1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ ABENOMICS TỚI NỀN KINH TẾ NHẬT BẢN

81 186 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có nhiều quan điểm khác nhau về Chính sách tài khóa nhưng những quanđiểm này đều có điểm chung là: nội dung chủ yếu của Chính sách tài khóa là nhữngchủ trương, quan điểm và phương thức q

Trang 1

CHÍNH SÁCH KINH TẾ ABENOMICS TỚI NỀN KINH TẾ

NHẬT BẢN

Các phần đã sửa chữa bổ sungChương 1:

- Sửa lại tiêu đề 1.1 "Khái niệm CSTK" thành "Định nghĩa CSTK"

- Bổ sung diễn giải cho các sơ đồ 1.4, 1.5

Chương 2:

- Việt hóa 1 số bảng biểu có chữ tiếng Anh

- Sửa tiêu đề 2.1.2 "Những thuận lợi khó khăn" thành "Những khó khăn thách thức cho CP NB trong việc phục hồi kinh tế"

-Thêm chú thích cho bảng 2.1

-Bổ sung diễn giải cho Sơ đồ 2.2

-Sửa lại tiêu đề 2.4 thành "Một số kết quả thực nghiệm của các nhà nghiên cứu"

- Mục 2.4.1: Bổ sung diễn giải về tác động của thuế ở mục 2.4.1, tái khẳng định tăng thuế có thể gây bất lợi trong ngắn hạn nhưng là biện pháp cần thiết cho dài hạn

- Mục 2.4.1: Bổ sung giải thích về ưu điểm của thuế tiêu dùng

Chương 3:

- Mục 3.2 sửa từ “Những vấn đề tồn tại” thành “Những vấn đề còn hạn chế trong công tác điều hành chính sách tại VN”

- Bổ sung các giải pháp cho Việt Nam

Ngoài ra, bài viết đã bổ sung thêm

- Mục lục

- Danh sách bảng biểu, từ ngữ viết tắt

- Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 BOJ Bank of Japan Ngân hàng Trung ương

Nhật Bản

2 CPI Consumer Price Index Chỉ số giá tiêu dùng

4 GDP Gross domestic product Tổng sản phẩm nội địa

6 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế

10 TPP Trans – Pacific Partnership

Free Trade Agreement

Hiệp định đối tác xuyênThái Bình Dương

11 VAT Value Added Tax Thuế giá trị gia tăng

12 WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế

giới

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU - Chỉ có 2 loại thôi: Bảng và Hình.

Tất cả những gì không là Bảng thì là Hình

BẢNG BIỂU ĐỒ

SƠ ĐỒ

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tỷ lệ lạm phát với xu hướng tăng cao đã có nhữngtác động tiêu cực tới nền kinh tế Bên cạnh đó, nó cũng đặt ra những thách thức choviệc điều hành kinh tế vĩ mô, với mục đích kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ

mô, duy trì tăng trưởng kinh tế một cách bên vững Trong những chính sách có tácđộng mạnh mẽ tới nền kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa luôn đóng vai trò quantrọng và là một trong những công cụ quyết định lớn đến việc quản lý và điều tiếtnền kinh tế của Chính phủ

Các chính sách điều hành của Chính phủ đã có những tác dụng nhất định trongviệc kiềm chế lạm phát, tuy nhiên hiệu quả của Chính sách tài khóa còn chưa thểhiện rõ nét.Đặc biệt hiện nay khi Việt Nam đã gia nhập WTO nên nền kinh tế trongnước ngày càng chịu nhiều tác động của tình hình kinh tế chính trị thế giới và việcthực hiện các cam kết WTO

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có rất nhiều ý kiến khácnhau về chính sách tài khóa, đặc biệt là về vấn đề chi tiêu công không hiệu quả.Để

có cái nhìn khách quan hơn về hiệu quả của Chính sách tài khóa, em quyết địnhchọn đề tài “Tác động của Chính sách tài khóa trong Chính sách kinh tế Abenomicstới nền kinh tế Nhật Bản”

Có nhiều quan điểm khác nhau về Chính sách tài khóa nhưng những quanđiểm này đều có điểm chung là: nội dung chủ yếu của Chính sách tài khóa là nhữngchủ trương, quan điểm và phương thức quản lý thu-chi Ngân sách Nhà nước củaChính phủ nhằm tác động tới nền kinh tế, tác động của thuế suất.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của khoá luận nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản củaChính sách tài khóa, tác động của Chính sách tài khóa dưới thời Chính quyền thủtướng Nhật Bản Shinzo Abe tới nền kinh tế Nhật Bản, đồng thời đánh giá hiệu quả

sử dụng Chính sách tài khóa tại Việt Nam trong thời gian qua Trêncơ sở đó khoá

Trang 6

luận đưa ra những định hướng và giải phápnhằm điều hành Chính sách tài khóa tạiViệt Nam.

3 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sửdụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng và duy vậtlịch sửcùng với các phương pháp nghiên cứu tổng hợp: phương pháp thống kê,phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, khái quát đểrút ra nhận định, đánh giá

và kết luận.Thêm vào đó, khóa luận kết hợp sử dụng bảng biểu, đồ thị… để trìnhbày thông tin và phân tích nhằm tìm ra các xu hướng, đặc điểm biến động của hiệntượng

4 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu:

+ Kinh tế Nhật Bản và Chính sách tài khóa dưới thời thủ tướng Shinzo Abe: tìnhhình, xu hướng,các kinh nghiệm rút ra

+ Kinh tế Việt Nam và các Chính sách tài khóa đã ban hành: tình hình, xu hướng,các giải pháp phát triển

- Thời gian:

+ Nhật Bản: từ sau Chiến tranh thế giới thứ II (1945) đến nay (cuối năm 2014).+ Việt Nam: từ sau thời kỳ Đổi Mới (1986) đến nay (cuối năm 2014)

5 Cấu trúc bài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luậnđược chia làm 3 chương:

Chương 1: Chính sách tài khóa và tác động của chính sách tài khóa tới nền kinh tế

Chương 2: Kinh tế Nhật Bản và chính sách tài khóa Abenomics

Chương 3: Bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng chính sách tài khóa tại Việt Nam

Mặc dù đã hết sức cố gắng song do hạn chế về kiến thức cũng như những khókhăn trong việc thu thập tài liệu, nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót

Vì vậy, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo đểkhóa luận được hoàn thiện hơn Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô

Trang 7

trường Đại học Ngoại Thương nói chung và các thầy cô giáo khoa Kinh tế và kinhdoanh quốc tế nói riêng đã cung cấp những kiến thức bổích cho chúng em suốt bốnnăm qua Đặc biệt em xin trân trọng cảm ơn PGS TS.Vũ Hoàng Nam đã tận tìnhhướng dẫn, giúp em hoàn thành khóa luận này.

Xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 05 năm 2015

Trang 8

CHƯƠNG 1 CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA TỚI NỀN KINH TẾ

1.1 Tổng quan về chính sách tài khóa

1.1.1 Định nghĩa chính sách tài khóa

Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về Chính sách tài khóa

Định nghĩa 1: Chính sách tài khóa là chính sách của Chính phủ, trong việcquản lý Ngân sách Nhà nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan tới chính sách thuế

và vay nợ của chính phủ (Wordnet Dictionary) Chính sách tài khóa thể hiện việchuy động nguồn tài chính/tiền (thu ngân sách) của Chính phủ để tài trợ cho cáckhoản chi thường xuyên và đầu tư từ ngân sách (chi ngân sách) theo quy định củapháp luật

Định nghĩa 2: Chính sách tài khóa là những chính sách của Chính phủ nhằmtác động lên việc phát triển của nền kinh tế, thông qua những thay đổi trong chi tiêuchính phủ và thuế

Định nghĩa 3: Chính sách tài khóa là các quan điểm, cơ chế và phương thứchuy động nguồn hình thành Ngân sách Nhà nước, các quỹ tài chính tập trung củaNhà nước, nhằm mục tiêu thực hiện các khoản chi của Ngân sách Nhà nước theo kếhoạch năm tài chính bao gồm: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, dự trữ quốcgia, trả nợ trong và ngoài nước

Tuy rằng có rất nhiều sự khác biệttrong các cách phân loại, định nghĩa,nhưng có thể thấy rằng, chính sách tài khóa tập đều đề cập đến vấn đề thu chi trongNgân sách Nhà nước,đó là các khoản thu về thuế, phí, lệ phí; các khoản chi ngânsách với hai hạng mục chính là chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

Tóm lại, có thể hiểu Chính sách tài khóa là các biện pháp kinh tế vĩ mô củachính phủ tác động đến hệ thống thuế và chi tiêu Nhằm đạt được những mục tiêuquan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia, như tăng trưởng kinh tế, giảm tỉ lệ thất

Trang 9

nghiệp, ổn định giá cả, giảm tỷ lệ lạm phát Như vậy, chính sách tài khóa sẽ dochính phủ thực hiện Và nó chỉ liên quan đến những thay đổi trong các chính sáchthuếvà chi tiêu chính phủ.

