1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT MỘT SỐ LOÀI TÔM BỌ NGỰA THUỘC BỘ STOMATOPODA Ở MỘT SỐ TỈNH TỪ ĐÀ NẴNG ĐẾN CÀ MAU

78 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công trình nghiên cứu về sự phân bố, phân loại và sinh sản nhân tạo giống tôm bọ ngựa này ở Việt Nam không nhiều để thấy được tầm quan trọng của chúng, do vậy việc nghiên cứu và khảo

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT MỘT SỐ LOÀI TÔM BỌ NGỰA THUỘC BỘ

Trang 2

KHẢO SÁT MỘT SỐ LOÀI TÔM BỌ NGỰA THUỘC BỘ STOMATOPODA Ở MỘT SỐ TỈNH TỪ ĐÀ NẴNG ĐẾN CÀ MAU

Thực hiện bởi

Phạm Trần Huyền Trang

Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn: Ths Phạm Văn Nhỏ

Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 7/2010

Trang 3

TÓM TẮT

Quá trình khảo sát đã liệt kê được 9 loài thuộc 5 giống như sau:

Harpiosquilla harpax De Haan, 1844 Oratosquillina interrupta Kemp, 1911 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911 Oratosquilla oratoria De Haan, 1844 Erugosquilla woodmasoni Kemp, 1911 Miyakea nepa Latreille, 1820

Oratosquillina gravieri Manning, 1978 Cloridopsis scorpio Kemp, 1913

Cloridopsis immaculata Kemp, 1913

Trong 9 loài nêu trên thì Harpiosquilla harpax là loài có giá trị kinh tế quan trọng nhất và có lẽ chỉ xuất hiện ở miền Trung Việt Nam, tiếp đến là Oratosquillina

Trang 4

ABSTRACT

The survey on Stomatopoda shrimp from Da Nang city to Ca Mau province

shows that there are nine species belonging to 5 genera:

Harpiosquilla harpax De Haan, 1844 Oratosquillina interrupta Kemp, 1911 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911 Oratosquilla oratoria De Haan, 1844 Erugosquilla woodmasoni Kemp, 1911 Miyakea nepa Latreille, 1820

Oratosquillina gravieri Manning, 1978 Cloridopsis scorpio Kemp, 1913

Cloridopsis immaculata Kemp, 1913

Among these 9 species, Harpiosquilla harpax has a high economic importance

and just can be present in the middle part of Vietnam And the second is

Oratosquillina interrupta

Miyakea nepa : This species is popular and present during the year in Vietnam

The distribution, the economic importance as well as the fishery and the market are also assessed

Trang 5

CẢM TẠ

Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản

Cùng toàn thể quí thầy cô khoa Thủy sản đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt quá trình học

Đặc biệt với lòng biết ơn sâu sắc xin gửi đến Thầy Phạm Văn Nhỏ đã tận tình

hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Cám ơn các anh, chị, các bạn sinh viên đã động viên giúp đỡ chúng tôi trong những năm học tập cũng như thời gian thực hiện đề tài

Do thời gian thực hiện cũng như kiến thức chuyên môn còn hạn chế nên quá trình thực hiện đề tài và hoàn tất khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô cùng các bạn

\

Trang 6

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC TRANG

TÊN ĐỀ TÀI i

TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii

TÓM TẮT TIẾNG ANH iii

CẢM TẠ iv

MỤC LỤC v

DANH SÁCH BẢNG vii

DANH SÁCH HÌNH ẢNH viii

I GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Một Vài Đặc Điểm Chung Của Nhóm Tôm Bọ Ngựa 3

2.1.1 Sinh thái học 3

2.1.2 Phân loại càng 4

2.1.3 Mắt 5

2.1.4 Tập tính sống và sự sinh sản 5

2.2 Đặc Tính Chung Của Các Trên Họ 7

2.2.1 Bathsquilloidea 7

2.2.2 Erythrosquilloidea 8

2.2.3 Gonodactyloidea 8

2.2.4 Lysiosquilloidea 9

2.2.5 Eurysquilloiea 9

2.2.6 Parasquilloidea 10

2.2.7 Squilloidea 10

III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

3.1 Thời Gian và Địa Điểm Thu Mẫu 11

3.2 Đối Tượng Nghiên Cứu 11

3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu 11

IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Kết Quả Chung 19

4.2 Mô Tả Từng Loài 23

4.2.1 Harpiosquilla harpax De Haan, 1844 23

4.2.2 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911 27

Trang 7

4.2.3 Oratosquillina interrupta Kemp, 1911 .31

4.2.4 Cloridopsis immaculata Kemp, 1913 35

4.2.5 Cloridopsis scorpio Kemp, 1913 37

4.2.6 Miyakea nepa Latreille 1828 41

4.2.7 Oratosquillina gravieri Manning, 1978 .45

4.2.8 Erugosquilla woodmasoni Kemp, 1911 49

4.2.9 Oratosquilla oratoria De Haan, 1844 .54

4.3 Đánh Giá Về Tiềm Năng Kinh Tế Của Tôm Tích 56

4.4 Khóa phân loại của một số loài tôm tích được khảo sát 62

V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65

5.1 Kết Luận 65

5.1.1 Về kích thước 65

5.1.2 Về hình thái bên ngoài 65

5.1.3 Về phân bố 66

5.1.4 Về giá trị kinh tế 66

5.2 Đề Nghị 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

Trang 8

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 4.1 Các kết quả về phân loại Stomatopod ở Việt Nam 21 Bảng 4.2 Kích cỡ tối đa của một số loài tôm tích ở Việt Nam 58

