THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH Macrobrachium rosenbergii De Man 1879 ĐẾN POSTLARVAE 74 – 78 VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ CÔNG THỨC THỨC ĂN ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM Thực hiện bởi NGUYỄ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
-oOo -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii De Man 1879) ĐẾN POSTLARVAE
74 – 78 VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ CÔNG THỨC THỨC ĂN
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM
Ngành : NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khóa : 2006 - 2010
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN LÂM NHỨT LONG
Tháng 8/2010
Trang 2THỰC NGHIỆM ƯƠNG ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii De Man 1879) ĐẾN POSTLARVAE 74 – 78 VÀ
THỬ NGHIỆM MỘT SỐ CÔNG THỨC THỨC ĂN ĐẾN
TĂNG TRƯỞNG CỦA TÔM
Thực hiện bởi
NGUYỄN LÂM NHỨT LONG
Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư ngành Nuôi Trồng
Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn
ThS NGUYỄN THANH TÂM
Tháng 8 năm 2010
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến:
Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Quý Thầy Cô Khoa Thủy Sản Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý giá trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Nguyễn Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm đề tài
Xin gởi lời cảm ơn đến các anh em trong “ Trung Tâm Quốc Gia Giống Thuỷ Sản Nước Ngọt Nam Bộ” trực thuộc Viện Nuôi Trồng Thuỷ Sản II:
- Anh Đinh Hùng
- Anh Nguyễn Thanh Vũ
- Anh Nguyễn Trung Ký
- Anh Nguyễn Thanh Pháp
- Chị Nguyễn Thị Kiều Nga
Cảm ơn gia đình thân yêu chia sẻ giúp đỡ tạo mọi điệu kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần trong những năm tháng học tập trên giảng đường đại học cũng như suốt quá trình làm khóa luận tốt nghiệp
Cảm ơn các bạn các bạn lớp DH06NT đã cùng nhau đoàn kết gắn bó vượt qua chặng đường dài học tập
Do có những hạn chế về mặt thời gian và kiến thức nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô, anh chị và các bạn để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài “Thực nghiệm ương ấu trùng tôm càng xanh (Macrobrachium
rosenbergii De Man 1879) đến Postlarvae 74 – 78 và thử nghiệm một số công thức
thức ăn đến tăng trưởng của tôm” đã được tiến hành tại Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ - Ấp 2, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang từ ngày 22/3/2010 đến ngày 5/7/2010 Nội dung nghiên cứu và kết quả đạt được như sau:
* Ương ấu trùng lên PL (mật độ 20 ấu trùng/lít) trong hai hệ thống bể ương:
Ngoài ra, tỷ suất lợi nhuận của hệ thống 1 là 0,82, rất có hiệu quả kinh tế
* Thử nghiệm một số công thức thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm gồm có ba nghiệm thức với 3 lần lập lại:
NT1: 100% moina
NT2: 100% thức ăn công nghiệp dạng hạt S201
NT3: 50% moina +50% thức ăn công nghiệp dạng hạt S201
Tôm có trọng lượng ban đầu là 0,06 ± 0,003 g/con, chiều dài ban đầu là 6,99 ± 0,29 mm/con
Sau 21 ngày nuôi, NT3 cho tốc độ tăng trưởng tốt nhất: tốc độ tăng trưởng tương đối về trọng lượng SGR1 = 3,55 ± 0,22%/ngày, tốc độ tăng trưởng tương đối về chiều dài SGR2 = 2,95 ± 0,06%/ngày
* Thực nghiệm nuôi tôm trong 5 giai:
Tôm có trọng lượng ban đầu là 0,1 g/con, chiều dài ban đầu là 1 – 1,1 mm/con
Sau 50 ngày nuôi, tôm ở giai số 3 có tốc độ tăng trưởng tốt nhất: SGR1 = 5,72%/ngày, SGR = 2,45%/ngày
Trang 5MỤC LỤC
Trang tựa i Lời cảm tạ ii Tóm tắt iii Mục lục iv Danh sách chữ viết tắt vii
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.5 Tập tính dinh dưỡng 8
2.1.6 Đặc điểm về sinh trưởng 9
2.1.7 Đặc điểm sinh sản 10
2.2.3 Tập tính dinh dưỡng của ấu trùng tôm càng xanh 20
2.3.1 Hệ thống nước trong hở (Clear open water system) 22
2.3.2 Hệ thống nước trong kín (Clear closed water system) 22
Trang 62.3.3 Hệ thống nước xanh (Green water system) 23
2.3.4 Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified static green water system) 23
2.4 Sơ Lược Về Trung Tâm Giống Quốc Gia Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ 24
2.4.4 Chức năng và nhiệm vụ 26
2.4.5 Cơ sở vật chất 27 2.4.6 Nhân lực 28
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Nghiên Cứu 30
3.2 Vật Liệu và Phương Pháp Nghiên Cứu 30
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.2.2 Các loại thiết bị và dụng cụ 30
3.3.1 Chuẩn bị nguồn nước 31
3.3.2 Chuẩn bị tôm trứng 31
3.3.3 Bố trí thí nghiệm 32
3.3.4 Thức ăn và cho ăn 33
3.3.5 Quản lý môi trường nước ương 34
3.3.6 Biện pháp nâng và ổn định nhiệt 36
3.3.7 Phương pháp thu thập số liệu 36
3.4 Thí Nghiệm Đánh Giá Hiệu Quả Của Các Công Thức Thức Ăn Đến Tăng
Trưởng Và Tỷ Lệ Sống Của PL Có Trong 21 Ngày Trước Khi Bố Trí Xuống Giai
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 38
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 39
3.5 Nuôi Tôm Bột Trong Giai Đặt Trong Ao Đất Đến Giai Đoạn PL74 – 78 40
3.5.2 Bố trí nuôi tôm thực nghiệm 41
Trang 73.5.3 Cho ăn và chăm sóc 41
3.5.4 Phương pháp thu thập số liệu 42
3.6 Phương Pháp Phân Tích Và Xử Lý Số Liệu 42
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 43
4.1 Ương Ấu Trùng Lên PL Trong Hai Hệ Thống Bể Ương Theo Quy Trình Nước
Trong Hở Có Sử Dụng Men Vi Sinh Ít Thay Nước 43
4.1.1 Môi trường nước ương 43
4.1.2 Chỉ số giai đoạn ấu trùng (LSI – Larval Stage Index) 50
4.1.3 Tỷ lệ sống của ấu trùng và hậu ấu trùng ở hai hệ thống bể ương cuối đợt sản
xuất 51 4.1.4 Quá trình biến thái của ấu trùng thành hậu ấu trùng (PL) 52
4.1.5 Hạch toán kinh tế của hệ thống bể ương ấu trùng trong bể composite 1 m3 53
4.2 Thí Nghiệm Đánh Giá Hiệu Quả Một Số Công Thức Thức Ăn Đến Sự Tăng
4.2.1 Sự biến động các chỉ tiêu chất lượng nước 55