1.1.2 Các công cụ của chính sách tài khoá

1.1.2.1 Chi tiêu chính phủ

Chi tiêu chính phủ, hay còn được gọi là Chi tiêu công, là một công cụ đắc lựccủa Chính sách tài khóa Chi tiêu công là một trong những thuộc tính vốn có kháchquan của khâu tài chính công, phản ánh sự phân phối và sử dụng nguồn lực tàichính công của Nhà nước trong quá trình cung cấp hàng hóa công (Lý thuyết tàichính công, PGS.TS.Sử Đình Thành&TS.Bùi Thị Mai Hoài, 2006-80)

Dù thể chế chính trị ở các quốc gia trên thế giới có sự khác biệt, nhưng trênthực tế có hai lĩnh vực chi tiêu công hướng đến.Thứ nhất là chi tiêu công phục vụtrực tiếp cho phát triển kinh tế.Bao gồm nhiều khoản mục khác nhau và tất cả đềuliên quan trực tiếp đến việc thiết lập một nền tảng tốt hơn cho phát triển kinh tế.Khuvực chi tiêu công này góp phần nâng cao sản lượng của nền kinh tế

Bên cạnh các khoản chi vào đầu tư và phát triển, lĩnh vực thứ hai mà chi tiêucông hướng đến là khoản chi nhằm mục đích cải thiện và nâng cao đời sống củangười dân trong nền kinh tế Loại chi tiêu này được xem là chi tiêu tiêu dùng mặc

dù nó cũng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua việc nâng cao năng suất củalực lượng lao động trong xã hội

Các chính sách chi tiêu của chính phủ cũng hết sức đa dạng nhưng cũng cóthể chia làm hai phần chính là chi tiêu thường xuyên (chi lương cho công chức, chicho các hoạt động giáo dục, y tế, khoa học-công nghệ, an ninh-quốc phòng) và chiđầu tư phát triển (chi xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội)

1.1.2.2 Hệ thống thuế.

Có nhiều định nghĩa cũng như quan điểm khác nhau về thuế, nhưng có thểtóm lại thuế là những khoản thu bằng tiền có tính chất xác định, không hoàn trả trựctiếp cho các chủ thể nộp thuế (cá nhân, doanh nghiệp), bù đắp các khoản chi phí củaNhà nước và đóng góp thông qua con đường quyền lực nghĩa vụ nộp thuế

Trang 10

Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, góp phần làm giảm bộichi Ngân sách Nhà nước, công cụ quan trọng trong việc góp phần làm giảm lạmphát, ổn định kinh tế trật tự xã hội, phân phối lại thu nhập trong quốc gia

Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều dựa chủ yếu vào các nguồn thunội bộ là từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay nợ, viện trợ nước ngoài,bán và cho thuê tài nguyên quốc gia Tuy nhiên thực tế cho thấy các hình thức thungoài thuế có nhiều hạn chế, về điều kiện ràng buộc và thời hạn trả nợ Do vậy màthuế được coi là khoản thu quan trọng nhất bởi nguồn thu từ thuế mang tính chất ổnđịnh, không bị ràng buộc điều kiện và đặc biệt là khi nền kinh tế càng phát triển thìkhoản thu này càng tăng

Chính sách thuế được các Chính phủ đem ra không chỉ mục đích mang lạinguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, mà thông qua đó còn thực hiện mục đích kiểmtra, kiểm soát, định hướng phát triển kinh tế Chính phủ các nước sử dụng thuế nhưmột công cụ điều tiết và quản lý kinh tế vĩ mô rất quan trọng Thông qua thuế sẽkhuyến khích hoặc kìm hãm hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh

tế, mở rộng lưu thông trong và ngoài nước theo kế hoạch phát triển của từng giaiđoạn Từ đó thúc đẩy sự phát triển, tăng cường đầu tư và minh bạch hóa thị trường,giảm thiểu sự mất cân đối trong nền kinh tế của mỗi quốc gia

Có hai loại thuế là thuế trực và thuế gián thu nếu phân loại theo hình thức thuthuế Thuế trực thu là loại thuế mà đối tượng chịu thuế và nộp thuế là một Ví dụnhư thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài sản

Thuế gián thu là loại thuế mà người chịu thuế và người nộp thuế là khácnhau Ví dụ như thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT Các loạithuế này được nhà sản xuất, người bán hàng thu hộ và chúng sẽ được chuyển sangcho người tiêu dùng chịu Thuế này tạo khoảng chênh lệch giữa số tiền chi trả chonhà sản xuất và giá bán từ đó chuyển sức mua khỏi người tiêu dùng cuối cùng

Một hệ thống thuế ổn định, có hiểu quả tác dụng lên nền kinh tế vĩ mô phảiđảm bảo sự thuận tiện, tính công bằng, tính kinh tế và hiệu quả xã hội mang lại

Hệ thống thuế hiện nay tại mỗi quốc gia rất đa dạng, bao gồm nhiều loại thuếkhác nhau và có tác động lên tất cả các hoạt động kinh tế và các giai đoạn trong quá

Trang 11

trình sản xuất kinh doanh.Vì vậy thuế trở thành công cụ đắc lực của Chính phủtrong việc điều tiết hoạt động kinh tế xã hội, khuyến khích đầu tư phát triển sản xuấtkinh doanh Nhằm góp phần thực hiện hướng dẫn sản xuất tiêu dùng, bảo hộ sảnxuất trong nước, tạo điều tiện cho hàng hóa quốc gia cạnh tranh trên thị trườngngoài nước, phân phối thu nhập tạo công bằng xã hội, thực hiện các mục tiêu ansinh.

Tuy nhiên để việc sử dụng thuế như một công cụ điều chỉnh kinh tế vĩ mômột cách hiệu quả thì mỗi Chính phủ cần phải tăng cường công tác kiểm tra, quản

lý thu thuế, tăng nguồn thi nhập phục vụ chi thường xuyên, cân đối Ngân sách Nhànước

1.2.2.3 Công cụ tài trợ cho thâm hụt ngân sách

Ngoài chi tiêu chính phủ và thuế, chính sách tài khóa còn kể đến các công cụtài trợ cho thâm hụt ngân sách hay còn gọi là tài trợ nợ công

Trong nền kinh tế, có ba trạng thái của cán cân ngân sách chính phủ (T – G)với T là thuế và G là chi tiêu chính phủ, không bao gồm các khoản vay và trả nợ:

Ngược lại, với trường hợp ngân sách Nhà nước thâm hụt (T < G), thì chínhphủ sẽ phải đi vay để tài trợ cho phần thâm hụt đó Chính phủ có thể vay bằng cáchphát hành trái phiếu, tín phiếu chính phủ tức là vay trong nước hoặc ngoài nước,bán và cho thuê tài nguyên quốc gia, bán cổ phần trong các doanh nghiệp nhà nước,thậm chí có thể in tiền Tuy nhiên mỗi quyết định đều có những lợi ích cũng như

Trang 12

thiệt hại đi kèm Vay nợ trong và ngoài nước sẽ phải chịu trả theo lãi suất, rủi robiến động tỷ giá hối đoái, các điều kiện chính trị ràng buộc Bán hoặc cho thuê tàinguyên quốc gia sẽ tổn hại đến nguồn lực và ảnh hưởng lâu dài đến tương lai.Inthêm tiền gây rủi ro lạm phát và bất ổn nền kinh tế.

Sau việc lựa chọn kênh tài trợ thâm hụt, thì Chính phủ cần phải cân nhắc đếnvấn đề sử dụng nguồn tài trợ đó như thế nào cho hiệu quả Nguyên tắc khóa vàng(golden rule) chỉ ra chính phủ không nên đi vay để chi tiêu mà phải dùng cho đầu tưphát triển Tức là việc đi vay để chi tiêu sẽ không thể tạo ra nguồn tiền cho việc trả

nợ trong tương lai, ảnh hưởng đến tính an toàn của nợ công Thay vào đó, việc đivay chỉ được dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn hoặc ítnhất là cũng tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế

Việc chính phủ tài trợ thâm hụt rất quan trọng trong những thời kỳ nền kinh

tế bị suy thoái và niềm tin của người tiêu dùng cũng như giới đầu tư bị suy giảm.Chính sách tăng chi tiêu và chấp nhận thâm hụt ngân sách của chính phủ sẽ khôngchỉ tạo ra tác động lan tỏa mà còn tạo dựng niềm tin cho người dân và cộng đồngdoanh nghiệp Các lý thuyết kinh tế vĩ mô (đặc biệt là học thuyết của Keynes) cũngchứng minh rằng việc gia tăng chi tiêu chính phủ cũng sẽ giúp kích thích gia tăngsản lượng của nền kinh tế, tránh được tình trạng thất nghiệp

Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách thường là nguyên nhân gây ra tình trạng lạmphát Thâm hụt ngân sách và tài trợ thâm hụt cũng tạo ra tác động chènlấn (crowding out) đầu tư và tiêu dùng của khu vực tư nhân Tức là khi chính phủ