Trang 9

DANH SÁCH HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Hình thái bên ngoài của tôm bọ ngựa nhìn ngang 12

Hình 3.2 Hình thái mặt lưng của tôm bọ ngựa (Stomatopoda) 13

Trang 10

Chương 1

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Sản phẩm thủy sản là một nguồn cung cấp protein quan trọng trong đời sống hàng ngày của người dân, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay cùng với sự phát triển của

xã hội và sự tăng dân số ồ ạt đã dẫn đến nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản ngày càng tăng, từ đó đã làm cho nguồn tài nguyên thủy sản ngày càng cạn kiệt Trước thực

tế đó, nghề nuôi trồng thủy sản phải làm thế nào để sử dụng và tái tạo tốt nguồn tài nguyên thủy sản, đồng thời nghiên cứu tìm tòi thêm những loài thủy sản mới để đáp ứng nhu cầu của người dân là việc làm cần thiết và quan trọng

Tại Việt Nam, cách đây khoảng mười lăm năm về trước tôm bọ ngựa ít được sử dụng làm thức ăn cho con người thì ngày nay chúng đã xuất hiện thường xuyên trong các khu chợ để làm tăng thêm sự đa dạng trong các bữa cơm của người dân thay vì phơi khô như trước

Các công trình nghiên cứu về sự phân bố, phân loại và sinh sản nhân tạo giống tôm bọ ngựa này ở Việt Nam không nhiều để thấy được tầm quan trọng của chúng, do vậy việc nghiên cứu và khảo sát về các loài tôm bọ ngựa là một việc làm thiết thực

Xuất phát từ thực tế trên, được sự phân công của khoa Thủy Sản Trường Đại

Học Nông Lâm, TP Hồ Chí Minh chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Khảo sát một

số loài Tôm Bọ Ngựa thuộc bộ Stomatopoda ở một số tỉnh từ Đà Nẵng đến Cà Mau”

Trang 11

1.2 Mục tiêu đề tài

Tiếp bước những nhà nghiên cứu đi trước chúng tôi tiến hành:

o Định danh, mô tả một số loài tôm bọ ngựa phân bố ở các tỉnh từ Đà Nẵng đến Cà Mau

o Đề ra khóa phân loại cho từng loài

o Đánh giá tiềm năng kinh tế của một số loài tôm bọ ngựa ở Việt Nam

Trang 12

đã không thay đổi gì trong khoảng hơn 400 triệu năm tiến hóa trên trái đất

Theo người Assyrian cổ xưa, loài tôm này còn được gọi là “ cào cào biển”, hay

“sát thủ” ở vùng biển Australia Có khoảng hơn 450 loài thuộc nhóm tôm bọ ngựa trên thế giới, trong đó có khoảng 150 loài ở Australia, 90 loài được báo cáo ở phía Nam bờ biển Trung Quốc, 81 loài ở vùng biển Andaman, 85 loài ở Phillippin và khoảng 84 loài ở Việt Nam…(T.A Britayev; D S Pavlov, 2007)

Tôm bọ ngựa thường được tìm thấy ở những vùng nước mặn, nông nhưng có một vài loài có thể sống được ở nơi sâu hơn 1000 m, ví dụ như một số loài của Bathysquiloidea có thể được tìm thấy ở độ sâu đến 1500 m (Manning, 1991)

2.1.1 Sinh thái học

Nhóm tôm bọ ngựa hay còn được gọi là tôm tích ở Việt Nam thường được tìm thấy chỉ một con đơn lẻ hay 1 cặp, chúng ẩn náu trong các lỗ hổng hay các hang do tự đào trên các phiến san hô ngầm, đá và các chất nền mềm, xốp Một vài loài thuộc nhóm tôm tích có thể phát triển chiều dài đến 55 cm

Nhóm tôm tích săn mồi bằng cặp chân hàm hai (càng bắt mồi), cặp chân này giống với cặp chân phía trước của nhóm sâu bọ săn mồi, chúng ta có thể khái quát

Trang 13

thành hai nhóm; Nhóm xiên: chúng dùng càng phía trước để đâm vào con mồi như giun, tôm và cá; Nhóm đập: dùng càng phía trước để đập vỡ tổ hay nơi ẩn nấp của con mồi và sau đó ăn con mồi, thức ăn chủ yếu của tôm tích là động vật có vỏ như cua và

ốc sên Tất cả các loài tôm bọ ngựa đều bắt mồi bằng cách nằm rình, quan sát sau đó nhanh chóng đâm hoặc kẹp lấy con mồi và kéo vào hang khi chúng đi ngang qua Một

số loài tôm bọ ngựa thuộc vùng nhiệt đới có thể sử dụng tín hiệu huỳnh quang để thu hút sự chú ý hay hấp dẫn con mồi (Marshall, 1988)

