường được thực hiện ở các quốc gia có công nghệ kém phát triển hơn Những công nghệ mà các quốc gia này sở hữu thường được chuyển giao từ chính các quốc gia có công nghệ cao Điều này dẫn tới việc phụ thuộc công nghệ của các quốc gia đi sau vào các quốc gia phát triển Hiện tại, các hãng điện tử dẫn đầu trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử chủ yếu là các công ty của Mỹ, Nhật Bản, tây Âu, Hàn Quốc (Strurgeon, T.J and Kawakami, M, 2010, tr.12)
1.1.3.3 Cấu trúc
Hình 1.3 Chuỗi cung ứng công nghiệp điện tử tổng quát
Nguồn: Linden G., Kreamer K.L, Dedrick J., 2007, tr.3
Về cơ bản, chuỗi cung ứng sản phẩm công nghiệp điện tử sẽ có sự tham gia của nhà cung ứng nguyên liệu và các hợp phần (components), tiếp theo trong chuỗi là các công ty tham gia vào quá trình sản xuất (CMs), các hãng sở hữu tên thương hiệu (Brand name Vendor) và cuối cùng là các nhà phân phối
a) Khâu cung ứng
Mỗi sản phẩm điện tử chứa một lượng lớn các hợp phần giá trị thấp (low – value component) như tự điện, điện trở Mặc dù các nhà sản xuất các hợp phần này vẫn thu được lợi nhuận, tuy nhiên họ chỉ chiếm một phần nhỏ giá trị trong tổng giá trị tăng thêm của chuỗi cung ứng Đồng thời, những nhà sản xuất này cũng đóng góp tương đối nhỏ vào sự đổi mới trong chuỗi Đa phần các sản phẩm điện tử cũng chứa một ít các hợp phần giá trị cao (high – value component) như màn hình hiển thị, ổ đĩa cứng
Nhà phân phối
Chủ yếu nguyên
liệu, hợp phần giá rẻ
Một ít nguyên liệu, hợp phần giá cao
Người tiêu dùng
Bán hàng trực tuyến, qua điện thoại
Bán hàng truyền thống
Sản xuất
Thiết kế, Marketing
Phân phối
Bán hàng
Trang 21Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
hay mạch tích hợp Những hợp phần này phần lớn được sản xuất bởi những công ty
sở hữu những công nghệ thiết kế riêng biệt giúp cho các công ty nắm giữ một giá trị tương đối lớn trong tổng giá trị tăng thêm của sản phẩm trong chuỗi Bên cạnh đó, những đổi mới trong chuỗi thường diễn ra ở những đổi mới trong các hợp phần này, hay chính xác là bắt nguồn từ sự đổi mới trong công nghệ thiết kể của các nhà sản xuất Những hợp phần phức tạp có thể sở hữu những chuỗi cung ứng riêng của chúng
Ví dụ, với mạch tích hợp có thể được bán bởi các công ty Mỹ nhưng công đoạn chế tạo được thực hiện bởi các công ty Đài Loan, sau đó đóng gói ở Hàn Quốc trước khi được chuyển tới nhà máy lắp ráp để tạo ra sản phẩm cuối cùng
b) Khâu sản xuất
Các doanh nghiệp đóng vai trò chủ yếu ở công đoạn này là các nhà sản xuất theo hợp đồng (CMs) Các công ty này là những nhà cung cấp dịch vụ lắp ráp từ các hợp phần thành sản phẩm hoàn chỉnh Một số doanh nghiệp CM nổi tiếng hiện nay như Flextronics, Solectron, Foxconn, Quanta, Compal Hiện nay, với xu hướng hoạt động mua ngoài ngày càng phát triển thì ngay cả những hãng điện tử nổi tiếng vốn trước đây tự thực hiện công đoạn lắp ráp như Sony, Toshiba thì nay cũng ký hợp đồng mua dịch vụ lắp ráp từ các CM
c) Khâu phân phối
Sau khi các CM lắp ráp xong sản phẩm cuối cùng thì sản phẩm sẽ được chuyển sang khâu phân phối Các hãng điện tử sở hữu sản phẩm có thể xây dựng hệ thống phân phối riêng của mình hoặc thông qua hệ thống phân phối của các nhà phân phối, các nhà bán lẻ Các kênh phân phối chủ yếu là bán hàng trực tuyến và bán hàng truyền thống sẽ đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng Các nhà phân phối được chia thành các nhà phân phối toàn cầu như Arrow, TechData, IngramMicro và nhà phân phối địa phương Các hãng bán lẻ cũng đóng góp một vai trò lớn trong việc phân phối các sản phẩm điện tử Một số hãng bán lẻ lớn trên thế giới như Best Buy, Circuit City, Fry’s (Linden G., Kreamer K.L, Dedrick J., 2007, tr 3)
Trang 22Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
1.2 Mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
1.2.1 Các loại hình tham gia vào chuỗi
Về cơ bản, chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử có sự tham gia của ba nhóm đối tượng chính, đó là: Các hãng dẫn đầu (Lead Firms), các nhà sản xuất theo hợp đồng (Contract Manufacturers), và các nhà dẫn đầu nền tảng (Platform Leaders) (Strurgeon, T.J and Kawakami, M, 2010, tr.11)
1.2.1.1 Các hãng dẫn đầu
Các hãng dẫn đầu trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử là những hãng
sở hữu thương hiệu riêng, bán sản phẩm dưới tên thương hiệu của mình và có mạng lưới thị trường bao gồm những người tiêu dùng cá nhân, những doanh nghiệp hay các
tổ chức của Chính phủ Các hãng dẫn đầu thường sở hữu công nghệ rất hiện đại, đây
là lợi thế giúp các hãng này giữ một vai trò dẫn đầu trong sự đổi mới công nghệ trong chuỗi Năng lực này của các hãng dẫn đầu giúp chúng nắm giữ được sức mạnh thị trường Các hãng điện tử dẫn dầu tham gia vào chuỗi ở các công đoạn như R&D, thiết
kế sản phẩm, marketing và xây dựng thương hiệu, phân phối sản phẩm cuối cùng Những hoạt động này có giá trị gia tăng tương đối cao Do đó, giá trị mà các hãng dẫn đầu nắm giữ cũng tương đối lớn Hình thức các hãng dẫn đầu tham gia vào chuỗi cung ứng được gọi là OBM Đây là hình thức tham gia cao nhất trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
1.2.1.2 Các nhà sản xuất theo hợp đồng
Nhà sản xuất theo hợp đồng thực hiện công việc tạo ra sản phẩm cho cho các hãng dẫn đầu và cũng cung cấp một số dịch vụ về thiết kế Đôi lúc, các hãng dẫn đầu vẫn thực hiện hoạt động lắp ráp sản phẩm cuối cùng ở trong nhà máy của chúng, nhưng việc sử dụng các nhà sản xuất theo hợp đồng ngày càng trở thành xu hướng phổ biến kể từ cuối những năm 1980 Các nhà sản xuất theo hợp đồng bao gồm hai loại chính: các nhà cung cấp dịch vụ chế tạo điện tử (EMS – Electronics Manufacturing Services) và các nhà sản xuất theo thiết kế gốc (ODM – Original Design Manufacuter)