4.2.2 Tỷ lệ sống của tôm thí nghiệm 56
4.2.3 Tăng trưởng của tôm thí nghiệm 57
4.3.1 Sự biến động các chỉ tiêu chất lượng nước ao nuôi 59
4.3.2 Tỷ lệ sống của tôm nuôi thực nghiệm 61
Trang 8DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
SGR Specific growth rates Hệ số tăng trưởng đặc biệt
FAO Food and Agriculture Organization Tổ chức lương nông thế giới
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thời hạn lột xác của tôm càng xanh theo tuổi 6
Bảng 2.2 Quan hệ giữa trọng lượng và thời gian lột xác của tôm càng xanh 7
Bảng 2.3 Những sinh vật làm thức ăn cho tôm càng xanh trong tự nhiên 9
Bảng 2.4 Sức sinh sản của tôm càng xanh ở các kích cở và trọng lượng khác nhau 13
Bảng 2.5 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh 16
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu môi trường nước bể đẻ 32
Bảng 4.3 Quá trình ấu trùng biến thái thành hậu ấu trùng tôm càng xanh 52
Bảng 4.5 Các yếu tố môi trường nước của 3 nghiệm thức 55
Bảng 4.6 Tỷ lệ sống của tôm thí nghiệm sau 21 ngày nuôi 56
Bảng 4.7 Sự tăng trưởng về chiều dài của tôm thí nghiệm 57
Bảng 4.8 Sự tăng trưởng về trọng lượng của tôm thí nghiệm 58
Bảng 4.9 Bảng dao động các yếu tố môi trường trong thời gian thực nghiệm nuôi
Bảng 4.10 Tỷ lệ sống của tôm nuôi trong giai sau 50 ngày 61
Bảng 4.11 Sự tăng trưởng về chiều dài của tôm nuôi trong các giai 62
Bảng 4.12 Sự tăng trưởng về trọng lượng của tôm nuôi trong các giai 63
Trang 10DANH SÁCH HÌNH ẢNH VÀ SƠ ĐỒ
Hình 2.2 Vòng đời của tôm Hình vẽ của Foster và Wickins (1972) 7
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức nhân lực của Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản
Trang 11DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Biến động nhiệt độ trong ngày của hai hệ thống bể ương 43
Trang 12Đồng Bằng Sông Cửu Long với hai hệ thống sông lớn Sông Tiền và Sông Hậu (hai nhánh của Sông Mêkong bắt nguồn từ đỉnh Hymalaya – Trung Quốc) là một mảnh đất màu mỡ cho ngành nuôi trồng thủy sản phát triển Quả vậy, con cá tra đã có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới, ngay cả thị trường khó tính như Châu Âu cũng chấp nhận Hằng năm, con cá tra đem lại cho đất nước hàng tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu năm
2009 đạt 1,3 tỷ USD (nguồn Hồng Văn, 09/01/2010, “Thời báo kinh tế Sài Gòn online”) Bên cạnh đó, tôm càng xanh cũng là đối tượng nước ngọt có nhiều tiềm năng phát triển
Theo thống kê của Bộ Thủy sản (1999) thì Đồng Bằng Sông Cửu Long có hơn 500.000 ha diện tích mặt nước nuôi tôm, trong đó có gần 6.000 ha nuôi tôm càng xanh Sản lượng tôm càng xanh đạt 28.000 tấn đứng thứ hai sau Trung Quốc (128.338 tấn) năm 2003 (New, 2005) Nghề nuôi tôm càng xanh khá phát triển ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh với các mô hình nuôi tôm đa dạng như nuôi tôm trong mương vườn, nuôi tôm trong ruộng lúa, nuôi tôm trong đăng quầng, nuôi tôm trong ao Tuy nhiên, sự phát triển nghề nuôi tôm càng xanh gặp phải những rào cản sau: con giống tự nhiên khan hiếm, con giống nhân tạo số lượng ít, giá thành cao, con cái thành thục sớm và chậm tăng trưởng khi đạt tuổi thành thục, tỷ lệ con cái cao trong ao nuôi
Trang 13Để giải quyết vấn đề con giống nhân tạo đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm nâng cao số lượng lẫn chất lượng con giống với các mô hình nước trong hở, mô hình nước trong hở có sử dụng men vi sinh ít thay nước, mô hình nước trong kín, mô hình nước xanh, mô hình nước xanh cải tiến, quy trình sản xuất tôm toàn đực
Được sự chấp thuận của Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm và Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ, chúng tôi tiến hành đề tài “ Thực nghiệm ương ấu trùng tôm càng xanh đến Postlarvae 74 – 78 và thử nghiệm một số công thức thức ăn đến tăng trưởng của tôm”
1.2 Mục Tiêu Nghiên Cứu
Đánh giá tỷ lệ sống, quá trình biến thái của ấu trùng tôm càng xanh, chất lượng nước giữa hai hệ thống bể ương: bể composite 1m3 và xô nhựa 60 lít của mô hình nước trong hở có sử dụng men vi sinh ít thay nước
Khảo sát ảnh hưởng của ba nghiệm thức thức ăn đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm
Thực nghiệm nuôi tôm trong giai
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Tôm Càng Xanh
2.1.1 Phân loại
Tôm càng xanh là một trong những loài giáp xác quan trọng trong nghề nuôi trồng cũng như khai thác thủy sản Theo Holthuis (1980) tôm càng xanh có vị trí phân loại như sau:
Đây là giống có nhiều loài nhất trong các giống thuộc họ Palaemonidae,
khoảng 200 loài Trong đó loài: M.rosenbergii, M americanum, M.cacinus là những
loài có kích thước lớn nhất được biết đến trong họ Palaemonidae (FAO, 1996)
2.1.2 Hình thái
Hình thái của tôm càng xanh được nhiều tác giả mô tả như Holthuis, Phan Hữu Đức và ctv (1988, 1989), Foster và Wickin (1972) (trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993) Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) ở nước ta tôm càng xanh trong tự
nhiên hay trong ao nuôi thì xuất hiện hai dạng là tôm càng xanh và tôm càng lửa
Tôm càng xanh là loài có kích thước lớn nhất trong các loài tôm nước ngọt Có thể phân biệt tôm càng xanh với các nhóm tôm khác dựa theo hình dạng và màu sắc của
Trang 15chúng Tôm càng xanh có thân tròn khác so với những loài tôm biển, con trưởng thành
có màu xanh dương đậm và dặc biệt là đôi càng (cặp chân ngực thức 2) lớn màu xanh,
có nhiều gai dùng để phòng thủ và bắt mồi
Cơ thể tôm càng xanh được chia làm 2 phần: phần đầu ngực (carapace) phía trước và phần bụng phía sau
Phần đầu ngực lớn có dạng hơi giống hình trụ bao gồm phần đầu với 5 đốt liền nhau mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ Phần đầu ngực có chủy phát triển nhọn và cong lên 1/2 bề dài tận cùng của chủy, phía trên chủy