đi vay để tài trợ thâm hụt sẽ làm tăng nhu cầu vay vốn trên thị trường tài chính.Xét tình huống một nền kinh tế đóng, trong điều kiện giả định nguồn cung quỹcho vay (loanable funds) là giới hạn, việc chính phủ tăng nhu cầu vay mượn sẽ làmtăng lãi suất của nền kinh tế Lãi suất tăng lên sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu vay vốnđầu tư của khu vực doanh nghiệp cũng như nhu cầu vay mượn cho tiêu dùng củakhu vực hộ gia đình Người ta gọi đây là tác động chèn lấn của tài trợ thâm hụt.Việc chính phủ tăng chi tiêu cũng tạo ra tác động chèn lấn với cơ chế tương tự nhưtài trợ thâm hụt

Trang 13

Sơ đồ 1.1: Tác động chèn lấn của chi tiêu chính phủ và tài trợ thâm hụt

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Ngoài tác động chèn lấn, việc chính phủ tăng chi tiêu và tài trợ thâm hụtcũng chưa hẳn sẽ giúp gia tăng tổng cầu của nền kinh tế Khi chính phủ tăng cườngvay mượn trong hiện tại thì sẽ phải tìm cách tăng thuế trong tương lai để trả nợ.Việc tăng thuế trong tương lai chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến thu nhập khả dụng củangười dân trong tương lai và như vậy cũng sẽ ảnh hưởng đến khả năng chi tiêucủa dân chúng trong tương lai Như vậy ngay hiện tại thì người dân đã bắt đầugiảm chi tiêu và tăng tiết kiệm nhằm có tiền nộp thuế trong tương lai và bù lại phầnchi tiêu có thể sẽ giảm đi trong tương lai đó Nếu điều này xảy ra thì cầu tiêu dùngcủa khu vực hộ gia đình và kể cả cầu đầu tư của khu vực doanh nghiệp đã giảmngay trong năm hiện tại Như vậy, khoản chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ được

bù đắp bởi khoản sụt giảm trong chi tiêu của hộ gia đình và đầu tư của tư nhân.Đây chính là tương đương Ricardo (Ricardian Equivalence)

Hiện tượng chèn lấn đầu tư tư nhân như đã nói ở trên chỉ là chèn lấn mộtphần khi chúng ta xét trong một nền kinh tế đóng Trong một nền kinh tế mở thìviệc tăng chi tiêu chính phủ và tài trợ thâm hụt còn dẫn đến hiện tượng chèn lấnhoàn toàn thông qua các thay đổi về tỷ giá và cơ chế dịch chuyển của dòng vốnquốc tế

1.1.3 Phân loại chính sách tài khóa

Khi nói đến điều hành chính sách tài khóa, người ta thường nói đến các loạichính sách như chính sách tài khóa trung lập (neutral fiscal policy), chính sách tài

Giảm xuất khẩu ròng

Lên giá đồng nội tệ

Dòng vốn vào

từ bên ngoài

Giảm đầu tư khu vực tư nhânLàm tăng lãi

suất thựcTăng thâm hụt

ngân sách

Trang 14

khóa mở rộng (expansionary fiscal policy), và chính sách tài khóa thuhẹp(contractionary fiscal policy)

1.1.3.1 Chính sách tài khóa mở rộng

Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách tăng cường chi tiêu của chính phủthông qua mở rộng chi tiêu hoặc giảm bớt nguồn thu thuế hoặc kết hợp cả hai Việcnày sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếutrước đó có ngân sách cân bằng

1.1.3.2 Chính sách tài khóa trung lập

Chính sách tài khóa trung lập là chính sách cân bằng ngân sách, tức chi tiêucủa chính phủ hoàn toàn được tài trợ từ nguồn thu của chính phủ là thuế và nhìnchung là có tác động trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế

1.1.3.3 Chính sách tài khóa thu hẹp

Chính sách tài khóa thu hẹp là chính sách trong đó chi tiêu của chính phủ ít

đi thông qua việc tăng thu từ thuế hoặc giảm chi tiêu hoặc kết hợp cả hai Việc này

sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách ít đi hoặc thặng dư ngân sách lớn lên so với trước đó,hoặc thặng dư nếu trước đó có ngân sách cân bằng

Việc điều hành chính sách tài khóa theo hướng nào tùy thuộc vào quan điểmcủa từng chính phủ gắn với các bổi cảnh kinh tế vĩ mô cụ thể Có những chính phủtheo đuổi chính sách tài khóa trung lập, trong khi cũng có những chính phủ theođuổi các chính sách tài khóa mở rộng hoặc thu hẹp gắn với từng bối cảnh cụ thểcủa nền kinh tế vĩ mô

Trang 15

Sơ đồ 1.2: Chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu hẹp

Nguồn: fetp.edu.vn

Với mục đích ổn định nền kinh tế, chính sách tài khóa mà Chính phủ sử dụng

sẽ ảnh hưởng tới Ngân sách Chính phủ Chính sách tài khóa mở rộng làm tăng thâmhụt ngân sách, Chính sách tài khóa thắt chặt lại làm giảm thâm hụt ngân sách Chínhphủ Tuy nhiên với mỗi trạng thái của nền kinh tế mà Chính phủ không phụ thuộchoàn toàn vào chính sách tài khóa Cán cân ngân sách còn chịu ảnh hưởng bởi nhiềuyếu tố khác trong nền kinh tế thị trường Với những mức thuế và chi tiêu Chính phủkhác nhau mà ngân sách sẽ có ảnh hưởng khác nhau

Có thể phân biệt ba loại cán cân ngân sách:

- Cán cân ngân sách cơ cấu: cho biết mức độ sử dụng chính sách tài khoá

mở rộng của chính phủ Đây chính là cán cân ngân sách khi giả thiết sản lượng ởmức tiềm năng

- Cán cân ngân sách thực tế: chênh lệch giữa thu nhập từ thuế và chi tiêuchính phủ Chia thành các trạng thái thặng dư, thâm hụt và cân bằng ngân sách

- Cán cân ngân sách chu kỳ: phản ánh sự biến động theo chu kỳ của ngânsách chính phủ Được tính bằng chênh lệch giữa cán cân ngân sách thực tế và cáncân ngân sách cơ cấu

Khi ngân sách thâm hụt, chính phủ có thể sử dụng các biện pháp:

- Phát hành trái phiếu Chính phủ vay trong nước

Trang 16

- Bán và cho thuê tài nguyên, bán cổ phần công ty Nhà nước

- Vay nợ và viện trợ nước ngoài

Như phần trên đã đề cập thì mỗi biện pháo đều có tác động tiêu cực tới nềnkinh tế xã hội của quốc gia Ngân sách Chính phủ có thể không cần phải cân bằnghằng năm, song không nên kéo dài tình trạng thâm hụt ngân sách quá lâu, sẽ có tácđộng lớn tới việc giảm sản lượng quốc gia

1.2 Tác động của chính sách tài khóa tới nền kinh tế

1.2.1 Tác động của chính sách tài khóa đến tổng cầu

Trong nền kinh tế vĩ mô, mục đích cuối cùng mà chính sách tài khóa hướngđến là thực hiện việc quản lý tổng cầu (Aggregate Demand – AD) Tổng cầu là tổngsản lượng trong nước mà các tác nhân kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗimức giá

Chính sách tài khóa nhằm thực hiện mục tiêu kích cầu khi nền kinh tế lâmvào suy thoái và giảm cầu khi nền kinh tế phát triển quá nóng Theo kinh tế họcKeynes: chính sách tài khóa theo hướng quản lý tổng cầu có thể giữ nền kinh tế ởmức toàn dụng và đi theo đúng con đường tăng trưởng sản lượng tiềm năng

Thông thường khi nền kinh tế suy thoái thì chính phủ sẽ thực thi chính sáchtài khóa mở rộng và ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng thì chính phủ sẽ thực thichính sách tài khóa thu hẹp Điều hành chính sách tài khóa theo hướng này được gọi

là chính sách tài khóa nghịch chu kỳ (counter-cyclical fiscal policy) Ngược lại cũng

có những quốc gia điều hành chính sách tài khóa thuận chu kỳ (pro-cyclical fiscalpolicy), tức là khi nền kinh tế suy thoái thì thu hẹp tài khóa, còn khi nền kinh tếtăng trưởng nóng thì mở rộng tài khóa Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, ở các nướcphát triển thường chính sách tài khóa có tính nghịch chu kỳ, ngược lại ở các nướcđang phát triển thì chính sách tài khóa lại thường có tính thuận chu kỳ)

Trang 17

Sơ đồ 1.3: Chính sách tài khóa nghịch chu kỳ và thuận chu kỳ

AD = C + I + G + (X – IM)

Do vậy khi tác động tăng vào chi tiêu chính phủ sẽ tác động AD tăng T giảm

sẽ làm cho thu nhập khả dụng (Yd = Y – T) tăng, dẫn đến chi tiêu C tăng, và tácđộng tăng đến AD

T↓→ Yd↑→ C↑

Sơ đồ 1.4 thể hiện tác động của chính sách tài khóa mở rộng đến tổngcầu.Nền kinh tế ban đầu chi tiêu không đủ để mua toàn bộ mức sản lượng tiềm năng(Y*) Thu nhập thực tế Yo có thể tạo ra bởi số người ít hơn so với số người sẵnsàng làm việc Nền kinh tế có thất nghiệp chu kỳ do tổng cầu thấp Giả sử chính phủquyết định kích cầu thông qua tăng chi tiêu chính phủ Vì chi tiêu Chính phủ là một