Trang 23Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
a) Các EMS
Đặc điểm của các doanh nghiệp này là chúng không thực hiện chức năng R&D, thiết kế sản phẩm bởi chúng không sở hữu những công nghệ hiện đại, tân tiến Các doanh nghiệp này chỉ thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ độc lập như hoạt động thu mua hợp phần, linh kiện; lắp ráp bảng mạch; lắp ráp sản phẩm cuối cùng; thử nghiệm Các EMS đôi lúc cũng được gọi dưới cái tên OEM Các EMS có xu hướng hoạt động trên phạm vi toàn cầu và cung cấp dịch vụ chế tạo cho các hãng dẫn đầu ở những phân khúc sản phẩm nhất định Hiện nay, các EMS lớn nhất trên thế giới
là các doanh nghiệp của Đài Loan, Singapore, Mỹ, Canada (Strurgeon, T.J and Kawakami, M, 2010, tr.13)
b) Các ODM
ODM là hình thức sản xuất trong đó công ty ODM đảm nhận toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm từ việc thiết kế, thu mua nguyên vật liêu, lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng và đóng gói Đối với hình thức ODM, quyền sở hữu trí tuệ về sản phẩm thiết kế thuộc về nhà sản xuất ODM cho tới khi người một công ty khác mua toàn bộ quyền sử dụng những thiết kế này Sau khi một công ty đã mua toàn bộ quyền sử dụng thiết kế thì nhà sản xuất ODM không tự sản xuất các bộ thiết kế tương tự nếu không được bên mua ủy quyền Hiện nay, các ODM lớn trên thế giới chủ yếu là đến
từ Đài Loan (Strurgeon, T.J and Kawakami, M, 2010, tr.13)
1.2.1.3 Các nhà dẫn đầu nền tảng
Các nhà dẫn đầu công nghệ nền tảng là những công ty đã thành công trong việc gắn kết công nghệ (dưới dạng phần mềm, phần cứng hay cả hai) vào trong các sản phẩm của các công ty đó Trong những trường hợp cụ thể, các nhà dẫn đầu nền tảng
có thể thâu tóm được phần lớn lợi nhuận của ngành công nghiệp và duy trì một sự kiểm soát chặt chẽ quá trình đổi mới trong ngành công nghiệp Trong ngành công nghiệp điện tử, trường hợp sản xuất máy tính xách tay và điện thoại di động sẽ cho thấy rằng tại sao những hãng dẫn đầu sở hữu những sản phẩm với thương hiệu riêng của mình như Dell hay Motorola lại không phải là những hãng nắm giữ phần lớn giá trị tạo ra trong chuỗi Đối với ngành công nghiệp máy tính, Intel là một ví dụ điển hình của nhà dẫn đầu nền tảng Với năng lực công nghệ hiện đại của mình, Intel đã thực hiện việc tích hợp công nghệ vào các sản phẩm chíp máy tính của mình để tạo
Trang 24Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
ra một dòng chíp máy tính có tốc độ xử lý cực mạnh và tạo ra sự độc quyền trên thị trường các sản phẩm chíp máy tính
1.2.2 Lợi ích khi tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp
a) Nâng cao tính chuyên môn hóa trong từng công đoạn sản xuất
Ở một chuỗi cung ứng toàn cầu, quy mô thị trường là rất lớn Một doanh nghiệp
dù lớn tới đâu cũng rất khó để có đủ nguồn lực để sản xuất đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng không thể tạo ra sự hiệu quả khi tự đảm nhận tất các công đoạn trong chuỗi cung ứng Vì vậy việc phân chia chuỗi ra thành các công đoạn nhỏ với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp là sự phát triển tất yếu Việc chia nhỏ chuỗi sẽ là cơ sở để thực hiện sự chuyên môn hóa sản xuất trong chuỗi Việc chuyên môn hóa giúp cho các công đoạn được hoạt động hiệu quả hơn, tận dụng được các nguồn lực vào sản xuất Các quốc gia sẽ tiến hành tham gia vào một hoặc một số công đoạn trong chuỗi mà quốc gia đó có lợi thế tương đối Ngược lại, ở mỗi công đoạn, có thể có nhiều quốc gia cùng tham Kết quả tính chuỗi đạt được tính chuyên môn hóa trên phạm vi toàn cầu Sự tham gia của một quốc gia vào chuỗi cung ứng, xét dưới góc độ thương mại chính là sự tham gia của các doanh nghiệp của quốc gia đó Các doanh nghiệp khi tham gia vào chuỗi, họ sẽ chịu ảnh hưởng bởi tính chuyên môn hóa của chuỗi Các công ty cũng sẽ tập trung vào một hay một số công đoạn nhất định
b) Tăng hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất có thể được thấy qua rất nhiều mặt như sản phẩm sản xuất ra nhiều hơn, chi phí sản xuất giảm, thời gian sản xuất ngắn hơn,… Nhưng để đánh giá tổng quát về đơn giản thì có thể xem lợi nhuận là thước đo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo quan điểm của chuỗi cung ứng, xét dưới mặt giá trị thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo bằng giá trị gia tăng ở những công đoạn mà doanh nghiệp đó tham gia Hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp tăng lên như là một kết quả tất yếu của quá trình chuyên môn hóa Xét ở góc độ vi
mô là từng cá nhân trong doanh nghiệp Sự chuyên môn hóa của công việc giúp các
cá nhân thường xuyên lặp đi lặp lại những công việc nhất định Qua thời gian, họ sẽ
Trang 25Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
trở nên thuần thục với công việc, dẫn tới thao tác của họ nhanh hơn, chính xác hơn, thời gian để họ thao tác rút ngắn lại Và trên phạm vị doanh nghiệp, thời gian để sản xuất ra một sản phẩm ngắn hơn, vòng quay sản xuất tăng lên, số lượng sản phẩm tạo
ra nhiều hơn trong cùng một thời gian như trước, dẫn tới lợi nhuận thu về sẽ lớn hơn
c) Tăng thu nhập cho các chủ thể trong chuỗi