Chúng hiếm khi đi ra khỏi hang của mình, ngoại trừ những lúc đi kiếm ăn hay

di dời chỗ ẩn nấp, có thể là ban ngày, về đêm hay lúc hoàng hôn, điều này phụ thuộc vào từng loài

Loài tôm này xuất hiện với nhiều màu sắc, từ màu nâu tối đến màu sáng neon Phần lớn loài tôm này sống ở vùng biển nhiệt đới hay cận nhiệt đới (Ấn Độ Dương hay Thái Bình Dương giữa đông Châu Phi và Hawaii), một số còn phân bố ở vùng biển ôn đới

2.1.2 Phân loại càng

Khoảng hơn 450 loài Tôm Bọ Ngựa được mô tả trên thế giới Chúng thường tách thành 2 nhóm riêng biệt được xác định theo kiểu càng mà chúng được trang bị (Caldwell & Dingle, 1976)

¾ Nhóm đâm (The spearers)

So sánh về mặt hình thái học của Giáp xác thì chân hàm thứ hai (second maxilliped) của nhóm tôm này biến đổi thành càng là cơ quan để bắt mồi sống Đốt ngón của chân hàm thứ hai này được trang bị những chiếc gai dựng đứng dạng lược, dùng để đâm vào con mồi khi chúng đi ngang qua hang của nó

¾ Nhóm đập (The smashers)

Sự khác biệt là chân hàm thứ hai được biến thành càng dạng đập, mặc dù chúng vẫn có những gai xiên nhưng chỉ ở dạng thô sơ với chức năng đập nát con mồi, như những con mồi có vỏ cứng (ốc, nhuyễn thể) Chúng thường sống trong các hốc sâu hình thành trên nền đáy cứng bãi san hô hoặc đá

Trang 14

Cả hai loại “vũ khí’ này đều hoạt động rất nhanh và nhịp nhàng, rất nguy hiểm với con mồi kể cả những con mồi có kích cỡ lớn hơn chúng Bởi chúng rất nhanh, có thể đạt tốc độ 23 m/s từ lúc bắt đầu cuộc săn đuổi (đối với nhóm đập) Những cái càng đập có một năng lực mà chúng ta khó có thể tưởng tượng: đối với loài thuộc nhóm Stomatopod có kích thước khoảng 5 cm thì chúng có thể “hạ” được con mồi là ốc sên

có kích cỡ bằng nửa kích thước của nó! (Cadwell & Dingle, 1976)

2.1.3 Mắt

Loài tôm bọ ngựa là loài động vật có đôi mắt phức tạp nhất trên thế giới, về đôi mắt của loài tôm bọ ngựa, nhà nghiên cứu Tom Cronin đã nhận xét rằng: “Dù ở trong bất kì vị trí nào, nó đều biết được từng cử động của mọi thứ xung quanh Bạn không thể bắt được nó”

Sự khác thường trong đôi mắt của nhóm Stomatopod:

ƒ Có khả năng nhìn lập thể mọi vật xung quanh chỉ với một mắt

ƒ Mắt của nhóm này có thể phân biệt được 16 sắc tố thị giác

ƒ Có thể nhìn thấy tia cực tím và tầng ánh sáng đỏ, thậm chí có thể nhìn thấy được ánh sáng phân cực

2.1.4 Tập tính sống và sự sinh sản

Trong thời gian sống, chúng có thể sinh sản khoảng 20 – 30 lần phụ thuộc vào từng loài Chu kì sống của tôm bọ ngựa gồm: trứng, ấu trùng phiêu sinh, ấu niên và

tăng trưởng, trưởng thành sinh dục (Nguyễn Văn Xuân, 2004)

Cũng tùy thuộc vào từng loài, con đực và con cái có thể gặp nhau chỉ để giao phối hoặc chúng có thể xác lập một mối quan hệ lâu dài

Trong loài có mối quan hệ lâu dài, loài tôm bọ ngựa này có thể sống với nhau lên đến 20 năm Chia sẻ cùng một hang, cùng gánh vác các hoạt động cho nhau, cả hai

cùng bảo vệ trứng Ở giống Pullosquilla và một số loài thuộc giống Nannosquilla, con

cái xếp trứng vào hai tổ, một sẽ do con đực chăm sóc và một sẽ do con cái chăm sóc Trong một số loài khác, con cái sẽ chăm sóc trứng trong khi con đực lo việc săn mồi

Trang 15

Sau khi trứng nở, ấu trùng đó trải qua hơn 3 tháng sống trôi nổi (Tirmizi & Kazmi, 1984)

Việc cho sinh sản nhân tạo loài tôm bọ ngựa này gặp rất nhiều khó khăn, theo các nhà nghiên cứu đi trước thì có hai phương pháp trực tiếp để nghiên cứu đời sống

