1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỘC CẤP TÍNH CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT XỬ LÝ KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus) VÀ CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides)

73 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 822,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỘC CẤP TÍNH CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT XỬ LÝ KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA Pangasianodon hypophthalmus VÀ CÁ LĂNG NHA Mystus wyckioides Tác giả TRẦN XUÂN MAI Khóa luận được đệ trình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỘC CẤP TÍNH CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT

XỬ LÝ KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon

hypophthalmus) VÀ CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides)

Sinh viên thực hiện: TRẦN XUÂN MAI Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Chuyên ngành: NGƯ Y

Niên khóa: 2006 – 2010

Tháng 07/2010

Trang 2

XÁC ĐỊNH ĐỘ ĐỘC CẤP TÍNH CỦA MỘT SỐ HÓA CHẤT

XỬ LÝ KÝ SINH TRÙNG TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon

hypophthalmus) VÀ CÁ LĂNG NHA (Mystus wyckioides)

Tác giả

TRẦN XUÂN MAI

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Kỹ sư

ngành Nuôi Trồng Thủy Sản chuyên ngành Ngư Y

Giáo viên hướng dẫn:

Th.S Phạm Duy Tân

Tháng 07 năm 2010

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Qua bốn năm học tập và rèn luyện dưới giảng đường Đại học, kết hợp với thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã học và tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quí báu cho mình Luận văn tốt nghiệp này là sự kết hợp giữa lý thuyết đã học

và thực tiễn làm đề tài

Luận văn tốt nghiệp có thể hoàn thành tốt là nhờ vào sự giảng dạy tận tình và truyền đạt những kiến thức quý báu của quí thầy cô Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tâm của thầy Phạm Duy Tân và sự giúp đỡ nhiệt tình của các anh chị công nhân và kỹ sư của Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh

Tôi xin chân thành cảm ơn:

- Ban giám hiệu, quý thầy cô trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

- Ban chủ nhiệm, cùng quý thầy cô Khoa Thủy Sản

- Giảng viên Th.S Phạm Duy Tân

- Cùng tất cả các anh chị công nhân và kỹ sư của Trại Thực Nghiệm Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu này

- Lời cảm ơn cũng xin được gửi đến các bạn sinh viên khoa Thủy Sản khóa 32, đặc biệt tất cả các bạn trong nhóm thực hiện đề tài lớp DH06NY đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài

Mặc dù đã cố gắng hết sức để thực hiện đề tài nhưng do hạn chế về thời gian cũng như về mặt kiến thức nên luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong đón nhận những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn

     

Trang 4

TÓM TẮT

Thí nghiệm xác định độ độc cấp tính của 3 loại hóa chất Formol, BKC và Cypermethrin dùng trong xử lý ký sinh trùng trên cá tra và cá lăng nha được chúng tôi tiến hành như sau:

formol, BKC, cypermethrin trên cá tra và cá lăng

Thí nghiệm 2: Xác định nồng độ gây chết 50% cá thí nghiệm trong 48 giờ

Sau thời gian thực hiện đề tài chúng tôi thu được kết quả sau:

an toàn cho cá lần lượt là 260 và 140 ppm Có thể xử lý ký sinh trùng bằng cách tắm với nồng độ từ 280 đến 320 ppm trong khoảng thời gian 15 đến 30 phút

an toàn cho cá lần lượt 2 và 0,6 ppm Có thể trị bệnh cho cá bằng phương pháp tắm trong 7 – 7 ppm và 0,7 – 8,8 ppm từ 15 đến 30 phút

Nồng độ an toàn cho cá lần lượt là 0,02 và 0,001 ppm Có thể tắm cá tra với nồng độ 0,03 – 0,04 ppm và cá lăng 0,002 – 0,004 ppm trong khoảng 10 – 15 phút

 

       

Trang 5

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC Trang

Trang tựa i Cảm tạ ii Tóm tắt iii Mục lục iv Danh sách các chữ viết tắt vii

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1.1 Phân loại 3

2.1.2 Phân bố 3

2.1.4 Điều kiện môi trường sống 4

2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 5

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng 6

2.2.4 Điều kiện môi trường sống 9

2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng 9

Trang 6

2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng 9

2.2.7 Đặc điểm sinh sản 9

2.3 Sơ Lược Về Các Hóa Chất Sử Dụng Trong Thí Nghiệm 10

2.3.1.1 Đặc điểm 10 2.3.1.2 Cơ chế tác dụng 10

2.3.1.3 Tác dụng và phương pháp sử dụng 11

2.3.1.4 Lưu ý khi sử dụng 12

2.3.2.1 Đặc điểm 13 2.3.2.2 Cơ chế tác động 14

2.3.2.3 Tác dụng 15 2.3.2.4 Lưu ý khi sử dụng 15

2.3.3.1 Đặc điểm 15 2.3.3.2 Cơ chế tác dụng 16

2.3.3.3 Tác dụng 17 2.3.3.4 Lưu ý khi sử dụng 17

CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.2 Vật Liệu Nghiên Cứu 19

3.2.1 Dụng cụ 19 3.2.2 Hóa chất 19 3.3 Đối Tượng Nghiên Cứu 19

3.4 Phương Pháp Nghiên Cứu 20

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21

Trang 7

3.5 Phương Pháp Phân Tích Và Xử Lý Số Liệu 25

4.1 Chỉ Tiêu Chất Lượng Nước 26

4.1.1 Nhiệt độ 26

5.1 Kết Luận 50 5.2 Đề Nghị 50

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

phẩm Hoa Kì)

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên 6

Bảng 3.1: Nồng độ formol trong thí nghiệm xác định LC50-48h 23

Bảng 4.1 Bảng các giá trị EC và LC100 của cá tra và cá lăng 29

Bảng 4.2 Tỷ lệ chết tích lũy của cá tra ở nồng độ formol từ

260 – 350 ppm sau 48 giờ 30

Bảng 4.3 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của thí nghiệm

Bảng 4.4 Tỷ lệ chết tích lũy của cá lăng ở các nồng độ formol

Bảng 4.5 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của thí nghiệm

Bảng 4.6 Tỷ lệ chết tích lũy của cá tra ở các nồng độ BKC từ 2 – 10 ppm 37

Bảng 4.7 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của

Bảng 4.8 Tỷ lệ chết tích lũy của cá lăng ở các nồng độ BKC 0,6 – 1 ppm 40

Bảng 4.9 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của

Bảng 4.10 Tỷ lệ chết tích lũy của cá tra ở các nồng độ formol từ 0,2 – 0,6 ppm 43