Sự chuyên môn hóa diễn ra trong chuỗi sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất của các thành viên và từ đó gia tăng thu nhâp cho doanh nghiệp Tuy nhiên, thu nhập của doanh nghiệp phụ thuộc vào công đoạn mà doanh nghiệp đó tham gia Ở những công đoạn đơn giản, mức gia tăng thu nhập sẽ thấp hơn ở những công đoạn phức tạp, đòi hỏi trình độ kỹ thuật và công nghệ cao hơn Trong chuỗi cung ứng toàn cầu của một ngành, các doanh nghiệp, các khu vực hay quốc gia đều có khả năng liên kết và hoạt động như một mạng lưới toàn cầu Nhìn ở phạm vi toàn cầu thì sự liên kết giữa các doanh nghiệp ở các quốc gia khác nhau sẽ ảnh hưởng đến mức thu nhập của toàn bộ
hệ thống và là cơ sở của những nỗ lực gia tăng giá trị của các chủ thể tham gia Việc phân phối thu nhập trong chuỗi cung ưng toàn cầu có thể được thực hiện bằng các nguồn vốn đầu tư khác nhau như vốn đầu tư mạo hiểm, vốn công nghệ, vốn lao động, nguồn tài nguyên và các nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho quá trình hoạt động sản xuất (Nguyễn Hoàng Ánh và cộng sự, 2008, tr.16-21)
1.2.2.2 Đối với các quốc gia đang phát triển
Theo Cù Chí Lợi (2012), đối với các quốc gia đang phát triển, việc tham gia vào mạng sản xuất toàn cầu tạo ra những lợi ích đáng kể đối với tiến trình công nghiệp hóa ở các nước này thông qua chuyển giao công nghệ, lan tỏa tri thức; thúc đẩy đổi mới và giảm chi phí sản xuất; tạo việc làm, nâng cấp nguồn nhân lực
a) Chuyển giao công nghệ, lan tỏa tri thức
Chuỗi cung ứng toàn cầu hoạt động như một kênh chuyển giao kiến thức hiệu quả từ các MNC, TNC sang các công ty nhỏ ở địa phương Hoạt động chuyển giao kiến thức từ các công ty lớn sang các công ty địa phương có thể phân thành hai cấp độ: cấp độ thứ nhất, các công ty lớn chuyển giao các kiến thức về tiếp cận quản lý và
kỹ thuật cho các công ty địa phương để giúp họ đáp ứng các tiêu chuẩn của các công
ty lớn; cấp độ thứ 2, khi các công ty địa phương nâng cấp thành công năng lực của
Trang 26Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
mình trong mạng lưới thì sẽ tạo ra một động cơ cho công ty lớn chuyển giao những kiến thức phức tạp hơn, bao gồm cả phát triển quy trình và sản phẩm Những quốc gia đang phát triển là những quốc gia đi sau, có trình độ công nghệ, trình độ quản lý còn thấp Việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu sản phẩm ngành công nghiệp điện tử giúp cho các quốc gia này có cơ hội tiếp cận và nhận được những công nghệ cao từ các công ty đứng đầu trong chuỗi
b) Thúc đẩy đổi mới và giảm chi phí sản xuất
Thông qua việc tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, các công ty địa phương, quy mô nhỏ khi tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ được tiếp cận với các nguồn kiến thức từ các TNC, MNC Với cấp độ chuyển giao kiến thức thứ nhất, để tiếp thu thành công nguồn kiến thức thì các công ty địa phương cần có là kỹ năng và công nghệ để nắm bắt và thực hiện theo những yêu cầu của các công ty nước ngoài Nhưng
ở cấp độ chuyển giao kiến thức thứ 2, các công ty địa phương phải đủ năng lực để tham gia vào công đoạn thiết kế sản phẩm
Với các công ty tiếp nhận kiến thức theo cấp độ thứ nhất, họ sẽ tiếp tục đóng vai trò là nhà cung cấp địa phương cấp thấp Nhưng theo thời gian, các công ty này sẽ đối mặt với vấn đề về chi phí khi chi phí lao động ở nơi họ đặt cơ sở tăng lên, hay xuất hiện các kết nối mới giữa các công ty đứng đầu với những nguồn cung ứng đầu vào giá rẻ hơn Thời điểm này thực sự nhạy cảm, và ảnh hưởng tới sự tiếp tục tồn tại của công ty cung ứng địa phương trong chuỗi cung ứng toàn cầu Để không bị văng
ra khỏi chuỗi, các công ty cung ứng địa phương sẽ phải tiến hành nâng cấp thông qua việc phát triển năng lực sản xuất, khả năng thiết kế, giảm chi phí sản xuất Đây chính
là động lực thúc đẩy các công ty cung ứng địa phương đổi mới, sử dụng các công nghệ mới
Với cấp độ chuyển giao thứ 2, nếu thành công thì các công ty cung ứng địa phương sẽ chuyển sang giai đoạn mới cao hơn, đó là sáng tạo thực sự thông qua phát triển các sản phẩm mới Ở cuối giai đoạn này, các doanh nghiệp này sẽ trở thành những nhà sáng tạo và có thể chuyển giao lại kiến thức cho những doanh nghiệp khác
Từ những phân tích trên cho thấy, để tồn tại trong chuỗi cung ứng, các công ty phải
Trang 27Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
luôn có sự đổi mới, cải tiến khả năng sản xuất, phát triển các công nghệ mới để giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh
c) Tạo việc làm, nâng cấp nguồn nhân lực
Với các nước đang phát triển, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ thu hút được các nguồn vốn đầu tư của các công ty nước ngoài Tận dụng những lợi thế về chi phí lao động thấp ở các nước đang phát triển, các công ty nước ngoài sẽ tiến hành đầu tư xây dựng các cơ sở nhà máy Những nhà máy này sẽ tạo ra việc làm cho người dân địa phương Đây chính là việc tạo ra việc làm trực tiếp thông qua quá trình xây dựng nhà máy của các công ty nước ngoài Bên cạnh đó, các doanh nghiệp địa phương khi tham gia vào chuỗi, sau một thời gian hoạt động thành công sẽ mở rộng phạm vi hoạt động Sự mở rộng này cũng tạo thêm việc làm cho lao động ở chính quốc gia đó Bên cạnh quá trình tạo thêm việc làm, trình độ lao động, chất lượng đội ngũ lao động cũng được nâng cao Quá trình này diễn ra bởi hai xu hướng Xu hướng thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu của các công ty là cần những đội ngũ lao động chất lượng,