có từ 11 – 16 gai, phía dưới chủy có từ 10 – 15 gai Chiều dài chủy của cá thể khi trưởng thành con cái thường bằng hoặc ngắn hơn vỏ đầu ngực, còn chủy con đực dài hơn chiều dài vỏ đầu ngực Trên phần đầu ngực có 2 đôi râu làm chức năng xúc giác, một đôi hàm lớn, hai đôi hàm nhỏ và ba đôi chân hàm có chức năng giữ và nghiền mồi Phía dưới phần đầu ngực là 5 đôi chân ngực, trong đó có 2 đôi chân mang kẹp mà đôi chân ngực mang kẹp thứ hai luôn phát triển lớn hơn, nhất là ở tôm đực trưởng thành
Phần bụng tôm càng xanh có 7 đốt Năm đốt đầu tiên có mang 5 đôi chân bụng gọi là chân bơi, đốt thứ 6 gọi là đốt đuôi có đôi chân đuôi có chức năng như là bánh lái, đốt cuối cùng nhọn và cứng, không thể cử động gọi là telson Mỗi đốt được bao bọc bởi một lớp vỏ, tấm vỏ phía trước chồng lên tấm vỏ phía sau
Tuy nhiên, tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên tấm vỏ phía trước và phía sau
nó Chính nhờ đặc điểm này mà ta có thể phân biệt được tôm càng xanh với các loài tôm sống ở vùng nước mặn Các đốt bụng của tôm càng xanh hơi tròn trên mặt lưng và
dẹp hai bên, cơ thể có dạng hơi cong, to ở phần đầu, thon nhỏ về phía sau
Trang 16Hình 2.1 Hình thái ngoài của tôm càng xanh (Foster và Wickins, 1972)
(nguồn từ http://www.fao.org)
2.1.3 Vùng phân bố tôm càng xanh
Có gần 200 loài thuộc họ Palaemonidae đã được mô tả, hầu hết đời sống của chúng đều có một khoảng thời gian ở nước ngọt (New, 2002) Cũng theo tác giả này, tôm càng xanh phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, chúng được tìm thấy ở sông hồ, kênh, rạch, ao ở các vùng nội địa và nhiều hơn cả là các vùng cửa sông nơi có sự pha trộn giữa nước ngọt và nước mặn Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) tôm càng xanh phân bố tự nhiên tập trung tại vùng Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương
Một số loài Macrobrachium cũng đã được chuyển đi từ vùng sinh sống tự nhiên của nó đến nhiều nơi trên thế giới cho mục đích nuôi và nghiên cứu Tôm càng xanh được nhập vào Hawaii từ Malaysia vào năm 1965 nơi Fujimura & Okamoto (1972) là những người tiên phong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài này (tổng kết bởi New, 2000)
Hiện nay, tôm càng xanh đã đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới không có tôm trong tự nhiên như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Israel, (Phạm Văn Tình, 2004a) Trung Quốc hiện đang dẫn đầu về sản lượng tôm càng xanh trên thế giới với 128.338 tấn vào năm 2001 (New, 2005)
Ở nước ta, tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào (Phạm Văn Tình, 2004b) nơi có độ mặn 17 – 30‰ nhưng phát triển thuận lợi nhất ở các tỉnh Nam Bộ,
Trang 17đặc biệt là Đồng Bằng Sông Cửu Long (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Nước ta chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với sản lượng đạt 28.000 tấn năm 2001 (New, 2005) Việt Nam cũng là quốc gia có sản lượng tôm càng xanh tự nhiên nhiều hơn cả Ví dụ, trong năm
1980, Việt Nam khai thác ngoài tự nhiên khoảng 6000 tấn/năm, Campuchia 100 – 200 tấn/năm, Malaysia 120 tấn/năm, Thái Lan 400 – 500 tấn/năm (FAO, 1979 ;được trích bởi Phạm Văn Tình, 2004b) Với hệ thống sông ngòi kênh rạch dầy đặc, Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát triển, nâng cao năng suất nuôi và khai thác đối tượng này
2.1.4 Vòng đời của tôm càng xanh
Sự tăng trưởng của cá liên tục còn tôm càng xanh cũng như các loài giáp xác khác là gián đoạn Chúng chỉ lớn lên sau khi lột xác Sự tăng trưởng này thể hiện qua
sự lớn lên về kích thước và khối lượng của con tôm Thời gian lột xác phụ thuộc vào tuổi và dinh dưỡng
Bảng 2.1 Thời hạn lột xác của tôm càng xanh theo tuổi (Nguyễn Việt Thắng,
1993)
Số lần lột xác Giai đoạn
Phát triển
Thời gian nuôi (ngày) Trung bình Ít nhất Nhiều nhất
Chu kỳ lột xác (ngày/lần)
2 – 3 4,6 6,0 6,3 13,7 23,0 27,0 30,0
Trang 18Bảng 2.2 Quan hệ giữa trọng lượng và thời gian lột xác của tôm càng xanh
(Phan Hải An và Trần Xuân Lộc, 2008)
Trọng lượng cá thể (g) Thời gian lột xác (ngày)
2,0 – 5,8 6,0 – 10,0 11,0 – 15,0 16,0 – 20,0 21,0 – 25,0 26,0 – 35,0 36,0 – 60,0 Trên 60
9,0 13,5 17,0 18,5 20,0 22,0
23 – 24
25 – 40 Tôm càng xanh thành thục khá sớm, khi tôm đạt trọng lượng trung bình khoảng 15 – 20 g là tôm có thể sinh sản Ang và Law (1991; trích bởi Phan Hải An và Trần Xuân Lộc, 2008) báo cáo thấy tôm cái mang trứng khi đạt 6,5 g Khi thành thục, tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào các chân bụng của tôm mẹ Tôm mẹ mang trứng di chuyển ra vùng cửa sông có độ mặn từ 7 – 18‰, ở đó ấu trùng được nở ra sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành hậu ấu trùng, giai đoạn này có thể nhanh hay ngắn tùy theo điều kiện dinh dưỡng và môi trường, nhanh nhất là 16 ngày và chậm nhất là 40 ngày (Phạm Văn Tình, 2004b)
Theo Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002), vòng đời của tôm càng xanh gồm 4 giai đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành
Hình 2.2 Vòng đời của tôm Hình vẽ của Foster và Wickins (1972)
(Nguồn lấy tại website: http://www.freshwaterprawn.com)
Trang 192.1.5 Tập tính dinh dưỡng
Tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật Mức độ lựa chọn thức ăn không cao Thành phần thức ăn hầu như không thay đổi theo giới tính Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ Chúng thường thích bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày (Phạm Văn Tình, 2004a)
Tôm xác định thức ăn bằng mùi vị và màu sắc Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác, dùng râu quét ngang dọc phía trước đường đi của nó, đôi chân ngực thứ nhất
như một cái kẹp để giữ và đưa thức ăn vào miệng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
Chúng thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm, có tính tranh giành thức ăn cao, nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, con vỏ cứng ăn thịt con vỏ mềm sau khi lột Do đó, cần phải đảm bảo đủ thức ăn và tạo nơi trú ẩn cho tôm Trong sản xuất giống người ta thường dùng giá thể là lưới, còn nuôi tôm trong ao thường dùng giá thể là ống tre nứa hoặc rong tre, phía trên mặt nước có phủ lục bình tạo bóng mát cho tôm
Trong quá trình lớn lên, tôm trãi qua nhiều lần lột xác Chu kỳ lột xác của tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ của tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Trang 20Bảng 2.3 Những sinh vật làm thức ăn cho tôm càng xanh trong tự nhiên
(Nguyễn Việt Thắng, 1993)
Nhóm Dạng tìm thấy Mức độ
phong phú Thực vật bậc cao
Ốc Hai mảnh vỏ Tôm con các loại
Mô cơ các loài cá Vẩy, tia vây
++
+++
+++
+ ++
Ghi chú: +: ít gặp, ++: thường gặp, +++ gặp nhiều, ++++ gặp rất nhiều
2.1.6 Đặc điểm về sinh trưởng
Giống như các loài giáp xác khác, tôm càng xanh không sinh trưởng liên tục
mà kích thước chỉ tăng sau mỗi lần lột xác Chu kỳ lột xác tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ của tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Tôm càng nhỏ thì chu kỳ lột xác càng ngắn
Tôm sống ở khoảng nhiệt độ tối ưu sẽ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn
Tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so với tôm dùng thức ăn công nghiệp hoàn toàn
Trang 21 Tôm cái thường chậm lớn sau khi tới tuổi trưởng thành do chúng phải chuyển nguồn năng lượng sang việc nuôi và ấp trứng (New và Valenti, 2000)
Tôm sống trong môi trường gây stress như : ô nhiễm hữu cơ, khí độc NH3,
H2S… có tốc độ tăng trưởng chậm hơn tôm sống trong môi trường thuận lợi, thậm chí có thể dẫn đến phát sinh dịch bệnh và gây chết hàng loạt
Cơ chế lột xác của tôm càng xanh giống như các loài giáp xác chân đốt khác Khi tôm tích lũy đầy đủ chất dinh dưỡng, năng lượng và tới chu kỳ lột xác thì lúc đó lớp vỏ mới hình thành dần dưới lớp vỏ cũ, lớp này rất mỏng, mềm và co giãn được Khi lớp vỏ mới này phát triển đầy đủ thì tôm tìm nơi vắng và giàu oxy để lột vỏ Khi lớp vỏ
cũ lột đi, vỏ mới còn mềm và co giãn được và dưới áp lực của khối mô cơ lâu ngày bị
ép bởi lớp vỏ cũ, cơ thể tôm bấy giờ giãn nở, lớn lên nhiều và khác hẳn với lúc trước lột xác Lớp vỏ mới cứng dần sau 3-6 giờ
(nguồn http://www.vietlinh.com.vn/kithuat/tom/tcx )
Quá trình lột vỏ của tôm thực hiện rất nhanh chỉ trong vòng 3 – 5 phút Khởi đầu tôm ngưng hết mọi hoạt động bên ngoài, uốn cong mình gây nên áp lực ngày càng tăng phá vở lớp màng giữa giáp đầu ngực và vỏ tạo nên một khoang hở ngang lưng Tôm lúc này co mình thành hình chữ U, áp lực bên trong cơ thể tăng lên, và dần dần tôm thoát toàn bộ cơ thể qua khoang hở ở lưng Sau mỗi lần lột xác, cơ thể tôm tăng lên
9 – 15% trọng lượng thân (nguồn http://www.vietlinh.com.vn/kithuat/tom/tcx)
2.1.7 Đặc điểm sinh sản
2.1.7.1 Phân biệt tôm đực và tôm cái
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), ta có thể phân biệt giới tính tôm càng xanh thông qua hình dạng bên của chúng Tôm càng xanh đực lớn hơn tôm càng xanh cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm càng xanh cái, đôi càng thứ hai
to dài và hơi thô hơn tôm càng xanh cái
Ở tôm càng xanh đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ hai Nhánh phụ đực xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và hoàn chỉnh khi đạt kích cỡ 70 mm Ngoài ra ở mặt của đốt bụng thứ nhất còn có điểm cứng
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon, tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và tạo thành khoang làm buồng để ấp trứng Quá
Trang 22trình mở rộng của khoang bụng bắt đầu khi tôm đạt chiều dài tổng 95 mm Lổ sinh dục của con cái nằm ở góc của chân ngực thứ 3 Trên các chân bụng của con cái có nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào trong quá trình tôm đẻ và ấp trứng
Cơ quan sinh dục trong của con đực ngoằn ngoèo nằm ở giữa của Carapace được nối với ống dẫn tinh chạy trước tim và dọc hai bên viềng sau của Carapace, đổ vào mút nằm ở đốt chân ngực thứ 5 Túi tinh hình thành trong quá trình phóng tinh Túi tinh có khối tinh trùng không di động
Ở con cái, buồng trứng nằm ở trên mặt lưng của phần đầu ngực, ở dưới dạ dày
và gan tụy Khi buồng trứng thành thục sẽ có màu vàng cam trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối liền với buồng trứng, buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đổ vào túi chứa tinh ở gốc chân ngực thứ 3
2.1.7.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm
Trong tự nhiên, tôm thành thục và giao vĩ xảy ra hầu như quanh năm nhưng tập trung vào những mùa chính tùy từng nơi Ở đồng bằng sông Cửu Long, có hai mùa tôm sinh sản chính là khoảng tháng 4 – 6 và tháng 8 – 10 Tôm cái thành thục lần đầu tiên khoảng 3 – 3,5 tháng kể từ hậu ấu trùng 10 – 15 ngày (PL10-15) Tuy nhiên, tuổi thành thục và kích cỡ thành thục của tôm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường và thức ăn (Trần Ngọc Hải và ctv, 2000) Trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn và phát triển trong vòng 14 – 20 ngày (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003)
Khi buồng trứng đạt giai đoạn IV, tôm cái lột xác tiền giao vĩ Trước khi lột xác khoảng vài ngày tôm cái giảm ăn và hoạt động Con cái sau khi lột xác có vỏ mềm, màu vàng nhạt thay vì màu xanh dương lúc bình thường Trong quá trình lột xác, con cái sẽ tiết ra hormone kích thích con đực tìm đến Con đực có nhiệm vụ bảo vệ con cái
có vỏ mềm trước sự tấn công của những con cái có vỏ cứng khác, đồng thời có nhiệm
vụ gắn túi tinh cho con cái Đây là quá trình giao vĩ ở tôm
Quá trình giao vĩ của tôm diễn ra sau khi con cái lột xác khoảng 1 – 22 giờ, thường là 3 – 6 giờ, có thể chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn tiếp xúc, giai đoạn tôm đực
ôm giữ tôm cái, giai đoạn tôm đực trèo lên lưng tôm cái, giai đoạn tôm đực gắn túi tinh cho tôm cái
Trang 23Quá trình giao vĩ xảy ra khoảng 20 – 25 phút Sau khi giao vĩ xảy ra 2 – 5 giờ
có khi 6 – 20 giờ thì tôm cái bắt đầu đẻ trứng, thường vào ban đêm Trong quá trình đẻ trứng, trứng sẽ được thụ tinh ngay khi đi ngang qua túi chứa tinh Trứng sẽ lần lược dính vào các lông tơ của đôi chân bụng 4, 3, 2, 1 Thời gian đẻ trứng khoảng 15 – 20 phút Những con cái thành thục có buồng trứng chín mùi nhưng không được giao vĩ thì chúng vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giờ sau khi lột xác tiền giao vĩ Tuy nhiên, những trứng này sẽ không được thụ tinh và sẽ rơi ra ngoài sau 1 - 2 ngày sau khi đẻ
Tuỳ vào kích cỡ và trọng lượng của tôm cũng như chất lượng và số lần tham gia sinh sản của chúng mà sức sinh sản của tôm có thể thay đổi từ 7.000 – 503.000 trứng Thông thường khoảng 20.000 – 80.000 trứng Theo Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002), sức sinh sản tương đối trung bình của tôm càng xanh từ 700 – 1.000 trứng/gam tôm mẹ thành thục Còn Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) cho rằng 500 – 600 trứng/gam, đối với tôm nuôi trong ao hồ là 300 – 600 trứng/gam Theo Phạm Văn Tình (2004b), tôm trứng mua từ bên ngoài về, 1 kg cho đẻ được 400.000 – 500.000 ấu trùng
Trong quá trình ấp trứng, tôm cái thường dùng chân quạt nước để tạo dòng nước, làm thoáng khí cho trứng Tôm cũng thường dùng các chân ngực để loại bỏ những trứng hư hay vật lạ dính vào khối trứng Tùy theo nhiệt độ ấp mà thời gian ấp trứng có thể từ 15 – 23 ngày
Trang 24Bảng 2.4 Sức sinh sản của tôm càng xanh ở các kích cở và trọng lượng khác
nhau (Ang, 1991; trích bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000)
Chiều dài (cm ) Trọng lượng
(gam)
Trọng lượng trứng (gam) Số lượng trứng8,0 4,29 0,132 1.044 8,5 5,31 0,189 1.535 9,0 6,48 0,265 2.209 9,5 7,82 0,364 3.115
Trang 252.1.8 Điều kiện môi trường sống của tôm càng xanh
2.1.8.3 Độ mặn
Tôm càng xanh có khả năng sống rộng muối vì vòng đời của nó trải dài từ thủy vực nước ngọt đến thủy vực nước lợ Tôm lớn có khả năng sống trong độ mặn 25‰ Tuy nhiên, trong nuôi tôm độ mặn tốt nhất không quá 10‰ (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003) Ở độ mặn 30‰ hay trên, tôm giống chết rất nhanh do quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu bị phá vỡ hoàn toàn Ở độ mặn 2 – 5‰ tôm lớn tương đối nhanh hơn so với ở 0 ‰ và nhanh hơn nhiều so với ở 15 ‰ (Nguyễn Chí Thanh, 2005)
Trang 26Trụ, 1995; trích bởi Nguyễn Vy Vân, 2002) Theo Nguyễn Phú Hòa (2000) ở độ cứng
65 mg CaCO3/L thì tốc độ tăng trưởng của tôm càng xanh gấp 5 lần so với ở độ cứng
500 mg CaCO3/L
2.1.8.5 Độ kiềm
Theo Nguyễn Vy Vân (2002), độ kiềm thích hợp cho sự phát triển của tôm càng xanh từ giai đoạn ấu trùng đến lúc trưởng thành có nhiều ý kiến khác nhau và chưa có kết luận chính xác
Theo Vũ Thế Trụ (1995) (trích bởi Nguyễn Vy Vân, 2002) khoảng độ kiềm thích hợp từ 20 – 150 mg CaCO3/L
Báo con tôm số 62 trang 13 và số 55 trang 14 (trích bởi Nguyễn Vy Vân, 2002), khoảng độ kiềm thích hợp từ 90 – 150 mg CaCO3/L Cụ thể là:
Với tôm mới thả: nguồn nước cần có độ kiềm từ 80 – 100 mg CaCO3/L
Sau 45 ngày nuôi: cần tăng độ kiềm của nước lên 100 – 130 mg CaCO3/L Sau 90 ngày nuôi: tăng độ kiềm lên 130 – 160 mg CaCO3/L
2.1.8.6 Hàm lượng oxy
Theo Nguyễn Thanh Phương (2003), nhu cầu oxy cho hô hấp của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: giai đoạn của tôm, nhiệt độ, độ mặn…Đối với tôm nhỏ và
ấu trùng thì oxy tối thiểu phải trên 2,1 mg/L ở 230C, trên 2,9 mg/L ở 280C và 4,7 mg/L
ở 330C Trong nuôi tôm thịt thì hàm lượng oxy tốt nhất là trên 4 mg/L còn trong sản xuất giống, hàm lượng oxy nên được duy trì trên 5 mg/L là tốt nhất
2.1.8.7 Nồng độ NH 3 -N và nitrite (NO 2 -N)
Trong nước ammonia tổng cộng tồn tại ở hai dạng ion ammonium (NH4+) và dạng không phân ly (NH3) Thông qua quá trình chuyển hóa của vi khuẩn, ammonia sẽ chuyển thành nitrite và sau đó chuyển thành nitrate không độc Theo Emerson và ctv, (1975) nồng độ NH3 càng tăng khi pH và nhiệt độ càng tăng (trích dẫn Phan Hải An và Trần Xuân Lộc, 2008)
Theo M.B New và S.Singholka (1985) giới hạn cho phép của các hợp chất nitrogen là:
Hàm lượng NO2 < 0,1 ppm
Hàm lượng NO3 < 20 ppm
Hàm lượng Ammonia tổng cộng < 1,0 ppm
Trang 27Hàm lượng NH3 < 0,1 mg/L (Nguyễn Phú Hòa, 2000)
Hàm lượng Ammonia tổng cộng trên 0,4 ppm làm tôm càng xanh giảm tăng trưởng 50% (Nguyễn Vy Vân, 2002)
2.2 Đặc điểm sinh học của ấu trùng tôm càng xanh
2.2.1 Hình thái
Theo George (1969), ấu trùng mới nở ra sống phù du có tính hướng quang mạnh và cần nước lợ (6 – 16%) để sống và phát triển (trích bởi Nguyễn Thanh Vũ, 2005) Ấu trùng sẽ chết sau 3 – 4 ngày, nếu không sống được trong nước lợ (New & Shingholka, 1985) Ấu trùng bơi lội chủ động, bụng ngửa và đuôi ở phía trước Ấu trùng có tính hướng quang mạnh, chúng bơi lội gần sát mặt nước thành từng đám Ấu trùng ăn liên tục, thức ăn bao gồm các loài động vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các động vật thủy sinh Theo Uno và Soo (1969), ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 giai đoạn biến thái để chuyển thành hậu ấu trùng (trích bởi Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
Bảng 2.5 Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969;
trích bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000)
Giai đoạn Tuổi (ngày) Chiều dài tổng (mm) Đặc điểm
IV 4 – 6 2,50 Có 2 răng trên chủy, chân đuôi
có hai nhánh, có lông tơ
VII 11 – 17 4,06 Chân bụng có hai nhánh chưa có
lông tơ
IX 15 – 22 6,07 Nhánh trong của chân bụng có
nhánh phụ trong
XI 19 – 26 7,73 Răng xuất hiện hết nửa trên chủy Postlarvae 23 – 27 7,69 Răng xuất hiện cả trên và dưới
chủy, có tập tính như tôm lớn
Trang 28Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III
Giai đoạn X Giai đoạn XI Giai đoạn XII (PL)
Hình 2.3 Các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh
(Nguồn lấy tại website http://www.fao.org)
Trang 292.2.2 Yêu cầu về môi trường ương ấu trùng
2.2.2.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sự phát triển của ấu trùng, nó quyết định chiều dài giai đoạn phát triển ấu trùng (New và Valenti, 2000)
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), ngưỡng nhiệt độ dưới của ấu trùng tôm càng xanh là 210C Khi nhiệt độ tăng dần lên thì thời gian phát triển của ấu trùng càng rút ngắn Theo nhiều tác giả: New (1982), Fujimura (1966, 1977), Adisurkressno (1977, 1980) xác định ngưỡng nhiệt độ trên là 33 – 340C Các tác giả này đều thống nhất cho rằng nhiệt độ tối ưu cho ấu trùng tôm càng xanh là từ 26 – 310C Dưới 24 – 260C thì ấu trùng phát triển không tốt (Nguyễn Việt Thắng, 1993) Trong khi đó Aquacop (1984) thì cho rằng nhiệt độ trên 300C thì ấu trùng có tỷ lệ sống thấp (Nguyễn Thanh Vũ, 2005)
New và Shingolka (1985) cho rằng nhiệt độ biến động quá 10C có thể làm chết
ấu trùng nếu biến động nhanh
2.2.2.3 Độ mặn
Theo nghiên cứu của Ling (1969) thì ấu trùng tôm càng xanh cần có nước lợ mới phát triển được chúng sẽ chết trong vòng vài ngày sau khi nở nếu sống trong nước ngọt hoặc nước có độ mặn cao
Có nhiều ý kiến khác nhau về ngưỡng nồng độ muối ương ấu trùng tôm càng xanh, nhưng thường dao động từ 10 – 15‰ (New và Valenti, 2000) New và Shingolka (1985), Aquacop (1984) và Griesinger (1986), Nguyễn Việt Thắng (1993); Nguyễn Thị Thanh Thủy (2002) cho rằng nên duy trì độ mặn 12‰ trong bể ương ấu trùng trong
Trang 30suốt quá trình nuôi từ giai đoạn I đến khi chuyển hoàn toàn thành PL, chỉ giảm xuống 6 – 10‰ khi ương PL Nguyễn Thị Thu Thủy (2002) còn nhận thấy rằng một số ấu trùng ngẫu nhiên còn sống sót trong bể nuôi tôm bố mẹ có độ mặn thấp (4 – 6‰) vẫn biến thái thành hậu ấu trùng Điều này cho thấy ấu trùng tôm càng xanh có khả năng chịu nồng độ mặn dao động lớn New và Shingolka (1985) cho rằng độ mặn chênh lệch 12 2‰ không ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng
2.2.2.4 Độ cứng
Độ cứng thích hợp nhất cho ương ấu trùng trong khoảng 50 – 150 ppm Đối với ấu trùng, độ cứng thấp dưới 50 ppm có thể gây ra hiện tượng mềm vỏ Hàm lượng CaCO3 cao hơn 150 mg/L sẽ là tiền đề cho sự phát triển các loại ký sinh sau này đối với
ấu trùng tôm càng xanh (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
2.2.2.5 Hàm lượng oxy
Theo nhiều tác giả: Ling (1969), Fujimura (1974), New (1982), Aquacop (1977 – 1984) đều thống nhất hàm lượng oxy hòa tan trong bể ương ấu trùng là 6 – 9 mg/L (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
Trong điều kiện sản xuất giống, nếu đảm bảo sục khí đầy đủ thì không cần phải kiểm tra nồng độ oxy trong bể ương (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002)
Trang 31thấy dùng bể màu đỏ và màu xanh lá cây thì tỷ lệ sống của ấu trùng là 84% và 78% so với bể sơn màu trắng và màu xanh dương là 56% và 44%, bể sơn màu vàng và màu đen đều bằng 71%
Các báo cáo về ương ấu trùng tôm càng xanh thành công thì cường độ ánh sáng trong khoảng 250 – 6.500 lux (New và Valenti, 2000)
2.2.2.7 Nồng độ (NH 3 -N) và nitrite (NO 2 -N)
Hàm lượng các hợp chất nitơ hòa tan trong nước như: ammonia (NH3-N), nitrite (NO2-N), nitrate (NO3-N) là các thông số đánh giá chất lượng nước rất quan trọng trong nuôi trồng thủy sản nói chung và trong ương ấu trùng tôm càng xanh nói riêng
Chất lượng nước trong bể ương rất dễ bị biến đổi chính do sản phẩm bài tiết của ấu trùng, Nauplius Artemia và do sự phân hủy của thức ăn thừa Một vài biến đổi
có thể rất có hại cho ấu trùng Nguy hiểm nhất là sự tăng ammonia chưa ion hóa (NH3), chất này làm tăng pH và nitrite (New và Shingolka, 1985)
Aquacop (1977, 1983), Griessinger (1986), Liao và Mayo (1972) đã xác định ngưỡng sinh lý của một số hợp chất nitơ đối với ấu trùng tôm càng xanh trong môi trường ương: NH4+ là 0,005 – 1 mg/L, NO2 là 0,002 – 0,350 mg/L, NO3 là 0,5 – 3,5 mg/L (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002) New và Shingolka (1985) cho rằng không nên lấy nước có hàm lượng nitrite (NO2-N) và nitrate (NO3-N) cao hơn 0,1 ppm và 20 ppm
Vượt quá nồng độ giới hạn của các chất nêu trên, nhất là NH4+ và NO2 , không chỉ ảnh hưởng đến trạng thái sinh lý của vật nuôi mà còn là điều kiện phát sinh bệnh của chúng
2.2.3 Tập tính dinh dưỡng của ấu trùng tôm càng xanh
Việc chọn lựa thức ăn trong ương ấu trùng tôm càng xanh phụ thuộc vào các yếu tố sau: giai đoạn, tập tính bắt mồi, kích thước của ấu trùng, hàm lượng dinh dưỡng, khả năng gây ô nhiễm môi trường, cũng như hiệu quả kinh tế của loại thức ăn đó
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), giai đoạn đầu của ấu trùng tôm càng xanh sử dụng động vật phiêu sinh là chủ yếu Đến giai đoạn VII, ấu trùng chuyển sang ăn tạp
Do vậy, những ngày đầu sau khi bố trí ấu trùng, thường sử dụng nguồn thức ăn tươi sống Những ngày còn lại của chu kỳ ương có thể sử dụng thức ăn tự chế hay thức ăn công nghiệp
Trang 32Kích thước ấu trùng cũng là chỉ tiêu rất quan trọng trong lựa chọn thức ăn tươi sống Từ giai đoạn I – III ấu trùng chỉ có thể ăn được ấu trùng Artemia mới nở có kích
thước khoảng 500 µm Moina chỉ có thể bổ sung khi ấu trùng đạt giai đoạn từ IV trở
lên (Ang và Alam, 1995; trích bởi Đỗ Hữu Minh, 2006) Khi ấu trùng đạt giai đoạn VII trở lên có thể thay thế một phần thức ăn tươi sống bằng thức ăn tự chế hay thức ăn công nghiệp, nhằm cung cấp nguồn đạm cao cho sự phát triển của ấu trùng, rút ngắn thời gian biến thái và tăng tỷ lệ sống cuối vụ ương nuôi
Tuy nhiên, nếu thay thế hoàn toàn Nauplius Artemia bằng thức ăn chế biến hay thức ăn công nghiệp cho tỷ lệ sống rất thấp, lần lượt là 1,7% và 0,2% (Murai và Andrews, 1987; trích bởi Phan Hải An và Trần Xuân Lộc, 2008) cho thấy việc không thể thay thế hoàn toàn Nauplius Artemia bằng các nguồn thức ăn nhân tạo
Hiện ngay, các trại bên ngoài, thường cho ấu trùng tôm càng xanh ăn Nauplius Artemia vào những ngày đầu Từ ngày thứ 10 trở đi, có thể sử dụng thức ăn tự chế thay thế một phần nguồn thức ăn tươi sống Nguyên liệu phối chế thức ăn chế biến cũng rất
đa dạng tùy vào từng địa phương như thịt cá, thịt tôm, thịt nhuyễn thể hai mảnh vỏ, trứng, sữa bột, bổ sung thêm khoáng, vitamin, chất phụ gia, dầu mực hay dầu cá Nhưng theo Murai và Andrews (1987) cho biết sử dụng nhuyễn thể hai mảnh vỏ cho tốc độ biến thái nhanh hơn (trích bởi Phan Hải An và Trần Xuân Lộc, 2008)
Thức ăn công nghiệp có nhiều triển vọng phát triển (Trần Thị Thanh Hiền, 2004) Ưu điểm của loại thức ăn này là hàm lượng đạm cao, có thể được bổ sung một
số acid amin thiết yếu như Arginine, Histidine, Lysine, Valine, Isoleusine, Methionine, Phenylalanine, Threonine và Trytophan Mức đạm tối ưu trong thức ăn tôm là 27 – 35% (Nguyễn Thanh Phương, 2003) Bên cạnh đó thức ăn công nghiệp cũng có các hạn chế như: hệ số chuyển hóa thức ăn phụ thuộc vào nguồn đạm chế biến thức ăn, đạm động vật tốt hơn đạm thực vật, nhưng nguồn đạm động có giá thành cao và sản lượng
có xu hướng giảm Hơn nữa, sử dụng thức ăn công nghiệp có thể làm môi trường nước xấu đi, lãng phí thức ăn do ấu trùng bắt mồi chưa cao
Bên cạnh sử dụng thức ăn tự chế hay thức ăn công nghiệp, các nhà nghiên cứu còn tăng hàm lượng dinh dưỡng cung cấp cho ấu trùng thông qua làm giàu Artemia Có nhiều báo cáo về làm giàu Artemia với vitamin, HUFA, tảo đơn bào, nấm men, kháng sinh, chất tăng cường miễn dịch….(FAO, 1996) Một báo cáo gần đây của Phạm Thị
Trang 33Hoa Minh (2009), thử nghiệm ương ấu trùng tôm càng xanh bằng Artemia được làm giàu với vitamin A, C,E và DHA protein Selco Kết quả cho thấy nghiệm thức sử dụng Artemia được làm giàu bằng DHA protein selco với lượng 1g/ 30.000 ấu trùng cho tỷ lệ sống tốt nhất 53%, thời gian chuyển Postlarvae ngắn nhất 18,25 ngày so với các nghiệm thức sử dụng hỗn hợp vitamin A,C,E để làm giàu Artemia
2.3 Các Mô Hình Sản Xuất Giống Tôm Càng Xanh
2.3.1 Hệ thống nước trong hở (Clear open water system)
Quy trình được khởi xướng đầu tiên bởi Ling năm 1969 và được hoàn thiện bởi Aquacop từ năm 1977 Quy trình được thử nghiệm tại Việt Nam lần đầu tiên bởi Nguyễn Việt Thắng và Bùi Lai Hiện quy trình được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Nguyên tắc hoạt động của quy trình này là đảm bảo nước trong sạch, các yếu
tố chất lượng nước phù hợp với sự phát triển của ấu trùng Tiến hành thay nước thường xuyên, xi phông hút cặn, nuôi với mật độ cao là đặc điểm nổi bậc của quy trình
Ưu điểm: quy trình vận hành tương đối đơn giản, không đòi hỏi kỹ thuật cao,
có thể nuôi với mật độ cao nhưng thường đạt năng suất lớn, thích hợp với quy mô nông
hộ cũng như quy mô sản xuất lớn
Nhược điểm: quy trình thay nước thường xuyên chỉ thích hợp với các trại xây dựng ven biển, tốn nhiều công lao động, có thể làm tăng giá thành sản xuất, lượng nước thãi ra môi trường lớn Nguồn nước lấy vào và thãi ra riêng biệt tránh lây lan mầm bệnh trong sản xuất
2.3.2 Hệ thống nước trong kín (Clear closed water system)
Sandfier (1977), Menasveta (1980), Singholka (1980) là những người đầu tiên nghiên cứu quy trình này, nhưng kết quả còn hạn chế đến Aquacop (1984) và Griessinger (1986) là những người căn bản hoàn chỉnh quy trình này đưa vào sản xuất đại trà ở quy mô lớn Hiện quy trình cũng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới
Nguyên tắc hoạt động của quy trình là sử dụng hệ thống lọc sinh học để ổn định môi trường nuôi Lượng nước thãi ra được tái sử dụng nhờ vào hệ thống lọc sinh học, chỉ bổ sung lượng nước do bay hơi
Ưu điểm: vận hành đơn giản, không thay nước thường xuyên nên ít tốn công lao động trong thay nước bơm nước, lượng nước thãi ít nên không gây ảnh hưởng môi
Trang 34trường sinh thái, lại thích hợp với các trại xa nguồn nước mặn hay chất lượng nước không ổn định, mầm bệnh bên ngoài ít xâm nhập
Nhược điểm: đầu tư trang thiết bị cao, phức tạp khi lắp đặt Khi xảy ra sự cố khó xử lý
2.3.3 Hệ thống nước xanh (Green water system)
Quy trình nước xanh được bắt đầu nghiên cứu từ năm 1966 do Fujimura khởi xướng và đã hoàn thiện vào năm 1974 Tiếp theo Liao (1979), Adisukressno (1980), M.B New và S.Singholka (1982), Malecha (1983) đã bổ sung hoàn chỉnh quy trình Quy trình này đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia
Nguyên tắc hoạt động của quy trình này là dùng tảo để ổn định môi trường nuôi Tảo trong nước sẽ chết dần, do đó cần phải bổ sung tảo thuần chlorella thường xuyên
Quy trình có ưu điểm là hạn chế thay nước so với quy trình nước trong hở (Open – water system) nên ít tốn công lao động trong thay nước bơm nước, thích hợp với các trại không chủ động được nguồn nước mặn
Tuy nhiên, có nhược điểm là mật độ ương thấp hơn mô hình nước trong hở, tảo thuần không bền phải bổ sung liên tục nhưng kỹ thuật nuôi tảo thuần tốn kém và phức tạp
2.3.4 Hệ thống nước xanh cải tiến (Modified static green water system)
Quy trình được đề xướng bởi Ang từ năm 1986 trên cơ sở cải tiến mô hình nước xanh trước đó
Nguyên tắc hoạt động của quy trình là cho phép vi sinh vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể ương để tự ổn định môi trường nước, không xi phông, không thay nước
để giảm chi phí sản xuất Vỏ Artemia được cho trực tiếp vào bể để làm giá thể cho các
vi sinh vật phát triển
Hệ thống này có ưu điểm là không thay nước, không xi phông đáy bể, không
bổ sung tảo thuần (chỉ bổ sung một lần trước khi bố trí ấu trùng), tiết kiệm công lao động, vận hành đơn giản thích hợp với quy mô sản xuất nhỏ cũng như quy mô sản xuất lớn, cả với những trại không chủ động được nguồn nước mặn
Trang 352.4 Sơ Lược Về Trung Tâm Giống Quốc Gia Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ 2.4.1 Lịch sử phát triển của trung tâm:
Ngày 5/9/1997, theo quy định của Bộ Nông Nghiệp trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ được thành lập với tên đầu tiên là Trại Giống cấp I
Đến 1982, Trại giống này chuyển sang bộ thủy sản quản lý
Tháng 10/1988 được giao chức năng và nhiệm vụ mới, trại đổi tên thành Trung Tâm Nghiên Cứu Thủy Sản Đồng Bằng Sông Cửu Long
Đến cuối 2005, đổi tên thành Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ
Bắt đầu từ năm 1984, trung tâm mới có điều kiện thực hiện nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo cũng như các nhiệm vụ khác được giao sau khi hệ thống nhà bể được xây dựng xong
Trung tâm đã thành công trong việc sản xuất giống nhân tạo trên 20 loài cá nước ngọt Đồng thời đã và đang chuyển giao công nghệ sản xuất giống cá Tra, cá Bống Tượng, cá Rô Đồng, cá Lóc Bông cho nhiều địa phương trong cả nước như Tiền Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Quảng Nam,Thanh Hóa
Từ năm 2000 đến nay trung tâm tiếp tục thực hiện dự án nuôi cá bản địa sông Mêkong và dự án hổ trợ phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt (SUFA), dự án khai thác nguồn gen và giống thủy sản nước ngọt (từ năm 1992)
Trung tâm ngày càng hoàn thiện phương thức tự vận hành sản xuất theo phương châm “lấy kết quả nghiên cứu khoa học nuôi lực lượng khoa học”
Trang 362.4.2 Vị trí địa lý
Hình 2.4 Hệ thống ao nuôi của trung tâm
Trung tâm nằm trên quốc lộ 1A, cách cầu Mỹ Thuận 5 km
Phía đông giáp: đơn vị 360 tiền trạm trung đoàn 29 thông tin quân khu 9 Phía tây giáp: đất quốc phòng và sân pháo
Phía nam giáp: đường quốc lộ 1A
Phía Bắc giáp: vườn cây ăn trái nhà dân, giữa vườn và trung tâm là con sông
rộng 30m, sâu 4.5 m khi nước lớn
Trang 372.4.3 Điều kiện tự nhiên
Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ nằm ở địa phận xã
An Thái Trung – Cái Bè – Tiền Giang Trung tâm nằm trên quốc lộ 1A, thuộc vùng nhiệt đới gió mùa chung của vùng đồng bằng Sông Cửu Long Khí hậu chia làm hai mùa: mùa khô từ tháng 11 – 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 – 10, mưa nhiều, khí hậu nóng ẩm quanh năm nhiệt độ không khí thay đổi theo mùa trong năm Mùa khô nhiệt
độ cao hơn mùa mưa, chênh lệch nhiệt độ giữa 2 mùa không cao lắm, dao động nhiệt
độ trong năm từ 23 – 300C
Chất đất là đất thịt pha sét với thành phần: sét 45,6%, đất bụi 38,6%, đất cát 15,4%, đất sạn 0,4%
pH: 6,5 – 8,5
Hàm lượng Oxy hoà tan từ 3 – 5 mg/L
Chất nước là loại nước giàu phù sa
Vùng nước ngọt quanh năm
Nhiệt độ nước vào mùa mưa khoảng 24 – 250C, mùa khô khoảng 29 – 310C
2.4.4 Chức năng và nhiệm vụ
2.4.4.1 Chức năng chung
Lưu giữ và sản xuất giống gốc, giống thuần chủng của các loài thủy sản nước ngọt
Nhập nội, khảo nghiệm, thuần hoá giống mới
Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và công nghệ nuôi các giống loài Thủy sản bản địa và nhập nội
Sản xuất giống gốc, thuần chủng cung cấp cho các trại giống cấp I thuộc hệ thống giống quốc gia khu vực Nam Bộ
Trang 38Tái sản xuất giống gốc, cung cấp cho các trại giống cấp tỉnh, huyện và các cơ
sở sản xuất giống ở Nam bộ đảm bảo phục vụ nuôi thương phẩm
Tham gia quan trắc cảnh báo môi trường và dịch bệnh nuôi trồng Thủy sản khu vực Nam Bộ (trạm vùng)
Khảo nghiệm thuốc, hoá chất phòng trị bệnh và xử lý môi trường nuôi Ứng dụng và phát triển các phương pháp chuẩn đoán bệnh các giống loài nuôi Thủy sản nước ngọt
Chuyển giao các tiến bộ khoa học công nghệ Tham gia đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ khuyến ngư cho nhu cầu các tỉnh Nam Bộ
Trao đổi thông tin và hợp tác khoa học công nghệ, kinh tế và quản lý cũng như với các tổ chức quốc tế
2.4.5 Cơ sở vật chất
Diện tích trại 20 ha chia làm 50 ao, mỗi ao đều có diện tích khác nhau
Diện tích thực nghiệm là 12,5 ha, bao gồm:
Hệ thống sinh sản nhân tạo và ương nuôi
Khu sinh sản nhân tạo
Hệ thống bể ương xi-măng (nhà ương giống số 1)
Hệ thống bể composite (nhà ương số 2)
Khu bể ương hỗn hợp xi-măng và composite (nhà ương số 3)
Khu thực nghiệm giống tôm càng xanh Khu văn phòng
Trụ sở trung tâm
Các phòng thí nghiệm (Thủy sinh, dinh dưỡng, mô học, bệnh học, chất lượng nước, di truyền…)
Trang 39Khu nhà tập thể cán bộ công nhân viên
2.4.6 Nhân lực
Tổng số 24 người Biên chế 14, có 1 tiến sĩ, 4 thạc sĩ (3 nghiên cứu sinh), 3 đang học cao học, 10 kỹ sư
Tổ chức bộ môn
Bộ môn di truyền chọn giống
Bộ môn sản xuất giống và công nghệ nuôi
Bộ môn môi trường và dịch bệnh
Bộ môn khuyến ngư và chuyển giao công nghệ
Trang 4029
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức nhân lực của Trung Tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản Nước Ngọt Nam Bộ
GIÁM ĐỐC (Phạm Văn Khánh)
Phó giám đốc
(Trịnh Quốc Trọng)
Quản lý khoa học
Phó giám đốc (Nguyễn Văn Sáng) Quản lý khoa học
Phó giám đốc (Đặng Văn Trường) Quản lý nội chính Trưởng bộ môn sản xuất giống
(Thi Thanh Vinh)
Trưởng bộ môn di truyền chọn giống (Trịnh Quốc Trọng)
Trưởng bộ môn bệnh học và môi trường (Phạm Văn Khánh)
Tổ hành chánh
Vũ Thị Khoát
Cá bản địa: bông lau, trà sóc,
ét mọi, mè hôi, duồng, chài,…
Sản xuất cá hô giống Sản xuất tôm cái giả
Thuần dưỡng, sinh sản cá thái
hổ Sản xuất chế phẩm vi sinh
Quan trắc môi trường
Dịch vụ phân tích mẫu nước, mẫu cá bệnh
Khảo nghiệm thuốc, chế phẩm
vi sinh Chuyển giao công nghệ
Thủ quỹ, kế toán
Bảo vệ, trực cơ quan
Vệ sinh cơ quan, văn phòng
Cá lưu giữ và bảo tồn quỹ
gien Chọn giống rô phi vằn, GIFT
Chọn giống tôm càng xanh
Sản xuất và chọn giống cá chép Koi Chuyển giao công nghệ
Khảo nghiệm thuốc, chế phẩm
vi sinh
Tài xế
Tiếp khách