Bảng 4.11 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của

Bảng 4.12 Tỷ lệ chết tích lũy của cá lăng ở các nồng độ

Bảng 4.13 Quy đổi số liệu cho phương trình hồi quy của thí nghiệm

Trang 10

DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ

Đồ thị 4.1 Tỷ lệ cá tra chết tích lũy theo thời gian với formol 30

Đồ thị 4.2 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết của cá tra và nồng độ formol 32

Đồ thị 4.3 Tỷ lệ cá lăng chết tích lũy theo thời gian với formol 34

Đồ thị 4.4 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết của cá lăng và nồng độ formol 36

Đồ thị 4.5 Tỷ lệ cá tra chết tích lũy với BKC theo thời gian 38

Đồ thị 4.6 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết cá tra với nồng độ BKC 49

Đồ thị 4.7 Tỷ lệ cá lăng chết tích lũy với BKC theo thời gian 41

Đồ thị 4.8 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết của cá lăng với nồng độ BKC 42

Đồ thị 4.9 Tỷ lệ cá tra chết tích lũy với cypermethrin theo thời gian 44

Đồ thị 4.10 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết của cá tra với nồng độ cypermethrin 46

Đồ thị 4.11 Tỷ lệ chết tích lũy của cá lăng với cypermethrin theo thời gian 47

Đồ thị 4.12 Mối tương quan giữa tỷ lệ chết của cá lăng và cypermrthrin 49

Trang 12

(Pangasianodon hypophthalmus) và cá lăng nha (Mystus wyckioides ) được coi là hai

trong số những đối tượng nuôi thủy sản phát triển mạnh và có giá trị xuất khẩu cao

Khi nghề nuôi cá tra, cá lăng phát triển và có giá trị kinh tế, thì để nghề nuôi càng ổn định và phát triển vượt trội nước ta đã chủ động nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất giống nhân tạo hai loại cá trên Đồng thời để đáp ứng nhu cầu về sản lượng và chất lượng sản phẩm với sự mở rộng thị trường, người nuôi trồng thủy sản đã chủ động từng bước chuyển đổi sang hình thức nuôi thâm canh

người nuôi nhưng do phát triển quá nhanh và không theo quy hoạch, mật độ nuôi cao nên dịch bệnh xảy ra ngày càng nhiều và gây ra thiệt hại lớn Trong đó bệnh do ký sinh trùng cũng là một bệnh khá phổ biến Bệnh do ký sinh trùng không gây chết hàng loạt nhưng làm cá gầy yếu, giảm giá trị thương phẩm, tạo điều kiện cho vi khuẩn, virus tấn công Phần lớn các sản phẩm trị bệnh hoặc xử lý nước thường được sử dụng trên nhiều đối tượng nuôi, nhưng khả năng chịu đựng với các loại hóa chất có thể khác nhau tùy loài, tùy giai đoạn phát triển của cá và điều kiện điều trị Mặt khác, việc sử dụng hóa chất trong hệ thống nuôi trồng thủy sản ngày càng phổ biến và được công nhận rộng rãi, nhiều người nuôi thừa nhận rằng hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ yếu dựa vào việc sử dụng hóa chất Người nuôi sử dụng thuốc và hóa chất để phòng, trị bệnh cũng như cải thiện chất lượng nước, thường có thói quen lạm dụng hóa chất, sử dụng quá liều dẫn đến vượt quá khả năng chịu đựng của cá làm cá chết hàng loạt Do

đó, độc tính của các hóa chất nên được xác định trước khi áp dụng các liệu pháp hóa học để kiểm soát dịch bệnh Điều này đặc biệt quan trọng vì nồng độ khuyến cáo và

Trang 13

thời gian điều trị cho một số lần trị liệu ở gần mức nguy hiểm cho một số loài nuôi Chúng ta cần có những thử nghiệm về khả năng chịu đựng của cá tra, cá lăng với nhiều loại hóa chất trị ký sinh trùng, xử lý nước nhằm: xác định nồng độ, thời gian sử dụng thuốc hợp lý để hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả sử dụng của các loại hóa chất nói trên

Từ thực tế trên cùng với sự phân công và tạo điều kiện của khoa Thủy Sản – Đại học Nông Lâm chúng tôi đã tiến hành đề tài “Xác định độ độc cấp tính của một số

hóa chất xử lý ký sinh trùng trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) và cá lăng nha (Mystus wyckioides)”

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

trên hai đối tượng cá tra và cá lăng nha, từ đó xác định mức độ an toàn của thuốc trong việc điều trị và kiểm soát ký sinh trùng trên hai loài cá này

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Tra

2.1.1 Phân loại

Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra Pangasiidae đã được xác định ở sông Cửu Long Tài liệu phân loại gần đây nhất của tác giả Rainboth (1996) (trích bởi Phạm Văn Khánh, 1996) xếp cá tra nằm trong giống cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất ít ở Thái lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm ngặt (sách đỏ) Cá tra của nước ta cũng khác hoàn toàn với

loài cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ Ictaluridae

Theo hệ thống phân loại của Tyson và Vidthayvanon (1991) thì cá tra thuộc:

Mê kông để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên Mùa vụ thành thục của cá trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 06 dương lịch Khảo sát chu kỳ di cư của cá tra ở

Trang 15

địa phận Campuchia cho thấy cá ngược dòng từ tháng 10 đến tháng 5 và di cư về hạ lưu từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm (khoahocthuysan.org)

2.1.3 Đặc điểm hình thái

Cá tra có đầu nhỏ vừa phải, rộng và dẹt bằng Mắt tương đối to, miệng rộng phần sau hơi dẹp bên, có hai đôi râu hàm trên ngắn hơn nửa chiều dài đầu, râu hàm dưới ngắn bằng 1/4 chiều dài đầu Có răng lá mía và khẩu cái rất mịn tạo thành vòng cung Vây lưng và vây ngực có gai cứng mang răng cưa ở mặt sau Vây hậu môn tương đối dài Thân thon dài, không vẩy, dẹp ngang, có màu hơi xanh nhạt trên thân lưng, màu xanh nhạt dần hai bên hông, phía đuôi vây màu hơi vàng, vây lưng và vây đuôi màu xám đen, phần cuối của vây đuôi màu hơi đỏ, bụng màu trắng bạc (Trần Thanh Xuân, 1994)