có trình độ cao để làm việc trong môi trường có công nghệ cao Các công ty cũng sẻ
tự tổ chức quá trình đào tạo đội ngũ lao động của riêng họ để đáp ứng nhu cầu của chính công ty Những quy trình đào tạo bài bản sẽ giúp cho đội ngũ lao động nâng cao kiến thức, chuyên môn Xu hướng thứ 2 xuất phát từ phía Chính phủ Bản thân mỗi quốc gia khi muốn tham gia tích cực vào chuỗi cung ứng toàn cầu thì họ phải tạo
ra được những lợi thế cạnh tranh Việc này để thu hút sự đầu tư của các công ty nước ngoài Đối với đặc thù ngành điện tử là một ngành có môi trường công nghệ tương đối cao, các quốc gia cần phải có những lao động có chất lượng và được đào tạo bài bản Điều này thúc đẩy các Chính phủ thực hiện những chính sách về phát triển đội ngũ lao động của quốc gia mình Kết quả là chất lượng đội ngũ lao động của quốc gia
đó được tăng lên
1.2.3 Các yếu tố tác động đến sự tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu hàng điện
tử
Theo Nguyễn Thị Nhiễu (2009), các yếu tố tác động đến sự tham gia của một quốc gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu hàng điện tử được chia thành 2 nhóm chính: (1) Các yếu tố khách quan của môi trường kinh doanh quốc tế, bao gồm: xu hướng
Trang 28Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thay đổi của mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu, xu hướng phát triển hoạt động thuê ngoài, hệ thống phân công lao động quốc tế mới; (2) Các yếu tố chủ quan bao gồm lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, môi trường chính sách, năng lực của các đối tượng tham gia
1.2.3.1 Các yếu tố khách quan của môi trường kinh doanh quốc tế
a) Xu hướng thay đổi của mạng lưới sản xuất điện tử toàn cầu
Chuỗi cung ứng toàn cầu là mạng lưới bao gồm trong đó có mỗi liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp trên phạm vi toàn cầu, liên kết các chi nhánh, các đại lý và các nhà cung cấp trong các hoạt động sản xuất, phân phối,… Chiến lược phát triển cơ bản của chuỗi cung ứng toàn cầu là cung cấp những phương tiện hiện đại, tiếp nhận các nguồn lực với chi phí thấp, năng lực công nghệ và tri thức ở trình độ cao để nâng cao lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị chuỗi Chuỗi cung ứng toàn cầu là mô hình tổ hợp các tổ chức sản xuất phân tán theo địa lý, phục vụ mục tiêu tăng trưởng dựa vào các trung tâm sản xuất được chuyên môn hóa Xu hướng sản xuất theo mô hình chiều dọc trong ngành công nghiệp điện tử với mức độ chuyên môn hóa cao đã được hình thành
từ sự bùng nổ nền kinh tế mới tại Mỹ Xu hướng sản xuất này đã phát triển hai hình thức thiết lập các quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau: (1) hình thành các nhà cung cấp theo hợp đồng; (2) quá trình M&A
b) Xu hướng phát triển hoạt động thuê ngoài
Vào đầu thập niên 1990, mô hình quản lý của doanh nghiệp xây dựng theo hướng linh hoạt, được khởi đầu từ Mỹ, lan sang châu Âu vào cuối 1995 và phát triển sang Nhật vào đầu 1998 Để thực hiện được điều này, quy trình thuê ngoài được thực hiện bằng việc đưa hoàn toàn các công việc sản xuất ra khỏi doanh nghiệp và chỉ giữ lại các khâu chủ yếu là nghiên cứu (R&D), thiết kế và marketing do sự thay đổi liên tục
về mẫu mã và tính năng của các sản phẩm như trong lĩnh vực hàng điện tử và công nghệ thông tin khiến doanh nghiệp không thể cùng lúc đảm nhiệm tất cả các khâu từ nghiên cứu đến sản xuất, đến tung ra thị trường Như vậy, việc quản lý sản xuất được giao cho doanh nghiệp khác phụ trách Khác với việc gia công trước đây, doanh nghiệp đảm nhận việc sản xuất nằm trong khuôn khổ của “Co-Contracing” (cùng tiến hành hợp đồng)
Trang 29Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Một góc độ khác, chi phí cho việc hoàn thành từng công việc có sự chênh lệch nhất định giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển, đặc biệt là chi phí nhân công Những ngành nghề sử dụng nhân công nhiều như lắp ráp, lập trình… hoạt động thuê ngoài là chiến lược giảm chi phí mà nhiều doanh nghiệp sử dụng Và để đảm bảo chất lượng như mong đợi, doanh nghiệp thường đưa chuyên viên của mình đến tại đơn vị cung cấp hoạt động thuê ngoài để kiểm soát Để phát triển bền vững hơn, khi xác định được đối tác lâu dài, họ hỗ trợ phương pháp quản lý, đào tạo con người… cùng nhau chia sẻ những khó khăn, thuận lợi Các công ty mẹ ở các nước phát triển chỉ tập trung vào khâu tiếp cận thị trường và khách hàng để tìm hiểu những giá trị đòi hỏi, điều tra, nghiên cứu các phương án, phân phối, cung ứng; còn việc sản xuất, họ sử dụng dịch vụ thuê ngoài để tận dụng chi phí nhân công tương đối thấp ở các nước đang phát triển Theo điều tra của một số cơ quan nghiên cứu thị trường quốc tế, 85% các lãnh đạo của tập đoàn lớn trên thế giới chuyên về lĩnh vực thông tin
và điện tử có xu hướng chuyển các cơ sở sản xuất của họ sang thuê ngoài và đến năm
2010, con số ấy có thể lên đến 555 tỷ USD
c) Hệ thống phân công lao động quốc tế mới
Toàn cầu hóa tạo ra một cấu trúc mới cho quá trình phát triển – cấu trúc mạng kinh tế toàn cầu Trong mạng này, mỗi nền kinh tế quốc gia, mỗi chủ thể phát triển chỉ là một bộ phận hữu cơ, một “vùng lãnh thổ” hay một mắt xích của mạng Trong mạng toàn cầu, biên giới quốc gia không còn là giới hạn quy định không gian phát triển của các chủ thể kinh tế Giống như trước đây, các quá trình sản xuất cụ thể vẫn được thực hiện ở từng quốc gia Điểm khác biệt là ở chỗ các quá trình đó diễn ra trên