Tăng G Giảm T (Mở rộng)

Kinh tế tăng trưởng (Y cao)

Tăng G Giảm T (Mở rộng)

Kinh tế suy giảm (Y thấp)

Giảm G Tăng T (Thu hẹp)

Trang 18

thành tố của tổng chi tiêu, nên tổng chi tiêu sẽ tăng một lượng tương ứng tại mỗimức thu nhập cho trước Điều này được biểu thị bằng sự dịch chuyển lên trên củađường tổng chi tiêu từ AE0 → AE1 Tại trạng thái cân bằng mới, mức thu nhập quốcdân đạt được là Y* Tăng chi tiêu chính phủ được khuyêch đại theo số nhân đếntổng chi tiêu và mức thu nhập cân bằng (Y* - Yo = m.∆G) Điều này có nghĩa sựthay đổi của thu nhập lớn hơn sự thay đổi của chi tiêu Chính phủ

Một phương án khác mà Chính phủ có thể sử dụng để kích cầu là giảm thuếsuất (T,t) Điều này sẽ làm tăng thu nhập khả dụng, do đó làm tăng tiêu dùng Trên

đồ thị đường tổng chi tiêu xoay lên phía trên tới AE2 và sản lượng cân bằng mớicũng đạt là Y*

Sơ đồ 1.4: Tác động của chính sách tài khóa mở rộng đến tổng cầu

Trang 19

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Trong trường hợp ban đầu nền kinh tế có tổng chi tiêu vượt quá năng lực sảnxuất hiện có như được thể hiện trong Sơ đồ 1.5 Sự hạn chế về phía cung ngăn cảnnền kinh tế mở rộng và giá cả sẽ tăng sốc Nền kinh tế đang nằm ở phần đường tổngcung rất dốc, gọi là phát triển quá nóng.Phản ứng chính sách cần thiết lúc này làChính phủ nên cắt giảm tổng cầu để kiềm chế lạm phát

Chính sách tài khóa thắt chặt lại tác động giảm đến tổng cầu

T↑→ Yd↓→ C↓

Giảm chi tiêu Chính phủ (G) sẽ trực tiếp là giảm tổng chi tiêu và làm dịchchuyển đường tổng chi tiêu xuống phía dưới từ AE0 → AE1 Trong khi đó tăng thuế(T) làm giảm thu nhập khả dụng (Yd = Y – T) của các hộ gia đình và họ sẽ tiêudùng (C) ít hơn, đường tổng chi tiêu sẽ xoay từ AE0 → AE2 Cả giảm chi tiêu vàtăng thuế đều làm đường tổng cầu dịch chuyển sang trái và cho phép nền kinh tếđến gần mức sản lượng tự nhiên hơn, kết quả lạm phát sẽ được kiềm chế

Trang 20

Sơ đồ 1.5: Tác động của chính sách tài khóa thắt chặt đến tổng cầu

Nguồn: Tác giả tổng hợp

1.2.2 Tác động của chính sách tài khóa đến lạm phát

Định nghĩa: Lạm phát là mức giá chung tăng liên tục trong một khoảng thờigian Lạm phát phản ảnh biến động giá, được đo lường bằng:

CPIt

pt

Dt

Trang 21

Nguyên nhân gây ra lạm phát bao gồm: thứ nhất là lạm phát do chính sáchtiền tệ, giá tăng lên do tăng cung tiền tệ nhiều hơn mức cầu tiền của nền kinh tế; thứhai là lạm phát do cầu kéo, tức là sự mất trạng thái cân bằng giữa giữa tổng cung vàtổng cầu hàng hoá và dịch vụ; thứ ba là lạm phát do chi phí đẩy, điều này xảy ra khi

có cú sốc giá, đặc biệt là khi tăng giá đầu vào hàng hóa dịch vụ, tác động vào làmtăng chi phí sản xuất; một số nguyên nhân khác như lạm phát do sự mất cân đối về

cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá

Trong phạm vi bài nghiên cứu, tác giả chỉ xem xét đến tác động của chínhsách tài khóa đến lạm phát thông qua tiếp cận cung, cầu Theo cách tiếp cận này thìchính sách tài khoá ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Trongngắn hạn thì khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi sản lượng đang ở dưới mức tiềmnăng, thì sử dụng chính sách tài khoá mở rộng có thể giúp cho việc tăng sản lượng,kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà không ảnh hưởng đến mức giá

Ngược lại khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng thì chính sách tài khoá thắtchặt được sử dụng nhằm mục đích làm giảm tổng cầu và từ đó làm giảm tốc độ tănggiá (giảm lạm phát)

Tuy nhiên, tổng cung về dài hạn là đường thẳng đứng Đường tổng cungtrong dài hạn không phụ thuộc vào mức giá, do vậy khi nền kinh tế có sản lượngđang ở mức tiềm năng hoặc trên mức này thì việc các nhà hoạch định chính sách sửdụng chính sách tài khoá mở rộng (tăng chi tiêu và giảm thuế) sẽ không làm tăngsản lượng mà chỉ dẫn đến tăng giá Thực tế cho thấy rằng, các nhà chính sáchthường gặp khó khăn trong việc xác định thời điểm mức sản lượng đã vượt mứctiềm năng, để ra quyết định thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt

AD↑→ P↑→ ↑

AD↓→ P↓→ ↓

1.2.3 Tác động của chính sách tài khóa đến thất nghiệp

Sự tác động của chính sách tài khóa lên tổng cầu là nguyên nhân trực tiếp tácđộng đến tình trạng việc làm tại các quốc gia.Nếu như nền kinh tế càng phát triển

Trang 22

thì số việc làm tăng, tình trạng thất nghiệp giảm.Ngược lại, với tổng cầu thấp, việclàm giảm, thất nghiệp lại càng tăng.

Trong ngắn hạn, có sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp trước những sựbiến đổi của tổng cầu

Sơ đồ 1.6: Sự di chuyển đường Phillips (P-Curve) trước sự thay đổi của tổng cầu

Độ trễ chính sách bao gồm độ trễ trong và độ trễ ngoài Độ trễ trong có nghĩa

là khoảng thời gian từ khi vấn đề trục trặc của nền kinh tế vĩ mô được nhận diện chođến khi chính sách tài khóa can thiệp được hoạch định và được cơ quan có thẩmquyền thông qua Độ trễ ngoài là khoảng thời gian từ khi chính sách tài khóa đượcthông qua cho đến khi nó được triển khai và bắt đầu phát huy tác dụng Độ trễchính sách là một trong những lý do làm giảm tính hiệu lực của chính sách tài khóa.Điều này là bởi vì kể từ khi nhận diện được trục trặc cho đến khi chính sách được

Trang 23

thiết kế, thông qua, và triển khai có quá nhiều yếu tố làm cho tình hình thay đổi.Khi

đó, các chính sách dù được thiết kế tốt nhưng lại có thể không phù hợp với bối cảnh

và các trục trặc mới nảy sinh

1.3.2 Chính sách bình ổn tự động và chính sách tùy nghi

Đề cập về tính chủ động trong điều hành chính sách tài khóa, người ta chialàm hai loại gồm chính sách bình ổn tự động và chính sách tài khóa tùy nghi Chínhsách được xem là bình ổn tự động khi chính sách thuế và chi tiêu sẽ phụ thuộc vào

sự biến động của chu kỳ kinh tế Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi nền kinh tếtăng trưởng hay suy thoái Chẳng hạn, khi nền kinh tế tăng trưởng nguồn thu thuếcủa chính phủ cũng sẽ tăng lên trong khi nhu cầu chi tiêu hay quy mô của các góitrợ cấp của chính phủ cũng sẽ giảm đi Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thìnguồn thu thuế của chính phủ cũng sẽ bị suy giảm và nhu cầu trợ cấp của chính phủcũng sẽ tăng lên Trong khi đó, chính sách tài khóa là tùy nghi khi chính phủ sẽhành động nhằm thay đổi các chính sách thuế và chi tiêu mà không phụ thuộc vàochu kỳ kinh tế

1.3.3 Số nhân tài khóa

Chúng ta biết rằng một chính sách tài khóa mở rộng (tăng G hoặc giảm T) sẽgiúp đẩy đường tổng cầu sang phải Ngược lại, một chính sách tài khóa thu hẹp(giảm G hoặc tăng T) sẽ đẩy đường tổng cầu sang trái Đối với nhà hoạch địnhchính sách, họ cần phải biết thêm rằng với một chính sách tài khóa mở rộng hay thuhẹp nhất định sẽ làm đường tổng cầu dịch chuyển bao nhiêu thay vì chỉ là dịchchuyển sang phải hay sang trái Để biết được điều đó người ta sử dụng khái niệm sốnhân tài khóa

Sốnhân tài khóa (fiscal multiplier) là tỷ số của sự thay đổi GDP thực do thayđổi mang tính tự định trong chi tiêu hoặc thuế của chính phủ Khi chính phủ giatăng chi tiêu sẽ tạo ra doanh thu cho những doanh nghiệp sản xuất và cung ứnghàng hóa, dịch vụ cho chính phủ Doanh thu này sẽ chảy vào các hộ gia đình dướihình thức là tiền lương, tiền lãi, lợi nhuận, tiền thuê Sự gia tăng thu nhập khả dụngnày lại dẫn đến tăng chi tiêu tiêu dùng Tiếp đó, tăng chi tiêu tiêu dùng sẽ làm cho

Trang 24

các doanh nghiệp tăng được sản lượng và doanh thu, rồi lại dẫn đến một vòng tăngthu nhập và chi tiêu mới, và cứnhư vậy.