ấu trùng loài tôm này, thứ nhất là là dựa vào dấu tích hình thái học của các loài được bảo tồn, thứ hai là nuôi giữ ấu trùng trong tự nhiên để theo dõi tập tính sống của nó Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu và chăm sóc ấu trùng nhưng đến nay chỉ có ba loài thành công từ lúc nở cho đến hết các giai đoạn biến đổi hình thái:

Oratosquilla oratoria (Takamatsu et al và Shioya, 1966), Gonodactylus oerstedii

(Provenzano, Jr và Manning, 1978), và loài Heterosquilla tricarinata (Greenwood và

William, 1984)

Có hai nguyên nhân giải thích tại sao việc nuôi giữ và chăm sóc ấu trùng giống tôm Stomatopod gặp rất nhiều khó khăn: Một là con cái đẻ một khối lượng trứng nhiều nhưng hiếm khi thu nhặt lại được, hai là chế độ ăn chưa thật sự tương xứng và phù hợp cho các giai đoạn phát triển của ấu trùng (Tatsuo Hamano & Shuhei Matsuura, 1986)

Theo nghiên cứu thì loài tôm bọ ngựa Nhật Oratosquilla oratoria trải qua 11

giai đoạn phát triển ấu trùng, điều này dễ dàng nhận thấy khi quan sát sự thay đổi số

lượng các đốt và các lông cứng ở phụ bộ (Takamatsu et al và Shioya, 1986)

Trước đây, qua quá trình nghiên cứu, một số tác giả đã đưa ra bản liệt kê về các loài Stomatopoda ở Việt Nam và có khoảng 21 loài được báo cáo ở vịnh Nha Trang, Việt Nam, trong đó mô tả về hình thái học, môi trường sống, màu sắc và sự phân bố của các loài được nghiên cứu

Những hiểu biết gần đây về tôm bọ ngựa ở Việt Nam hầu như dựa trên sự nghiên cứu và những công bố của Ch Gravier (1930), R Serène và C Dawydoff (1937), đặc biệt là những dữ liệu chưa được công bố của R Serène và được dẫn giải rộng hơn bởi Raymond B Manning Ngoài ra Blumstein (1970, 1974); Makarov (1978, 1979) cũng đã có đóng góp quan trọng những hiểu biết về loài tôm này ở Việt Nam)

Trang 16

Dựa vào những nghiên cứu của Gravier, Serène và được biết đến theo Manning (1995) thì ở biển Việt Nam có khoảng 72 loài tôm bọ ngựa Theo báo cáo mới nhất, số liệu này đã tăng lên là 84 loài T.A Britayev và D.S Pavlov (2007)

2.2 Đặc tính chung của các trên họ

Dựa theo những khảo sát của các nhà nghiên cứu thì trên thế giới có 7 trên họ, mỗi họ đều có những đặc điểm khái quát riêng giúp chúng ta có thể nhận biết được

2.2.1 Bathysquilloidea

Đốt bàn của chân hàm 3 và 4 có hình oval, thường thì có chiều dài lớn hơn chiều rộng, thiếu các dải sọc nổi trên mặt lưng

Hầu như tất cả các răng sơ cấp của đốt đuôi đều có đỉnh cử động được

Trên họ này chỉ có 1 họ là Bathysquillidae

Các loài trong họ này được cho rằng là đại diện cổ xưa nhất của nhóm stomatopod, hiện tại nhóm loài này đã thu hẹp vùng phân bố, chỉ cư trú ở vùng nước sâu, dốc của thềm lục địa (Manning and Struhsaker, 1976), đồng thời chức năng của mắt và càng bắt mồi cũng giảm đi

Bathysquilla microps được xem là loài lớn, với chiều dài tổng cộng khoảng 255

mm, chúng sống ở nơi có độ sâu vào khoảng 604-1281 m (Manning & Struhsaker, 1976)

Bathysquilla crassispinosa (Fukuda, 1910), chiều dài có thể là 300 mm, phân

bố ở nơi có độ sâu là 208-310 m (Fukuda, 1910; Manning & Struhsaker, 1976; Bruce, 1985)

Một số loài có thể chịu được nơi có điều kiện khắc nghiệt như loài Altosquilla

soelae (8.4°-9.6° C) ở độ sâu 396 – 458 mm (Bruce, 1985)

2.2.2 Erythrosquilloidea

Đốt bàn của chân hàm 3 và 4 có hình dạng gần như là hình chữ nhật, thường thì

có chiều rộng hơn chiều dài, xuất hiện các dải sọc nổi trên mặt lưng

Đốt đuôi có gờ giữa mảnh và rõ Phần lồi phía mặt lưng của đốt râu nhỏ ngắn, tròn bên

Trang 17

2.2.3 Gonodactyloidea

Cơ thể gần hình trụ, trông có vẻ “kiên cố”

Mắt có giác mạc gần hình trụ hoặc có thùy đối xứng nhau

Trên họ Gonodactyloidea được đại diện bởi 6 họ: Takuidae, Pseudosquillidae, Eurysquillidae, Odontodactylidae, Gonodactylidae và Protosquillidae

Hầu như chúng đều là đại diện cho nhóm đâm (“The Smashes”) (Ngoại trừ họ Odontodactylidae)

Các loài của giống Odontodactylus có kích cỡ lớn nhất so với các nhóm loài khác trong họ Trong khi đó, các loài của giống Gonodactylus lại có kích thước nhỏ

(khoảng 105 mm) nhưng các loài trong họ này lại có sự đa dạng sinh học hơn so với

Odontodactylus Giống Protosquilla ở phía đông Đại Tây Dương có mối quan hệ gần

gũi với giống Chrisquilla ở phía Tây Thái Bình Dương (kích thước cơ thể tối đa

thường nhỏ hơn 50 mm) (Manning, 1987)

Chúng thường sống sâu dưới đáy biển (đôi khi một số loài có thể sống được ở môi trường nước sâu và lạnh)

Đa số chúng đều có càng được trang bị răng sắc, nhọn (ngoại trừ Hemisquilla) Hermisquillidae có kích thước tương đối (174 mm) Giống Hemisquilla được đại diện bởi H ensigera (L Reaka & Manning, 1987)

Trong họ Pseudosquillidae, những loài của giống Parasquilla có kích cỡ cơ thể khá lớn (chiều dài lên đến 160 mm), ở phía Tây Thái Bình Dương, giống Parasquilla

đã được thay thế bởi giống Faughnia (chiều dài ít nhất cũng đạt đến 157 mm)

(Manning and Makarov, 1987)

Các loài trong giống Pseudosquillopsis có thể đạt từ kích thước trung bình đến

Trang 18

2.2.4 Lysiosquilloidea

Thành viên của Lysiosquilloidea rất dễ dàng được nhận ra bởi các đặc điểm: cơ thể trơn láng, mặt lưng bằng phẳng Một số loài có thì trên cơ thể có các dải màu sáng tối xen kẽ nhau

Đốt bàn của chân hàm 3 – 5 có dạng gần giống hình vuông

Đốt đuôi không có gờ giữa Một số ít có gờ giữa phồng lên

Phần lồi phía mặt lưng của đốt râu nhỏ có dạng hình gai, góc cạnh ở phần bên Trên họ Lysiosquilloidea có 3 họ: Lysiosquillidae (5 giống), Nannosquillidae (8 giống) và Coronididae (3 giống)

Tất cả đều có càng được trang bị những khía răng sắc, mảnh và đều thuộc nhóm

(Manning, 1978), còn các loài khác thì chiều dài cơ thể nằm trong khoảng từ 132-385

mm (L Reaka & Manning, 1987)

Trong khi đó các loài nằm trong họ Nannosquillidae thì có kích thước từ nhỏ cho đến trung bình

Một trong những giống có kích thước lớn nhất, phân bố rộng là Acanthosquilla Tất cả 20 loài trong giống Nannosquilla đều có kích thước nhỏ hơn 42 mm

(Manning, 1987)

2.2.5 Eurysquilloidea

Đốt đuôi không có nhiều hơn 3 (thường sẽ là 2) răng nhỏ trung gian

Cơ thể dẹt

Trang 19

Eurysquilloidea chưa được tìm thấy ở phía Nam Australia

2.2.6 Parasquilloidea

Trên họ này có 1 họ: Parasquillidae

Phụ bộ chân đuôi có 3 gai sơ cấp ở tận cùng

Mắt có chia thùy không đối xứng nhau, gờ lề phía ngoài dài hơn gờ lề ở phía trong

Họ Harpiosquillidae giống với họ Lysiosquillidae là chúng có kích thước cơ thể lớn (335 mm) (Reaka & Manning, 1981)

Theo Manning, 1978 thì trên thế giới có khoảng 33 loài thuộc giống

Oratosquilla có kích thước cơ thể lên đến hơn 200 mm, trong khi đó các loài thuộc

giống Squilla chỉ có kích thước hơn 150 mm

Trang 20

3.2 Đối tượng nghiên cứu

¾ Một số loài tôm bọ ngựa (Tôm tích)

¾ Mẫu vật nghiên cứu phải còn đầy đủ phụ bộ

¾ Mẫu thu được rửa sạch, cố định trong lọ nhựa chứa cồn 400 – 500

3.3 Phương pháp nghiên cứu

Dùng tài liệu phân loại để nhận diện các loài thu được dựa vào các chỉ tiêu phân

loại nhóm Stomatopoda theo các hình từ 3.1 đến 3.5

Phương pháp đo chiều dài tổng của cơ thể (Total lengh: TL): được đo tính từ đỉnh chủy (Rostrum) đến điểm cuối cùng của đốt đuôi (Telson)

Trang 21

Hình 3.1 Hình thái bên ngoài của tôm bọ ngựa nhìn ngang

1 Râu nhỏ hay râu I (Antennule)

10 Chân bò (Walking legs)

11 Chân hàm thứ hai biến đổi thành càng bắt mồi (Raptorial claw)

12 Râu II (Antenna)

13 Đuôi (Tail)

Trang 22

Hình 3.2 Hình thái mặt lưng của Tôm Bọ Ngựa (Stomatopoda)

Trang 23

VỎ ĐẦU NGỰC (Carapace)

1 Tấm chủy (Rostral plate)

2 Góc trước bên của vỏ đầu ngực (Anterolateral angle of carapace)

3 Nhánh rẽ đôi phía trước của gờ giữa (Anterior bifurcation of median carina)

4 Gờ lề (Marginal carinae)

5 Gờ bên (Lateral carinae)

6 Gờ trung gian (Intermediate carinae)

7 Rãnh thuộc về dạ dày (Gastric groove)

8 Rãnh não (Cervical groove)

9 Phần đối chiếu của gờ lề (Reflected portion of marginal carina)

CÁC ĐỐT NGỰC (Thoracic somites)

10 Phần lồi bên của đốt ngực thứ năm (Lateroprocess of fifth thoracic somite)

11 Gờ giữa (Median carinae)

12 Gờ kề giữa (Submedian carinae)

13 Gờ trung gian (Intermediate carinae)

ĐỐT BỤNG THỨ NHẤT (First abdominal somite)

14 Gờ bên (Lateral carinae)

15 Gờ lề (Marginal carinae)

16 Gờ trung gian (Intermediate carinae)

ĐỐT BỤNG THỨ NĂM VÀ THỨ SÁU (Fifth and sixth abdominal somites)

17 Gờ giữa (Median carinae)

18 Gờ kề giữa (Submedian carinae)

19 Gờ trung gian (Intermediate carinae)

20 Gờ bên (Lateral carinae)

21 Gờ lề (Marginal carinae)

Trang 24

ĐỐT ĐUÔI (Telson)

22 Gờ lề (Marginal carinae)

23 Thùy trước bên (Prelateral lobe)

24 Gờ giữa (Median carinae)

25 Gờ bên (Lateral carinae)

26 Gờ trung gian (Intermediate carinae)

27 Gờ kề giữa (Submedian carinae)

28 Răng nhỏ bên (Lateral denticles)

29 Răng nhỏ trung gian (Intermediate denticles)

30 Răng nhỏ kề giữa (Submedian denticles)

Trang 25

Hình 3.3 Phần thân trước của cơ thể (nhìn mặt lưng)

1 Râu (Antenna)

2 Râu nhỏ (Antennule)

3 Thùy mắt (Cornea)

4 Cuống mắt (Peduncle of eye)

5 Vảy mắt (Ocular scales)

6 Phần lồi của râu nhỏ (Antennular process)

7 Tấm chủy (Rostral plate)

8 Phần lồi của râu (Antennal scale)

9 Góc bên phía trước của vỏ đầu ngực (Anterolateral angle of carapace)

10 Gờ giữa của vỏ đầu ngực (Median carina of carapace)

Trang 26

Hình 3.4 Chân đuôi trái (Mặt bên)

1 Đốt cơ sở (Basal segment)

2 Đoạn gần (Proximal segment)

3 Đoạn xa (Distal segment)

4 Đốt cơ sở kéo dài của chân đuôi (Basal prolongation of uropod)

5 Nhánh chân trong (Endopod)

Trang 27

Nhóm đập Nhóm đâm

Hình 3.5 Hai dạng càng cơ bản ở tôm bọ ngựa

1 Khối xương đốt ống của càng (Carpus)

Trang 28

Quá trình thu mẫu khảo sát được tiến hành ở các tỉnh từ Đà Nẵng đến Cà Mau

từ tháng 3/2010 đến tháng 6/2010, phương tiện đánh bắt loài tôm này là lưới rà hay lưới rê, sau quá trình phân loại và định danh thì chúng tôi thu được loài sau:

Harpiosquilla harpax De Haan, 1844 Oratosquillina interrupta Kemp, 1911 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911 Oratosquilla oratoria De Haan, 1844 Erugosquilla woodmasoni Kemp, 1911 Miyakea nepa Latreille, 182

Oratosquillina gravieri Manning, 1978 Cloridopsis scorpio Kemp, 1913

Cloridopsis immaculata Kemp, 1913

So sánh với các nghiên cứu khác về Stomatopoda chúng tôi nhận thấy:

Như những dữ kiện chúng tôi đã nêu ra trong phần tổng quan tài liệu thì theo Manning, 1995 ở Việt Nam có 72 loài, trong khi đó theo các tác giả T.A Britayev và D.S Pavlov (2007) thì con số này ở Việt Nam là 84 loài, trong khi đó số loài mà chúng tôi khảo sát được là một con số nhỏ, chỉ có 9 loài

Trang 29

Theo Trần Thị Hạnh, 2005 thì số loài khảo sát được ở vùng Cần Giờ và các vùng phụ cận là 12 loài

Theo Nguyễn Văn Xuân, 2010 (bổ sung và chỉnh sửa) thì số loài khảo sát được

ở Việt Nam là 16 loài

Qua kết quả trên chúng tôi nhận thấy, mặc dù chúng tôi thu mẫu trên một địa bàn rất rộng, nhiều địa điểm (Đà Nẵng, Phú Yên, Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận,

Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang), nhưng số loài rất ít Điều này có thể giải thích bởi một số lý do sau:

Dù thu mẫu trực tiếp hay nhờ người thu mẫu dùm, người thu mẫu thường chỉ đến các chợ và bến cá để lấy mẫu, trong khi đó, có thể các tác giả khác có nhiều thời gian hơn để thu những mẫu đặc biệt, Trần Thị Hạnh (2005) đã theo những người dân

thu mẫu tôm tích trên cát bằng cách câu, móc để thu được loài Acanthosquilla

acanthocarpus mà chúng tôi chưa có dịp thu được

Các cuộc khảo sát trước có thể người thu mẫu đã theo các phương tiện đánh bắt như giã cào, lưới rê nên số lượng loài phong phú hơn

Có thể đối với người dân thì họ chỉ quan tâm đến loài tôm tích tương đối có giá trị nên người ta đã thu mẫu cho chúng tôi những loài thông thường

Trang 30

Bảng 4.1 Các kết quả về phân loại Stomatopod của Việt Nam

Trần

Thị Hạnh,

2005

Nguyễn Văn Xuân,

2010

Khảo sát (2010) GONODACTYLOIDEA Giesbrecht, 1910

GONODACTYLIDAE Giesbrecht, 1910

Gonodactylus Berthold, 1872

Gonodactylus chiragra (Fabricius, 1781) x

Gonodactylus smithii Pocock, 1893 x

Harpiosquilla harpax (De Haan, 1844) x

Harpiosquilla japonica Manning, 1969 x x

Harpiosquilla annandalei (Kemp, 1911) x

Harpiosquilla raphidea (Fabricicus, 1798) x x

SQUILLIDAE Latreille, 1803

Anchisquilla Manning, 1968

Anchisquilla sp x x

Clorida Eydoux & Souleyet, 1842

Clorida decorata Wood-Mason, 1875 x x

Cloridopsis Manning, 1968

Cloridopsis immaculata (Kemp, 1913) x x

Cloridopsis scorpio (Latreille, 1828) x x x

Oratosquillina interrupta (Kemp, 1911) x x x

Oratosquillina gravieri (Manning, 1978) x

Oratosquillina quinquedentata (Brooks, 1886) x x

Oratosquilla Manning, 1968

Oratosquilla oratoria (De Haan, 1844) x

Trang 31

Qua bảng 4.1 thì chúng ta có thể thấy một số loài sau xuất hiện nhiều ở Việt

Nam, đặc biệt là ở miền Nam như: Cloridopsis scorpio (Latreille, 1828); Erugosquilla

woodmasoni (Kemp, 1911); Miyakea nepa (Latreille, 1828); Oratosquillina interrupta

(Kemp, 1911)

Riêng đối với các loài Harpiosquilla harpax (De Haan, 1844), Harpiosquilla

annandalei (Kemp, 1911), và Oratosquilla oratoria (De Haan, 1844) thì có một điều

trùng hợp là cả Trần Thị Hạnh (2005) và Nguyễn Văn Xuân (2010) đều chưa thu được loài này ở miền Nam, nhưng quá trình khảo sát các tỉnh từ Đà Nẵng đến Cà Mau thì các loài này lại được chúng tôi thu rất nhiều ở Đà Nẵng và Phú Yên Như vậy những loài này có lẽ thường xuất hiện ở các tỉnh miền Trung

Cũng tương tự như 3 loài trên đối với Oratosquillina gravieri (Manning, 1978)

cả Trần Thị Hạnh (2005) và Nguyễn Văn Xuân (2010) cũng chưa có dịp thu được loài này ở miền Nam trong quá trình khảo sát, tuy nhiên chúng tôi may mắn là đã thu được loài này ở tỉnh Phan Rang và Nha Trang , tỉnh Phan Rang thuộc vùng Nam Trung bộ, điều này cho thấy có lẽ loài này xuất hiện từ khu vực tiếp giáp miền Nam trở ra đến Đà Nẵng

Trang 32

4.2 Mô tả từng loài

4.2.1 Harpiosquilla harpax De Haan, 1844

Bộ Squilloidea Latreille, 1803

Họ Harpiosquillidae Manning, 1980

Giống Harpiosquilla Holthuis, 1964

Loài Harpiosquilla harpax De Haan, 1844

Mẫu vật có TL = 190 - 245 mm, con đực (TL= 190 – 230 mm), con cái (TL=

195 - 245) thu tại Phú Yên và Đà Nẵng, thu được 28 mẫu vật

Hình thái ngoài

Mắt rộng, chia làm hai thùy

Tấm chủy gần giống hình tam giác, có chiều dài dài hơn chiều rộng, mảnh và nhô ra phía trước

Vỏ đầu ngực có gờ giữa

Bề mặt cơ thể trơn láng, có các rãnh chạy dọc cơ thể

Góc bên phía sau của vỏ đầu ngực nhọn

Đốt ngón của càng bắt mồi có 8 răng, ở rìa đốt bàn của càng bắt mồi có trang bị những chiếc gai nhỏ và sắc nhọn