cơ sở kết nối mạng toàn cầu và bị chi phối ngày càng mạnh bởi các quy tắc, luật lệ toàn cầu Đây là một hình thái cấu trúc mới của nền kinh tế thế giới hiện đại Nó dựa vào bộ khung là hệ thống phân công lao động quốc tế mới: phân công trong mạng lưới toàn cầu và hình thành một mạng lưới toàn cầu Thế giới đang chuyển từ hình thái phân công lao động giữa các doanh nghiệp thuộc những quốc gia khác nhau, chủ yếu diễn ra trong phạm vi một quốc gia sang hình thái phân công lao động theo chuỗi, dựa trên lợi thế so sánh toàn cầu Sự chuyển biến này được dẫn dắt bởi quá trình tự
do hóa thương mại và đầu tư toàn cầu của các công ty, đóng vai trò chính là các MNC,
Trang 30Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
TNC Nguyên lý chi phối hoạt động của hệ thống phân công lao động này là nguyên
lý chuỗi cung ứng
Sự phát triển các hoạt động FDI trên quy mô toàn cầu ngày càng gia tăng vai trò của các công ty xuyên quốc gia như là một lực lượng đóng vai trò then chốt trong việc kiến tạo, duy trì và thúc đẩy hoạt động của chuỗi Bản thân mỗi MNC, TNC cấu thành một mạng toàn cầu, là tổ hợp của các chuỗi giá trị gia tăng do nó tổ chức Mạng lưới của các MNC, TNC có chức năng kết nối các thị trường địa phương và hoạt động sản xuất địa phương vào hệ thống toàn cầu, cung cấp những điều kiện cơ bản để mỗi quốc gia và doanh nghiệp tham gia mạng lưới thành công
Lợi thế mà các TNC mang lại cho các quốc gia là rất lớn Quốc gia nào tận dụng được những lợi thế này sẽ tạo được những bước nhảy mạnh mẽ trong quá trình phát triển công nghiệp điện tử nói riêng và nền kinh tế nói chung Có thể thấy điều này qua những trường hợp cụ thể của Malaysia, Trung Quốc Với Malaysia, các TNC của Nhật Bản đã đóng vai trò lớn trong việc thúc đẩy Malaysia thành một cường quốc vi mạch điện tử Tương tự ở Trung Quốc là vai trò của Intel, IBM, Motorola,…trong việc tạo lập các cơ sở để nền kinh tế quốc gia này phát triển công nghiệp điện tử
mô, mức độ thịnh vượng và đặc tính tiêu dùng gồm cả trong nước và xuất khẩu; (3) Chiến lược, cấu trúc, mức độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước Các doanh nghiệp có chiến lược, cơ cấu phù hợp với các định chế, chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường cạnh tranh trong nước cao hơn sẽ có năng lực cạnh tranh quốc
tế mạnh hơn; (4) Các ngành công nghiệp có liên quan và hỗ trợ bao gồm các nhà cung cấp các sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ
b) Môi trường chính sách quốc gia
Chính sách thu hút FDI: FDI có vai trò quan trọng đối với sự phát triển ngành
công nghiệp điện tử FDI chủ yếu được thực hiện qua các TNC trong ngành công
Trang 31Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
nghiệp điện tử Các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu, chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI cũng thiết lập sự liên kết theo chiều dọc với các doanh nghiệp nội địa, trong đó các doanh nghiệp nội địa cung cấp các sản phẩm công nghiệp phụ trợ cho doanh nghiệp FDI Thông qua việc liên kết với các doanh nghiệp FDI, các doanh nghiệp nội địa có nhiều cơ hội tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Chuyển giao công nghệ thông qua FDI: Thông qua các doanh nghiệp FDI, các
doanh nghiệp trong nước cũng được tiếp cận với các công nghệ sản xuất hiện đại Trong công nghiệp điện tử, sở hữu các công nghệ hiện đại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất, đồng thời tạo cơ sở để di chuyển lên những công đoạn có giá trị gia tăng lớn hơn
Chính sách phát triển công nghệ thông tin: Phát triển công nghệ thông tin tạo
nền tảng tăng cường sự liên kết, hợp tác, chia sẻ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi Các chính sách của Chính phủ phát triển viễn thông và tiếp cận Internet có tác dụng cung cấp nhiều dịch vụ có chất lượng, chi phí thấp, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu tri thức công nghệ toàn cầu, từ đó tạo ra các tiền đề nâng cao năng lực cạnh tranh
Chính sách phát triển nguồn nhân lực: Ngành công nghiệp điện tử là ngành
sử dụng công nghệ cao, đòi hỏi đội ngũ lao động phải có trình độ và được đào tạo bài bản Trong dài hạn, đầu tư và khai thác nguồn vốn nhân lực là vấn đề quan trọng đối với việc phát triển ngành công nghiệp điện tử Nguồn nhân lực sẽ là động lực phát triển cho ngành công nghiệp hiện đại, thúc đẩy sự tham gia vào chuỗi cung ứng của ngành
c) Năng lực của các đối tượng tham gia
Năng lực của các doanh nghiệp của một quốc gia sẽ thể hiện năng lực tham gia của quốc gia đó trong chuỗi cung ứng toàn cầu Năng lực của doanh nghiệp thể hiện
ở những khía cạnh như trình độ công nghệ, quy mô sản xuất, trình độ lao động,… Nếu doanh nghiệp có năng lực tốt, họ sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn để giành được những hợp đồng từ các công ty khác, qua đó thiết lập mối quan hệ tốt hơn với các mắt xích khác trong chuỗi
Trang 32Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Tóm tắt Chương 1
Trong Chương 1, Tác giả đã tổng quát các lý thuyết cơ bản về chuỗi cung ứng,
ngành công nghiệp điện tử, chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử và mô hình
tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử Nội dung trọng tâm của
Chương 1 đề cập về mô hình tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử Ở
phần này, Tác giả đề cập sâu tới các loại hình tham gia vào chuỗi cung ứng ngành
công nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của quốc gia vào chuỗi cung