Tác động cuối cùng của chính sách tăng chi tiêu của chính phủ là làm chotổng thu nhập của nền kinh tế tăng lên một lượng thậm chí còn lớn hơn cả lượng chitiêu tăng thêm của chính phủ Người ta gọi đây chính là hiệu ứng của số nhân

Chúng ta có thể xác định được số nhân tài khóa này.Giả sử ban đầu chínhphủ tăng chi tiêu thêm 100 tỷ đồng Khoản đầu tư tăng thêm này sẽ làm tăng GDPthực thêm một lượng tương ứng là 100 tỷ đồng trong vòng đầu Nếu không có thuếthì 100 tỷ đồng này cũng chính là thu nhập khả dụng Nếu giả sử thuế suất là t thìthu nhập khả dụng lúc này sẽ là 100*(1 - t) Sau vòng 2, chi tiêu tiêu dùng tăngthêm sẽ bằng mức thu nhập khả dụng nhân với khuynh hướng tiêu dùng biên(MPC), tức bằng 100*(1 – t)* MPC Tương tự, mức gia tăng chi tiêu tiêu dùngvòng 3 sẽ bằng [100*(1 – t)*MPC]*[(1- t)*MPC] = 100*[(1 – t)*MPC]2

Có thể dễ dàng suy ra cho vòng 4, vòng 5, , vòng n

Như vậy, tổng của mức tăng GDP thực ( Y) sau n vòng sẽ là:

Y = 100*[1 + (MPC*(1 – t)) + (MPC*(1 – t))2+ (MPC*(1 – t))3+ (MPC*(1 –t))n]

Khi n →∞, ta có:

Trong đó, độ lớn của số nhân tài khóa sẽ là:

Giả sử MPC = 0,8 và thuế suất t =25% thì ta tính được độ lớn của số nhântài khóa sẽ m = 2,5 lần Điều này có nghĩa là khi chính phủ tăng chi tiêu thêm 100

tỷ đồng thì tổng sản lượng thực của nền kinh tế sẽ tăng lên 250 tỷ đồng

Trong trường hợp không có thuế, tức t = 0, thì số nhân chi tiêu chính phủ sẽ

có độ lớn là: > 2,5 lần trong trường hợp có thuế 25%

Điều này có nghĩa là trong trường hợp không có thuế thì số nhân chitiêu sẽ lớn hơn so với trường hợp có thuế

Trang 26

2.1 Tổng quan nền kinh tế Nhật Bản

2.1.1 Giới thiệu chung

2.1.1.1 Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã trải qua một khoảng thời gianphục hồi và tăng tưởng kinh tế nhảy vọt, trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sauHoa Kỳ vào năm 1967

Vào những năm 1960, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng với tốc độ cao hơn 10%một năm Sự tăng trưởng nhanh chóng này là nhờ: sự mở rộng đầu tư tư nhân vàonhà máy thiết bị, kết quả của tỷ lệ tiết kiệm cá nhân cao; sự dịch chuyển quy mô lớntrong tầng lớp lao động từ các ngành công nghiệp sơ cấp sang các ngành thứ cấp vàlực lượng lao động dồi dào nhờ tỷ lệ tăng dân số cao; và sự tiến bộ trong năng suấtlao động và sản lượng nhờ việc áp dụng và cải tiến khoa học công nghệ nướcngoài

Từ cuối thập niên 60 đến nửa đầu thập niên 70, các vấn đề xã hội phát sinhphản ánh mặt trái của nền kinh tế phát triển Chính quyền trong thời gian này tậptrung mục tiêu giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, đô thị và an sinh xã hội

Vào những năm 1970, việc đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm công nghiệpcủa Nhật Bản vào thị trường Mỹ và Châu Âu đã gây ra xung đột quốc tế Năm

1971, Mỹ tuyên bố sẽ ngừng việc chuyển đổi đô la sang vàng Tháng 12 năm 1971,sau 22 năm duy trì, Nhật xác định lại tỷ giả đồng yên và đô la từ 360 lên 308 Tháng

2 năm 1973, Nhật áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi

Tháng 10 năm 1973, chiến tranh Trung Đông lần thứ 4 đã dẫn tới khủnghoảng dầu mỏ, gây nên lạm phát cao Năm 1974, lần đầu tiên sau thế chiến kinh tếNhật Bản tăng trưởng âm Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ 2 vào năm 1978 đãthúc đẩy Nhật Bản nỗ lực chuyển mình trong cơ cấu công nghiệp từ phụ thuộc vàonăng lượng thành tiết kiệm năng lượng Điều này đã giúp Nhật Bản vượt qua đượckhủng hoảng và lạm phát thành công

Trang 27

Cuối những năm 1980, kinh tế Nhật Bản tăng trưởng thuận lợi nhờ giá cả ổnđịnh và tỷ lệ thất nghiệp thấp Giá cả nhà đất và chứng khoán tiếp tục tăng nhanh,các chương trình phát triển đô thị quy mô lớn và phát triển du lịch nghỉ dưỡng lạicác khu vực nông thôn diễn ra với tốc độ chóng mặt Tuy nhiên, việc các quỹ đầu tưchảy ồ ạt vào thị trường bất động sản và chứng khoán đã khiens giá trị tài sản vốn

cố định tăng bất thường, gây nên bong bóng kinh tế Cuối năm 1980, tài sản ròngquốc gia ở mức 1363000 tỷ yên, gấp 5,6 lần GDP Kể từ đó, tài sản quốc gia sụtgiảm do sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng

2.1.1.2 Những năm 90

“Thập kỷ mất mát” (A Lost Decade) là tên gọi thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dàicủa Nhật Bản suốt thập kỷ 1990 Nguyên nhân trực tiếp đẩy Nhật Bản vào thập kỷmất mát là sự hình thành và đổ vỡ bong bóng bất động sản, kéo theo diễn biếntương tự trên các thị trường chứng khoán , tín dụng Nhưng nguyên nhân chính củavấn đề là những sai lầm về chính sách Tháng 9/1985, Hiệp định Plaza được ký kếttại New York giữa các nước thành viên nhóm G-5, gồm Mỹ, Nhật Bản, Cộng hòaLiên bang Đức, Anh và Pháp Nội dung của hiệp định nêu trên trước hết liên quanđến các vấn đề tỉ giá hối đoái, và mục tiêu của hiệp định là sự can thiệp của G-5 vàothị trường hối đoái để làm giảm giá đồng USD so với đồng mác của Đức và đồngyên Nhật Bản Tuy nhiên, hiệp định ký kết tại New York đã gây tai họa thực sự choNhật Bản bởi vì đồng yên tăng giá đã giáng mạnh vào xuất khẩu hàng hóa, kết quả

là tăng trưởng kinh tế của đất nước Mặt Trời mọc đã tụt dốc từ 4,4% xuống còn2,9% trong chưa đầy một năm Nhật Bản đã bị đẩy vào thế kẹt gọng kìm bởi nướcnày có thói quen gửi tín dụng ngoại tệ ở nước ngoài chủ yếu bằng đồng USD Năm

1986, Nhật Bản quyết định thu hồi khoản dự trữ này về nước để tránh tổn thất thêmtrong bối cảnh đồng USD tiếp tục sụt giá Đồng thời, Chính phủ Nhật Bản đã thôngqua một chính sách tiền tệ dựa vào tín dụng dễ dãi, với lãi suất giảm từ 5% xuốngcòn 2,5% Nhưng bong bóng đầu cơ khổng lồ được khuyến khích nhanh chóng bởilãi suất thấp đã khiến chính phủ lo sợ, dẫn đến quyết định tăng lãi suất trở lại từ2,5% lên 6% năm 1990 Nỗ lực ngăn chặn được đưa ra quá muộn khiến bong bóngđầu cơ nổ tung cùng với thị trường Hậu quả là trong chưa đầy 3 năm, chỉ số Nikkei

Trang 28

được đánh giá 40.000 điểm năm 1989 đã lao dốc, chỉ còn 15.000 điểm năm 1992,tức là mất giá tới hơn 60% Lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là bất động sản, xuấtphát điểm của bong bóng đầu cơ, nơi ghi nhận sự sụt giảm giá trị tới hơn 80% trongthời gian đầu và cuối những năm 1990 Con số báo động nhất là tỉ lệ thất nghiệp, từ2,1% tăng đến 4,7% Có thể đây là con số bình thường đối với nhiều nước phươngTây, nhưng quá cao đối với Nhật Bản vì trước đó tỉ lệ thất nghiệp tại nước này chưabao giờ vượt qua ngưỡng 3%