Theo Roberts và Vidthayanon (1991), số tia vây bụng của cá tra V= 8 – 9, vây hậu môn A=3 – 30, lược mang 29 – 38, bóng hơi chỉ có mỗi một ngăn nằm trong xoang bụng (trích bởi Phạm Văn khánh, 1996)

2.1.4 Điều kiện môi trường sống

Cá sống ở các thủy vực nước tĩnh và nước chảy

là một trong những loài đặc trưng cho loài phân bố ở vùng nhiệt đới Cá dễ chết ở

nhiều hơn các loại cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu ôxy hòa tan Tiêu hao ôxy

và ngưỡng ôxy của cá tra thấp hơn 3 lần so với cá mè trắng Hàm lượng ôxy hòa tan tối ưu cho cá là: 3 – 6 mg/l

pH: pH tối ưu từ 6,5 – 8, pH=5 cá mất nhớt, teo râu, hoạt động chậm chạp,

pH=11 cá lờ đờ có biểu hiện mất nhớt (Trần Thanh Xuân, 1994)

Độ mặn: Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối 7 – 100/00)

2.1.5 Ðặc điểm dinh dưỡng

Trang 16

Cá tra khi hết noãn hoàng thì thích ăn mồi tươi sống, vì vậy chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vợt Ngòai ra khi khảo sát cá bột vớt trên sông, còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần cơ thể

và mắt cá con các lòai cá khác Dạ dày của cá phình to hình chữ U và co giãn được, ruột cá tra ngắn, không gấp khúc lên nhau mà dính vào màng treo ruột ngay dưới bóng khí và tuyến sinh dục Dạ dày to và ruột ngắn là đặc điểm của cá thiên về ăn thịt Ngay khi vừa hết noãn hoàng cá thể hiện rõ tính ăn thịt và ăn lẫn nhau, do đó để tránh hao hụt do ăn nhau trong bể ấp, cần nhanh chóng chuyển cá ra ao ương sau khi trứng nở từ

18 – 24 giờ Trong quá trình ương nuôi thành cá giống trong ao, chúng ăn các loại phù

du động vật có kích thước vừa cỡ miệng của chúng và các thức ăn nhân tạo Các nhóm phiêu sinh động vật mà cá tra có thể ăn được như: Copepoda, Cladocera và Rotifera Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn đáy và ăn tạp thiên về động vật nhưng dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các lọai thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy… (khoahocthuysan.org)

Ngày nay với việc nuôi thâm canh cá tra thức ăn công nghiệp với thành phần dinh dưỡng cân bằng đang được khuyến khích sử dụng

Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên cho thấy thành phần

thức ăn rất đa dạng được thể hiện trong (Bảng 2.1)

Trang 17

Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra ngoài tự nhiên

(Nguồn: Menon và Cheko, 1995; trích bởi Phạm Văn Khánh, 1996)

2.1.6 Đặc điểm sinh trưởng

Cá tra có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, khi còn nhỏ cá tăng trưởng nhanh

về chiều dài Cá sau khi tiêu hết noãn hoàng có chiều dài từ 0,8 – 1 cm Sau 14 ngày

ương cá có thể đạt chiều dài trung bình từ 2 – 2,3 cm và có khối lượng trung bình là

0,25g Cá ương 5 tuần tuổi có chiều dài 5 – 6 cm và trọng lượng cá từ 1,28 - 1,5 g/con

Cá ương trong ao sau 2 tháng đã đạt chiều dài 10 – 12 cm (14 – 15g) Từ khỏang 2,5 kg

trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với tăng chiều dài cơ thể Sau 1 năm tuổi cá

có thể đạt trọng lượng 1,5 kg Sau 3 – 4 năm đạt từ 3 – 5 kg Tốc độ tăng trưởng của cá

còn phụ thuộc rất nhiều vào mật độ, chất lượng và số lượng thức ăn được cung cấp (Trần

Thanh Xuân, 1994)

Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Ðã gặp cỡ cá trong tự nhiên 18 kg

hoặc có mẫu cá dài tới 1,8 m (khoahocthuysan.org)

2.1.7 Đặc điểm sinh sản

Mùa vụ sinh sản tự nhiên: Trong tự nhiên, mùa vụ sinh sản của cá tra từ tháng

06 đến tháng 07, cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện

sinh thái phù hợp thuộc địa phận Campuchia và Thái lan, không đẻ tự nhiên ở phần

sông của Việt Nam Bãi đẻ của cá nằm từ khu vực ngã tư giao tiếp 2 con sông Mêkông

và Tonlesap, từ thị xã Kratie (Campuchia) trở lên đến thác Khone, nơi giáp biên giới

Trang 18

giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể thường là rễ của loài cây sống ven sông Gimenila asiatica, sau 24 giờ thì trứng nở thành cá bột và trôi về hạ nguồn

Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong

tự nhiên (từ tháng 3 dương lịch hàng năm), cá tra có thể tái phát dục 1-3 lần trong một năm (Phạm Văn Khánh, 1996)

Tuổi và trọng lượng cá thành thục lần đầu: Trong sinh sản nhân tạo, cá cái thường thành thục lần đầu ở 4 tuổi, cá đực thành thục ở 3 tuổi, trọng lượng khi thành thục trung bình khoảng 3 – 4 kg chiều dài tối thiểu là 60 cm Cá tra cái cùng tuổi thì có trọng lượng lớn hơn cá tra đực 30 – 40%

Cá tra không có cơ quan sinh dục phụ (sinh dục thứ cấp), nên nếu chỉ nhìn hình dáng bên ngoài thì khó phân biệt được cá đực, cái Ở thời kỳ thành thục, tuyến sinh dục

ở cá đực phát triển lớn gọi là buồng tinh hay tinh sào, ở cá cái gọi là buồng trứng hay noãn sào Tuyến sinh dục của cá tra bắt đầu phân biệt được đực cái từ giai đọan II tuy màu sắc chưa khác nhau nhiều Các giai đọan sau, buồng trứng tăng về kích thước, hạt trứng màu vàng, tinh sào có hình dạng phân nhánh, màu hồng chuyển dần sang màu trắng sữa (khoahocthuysan.org)

Hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên từ 1,76 – 12,94% (cá cái) và từ 0,83-2,1% (cá đực) ở cá đánh bắt tự nhiên trên sông cỡ từ 8 – 11 kg Trong

ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,5%

Sức sinh sản của cá tra: khoảng 139.000 – 150.000 trứng/kg cá cái Hệ số thành thục cá tra cái ngoài tự nhiên dao động từ 3,0 – 12,57%, cá tra đực 0,83 - 2,1% (Trần Thanh Xuân, 2004)