ứng ngành công nghiệp Đây chính là hai lý thuyết chính để làm cơ sở phân tích sâu
hơn về sự tham gia của Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc ở trong Chương 2 cũng như
phân tích sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi cung ứng điện tử ở Chương 3
Trang 33Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
CHƯƠNG 2 KINH NGHIỆM THAM GIA CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ Ở MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á 2.1 Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan
2.1.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Thái Lan
Ngành công nghiệp điện tử Thái Lan bắt đầu phát triển từ giữa những năm 50 của thế kỷ trước với sự việc thành lập doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên là Thanin Company Sau những chính sách của Chính phủ Thái Lan ban hành nhằm phát triển cơ sở hạ tầng ngành ngành điện năm 1959, công nghiệp điện và điện tử ở Thái Lan có sự phát triển nhanh chóng Tính từ năm 1960 tới nay, sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử ở Thái Lan được chia thành 5 giai đoạn: Giai đoạn 1 (1960 – 1971): sản xuất thay thế nhập khẩu; Giai đoạn 2 (1972 – 1985): sản xuất hướng tới xuất khẩu; Giai đoạn 3 (1986 – 1992): sự mở rộng công nghiệp; Giai đoạn 4 (1993 – 1997): sự phát triển của công nghiệp hộ trợ; Giai đoạn 5 (1998 – nay): nâng cấp cơ
sở hạ tầng công nghiệp (Somrate Komolavanij, 2008)
Bảng 2.1 Số lượng doanh nghiệp ngành điện tử Thái Lan
theo vốn đăng ký và loại hình doanh nghiệp năm 2006
Loại hình doanh nghiệp < 50 50 – 200 >200 Tổng
1 100% vốn nội địa 309 44 21 374
2 Liên doanh 112 76 46 234
3 100% vốn nước ngoài 98 68 67 233
Nguồn: EEI Thái Lan, 2007
Ngành công nghiệp điện tử Thái Lan bao gồm các nhà lắp ráp và các nhà cung cấp phụ tùng linh kiện Trong số các nhà cung cấp thì chiếm phần lớn là các công ty liên doanh Những công ty này sản xuất sản phẩm vừa đáp ứng nhu cầu nội địa vừa xuất khẩu ra thị trường bên ngoài Theo số liệu của EEI Thái Lan, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ trong ngành điện tử (doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 50 triệu Bạt) là
Trang 34Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
các doanh nghiệp nội địa, trong khi các doanh nghiệp có lượng vốn đăng ký trên 200 triệu Bạt lại chiếm ưu thế bởi các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Tính đến năm 2012, Thái Lan có khoảng 400.000 công nhân làm việc trong ngành Điện và Điện tử Đội ngũ kỹ sư có khoảng 152.000 người và mỗi năm có khoảng 20.000 sinh viên ngành kỹ thuật tốt nghiệp (Thailand BOI, 2013)
Các sản phẩm điện tử xuất khẩu chủ lực của Thái Lan là ổ đĩa (HDD) và mạch tích hợp Trong năm 2011, giá trị xuất khẩu ổ đĩa và mạch tích hợp chiếm tương ứng khoảng 34% và 26% trong tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử của Thái Lan (nguồn Thai Electrical and Electronics Institute) Thái Lan được biết đến như quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu ổ đĩa, chiếm khoảng 40 – 45% thị phần sản phẩm
ổ đĩa trên thế giới (nguồn Thailand Board Of Investment)
Với những chính sách khuyến khích đúng đắn cho phát triển công nghiệp điện
tử, Thái Lan đã xây dựng được một ngành công nghiệp điện tử có tính cạnh tranh trên toàn cầu và có một vị trí quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử thế giới Để phát triển ngành công nghiệp điện tử, Thái Lan đã ban hành những chính sách để thu hút vốn đầu tư FDI Các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó nổi bật nhất là Nhật Bản, đã tích cực đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử Thái Lan để tận dụng những ưu đại mà Chính phủ Thái Lan đưa ra
2.1.2 Những chính sách phát triển chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan
2.1.2.1 Chú trọng thu hút FDI vào công nghiệp điện tử
Đối với Thái Lan, FDI là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên sự tăng trưởng, phát triển cho nền kinh tế nói chung và ngành công nghiệp điện tử nói riêng Hiểu được vai trò quan trọng của FDI, Thái Lan đã có những chính sách nhằm thu hút FDI đầu tư vào trong nước Năm 1959 Thái Lan thành lập Bộ Đầu tư, và đến năm 1960
đã ban hành Luật Đầu tư Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, Bộ Đầu tư thực hiện các chính sách khuyến khích và hỗ trợ như giảm thuế đánh vào hàng nhập khẩu dùng cho sản xuất sản phẩm điện tử xuất khẩu, nới lỏng quản lý đối với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn 1986 – 2001, Thái Lan đã thu hút 4,5 tỷ USD đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử (UNCTAD, 2005) FDI không chỉ đóng
Trang 35Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn tiền cho đầu tư phát triển ở Thái Lan
mà còn góp phần thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, dây chuyền sản xuất Song song với việc thu hút FDI, Thái Lan cũng có chính sách để định hướng sự phân bổ FDI cân đối giữa các khu vực Để đạt được sự cân đối trong đầu tư, Chính phủ Thái Lan đã điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo mức độ ưu đãi cho từng vùng (từ vùng
1 đến vùng 3) Ở các vùng khác nhau, các nhà đầu tư sẽ được hưởng những ưu đãi, khuyến khích khác nhau Điều này giúp tạo sự cân đối về đầu tư giữa các vùng, là cơ
sở cho sự phát triển bền vững trong dài hạn
2.1.2.2 Thành lập cơ quan chuyên trách
Viện Điện và Điện tử Thái Lan: Năm 1998, Viện Điện và Điện tử được thành