Sự sụt giảm các giá trị chứng khoán dẫn đến sụt giảm giá trị của chỉ sốNikkei đã khiến các thể chế tài chính cho vay, chẳng hạn các ngân hàng, phải tìmcách thu hồi nợ và trong điều kiện rất nhiều doanh nghiệp không đủ khả năng chitrả Tuy nhiên thay vì buộc các doanh nghiệp này phải tiến hành thủ tục pháp lý đểtuyên bố phá sản, các thể chế tài chính đã chọn cách cho vay tiếp để các đối tượngnày có thể trả lãi suất cho các khoản vay trước đó Rất khó để thoát khỏi vòng luẩnquẩn với biện pháp phản tác dụng này

2.1.1.2 Thời kỳ 1997 – 2006

Sự nổ tung bong bóng đầu cơ năm 1991 kết hợp với các chính sách sai lầm

đã đẩy Nhật Bản vào tình trạng giảm phát nghiêm trọng Hiện tượngđược bắt đầu từnăm 1997 và mỗi năm giảm khoảng 0,7% Trong khuôn khổ nhiệm vụ bảo đảm sự

ổn định của hệ thống tài chính, Ngân hàng trung ương Nhật Bản (Bank of Japan BOJ) đã hạ tỉ lệ chiết khấu xuống 0,5% năm 1995 và xuống mức 0% kể từ năm

-2000 mà mục đích vẫn là tạo điều kiện cho việc dựa vào tín dụng Giảm phát gây ranhững hậu quả còn tồi tệ hơn lạm phát, bởi giảm phát sẽ “giết”những kẻ đi vay,khiến các đối tượng này phải hoàn trả nhiều hơn những gì họ có được từ việc vaymượn, kể cả khi lãi suất được tính ở tỷ lệ 0% Các doanh nghiệp rơi vào tình trạngnhụt chí không thể đầu tư liên tục hoặc bị đẩy vào tình cảnh phá sản do giảm phátnghiêm trọng sẽ kéo theo những khoản nợ lớn Năm 2006, Nhật Bản có dấu hiệukhả quan khi giá cả tăng trong nhiều tháng liên tiếp Về cơ bản, BOJ đã “cứu đấtnước” bằng việc mua lại ồ ạt các khoản nợ xấu, giảm tỉ lệ chiết khấu và phát hànhtiền giấy ồ ạt

2.1.1.3 Khủng hoảng năm 2007 và hậu quả

Trang 29

Khi nhiều người bắt đầu nghĩ đến tình hình Nhật Bản dần dần được cải thiệncũng là khi khủng hoảng toàn cầu bất ngờ xảy ra năm 2007 Trước hết, có thể nóirằng thất nghiệp đã không ngừng leo thang. Chỉ số Nikkei từng có lúc trở lại daođộng xung quanh mức 14.500 điểm bỗng chốc sụt giảm còn 7000 điểm sau năm

2009 Sản xuất công nghiệp cũng lao dốc mạnh, xuống gần 8,5% trong cùng thờiđiểm Và tỉ lệ phá sản vì vỡ nợ tăng 21% Một lần nữa các ngân hàng lại trải quathời kỳ đen tối với ghi nhận kết quả thụt lùi 58% so với năm 2007 Như vậy, tíndụng một lần nữa trở nên khó khăn đối với tất cả các doanh nghiệp Bằng chínhsách kích cầu, Chính phủ Nhật Bản một mặt hy vọng sẽ gia tăng xuất khẩu, mặtkhác sẽ thúc đẩy cung ứng cho các nhu cầu nội địa Thật không may là cả hai mụctiêu này đều không đạt được: xuất khẩu hàng hóa giảm đáng kể, nhất là sang thịtrường Mỹ, và người dân trong nước cũng không tiêu dùng nhiều hơn Ngoài ra, cáckhoản đầu tư tư nhân cũng bắt đầu co hẹp

2.1.1.4 Năm 2007-2012

Để giải quyết áp lực giảm phát và xuất khẩu giảm mạnh, chính phủ Nhật Bản

đã tiến hành các chính sách kinh tế vĩ mô kích thích tích cực từ nửa cuối năm 2008

Do lãi suất đã ở mức 0% trong nhiều năm trước khi khủng khoảng tài chính thế giới

nổ ra, gánh nặng của chính sách tài khóa do đó cũng cao hơn Chính phủ Nhật đãtính toán ngân sách tài khóa xấp xỉ 26 nghìn tỷ yên bao gồm hai gói ngân sách bổsung vào năm tài khóa 2008, gói ngân sách đầy năm tài khóa 2009, và một ngânsách bổ sung theo sau Xét về quy mô của các dự án, các gói ngân sách này trị giákhoảng 130 nghìn tỷ yên Vào ngày 8 tháng 12 năm 2009, Nhật Bản đã tiến hànhgiải ngân 7,2 nghìn tỷ yên để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hướng tới ‘một nền kinh

tế tương lai tăng trưởng và ổn định’ Ngân sách quốc gia năm tài khóa 2010, đượcthông qua vào tháng 1 năm 2010, tăng 4,2% so với năm trước Kết quả của các biệnpháp tài khóa mở rộng, GDP thực tế của Nhật đã tăng trưởng dương vào quý 3 năm

2009 Trong khi các biện pháp tài khóa như trợ cấp mua các thiết bị tiết kiệm điệntại nhà đã góp phần thúc đẩy tăng tưởng kinh tế, vẫn còn nhiều tranh cãi xungquanh việc áp dụng các gói kích thích tài khóa liên tục cùng với sự gia tăng nợ công

kể từ cuối những năm 1990 có làm giảm số nhân tài khóa của Nhật đáng kể hay

Trang 30

không Mặt khác, vào tháng 11 năm 2009, chính phủ Nhật Bản và Ngân hàng trungương Nhật Bản đã tuyên bố giảm phát chính là vật cản lớn đối với sự phát triển kinh

tế của nước này Do đó, rất khó để nói rằng kinh tế Nhật Bản đang trên con đườngphục hồi ổn định

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật Bản năm 2012 có 2 chiều hướng khá rõ rệt.Nửa đầu năm là sự tăng trưởng GDP khá ngoạn mục chủ yếu nhờ công cuộc tái thiết

và phục hồi từ thảm họa động đất và sóng thần năm 2011 GDP quý 1 của nước nàytăng 1% so với quý 4/2011, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2011; và quý 2 đạt 1,3%

so với quý 1 Sự phục hồi ổn định của các ngành nghề sau thảm họa động đất – sóngthần là nguyên nhân chính khiến kinh tế Nhật Bản đạt mức tăng trưởng cao trongnửa đầu năm Tuy nhiên, tăng trưởng chậm lại ở Trung Quốc, cuộc khủng hoảng nợChâu Âu và đồng yên liên tục tăng giá mạnh so với đô la Mỹ làm xói mòn nhữngnguồn thu từ nước ngoài khiến GDP quý 3 và quý 4 liên tiếp suy giảm Tăng trưởngGDP quý 2 của Nhật Bản đạt mức 1,4% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ chưa đầy 1/3con số 5,5% của quý 1 Trong quý 3 vừa qua, GDP đã giảm 0,9% so với quý trước

và giảm 3,5% so với cùng kỳ năm ngoái Đây là quý thứ 2 liên tiếp nền kinh tế nướcnày suy giảm Nền kinh tế của Nhật Bản có thế đã rơi vào giai đoạn suy thoái doảnh hưởng cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu và kinh tế toàn cầu suy yếu

Giá trị sản xuất công nghiệp và xuất khẩu năm 2012 của Nhật tăng mạnhtrong tháng 3 và tháng 4 chủ yếu do nhu cầu bên ngoài và tái thiết đất nước sauthảm họa sóng thần đã thúc đẩy sản lượng của các nhà máy, nhưng liên tiếp sụtgiảm trong các tháng tiếp theo Sản lượng công nghiệp tháng 9 của nước này giảm4,1% so với tháng trước đó Trong tháng 8, tốc độ này chỉ là 1,6%, nhưng trongtháng 10 lại tăng 1,8% so với tháng 9

Trang 31

Biểu đồ2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP Nhật Bản từ 2006-2012

Nguồn: tradingeconomics.com, Văn phòng Nội các Nhật Bản

Tính đến hết tháng 10/2012, mức thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật đạt

5273 tỷ Yên Năm 2011, do ảnh hưởng của khủng hoảng kép động đất, sóng thần,thặng dư tài khoản vãng lai của Nhật là 9628,9 tỷ Yên, giảm 44% so với năm 2010

và là mức giảm mạnh nhất trong 15 năm Xuất khẩu của Nhật đã giảm xuống đếnmức thấp kỷ lục do hậu quả của động đất, sóng thần năm 2011, cũng như do suythoái kinh tế thế giới, đồng Yên mạnh và cuộc trang chấp lãnh thổ kéo dài với TrungQuốc, do đó, thâm hụt thương mại của Nhật Bản tăng vọt