Kiểu trứng: trứng cá tra thuộc dạng trứng dính, nở sau 17 – 21 giờ ở nhiệt độ 25 – 30°C Nếu nhiệt độ nước thấp hơn 24°C thì trứng cá khó nở, do phôi cá không phát triển được Nếu nhiệt độ cao quá 32°C thì trứng bị hỏng hoàn toàn Trứng khi đẻ có đường kính từ 1,0 – 1,1 mm, sau khi trương nước khoảng 1,5 – 1,6 mm Sau khi nở, cá bột cá tra có chiều dài khoảng 2,98 mm (khoahocthuysan.org)

Trang 19

2.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Lăng Nha

Lòai: Mystus wyckioides (Chaux and Fang , 1949)

Tên Việt Nam: Cá lăng nha, cá lăng đuôi đỏ

Tên Tiếng Anh: Red tail catfish

2.2.2 Phân bố

Cá lăng nha phân bố rộng rãi ở Ấn Độ và nhiều nước ở Đông Nam Á, chủ yếu ở các con sông lớn từ thượng nguồn đến tận vùng cửa sông (Smith, 1945; trích bởi Huỳnh Thanh Phương, 2006)

Theo Mai Đình Yên và ctv (1992) cá lăng nha phân bố hầu như rộng rãi ở các sông rạch thuộc miền Nam Việt Nam

Cá lăng được tìm thấy ở các sông lớn và lưu vực sông Mêkông, đôi khi ở Tonlé Sap và hạ lưu sông Mêkông (Rainboth 1996; trích bởi Huỳnh Thanh Phương, 2006)

2.2.3 Đặc điểm hình thái

Cá lăng nha có thân dài, đầu dẹp ngang, số lược mang 11-15, đuôi dẹp bên Cá

có bốn đôi râu: một đôi râu mũi kéo dài đến mắt, hai đôi râu cằm, một đôi râu hàm kéo đến giữa vây hậu môn Miệng ở dưới rộng hướng ra phía trước, môi trên dầy và nhỏ hơn môi dưới, hàm trên và hàm dưới đều có răng nhỏ, nhọn Khoảng cách hai ổ mắt rộng, khe mang rộng, màng mang tách khỏi khe eo mang Vây lưng và vây ngực có tia cứng, tia cứng vây ngực to khoẻ, phía sau có răng cưa nhưng tia cứng ở vây lưng nhỏ

và được bao phủ bởi lớp da không có răng cưa Thân có màu xám hoặc xanh đen Vây đuôi và mép các vây lưng, vây ngực, vây bụng, vây hậu môn có màu đỏ Mép vây lưng kéo dài đụng gốc vây mỡ Râu và hàm trên của cá có màu trắng đục và to (Chaux và Fang, 1949; trích bởi Huỳnh Thanh Phương, 2006)

Trang 20

2.2.4 Điều kiện môi trường sống

Cá sống thành đàn, ở tầng đáy nơi có nước chảy nhẹ Cá thích tối, hoạt động và bắt mồi về đêm Cá lăng nha không có cơ quan hô hấp phụ

Môi trường sống thích hợp cho cá:

+ pH : 6 – 8 + DO : >3mg /l

2.2.5 Ðặc điểm dinh dưỡng

Cá lăng nha được xếp vào loài cá dữ, ưa tối, sống đáy, chui rúc vào bụi rậm, hốc

đá, hang, không thích hợp nuôi trong bể kiếng (Sterba, 1962; trích bởi Mai Thị Kim Dung, 1998)

Ba ngày tuổi cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn phiêu sinh động vật

Theo Ngô Trọng Lư và Thái Bá Hồ (2001; trích bởi Huỳnh Thanh Phương, 2006) khi con nhỏ cá nhỏ ăn côn trùng nước, ấu trùng muỗi, giun ít tơ, rễ cây… Cá lớn

ăn tôm cua, cá con

Theo Phạm Văn Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Huỳng Thanh Phương, 2006) cá lăng nha có cấu tạo bộ máy tiêu hóa của cá dữ điển hình: miệng rộng, răng hàm sắc, nhọn, dạ dày lớn, tỷ lệ chiều dài ruột/chiều dài thân= 89,35%

2.2.6 Đặc điểm sinh trưởng

Cá lăng nha là loài cá có kích cỡ và trọng lượng lớn nhất trong họ cá lăng Khi còn nhỏ cá tăng trọng rất chậm phải trên 5 tháng tuổi cá mới đạt trọng lượng 230-250g/ con Từ tháng thứ 6 – 7 trở đi cá tăng trọng nhanh Sau 1 năm tuổi đạt 1,1-1,4 kg/ con

Mùa sinh sản của cá lăng kéo dài quanh năm và không xác định được đỉnh Có thể thu mẫu cá đang trong thời kỳ sinh sản vào tháng 11

Trang 21

Cá có chiếu dài khoảng từ 30cm trở lên có thể tham gia sinh sản Cá vào bờ sinh sản sau khi nước lên, mùa sinh sản từ tháng 6 đến tháng 7 và chỉ sinh sản một lần trong năm (Mai Thị Kim Dung, 1998)

Cá đẻ trứng dính vào các vật thể trong nước

Tuổi thành thục: 3 năm

Sức sinh sản thực tế: 15.000 – 20.000 trứng/kg Theo Phạm Văn Báu và Nguyễn Đức Tuân (1998; trích bởi Huỳnh Thanh Phương, 2006), cá lăng có sức sinh sản thấp,

hệ số thành thục trung bình 7,48%; sức sinh sản tuyệt đối tăng dần theo tuổi cá từ 3 –

11 tuổi dạt 6.342 – 54.575 trứng, sức sinh sản tương đối trung bình đạt từ 3.750 trứng/kg cá cái

Thời gian tái phát dục: 2 – 2,5 tháng

Thời gian phát triển phôi : 24 – 26 giờ (ở nhiệt độ 28 – 32oC)

2.3 Sơ Lược Về Các Hóa Chất Sử Dụng Trong Thí Nghiệm

2.3.1 Formol (Formalin, Formaldehyde)

2.3.1.1 Đặc điểm

sản do Cục Quản lý dược và Thực phẩm (FDA)

Dạng lỏng, chứa 37% hoạt tính (37% khí formaldehyde hòa tan trong nước) Dung dịch formalin sử dụng trên cá nên chứa 10- 15% methanol nhằm ức chế sự hình