lập bởi Bộ Công Nghiệp như là một cơ quan độc lập với mục đích phục vụ lợi ích chung cho ngành điện và điện tử Một số chức năng như việc thiết lập các chính sách cho ngành, dự thảo ngân sách và các dịch vụ dành cho các doanh nghiệp tư nhân đã được chuyển từ Bộ Công Nghiệp sang Viện Điện và Điện tử
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của Cơ quan Chiến lược và Khoa học công nghệ
Quốc gia Thái Lan
Nguồn: Hisami Mitarai, 2005
Vai trò của Viện Điện và Điện tử: (1) thúc đẩy ngành điện và điện tử của Thái Lan phát triển; (2) tạo cầu nối giữa khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước cũng như phối kết hợp lại ích từ việc hợp tác giữa các công ty tư nhân với nhau Nguồn kinh phí cho hoạt động chính của Viện Điện và Điện tử đến từ các khoản phí từ việc kiểm
Ủy ban khoa công nghệ quốc gia
Văn phòng
trung tâm
Trung tâm nghiên cứu điện tử và máy tính quốc gia
trung tâm di truyền và công nghệ sinh học quốc gia
Trung tâm công nghệ vật liệu quốc gia
Trung tâm công nghệ Nano quốc giaTiểu ban kiểm toán triển khoa học công nghệ và Tiểu ban quản lý quỹ phát
quản lý nhân sự
Trang 36Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
tra và cấp giấy xác nhận chất lượng cho sản phẩm điện, điện tử của các doanh nghiệp; các khóa đào tạo và tập huấn kỹ thuật; các dịch vụ tư vấn
Chức năng của Viện Điện và Điện tử Thái Lan: (1) Cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất, công nghệ và hỗ trợ bán hàng; (2) Tạo một khung hợp tác giữa các ngành do Nhà nước quản lý và các ngành do tư nhân quản lý với các ban ngành liên quan ở Thái Lan và các nước khác; (3) Nghiên cứu về việc ban hành, thiết lập các chính sách và chiến lược cho ngành điện và điện tử dựa trên dự thảo của các kế hoạch phát triển cho ngành này
Cơ quan Chiến lược Khoa học và Công nghệ Quốc gia: Việc phát triển khoa
học và công nghệ quốc gia được Chính phủ Thái Lan dành nhiều sự quan tâm Trong giai đoạn những năm cuối thập niên 90, khi các trường đại học ở Thái Lan vẫn chưa thể đảm nhận được trách nhiệm trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ, thì yêu cầu phải hình thành các viện chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ này Năm 1996 Cơ quan Chiến lược Khoa học và Công nghệ được thành lập dưới sự ủng
hộ của Bộ Khoa học và Công nghệ Đây là tiền đề để Chính phủ Thái Lan thực hiện
Kế hoạch Chiến lược Khoa học và Công nghệ Quốc gia trong giai đoạn tiếp theo từ
2004 – 2013, trọng tâm nhắm vào việc hình thành mạng lưới khoa học, công nghệ và xúc tiến việc hợp tác giữa các cơ quan tư nhân và Nhà nước bao gồm các công ty sản xuất, các nhà cung cấp dịch vụ, các cơ quan tài chính, cơ quan giáo dục,… Người ta đặt nhiều hy vọng vào trung tâm nghiên cứu khoa học này như là một trung tâm nghiên cứu và phát triển trong việc hỗ trợ chính sách khoa học và công nghệ của quốc gia Ở trung tâm này, lĩnh vực về điện tử và máy tính là một trong những lĩnh vực chính mà cơ quan này đầu tư nghiên cứu và phát triển
2.1.2.3 Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ
Thái Lan đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ thông qua việc Chính phủ ban hành nhiều chính sách về ưu đãi, khuyến khích các dự án về phát triển khoa học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các dự án R&D Chính phủ còn thiết lập chương trình hỗ trợ R&D sản phẩm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để nâng cao năng lực kỹ thuật công nghệ, thông qua các viện nghiên cứu phát triển cung cấp công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuậ các nhà sản xuất linh phụ kiện Chính phủ cũng tạo điều kiện cho các hoạt động R&D các sản phẩm mới bằng ưu đãi cho vay với lãi suất
Trang 37Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
thấp Nhờ đó, các doanh nghiệp có cơ hội có những sản phẩm mới, chất lượng tốt hơn
để phát triển thương hiệu và bản quyền riêng, nâng cao tính cạch tranh trên thị trường
2.1.2.4 Tạo sự liên kết mật thiết với các TNC
Các TNC luôn là những công ty có ưu thế vượt trội về vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý Tận dụng được những lợi thế trên sẽ mang lại những lợi ích to lớn đối với sự phát triển không chỉ một ngành mà còn là sự phát triển của cả nền kinh tế Liên kết chặt chẽ với các TNC là một cơ hội lớn và rộng mở giúp cho các quốc gia tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu Thái Lan đã tiến hành việc này thông qua Ban kết nối phát triển công nghiệp (BUILD) được thành lập bởi BOI Thái Lan BUILD đã thu hút được các TNC nổi tiếng trong công nghiệp điện tử như Hitachi, Toshiba, IBM, Fujitsu, Canon, Sony tham gia làm thành viên Những cố gắng của BUILD đã tăng cường mối quan hệ giữa các nhà sản xuất và nhà phân phối, đồng thời thúc đẩy hoạt động sản xuất và chuyển giao công nghệ giữa các thành viên BUILD còn tổ chức các khóa học để nâng cấp công nghệ và tiêu chuẩn sản xuất cho các SME
2.1.3 Thực trạng tham gia vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Thái Lan
Ngành công nghiệp điện tử Thái Lan là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử thế giới Trong những thập kỷ gần đây, công nghiệp điện tử Thái Lan không ngừng phát triển và mở rộng Những năm gần đây, Thái Lan đang được xem như là quốc gia dẫn đầu trong ngành công nghiệp điện tử khu vực Đông Nam Á
2.1.3.1 Vị trí của Thái Lan trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử
Hiện tại, Thái Lan tham gia chủ yếu vào công đoạn sản xuất linh kiện, hợp phần trong chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử, đặc biệt là các hợp phần lưu trữ dự liệu (data storage components) sử dụng cho máy tính và điện thoại thông minh (APEC, 2013, tr.16) Các doanh nghiệp điện tử Thái Lan do đi sau về công nghệ nên chủ yếu đóng vai trò là các CM cho những hãng điện tử toàn cầu
2.1.3.2 Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu
Theo thống kê của World’s Richest Countries, trong năm 2014, giá trị xuất khẩu thiết bị điện tử của Thái Lan đạt 30,6 tỷ USD, chiếm 13,6% tổng giá trị xuất khẩu
Trang 38Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
năm 2014 của Thái Lan, và là nhóm hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 trong tổng giá trị xuất khẩu Trong khi đó, giá trị nhập khẩu 38,1 tỷ USD, chiếm 16,7% tổng giá trị nhập khẩu Thống kê chi tiết tại Observatory of Economic Complexity năm 2014 cho thấy, nếu tính giá trị xuất khẩu, nhập khẩu theo sản phẩm thì sản phẩm máy tính
có giá trị xuất khẩu lớn nhất và chiếm 8,8% tổng giá trị xuất khẩu Trong khi giá trị nhập khẩu máy tính đứng thứ 5 và chiếm 2,3% tổng giá trị nhập khẩu
Biểu đồ 2.1 Giá trị xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm điện tử của Thái Lan
giai đoạn 2007 – 2011
Nguồn: Thailand BOI
Theo tổng hợp của Thailand Board of Investment, giá trị xuất khẩu các sản phẩm điện tử của Thái Lan từ 2007 tới 2011 đều trên 25 tỷ USD Trong năm 2011, tổng giá trị kim ngạch thương mại của sản phẩm điện tử đạt khoảng 56 tỷ USD, tăng 10% so với năm 2007, trong đó tổng giá trị xuất khẩu là gần 31 tỷ USD
Trong năm 2006, về giá trị xuất khẩu, Thái Lan xếp thứ 14, chiếm 1,7% trong tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử của toàn thế giới Về nhập khẩu, Thái Lan đứng thứ 15, chiếm 1,9% tổng giá trị xuất khẩu của toàn thế giới (Timothy J.Sturgeon
Trang 39Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Sự tham gia sâu vào chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử giúp Thái Lan có thị trường xuất khẩu rộng lớn trên thế giới Tính đến năm 2014, Thái Lan đã mở rộng thị trường xuất khẩu tới 184 quốc gia và vùng lãnh thổ (International Trade Center) Các thị trường xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm điện tử của Thái Lan tập trung ở 6 khu vực chính, bao gồm khu vực ASEAN, EU, Mỹ, Trung Quốc và Hong Kong và Nhật Bản
Biểu đồ 2.2 Các thị trường xuất khẩu chính sản phẩm điện tử của Thái Lan
giai đoạn 2001 - 2014
Nguồn: International Trade Centrer
Các thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan không có nhiều sự biến động và tương đối đồng đều Khu vực ASEAN vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Thái Lan với tỷ trọng năm 2014 là trên 21% Giá trị xuất khẩu sản phẩm điện tử của Thái Lan vào Trung Quốc có xu hướng tăng trong giai đoạn 2001 – 2014, từ 3% năm 2001 lên đến 8,5% năm 2014
2.2 Kinh nghiệm tham gia chuỗi cung ứng ngành công nghiệp điện tử của Malaysia
2.2.1 Tổng quan ngành công nghiệp điện tử Malaysia
Hoa Kỳ Trung Quốc ASEAN EU
Nhật Bản Hong Kong Khu vực khác
Trang 40Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU Hoi Can Su FTU
Ngành công nghiệp điện tử Malaysia bắt đầu hình thành từ những năm đầu của thập niên 70 Điểm mốc này gắn với việc một số công ty quyết định xây dựng nhà máy tại khu mậu dịch tự do Penang trong năm 1972 Những năm đầu thập niên 70, nhờ những lợi thế về chi phí lao động thấp, đội ngũ kỹ sư và kỹ thuật viên giỏi, những kiến trúc sư tài giỏi, các nhà thầu cũng như một Chính phủ thân thiện, các nhà đầu tư ngoại đã tiến hành rót vốn FDI vào Malaysia Ngày càng có nhiều MNC trong ngành điện tử từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu, Đài Loan lựa chọn Malaysia làm nơi đặt nhà máy
Năm 2010, công nghiệp điện tử là ngành dẫn đầu trong ngành công nghiệp Malayisa, đóng góp đáng kể vào tổng giá trị ngành công nghiệp (31%, trong năm
2008 là 29,3%), chiếm tỷ lệ lớn trong tổng giá trị xuất khẩu, khoảng 48,7%, lao động trong ngành cũng chiếm tới 33,7% tổng lao động ngành công nghiệp (MIDA, 2011) Malaysia đã phát triển đáng kể đội ngũ chuyên gia trong hoạt động chế tạo thiết
bị bán dẫn, thiết bị điện tử tiêu dùng đầu trên (high-end consume electronics) và các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông Xuất phát điểm từ năm 1970, Malaysia chỉ có bốn công ty với 577 lao động, tổng giá trị sản phẩm tạo ra là 25 triệu Ringgit, đến năm 2011, tính chung công nghiệp điện và điện tử Malaysia đã có hơn 1.695 công ty với hơn 600.000 lao động, tổng vốn đầu tư hơn 108 triệu Ringgit (MIDA, 2011)
Ngành công nghiệp điện tử Malaysia bao gồm một số phân ngành chính là:
- Điện tử tiêu dùng: Phân ngành này bao gồm các nhà sản xuất Tivi LED, các
sản phẩm nghe nhìn như đầu đĩa Blu-ray, máy ghi âm, đĩa Mini, máy chơi trò chơi điện tử, máy ảnh kỹ thuật số Trong năm 2011, giá trị xuất khẩu các sản phẩm điện
tử tiêu dùng của Malaysia đạt khoảng 8,7 tỷ USD Phân ngành này có sự đóng góp đáng kể của các công ty nổi tiếng của Nhật Bản và Hàn Quốc Các công ty hàng đầu trong ngành cũng đang tiến hành các hoạt động R&D ở Malaysia để hỗ trợ thị trường toàn cầu và các nước châu Á
- Linh kiện, hợp phần điện tử: Sản phẩm thuộc ngành này bao gồm thiết bị bán
dẫn, linh kiện thụ động (passive component), mạch in (printed circuit), và các linh kiện khác của các thiết bị truyền thông, các chết nền (substrates) và các thiết bị kết nối (connectors) Trong phân ngành này, các thiết bị bán dẫn là sản phẩm chính và