Đoạn xa chân ngoài của chân đuôi có một phần có sắc tố đen

Hai bên của gờ giữa của telson (đốt bụng cuối lẻ) có chấm đen

Phần bên của đốt ngực thứ năm tròn

Thùy gai giữa của phần chân đuôi kéo dài lõm hình lòng chảo

Ở đốt bụng: gờ kề giữa đốt bụng thứ 6, gờ trung gian đốt bụng thứ 2 đến 6, gờ bên 1 đến 6, gờ lề 1 đến 5 đều có gai nhỏ theo sau

Chiều dài gờ lề của đốt bụng cuối lẻ gấp hai lần gờ của răng bên

Trang 33

Thường xuất hiện ở vùng biển Đà Nẵng và Phú Yên

Harpiosquilla harpax không phải là loài có kích thước nhỏ nhưng nó lại không

bằng H raphidea (TL= 335 mm) và H stephensoni (TL= 315 mm) (Manning, 1995)

Giá trị kinh tế

Harpiosquilla harpax là loài có kích thước tương đối lớn nên đây có thể xem là

loài có giá trị kinh tế cao

Qua quá trình khảo sát ở Đà Nẵng, những con có kích thước lớn thường xuất hiện trong các nhà hàng và khá được ưa chuộng Những con có kích thước nhỏ hơn thì thường xuất hiện ở những quán nhậu ven biển

Tuy nhiên loài tôm này khi đánh bắt về mà đã bị chết thì lại được bán với giá thấp (khoảng 20.000/kg) dọc các bờ biển

Trang 34

Hình 4.1 Harpiosquilla harpax De Haan, 1844

Hình 4.2 Phần ngực (mặt lưng)

Trang 35

Hình 4.3 Phần đuôi (mặt lưng)

Hình 4.4 Mắt và tấm chủy

Trang 36

4.2.2 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911

Bộ Squilloidea Latreille, 1803

Họ Harpiosquillidae Manning, 1980

Giống Harpiosquilla Holthuis, 1964

Loài Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911

Mẫu vật có TL= 170 mm thu tại Phú Yên, con đực (TL= 145-160 mm), con cái (TL= 145- 170mm)

Thu được 15 mẫu vật

Hình thái ngoài

Harpiosquilla annandalei có mắt lớn và chia làm hai thùy

Tấm chủy có chiều dài và chiều rộng gần như ngang bằng nhau hoặc chiều rộng

có thể hơn một chút Đỉnh tròn và không có phần nhô ra ở phía trước

Phần đầu ngực với gờ giữa rõ rệt

Đốt ngón của càng bắt mồi có 8 răng, ở rìa đốt bàn của càng bắt mồi (chân hàm 2) có trang bị những chiếc gai nhỏ và sắc nhọn

Đoạn xa của chân ngoài của chân đuôi có một đường trắng ở giữa

Hai bên của gờ giữa của telson (đốt bụng cuối lẻ) có 2 chấm đen

Phần bên của đốt ngực thứ năm sắc cạnh

Phía sau của gờ kề giữa và gờ trung gian của đốt ngực thứ 3 có trang bị gai nhỏ Rìa bên thuộc bụng của đốt ngực thứ 8 sắc

Gờ kề giữa 5-6, gờ trung gian và gờ bên từ 1 đến 6, gờ lề 1 đến 5 của 6 đốt bụng đều có gai theo sau

Chiều dài gờ lề của đốt bụng cuối lẻ nhỏ hơn hai lần so với gờ của răng bên Thùy gai giữa của phần chân đuôi kéo dài lõm hình lòng chảo

Có những dải sắc tố đen phân bố rải rác bố trí một cách đều đặn từ trái sang phải của mặt lưng ở các đốt bụng

Trang 37

Kích thước

Loài này có chiều dài có thể lên đến 177 mm (con đực : TL= 71-177 mm, con cái: TL= 72- 117 mm) (Ahyong, 2001)

Môi trường sống

Chúng phân bố ở tầng nước nông đến sâu, nền đáy bùn hay cát độ sâu từ 15 đến

260 m, hay nền đáy bùn pha cát (Manning, 1995)

Harpiosquilla annandalei có thể được phân biệt với các loài khác trong giống

bởi các đặc điểm muôn hình của nó bao gồm chiều dài của cuống râu nhỏ (dài hơn phần vỏ đầu ngực và tấm chủy kết hợp lại), sự sắc nhọn của sống đốt bụng thứ 8, sự trang bị gờ kề giữa của đốt bụng thứ 5 và sắc tố màu đồng đều trên đốt bụng cuối lẻ và

bộ phụ (Manning, 1995)

Harpiosquilla annandalei có trang bị gờ giữa đốt bụng cuối lẻ nổi cao hơn hẳn

và sắc cạnh hơn so với các loài khác trong giống Harpiosquilla

Giá trị kinh tế

Kích thước của loài này không lớn lắm nên nó thường xuất hiện ở các khu du lịch ven biển và các quán nhậu bình dân

Trang 38

Hình 4.5 Harpiosquilla annandalei Kemp, 1911

Hình 4.6 Phần ngực (Mặt lưng)

Trang 39

Hình 4.7 Phần đầu ngực (mặt lưng)

Hình 4.8 Phần đuôi (mặt lưng)

Ngày đăng: 31/03/2019, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w