Formol là một hóa chất có phổ kháng khuẩn rất rộng, hiệu quả diệt khuẩn nhanh

và rất an toàn do đó có thể sử dụng trong quá trình nuôi, được sử dụng rộng rãi để trị

ký sinh trùng hoặc tẩy uế trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt và sản xuất giống nước mặn Và nó cũng được dùng như một tác nhân diệt khuẩn và diệt nấm

Có mùi khó chịu, gây kích ứng mạnh đường hô hấp (Nguyễn Như Trí, 2008) 2.3.1.2 Cơ chế tác dụng

Theo Nguyễn Như Trí (2008) formalin thấm qua vách và màng tế bào làm đông đặc nguyên sinh chất

Trang 22

Formalin là một chất diệt bào tử nhờ vào khả năng xâm nhập vào bên trong bào

tử vi khuẩn, là một monoaldehyde phản ứng với protein, DNA và RNA trong ống nghiệm, tác động đến protein do bởi sự tổ hợp với các amide cùng như các nhóm amino Nó là một tác nhân gây đột biến do phản ứng với carboxyl, sulfhydryl và nhóm hydroxyl Formalin cũng tác động đến acid nucleic (ví dụ như DNA của thể thực khuẩn bacteriophage T2) Như đã chỉ ra ở trên nó tạo protein – DNA liên kết chéo, qua đó ức chế tổng hợp DNA (McDonnell và Russell, 1999)

2.3.1.3 Tác dụng và phương pháp sử dụng

Formalin rất hiệu quả chống lại hầu hết các nguyên sinh động vật, cũng như một

số các ký sinh trùng sán lá lớn hơn Formalin có hiệu quả diệt ký sinh trùng trên mang,

da, và vây Ngoài ra, nồng độ cao của formalin được sử dụng để kiểm soát nấm vào trứng cá

Formalin được sử dụng bằng phương pháp tắm để kiểm soát ngoại ký sinh trùng của cá bao gồm tắm kéo dài hoặc tắm trong thời gian ngắn (từ 3 đến 60 phút) sau đó đặt vào môi trường nước sạch Nồng độ hóa chất được sử dụng tùy thuộc vào thời gian tắm cá, nhiệt độ môi trường nước và tình trạng của cá Cá bị bệnh nặng không có khả năng chịu đựng với nồng độ điều trị và có thể có các biểu hiện (bơi loạn xạ, nổi đầu hoặc nhảy khỏi mặt nước) trong suốt thời gian điều trị hóa chất Lúc này nên chuyển cá vào nơi nước sạch ngay lập tức (Francis-Floyd, 1996).

Nồng độ sử dung khi tắm kéo dài từ 15- 25 mg/l Nồng độ thấp hơn 15mg/l thích hợp cho việc sử dụng trong ao nuôi thủy sản Tuy nhiên việc sử dụng formalin trong ao không được khuyến khích Ở nồng độ cao hơn 25 mg/l thì dễ dàng sử dụng cho các hồ chứa, bể chứa 1 ml/10 galon hoặc 2 giọt/1 galon Khi sử dụng formalin thì

Đối với tắm trong thời gian ngắn nồng độ sử dụng là 250 mg/l thời gian 30-60

mg/l trong 1 giờ Tuy nhiên, nếu cá yếu hoặc bệnh nhẹ thì chỉ nên tắm trong 30 phút Tuyệt đối không được tắm cá trong thời gian quá 1 giờ Nếu thấy cá có dấu hiệu yếu thì

1996).

Trang 23

Sử dụng formalin trong trại sản xuất giống để kiểm soát nấm trên trứng cá: formalin được FDA chấp thuận trong việc sử dụng để kiểm soát nấm trong trại sản xuất giống Xử lý trứng cá với nồng độ 1000 – 2000 mg/l trong vòng 15 phút để kiểm soát nấm Vệ sinh là khâu quan trọng trong quản lý trại sản xuất giống nhằm ngăn chặn sự phát triển của nấm trên trứng cá Trứng chết cần phải được loại bỏ khỏi hệ thống nhanh

1996).

Sử dụng như chất khử trùng trong trại giống và ngoài ao nuôi, diệt nấm, vi khuẩn, ngoại ký sinh trùng trên tôm, cá Lượng dùng từ 10 – 25 ppm khi bệnh bùng nổ nhưng phải có sẵn nước để thay để tăng cường ôxy trong ao Khi sử dụng trong ao nuôi thì ngưng cho tôm cá ăn và sau 24 giờ phải thay nước Trong trại giống có thể dùng từ

200 – 300 ppm từ 30 giây đến 1 phút để phòng bệnh MBV trên ấu trùng tôm sú (vietlinh.com.vn)

Dùng xử lý tảo độc phát sáng nồng độ 3 – 5 ppm pha loãng rồi tạt xuống ao Khử trùng định kỳ nguồn nước nuôi với nồng độ 10ppm, pha loãng rồi tạt xuống ao 2- 3 tuần /lần

cách pha loãng rồi tạt xuống ao với nồng độ 10 – 15 ppm

Tắm cá giống trước khi thả nuôi trong 10 – 15 phút nồng độ 250 ppm

Trị sán lá 16, 18 móc, trùng bánh xe bằng cách tắm 10 – 20 phút nồng độ 250ppm

Test gây shock để chọn tôm giống với nồng độ 150 – 200 ppm ngâm trong 1 giờ

2.3.1.4 Lưu ý khi sử dụng

Theo Francis-Floyd, 1996

Formol làm giảm ôxy hòa tan Khi sử dụng mỗi 5 mg/l thì làm giảm 1 mg/l ôxy hòa tan Đó chính là lý do tại sao formalin không được khuyến khích sử dụng trong ao nuôi thủy sản Cẩn thận khi xử lý tôm cá, tôm có mắc bệnh ở mang hoặc bị thiếu máu Không xử lý vào lúc trời mát khi hàm lượng ôxy hòa tan thấp trong ao

Trang 24

Formol là một loại thuốc diệt tảo Khi sử dụng trong ao nuôi, formol sẽ tiêu diệt một lượng tảo khá lớn, bằng cách đó làm giảm khả năng tạo ôxy hòa tan thông qua hoạt động quang hợp của tảo

Formol cần được bảo quản nơi không quá nóng hoặc quá lạnh Không bao giờ

Ở nhiệt độ lạnh formaldehyde sẽ biến đổi thành paraformaldehyde (kết tủa trắng), một chất độc mạnh có khả năng làm chết cá khi tiếp xúc