2.1.2 Những thuận lợi và thách thứccủa chính phủ Nhật trong việc phục hồi nền kinh tế Nhật Bản

- Nợ công cao: Nợ công đang là một vấn đề nghiêm trọng tại nhiều quốc gia

châu Âu, Mỹ và Nhật Bản Nợ công đã khiến Hy Lạp rơi vào khủng hoảng, và cácnước châu Âu cùng với IMF đã phải giải cứu Hy Lạp 2 lần (tháng Năm 2010 vàtháng Bảy 2011) và lần giải cứu thứ ba đang được bàn thảo Ireland và Bồ Đào Nhacũng lâm vào tình cảnh tương tự năm 2010 và 2011 Nợ công gia tăng trong khi nềnkinh tế tăng tưởng chậm đã gây nhiều khó khăn về tài chính cho nhiều nước nhưTây Ban Nha và Ý

Trang 32

Nhật bản cũng gặp vấn đề nghiêm trọng với nợ công.Số liệu được Bộ tàichính Nhật công bố ngày 9/11/2012 cho thấy, nợ công của nước này tăng lên mứccao kỷ lục 983.3 ngàn tỷ Yên vào cuối tháng 9/2012 Nguyên nhân chủ yếu là dochi phí tài thiết đất nước sau thảm họa động đất và sóng thần đầu tháng 3/2011.Trong đó bao gồm 803.74 ngàn tỷ Yên trái phiếu Chính Phủ; 125.37 ngàn tỷ Yên tínphiếu đảm bảo cho nhu cầu vốn ngắn hạn và 54.19 nghìn tỷ Yên dưới dạng cáckhoản vay từ các tổ chức tài chính So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ vớiquy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ

vỡ nợ kỹ thuật, trong khi nợ công của Nhật Bản có quy mô lên tới hơn 229% GDP,được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, nhưng nợ công của Nhật vẫnđược đánh giá ở ngưỡng an toàn do: trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộcvào giới đầu tư trái phiếu quốc tế; phần lớn nợ công Nhật nằm trong tay các nhà đầu

tư nội địa; hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại

Trang 33

Khoản nợ khổng lồ của Nhật Bản là kết quả của việc thâm hụt ngân sách liêntục trong nhiều năm Việc gia tăng nợ công bắt đầu từ các gói kích thích tài khóađầu những năm 1990, khi nền kinh tế Nhật Bản chịu ảnh hưởng bởi sự sụp đổ củathị trường bất động sản Đã có rất nhiều nỗ lực của chính phủ trong việc củng cố ổnđịnh tài khóa, nhưng không có biện pháp nào đủ hiệu quả để đạt được mục tiêu như

đã đề ra, và khoản nợ lại tiếp tục tăng

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ công so với GDP của các nước phát triển

Nguồn: IMF, Bloomberg.com

Nền kinh tế Nhật Bản đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức: tỷ

lệ nợ so với GDP cao và lãi suất cực thấp Trong các nước phát triển, Nhật bản làquốc gia đối mặt với vấn đề tồi tệ nhất: tỷ lệ nợ-GDP cao nhất và lãi suất ngắn hạnbằng 0 trong suốt 10 năm qua Tuy nhiên, không giống như Hoa Kỳ và một số nướcchâu Âu, Nhật Bản vẫn đang duy trì tài khoản vãng lai thặng dư và gần 95% nợcông của Nhật là do các nhà đầu tư trong nước nắm giữ Đây là một điều tốt đối vớinền kinh tế Nhật Bản trong ngắn hạn, bởi điều này sẽ làm giảm nguy cơ về khủnghoảng nợ, điều mà Hy Lạp đang gặp phải; cho dù khoản dư nợ chưa thanh toán vẫn

Trang 34

đang ở mức rất cao Tuy nhiên về dài hạn thì điều này sẽ gây nhiều khó khăn bởi về

cơ bản là người Nhật đang chuyển giao gánh nặng nợ nần của mình sang các thế hệtương lai

- Tình trạng giảm phát vẫn bao trùm: Khi nói về tỷ lệ lạm phát ở Nhật Bản,

điều này thường đề cập đến tỷ lệ lạm phát trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng Chỉ sốCPI của Nhật cho thấy sự thay đổi trong giá của một gói tiêu chuẩn hàng hóa vàdịch vụ mà các hộ gia đình Nhật mua để tiêu thụ

- Thâm hụt ngân sách: Việc thâm hụt ngân sách gia tăng của Nhật là một hệ

quả không thể tránh khỏi của các chính sách kích thích kinh tế Việc ổn định tàikhóa dài hạn của Nhật Bản trở thành mối quan tâm lớn của các nhà hoạch địnhchính sách, các học giả và cả những cả đầu tư, cũng như dân chúng.Thách thức đặt

ra cho chính phủ Nhật là làm thế nào để có thể đặt ra kế hoạch tài khóa ổn định,trong khi vẫn có thể duy trì được tăng trưởng kinh tế

2.1.2.2 Thuận lợi

Về bối cảnh kinh tế, kể từ năm 2000 trở lại đây, Nhật Bản có thành tích đáng

nể về gia tăng sản lượng bình quân trên mỗi lao động Năm 2012, một năm trướckhi chính sách Abenomics của chính quyền Abe được triển khai, tăng trưởng sảnlượng bình quân lao động của Nhật Bản đạt 3,08% so với năm trước Chỉ số này của

Mỹ là 0,37% và của Đức là 0,25%

Thêm vào đó, những lo ngại về kết quả của chính sách nới lỏng tiền tệ và góikích thích tài khóa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là lạm phát, thậm chí siêu lạmphát, lại không phải là vấn đề của Nhật Bản Việc nền kinh tế chìm trong giảm pháthơn hai thập kỷ khiến lạm phát trở thành mục tiêu quan trọng của chính quyền Abetrong việc triển khai các chính sách chiến lược của mình

Đồng JYP giảm giá làm tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Nhật Bản Điềunày có vẻ sẽ không ảnh hưởng tới quan hệ thương mại Nhật-Mỹ bởi các gói nớilỏng định lượng đã làm yếu đồng USD từ trước Trong khi đó các quốc gia như HànQuốc, Trung Quốc sẽ phải lo ngại nhiều

Nhật Bản không phải lo lắng nhiều về hiệu quả của các khoản đầu tư vào cơ

sở hạ tầng Trong quá khứ, những năm 1990, nếu Chính phủ Nhật không chi những

Trang 35

khoản lớn cho hạ tầng thì theo nhà kinh tế J.Stiglitz1, bức tranh kinh tế Nhật Bản sẽ

ảm đạm hơn nhiều sơ với thực tế diễn ra Bằng chứng là tỷ lệ thất nghiệp của Nhậtchưa bao giờ vượt quá 5,8%, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầuthì thất nghiệp cao nhất cũng chỉ ở mức 5,5% Lợi ích công cộng và chất lượng cơ

sở hạ tầng của Nhật Bản luôn ở mức tốt đã có vai trò không nhỏ trong việc trao đổigiao thương phát triển kinh tế

Mặc dù Nhật Bản có tỷ lệ nợ chính phủ cao, song đây không phải vấn đềnghiêm trọng của nước này trong ngắn hạn vì tiết kiệm tư nhân vẫn rất nhiều và cácnhà đầu tư đang tiếp tục mua trái phiếu chính phủ.Từ đầu thập niên 1990, khi ngânsách Chính phủ Nhật Bản bắt đầu thâm hụt, Nhật Bản đã bù đắp cho khoản thâmhụt này bằng cách phát hành trái phiếu để vay nợ, chủ yếu từ nguồn tiền tiết kiệmnội địa lên tới 17 nghìn tỷ USD Thêm vào đó, 95% trái phiếu chính phủ của NhậtBản do người dân Nhật Bản nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do ngườinước ngoài nắm giữ Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giábằng đồng yên.Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ.Những thế mạnh này đã giúpNhật Bản giữ được thị trường trái phiếu bình ổn, tránh được nguy cơ vỡ nợ vàkhủng hoảng kinh tế toàn diện như Hy Lạp đang mắc phải

Những thuận lợi khác phải kể đến cho việc tái thiết kinh tế Nhật Bản, đó là:

hệ thống thể chế vững chắc; lực lượng lao động được đào tạo tốt với kỹ năng kỹthuật và thiết kế chính xác cao; vị trí địa lý thuộc khu vực kinh tế năng động nhấtthế giới lúc này; cam kết lâu dài về bảo vệ môi trường; và khoảng cách bất bìnhđẳng xã hội nhỏ (chỉ xếp sau Canada và một số quốc gia Bắc Âu)

1 DHVP Research (2013), ‘Những lý do để Abenomics thành công’, DVPH EcoPolitik, pp.51-52, 12-4

Trang 36

2.2 Abenomics – chiến lược 3 mũi tên củachính phủ Nhật Bản

Sơ đồ 2.1: Ba mũi tên chiến lược Abenomics

Nguồn: KPMG’s Abenomics Brief

Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPL), đảng lãnh đạo cũ, đã thất bại trong việc đưa

ra một chiến lược rõ ràng để khắc phục tình hình kinh tế nghiêm trọng Kết quả là,

họ đã bị thua tại cuộc bầu cử Hạ viện vào tháng 12 năm 2012 và Đảng Dân chủ Tự

do Nhật Bản (LDP) trở lại nắm quyền sau bốn năm Ngay lập tức chính quyền Abebắt đầu có những hành động để phục hồi và tái thiết sau Thảm họa kép và thay đổichính sách cơ bản từ việc phân phối lại, chống lại trạng thái cân bằng giảm dần, tiếntới tạo ra của cải thông qua tăng trưởng để phục hồi từ tình hình kinh tế nghiêmtrọng hiện thời và hồi sinh kinh tế Nhật Bản Kỳ vọng của người dân Nhật Bản vàtrên toàn cầu đã nhanh chóng được phản ánh trên thị trường vốn và thị trường ngoạihối Việc giảm giá kéo dài của đồng Yên được điều chỉnh và thị trường chứngkhoán bắt đầu hồi phục mạnh Bây giờ công chúng hy vọng chính quyền Abe phảichuyển đổi những dấu hiệu ban đầu của sự thay đổi tích cực vào sự phục hồi kinh tếthực sự và tăng trưởng trong tương lai bằng cách thực hiện các chính sách và biệnpháp kinh tế phù hợp

Trong bài phát biểu về chính sách của mình vào ngày 18 tháng 1 năm 2013,Thủ tướng Abe đã đề cập, "Tôi đã thành lập Trụ sở để Tái phục hồi Kinh tế củaNhật Bản như là một “tháp kiểm soát” cho phục hồi kinh tế và khôi phục lại Hộiđồng Kinh tế và Chính sách tài khóa Tôi sẽ củng cố đẩy mạnh sự phục hồi của nền

Trang 37

kinh tế với bộ ba chính sách tiền tệ táo bạo, chính sách tài khóa linh hoạt, và chiếnlược phát triển, khuyến khích đầu tư khu vực tư nhân, tái cơ cấu kinh tế" Chiếnlược này bởi Abe công bố bây giờ được gọi là Abenomics.

2.2.1 Nội dung gì?

Abenomics có nghĩa là “Kinh tế học của Thủ tướng Abe”, được ghép từ

“Abe” và “economics” Chính sách kinh tế Abenomics bao gồm 3 trụ cột chính là:chính sách nới lỏng tiền tệ; chính sách thúc đẩy chi tiêu công; chính sách tăngtrưởng kinh tế sâu rộng

- Chính sách nới lỏng tiền tệ (ồ ạt): Đây là chính sách thực hiện giảm lãi

suất thực Sau khi ông Haruhiko Kuroda được bổ nhiệm làm Thống đốc Ngân hàngTrung ương Nhật Bản (BOJ), ông đã đưa ra chính sách nới lỏng tiền tệ, nhằm hạ giáđồng Yên, cũng như thực hiện mục tiêu phát triển sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu,tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa Nhật Bản trên thị trường nước ngoài

- Chính sách tài khóa linh hoạt: Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất

nước, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã công bố kế hoạch chi tiêu công trị giá 5,3nghìn tỷ Yên (60 tỷ USD) trong ngân sách năm 2013 Đồng thời, Chính phủ NhậtBản cũng thông qua quyết định “bơm”khoảng 25 nghìn tỷ Yên (260 tỷ USD) trong

5 năm, tăng so với mức 19 nghìn tỷ Yên (200 tỷ USD) trong kế hoạch trước đó(Theo Báo cáo “Abenomics Handbook”, Nomura economists, Tomo Kinoshita)

- Chính sách tái cấu trúc kinh tế sâu rộng, khuyến khích đầu tư tư nhân:

Đây là trụ cột mang tính dài hạn nhằm tạo đà phát triển bền vững cho nền kinh tếNhật Bản Để tăng trưởng kinh tế sâu rộng chính sách này đã hướng tới các mụctiêu cụ thể sau:

i) Thu hút lao động nữ để bù đắp cho sự thiếu hụt về nguồn lao động Chínhsách Abenomics hướng tới mục tiêu thu hút được khoảng 30% lao động nữ vào năm

2020, với các chính sách cụ thể như: khuyến khích phụ nữ làm lãnh đạo, mở thêmtrường mẫu giáo, thậm chí cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào việc mởtrường;

Trang 38

ii) Giảm tỷ lệ thất nghiệp khoảng 20%, cụ thể, quý I/2014 số người thấtnghiệp dài hạn đã giảm xuống 1,24 triệu người, giảm 10% so với 1,38 triệu ngườicủa quý II/2013;

iii) Đứng thứ nhất thế giới về những đổi mới trong phát triển kinh tế, năm

2013 - 2014, Nhật Bản đứng ở vị trí thứ 5 trên thế giới trong tiêu chí này theo xếphạng của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF);

iv) Đưa nông nghiệp trở thành “ngành Công nghiệp thứ 6” trong nền kinh tếthông qua việc mở rộng thị trường tiêu thụ từ 1 tỷ Yên lên 10 nghìn tỷ Yên; đẩymạnh xuất khẩu các sản phẩm nông - lâm - ngư nghiệp, với mục tiêu tăng giá trịkim ngạch xuất khẩu từ 450 triệu Yên lên 1.000 tỷ Yên…;

v) Thực hiện tự do thương mại: Các giao dịch trong các khu vực mậu dịch tự

do hiện mới chiếm 18,9% tổng các giao dịch thương mại của Nhật Bản, trong khi65,5% là nằm trong các cuộc đàm phán thương mại đang tiến hành Đó là, Nhật Bảnđang nỗ lực kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do với Australia và ký kếtHiệp định Đối tác kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP)

Có vẻ như, Abenomics giống như 1 bản sao của Reaganomics2, chỉ khác ở 2chính sách tiền tệ trái chiều nhau Một bên muốn giảm lạm phát xuống, còn bên kiamuốn lạm phát tăng càng nhanh càng tốt

2.3 Nội dung Chính sách tài khóa trong Abenomics

2.3.1 Gói kích thích tài khóa

Chính phủ Nhật Bảnsẽdành10,3 nghìn tỷ yên( tương đương 116tỷUSD)đểthúc đẩysự phục hồi từsuy thoái kinh tếtrong sáng kiếnchính sáchlớn đầutiên củaThủ tướngShinzoAbeđể kết thúctình trạng giảm phátvàthúc đẩy tăng trưởng

Khoảng3,8 nghìn tỷ yênsẽ dành chophòng chống thiên taivà tái thiết,với3,1nghìn tỷ yêndùng trực tiếpkích thíchđầu tư tư nhânvà các biện phápkhác, theo mộttuyênbố của Văn phòngNội các Chính phủ Abe hy vọng chi tiêu tăng thêmsẽ làmtăngtổng sản phẩmtrong nướckhoảng2phần trăm vàtạo ra khoảng600.000 việc làm

2 Reaganomics: Tên gọi của các biện pháp kinh tế do Tổng thống Mỹ Reagan đề xuất trong hai nhiệm kỳ của mình, bắt đầu từ năm 1981 Reaganomics có bốn điểm chính: Giảm mức thuế, giảm luật lệ, giảm chi tiêu ngân sách, và sử dụng chính sách tiền tệ để giảm lạm phát.

Trang 39

Góichi tiêu sẽbao gồm khoảng3,1 nghìn tỷ yênđể phục hồikinh tế các địaphương, các dịch vụy tế, chăm sóctrẻ em vàcác biện pháp khác Cácbiệnphápkhuyến khích đầu tưtư nhân sẽbao gồm các bướcđể thúc đẩynăng lượngsạchvàtiết kiệmnăng lượng Chính phủ cũngsẽxem xétcác biện phápmớiđểổn địnhthị trườngtiền tệbằng cách sử dụngtài khoản đặc biệt3trongquỹngoại hốicủa quốcgia.

3

Special account: Tài khoản đặc biệt Ngân sách quốc giacủaNhật Bảnbao gồm cáctài khoản chung, tài khoản đặc biệt,vàngân sáchcho các cơ quanliên kết Chính phủ.Tài khoản đặc biệtđượcthành lậpchochính phủđể thực hiệncác dự án cómục tiêu cụ thể, được quản lývà điều hànhđộc lậpvớitài khoản chung Số lượng vàđặc thù của các tài khoản đặc biệtthay đổi từ nămnày sang năm khác; trong năm tài chính 2014, tổng cộng 15tài khoản đặc biệtđã đượcthành lập, bao gồm cả cácquỹbình ổnnợ quốc gia, cáckhoản trợ cấpthuếvàphân bổ thuếchuyển nhượng vàQuỹphục hồisau thảm họa képNhật Bản.

Trang 40

Bảng 2.1: Giá trị của gói kích thích tài khóa

Đơn vị: Nghìn tỷ Yên

Phần chi tiêu chính phủ

Ngăn ngừa và giảm nhẹ thiên tai 2,2 3,8

2.Tạo ra của cải thông

qua tăng trưởng (3,1

Tạo điều kiện mở rộng kinh doanh tại

Các biện pháp phát triển nguồn nhân

1,4

Gói đảm bảo bắt buộc việc trợ cấp quốc gia dành cho dự án xây

Đóng góp tài chính của chính phủ cho lương hưu nhà nước ở

-4 Với sự tham gia của thành phần tư nhân

Ngày đăng: 31/03/2019, 16:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w