Độ độc của formol tăng khi nhiệt độ nước tăng Nếu nhiệt độ môi trường nước

Khi điều trị trên những loài cá nhạy cảm như cá peca sọc bằng phương pháp tắm kéo dài nồng độ của formalin không được vượt quá 10 mg/l

Đối với người sử dụng:

xúc với da Tốt nhất nên mang găng tay khi sử dụng formol

Formaldehyde là một chất khí độc hại nên formol cần được giữ trong hộp kín ở nơi thoáng khí Gây kích ứng cho mắt và bề mặt đường hô hấp khi tiếp xúc Pha thuốc nơi thoáng mát

Công thức cấu tạo:

Thuộc nhóm đại diện cation

Là một dung dịch của muối amoni bậc 4 dãy đơn

Trang 25

Tác dụng yếu trên virus Không hiệu quả đối với các virus không vỏ bọc, virus cúm, bào tử

Diệt khuẩn mạnh trên vi trùng và bào tử vi trùng, tảo, nấm, nguyên sinh động vật

Hiệu quả tốt hơn khi làm sạch bề mặt đối tượng sát trùng

Tác dụng được nâng lên ở pH cao

Phối hợp cộng hưởng với glutaraldehyde Tỷ lệ phối hợp 1 : 1,5 (Nguyễn Như Trí, 2008)

2.3.2.2 Cơ chế tác động

BKC có hoạt động bề mặt rất mạnh và nó có thể dễ dàng di vào thành hoặc màng của mầm bệnh để phá hủy nguyên sinh chất và protein phân tử của nó cũng như giết các loại sinh vật đơn bào, virus, nấm, tảo, mốc

Hoạt động sinh học của BKC mạnh nhất khi kết hợp với các dẫn xuất của alkin

từ C12- C14 Cơ chế diệt khuẩn của BKC là bẻ gãy liên kết giữa các phân tử Điều này

có thể làm phân hủy màng tế bào, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát tính thấm của tế bào, gây ra sự rò rỉ của một lượng các tế bào và các phân tử sinh học phức tạp khác bên trong tế bào vi khuẩn có thể cũng bị phân hủy Emzyme kiểm soát một loạt hoạt động

hô hấp và trao đổi chất của tế bào rất dễ bị mất tác dụng Sự tương tác giữa các phân tử

và cấu trúc bậc ba trong hệ thống sinh hóa có thể dễ bị phá vỡ bởi chất hoạt động bề mặt cation

sẽ được hấp thụ và thấm qua màng tế bào, phản ứng với các màng tế bào chất (protein hay lipid) phá hoại cấu trúc màng Làm rò rỉ một lượng nhỏ phân tử vật chất của nội bào và gây nên sự thoái hóa của các protein và các acid nucleic Làm tiêu biến màng bởi enzyme tự phân giải (McDonnell và Russell, 1999)

BKC còn ức chế khả năng nẩy mầm của bào tử (sự phát triển của một tế bào sinh dưỡng được sinh ra từ bào tử) nhưng không phải là một quá trình nẩy mầm thực

sự (chuyển từ trạng thái ngủ đông sang trạng thái hoạt động) mặc dù theo một cơ chế không rõ (McDonnell và Russell, 1999)

Dung dịch BKC nhanh chóng tiêu diệt các tác nhân sinh học trong khoảng thời

Trang 26

vật, dung dịch BKC kiềm hãm hoặc diệt khuẩn theo nồng độ của nó, tác dụng trên vi khuẩn gram dương (+) hiệu quả hơn trên vi khuẩn gram âm (-) Tác dụng của nó tăng ở nhiệt độ cao và thời gian tiếp xúc kéo dài

2.3.2.3 Tác dụng

đuôi, hoại tử phụ bộ, phát sáng; nấm và nguyên sinh động vật Ức chế vi khuẩn và sự phát triển chất nhầy trong mang cá hồi giúp cá hấp thu đầy đủ ôxy (Burridge và ctv, 2008)

Diệt bớt các loại tảo trong ao nuôi khi chúng phát triển quá dày, giúp ổn định độ trong, giúp giảm hiện tượng thiếu ôxy ở tôm nuôi vào buổi sáng sớm (dùng lúc trời nắng)

Thuốc rất an toàn, không gây độc cho tôm (Nguyễn Như Trí, 2008)

Liều lượng và cách dùng

thả nuôi

2.3.2.4 Lưu ý khi sử dụng

Pha loãng thuốc với nước theo tỷ lệ 1 : 20 rồi tạt đều khắp bề mặt ao, đồng thời

mở máy quạt nước hoặc hệ thống sục khí đáy để thuốc phân bố đều vào nguồn nước

ao

Nên xử lý ao lú trời nắng gắt, lúc pH nước ao cao

Để thuốc nơi cách xa trẻ em

Trường hợp thuốc nguyên chất dính vào mắt, da…phải rửa sạch nhiều lần bằng nước thường

2.3.3 Cypermethrin

2.3.3.1 Đặc điểm

diệt côn trùng và các loại ký sinh ngoài da nhưng vẫn rất an toàn với người và động vật

Trang 27

Cypermethrin là một loại thuốc diệt trừ sâu pyrethroid, lần đầu tiên được tổng hợp

vào năm 1974 và có cấu trúc phân tử phức tạp (npic.orst.edu) Nó được sử dụng để diệt

côn trùng trên hoa màu và diệt gián, bộ chét và mối trong nhà và các công trình khác (Cox, 1996)

Cypermethrin là chất độc thần kinh, làm suy giảm hệ thống miễn dịch, ức chế sự hình thành kháng thể làm tăng lượng vi khuẩn gây bệnh, là chất độc hại đối côn trùng

và một số loài có lợi khác như giun đất, cá và tôm (Cox, 1996)

Cypermethrin là một hóa chất tổng hợp được chiết xuất từ hạt của cây hoa cúc

Dalmatia Chrysanthemum cinerariaefolium và cúc Ba Tư (Chrysanthemum coccineum) cúng như một số loài khác thuộc chi này C balsamita và C marshalli, được trồng ở

quy mô thương mại để sản xuất thuốc trừ sâu

2.3.3.2 Cơ chế tác dụng

Cơ chế hoạt động chính của cypermethrin can thiệp vào chức năng của màng dây thần kinh, tác động đến các kênh natri, làm chậm lại các kênh natri của các tế bào thần kinh và tương tác với các thụ thể GABA (gamma – amino – butyric acid) của sán

lá (Athanassopoulou và ctv, 2009) Cypermethrin hoạt động bằng cách nhanh chóng ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương của côn trùng Làm gián đoạn hoạt động bình thường của hệ thần kinh Trong côn trùng cũng như tất cả các loài động vật khác kể cả con người, các xung thần kinh chạy dọc theo các dây thần kinh vừa thấm các nguyên tử natri, cho phép natri chảy vào các dây thần kinh Cypermethrin làm chậm kết thúc quá trình trên, điều này dẫn đến việc tăng các xung thần kinh hơn bình thường Đổi lại, các xung thần kinh này làm dây thần kinh tách khỏi chất đẫn truyền xung thần kinh acetylcholine và kích thích các dây thần kinh khác (Cox, 1996)

Cypermethrin còn có tác dụng khác trên hệ thần kinh, nó ức chế thụ thể acid aminobutyric là nguyên nhân gây hưng phấn và động kinh Ngoài ra, nó ức chế sự hấp thu canxi của dây thần kinh, ức chế một loại enzyme phá vỡ chất dẫn truyền thần kinh (Cox, 1996)

hệ thống thần kinh- triphosphatase adenosine, tham gia vào việc sản xuất năng lượng tế

Trang 28

bào, vận chuyển của các nguyên tử kim loại, và gây nên các cơn co thắt cơ bắp (Cox, 1996)

2.3.3.3 Tác dụng

cypermethrin trong việc tiêu diệt rận biển xâm nhập

Gần đây, cypermethrin đã được sử dụng như một loại tác nhân trị liệu để kiểm

soát ngoại ký sinh trùng Lepeophtheirus salmonis (rận trên cá hồi) và Caligus

elongates (một loài rận biển) trong nuôi lồng bè cá hồi Đại Dương trên biển (Richards,

1983)

phương pháp tắm trong vòng 1 giờ hoặc tắm trong vòng 30 phút với nồng độ 15

2.3.3.4 Lưu ý khi sử dụng

một lượng thuốc đáng kể trong thời gian ngắn (từ 30 ml trở lên) Thuốc sẽ kích thích phế quản tiết dịch và gây co thắt cơ trơn dữ dội, tác động ức chế hệ thần kinh trung ương gây nên các triệu chứng nóng và ngứa ran mặt, chóng mặt, nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi, mất khả năng kiểm soát bàng quang Nếu tiếp xúc lâu sẽ có các triệu chứng

co giật cơ bắp, buồn ngủ, hôn mê và động kinh Vì vậy khi sử dụng thuốc cần lưu ý các vấn đề như không nên để thuốc tiếp xúc với da, nên sử dụng găng tay trong quá trình pha thuốc, để thuốc tránh xa tầm tay của trẻ em và không nên ném bình xuống sông suối, nguồn nước công cộng…(www.suckhoe.com.vn)

2.4 Sơ Lược Về Độ Độc Cấp Tính

Để đánh giá độ độc của một loại hóa chất đối với thủy sinh vật thì người ta dùng

sinh vật thí nghiệm trong một khoảng thời gian nhất định (24 giờ, 48 giờ, 72 giờ, 96

milligram) hóa chất trên lít hoặc một phần triệu (ppm) trong không khí hoặc trong

Trang 29

loài khác và đến con người, và còn được gọi là nồng độ gây chết trung bình (Businessdictionary.com).

giữa các hóa chất Trong tất cả các thí nghiệm này, liều lượng hóa chất phải được tính

ai/kg (mg chất độc hoạt động (active ingredient) trên mỗi kg thể trọng của sinh vật thí nghiệm) (Nguyễn Hữu Trúc, 2008)

EC (Effect concentration) là nồng độ bắt đầu có biểu hiện ảnh hưởng của thuốc, kháng thể hoặc hóa chất đối với sinh vật Đơn vị là mg/l,

Trang 30

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài

Đề tài đã được tiến hành từ tháng 03/2010 đến tháng 06/2010, tại trại Thực Nghiệm Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

3.2 Vật Liệu Nghiên Cứu

3.2.1 Dụng cụ

Bể nuôi composite

Hũ nhựa trong suốt có dung tích 5 lít

Vợt, nhiệt kế thủy ngân, bộ test chất lượng nước: pH, ôxy hòa tan (DO), độ kiềm tổng cộng Alkalinity của Sera

cốc đong 50ml

3.2.2 Hóa chất

Cymex (10% cypermethrin) của công ty Samyang Anipharm – Hàn Quốc

BKC 80 (80% BKC) của công ty TNHH TM DV SX Ánh Việt

3.3 Đối Tượng Nghiên Cứu

Đối tượng dùng trong thí nghiệm là cá tra giống (Pangasianodon

hypophthalmus) và cá lăng giống (Mystus wyckioides)

3.3.1 Cá tra giống (Pangasianodon hypophthalmus)

Lâm Tp.Hồ Chí Minh có trọng lượng trung bình 4,84 ± 0,426 g/con và chiều dài trung bình 7,71 ± 0,573 cm

nhiên để nhằm tạo môi trường tự nhiên cho cá Hàng ngày cho cá ăn 2 lần bằng thức ăn công nghiệp trong suốt quá trình thí nghiệm

Trang 31

Khi chuẩn bị bố trí thí nghiệm, để cho cá quen với môi trường nước mới, ta tiến hành lựa cá vào các hũ nhựa trước một ngày

Chọn những con bơi khỏe, nhanh nhẹn; đều cỡ, không dị hình, dị tật; da, vây, hàm dưới miệng không bị xuất huyết; màu sắc tươi sáng, lưng màu xanh đen, bụng màu trắng bạc; cá không bị sây sát và các vây không bị rách

thải phân ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước khi tiến hành thí nghiệm

3.3.2 Cá lăng nha giống (Mystus wyckioides)

Nguồn cá lăng nha giống được sản xuất giống tại Trại Thực Nghiệm Thủy Sản trường đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh Ta tiến hành thí nghiệm trên cá lăng có kích cỡ khoảng trung bình từ 2,5 đến 3 cm

Cũng như đối với cá tra, ta cũng tiến hành lựa cá vào các hũ nhựa 1 đến 2 ngày trước khi tiến hành thí nghiệm để cá quen với môi trường nước

Chọn những con cá khỏe, nhanh nhẹn; không gãy đuôi, cá không sây sát, không

dị hình, dị tật

Hình 3.1 Lựa cá Hình 3.2 Bố trí cá vào hệ thống thí nghiệm

3.4 Phương Pháp Nghiên Cứu

Trước khi bố trí thí nghiệm, ta tiến hành giải phẫu nghiên cứu ký sinh trùng trên

cá thí nghiệm Mục đích là đảm bảo cá thí nghiệm khỏe mạnh hoàn toàn, đảm bảo kết quả thí nghiệm chính xác hơn

Trang 32

Quá trình kiểm tra ký sinh trùng trên cá

9 Đặt cá trong khay nhôm sạch, giữ ẩm

9 Trước tiên, quan sát cá bằng mắt thường, chú ý màu sắc, hình dạng thân, các hiện tượng như bị tổn thương, u nhọt, vết đen, loét, đốm trắng ở da và mang cũng như các ký sinh trùng lớn (đỉa, giáp xác…) bám trên da, vẩy cá để chẩn đoán sơ bộ bệnh cá

9 Dùng dao cạo lấy nhớt ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể cá: da, vây…quan sát dưới kính hiển vi

9 Dùng kéo cắt bỏ nắp mang rồi quan sát bằng mắt thường Cắt cung mang, dùng kẹp lấy ra quan sát bằng mắt thường, sau đó quan sát dưới kính hiển vi từ độ bội giác nhỏ đến lớn

Đối với cá lăng thì do cá con quá nhỏ nên chỉ kiểm tra ký sinh trùng bên ngoài

da bằng cách quan sát hình dạng ngoài và dùng dao cạo lấy nhớt quan sát dưới kính hiển vi

3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Trong thí nghiệm này, chúng tôi tiến hành xác định độ độc cấp tính của các hóa

50-48h

Cá tra và cá lăng nha được bố trí vào trong các hũ nhựa chứa 4 lít nước với mật

độ 10 con/hũ Nước được sử dụng là nước máy được trữ từ 2 đến 3 ngày để bay hết mùi Chlorine Sử dụng phương pháp bố trí nghiệm thức hoàn toàn ngẫu nhiên, cá trong các nghiệm thức cũng được bắt ngẫu nhiên

3.4.1.1 Thí nghiệm 1: Thí nghiệm thăm dò

Xác định nồng độ thuốc có biểu hiện ảnh hưởng của hóa chất EC (Effect

ba loại hóa chất formol, BKC và cypermethrin trên hai đối tượng cá tra và cá lăng giống

Mỗi hóa chất có 6 nghiệm thức (một đối chứng không xử lý thuốc và 5 nghiệm thức có nồng độ thuốc), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần và các nghiệm thức được

bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên

Trang 33

Trước khi chuẩn bị thí nghiệm cần tìm hiểu về liều lượng sử dụng cũng như

3, 6, 9, 12, 24 và 48 giờ tính từ lúc bắt đầu cho thuốc vào các nghiệm thức

Trong thời gian thí nghiệm, đảm bảo cá ở lô đối chứng vẫn khỏe mạnh, nếu lô đối chứng có số cá chết trên 1 con thì ta tiến hành làm thí nghiệm lại từ đầu

Trong khoảng thời gian này ta cũng không cho cá ăn để tránh làm bẩn nước do

cá bài tiết và dư thừa thức ăn làm ảnh hưởng đến độc lực của thuốc thí nghiệm

Trong thời gian tiến hành thí nghiệm ta cần theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước như oxy hòa tan (DO), pH, ammonia Không cần theo dõi chỉ tiêu nhiệt độ vì thí nghiệm được tiến hành trong phòng máy lạnh nên không có sự thay đổi về nhiệt độ nước

Sau 48 giờ thí nghiệm, ta tiến hành chọn nồng độ thuốc cao nhất mà tại nồng độ

đó không có cá chết, cá vẫn khỏe mạnh, hoạt động bình thường khi cho vào môi trường nước sạch Và chọn nồng độ thuốc thấp nhất làm chết 100% cá thí nghiệm

Từ hai nồng độ trên ta thiết lập một dãy 5 nồng độ thuốc tăng dần bắt đầu từ nồng độ cao nhất không có cá chết đến nồng độ thấp nhất tại đó 100% cá chết để tiến

và cá lăng nha sau 48 giờ

nhân với một hệ số a ≥ 0,5 (USPEA, 2002) để khảo sát tiếp tục khả năng chịu đựng

Trang 34

Thí nghiệm được tiến hành gồm 6 nghiệm thức bao gồm một nghiệm thức đối chứng không sử dụng hóa chất và một dãy 5 nghiệm thức được xử lý hóa chất Các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại với mật độ 10 cá/4 lít nước

a Formol

Dựa vào kết quả của thí nghiệm thăm dò của formol trên cá tra và cá lăng (xác

Bảng 3.1: Nồng độ formol trong thí nghiệm xác định LC50-48h

b BKC

Dựa vào kết quả của thí nghiệm thăm dò của BKC trên cá tra và cá lăng (xác

Trang 35

Bảng 3.2 Nồng độ BKC trong thí nghiệm xác định LC50-48h

c Cypermethrin

Dựa vào kết quả của thí nghiệm thăm dò của Cypermethrin trên cá tra và cá

Bảng 3.3 Nồng độ Cypermethrin trong thí nghiệm xác định LC50-48h

Các điều kiện thí nghiệm được giữ như nhau ở tất cả các nghiệm thức

Trang 36

Các chỉ tiêu theo dõi: cũng như ở thí nghiệm thăm dò cần theo dõi các chi tiêu chất lượng nước như oxy hòa tan (DO), pH, ammonia đảm bảo phù hợp với điều kiện sống của cá

Theo dõi tình trạng của cá và ghi nhận số lượng cá chết trong từng nghiệm thức

ở các mốc thời gian 1, 3, 6, 9, 12, 24 và 48 giờ như ở thí nghiệm thăm dò

3.5 Phương Pháp Phân Tích Và Xử Lý Số Liệu

Tính tỷ lệ cá chết tích lũy (%) ở các lô cá thí nghiệm

9 Xác định tỷ lệ phần trăm cá chết tích lũy (y) (trung bình theo từng nghiệm thức) và nồng độ thuốc (x) ở từng nghiệm thức

9 Quy đổi x sang giá trị X= lgx

9 Quy đổi y sang giá trị Y= arcsin√y

Sau đó sử dụng các giá trị X và Y để vẽ đồ thị và phương trình tương quan hồi quy Y= ax+b bằng phần mềm minitab

(50%) thì Y= arcsin√y

Hình 3.4 Hệ thống thí nghiệm cá tra Hình 3.5 Hệ thông thí nghiệm cá lăng nha

Ngày đăng: 31/03/2019, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm