Trong suốt quá trình học tập và đặc biệt là trong thời gian thực hiện đề tài: “Khảo sát thị hiếu của người tiêu dùng đối với các thực phẩm được chế biến từ tôm tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT THỊ HIẾU CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
ĐỐI VỚI THỰC PHẨM ĐƯỢC CHẾ BIẾN TỪ TÔM
Trang 3Formatted: Centered
CẢM TẠ
Lời đầu tiên, con xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến ba mẹ, chúc ba mẹ hạnh phúc
và có nhiều sức khỏe
Trong suốt quá trình học tập và đặc biệt là trong thời gian thực hiện đề tài: “Khảo
sát thị hiếu của người tiêu dùng đối với các thực phẩm được chế biến từ tôm tại Thành
phố Hồ Chí Minh”, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Ban Giám Hiệu và toàn thể công nhân viên chức trường Đại học Nông Lâm
Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi học tập tại trường
- Ban Chủ Nhiệm Khoa, cùng các Quý thầy cô khoa Thủy Sản và các Quý thầy
cô các khoa khác đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý báu cho
chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
- Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy Nguyễn
Minh Đức đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ cho tôi hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này
- Đồng thời tôi xin gửi lời cảm ơn đến anh Võ Huy Ánh – Giám đốc Công ty
TNHH TM SX DV Đỉnh Việt đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn
thành đề tài
- Tôi xin gửi đến những người bạn đã ở bên cạnh tôi, ủng hộ tôi trong suốt những
năm đại học và đặc biệt là trong thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp này những
lời cảm ơn và lời chúc tốt đẹp
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và thời gian thực hiện
đề tài có hạn cũng như hạn chế về kiến thức, đề tài không tránh khỏi sai sót nên rất
mong Quý thầy cô và các bạn góp ý thêm để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Deleted: 1¶
Formatted: Font: Times New Roman
Trang 4Formatted: Centered
TÓM TẮT
Đề tài “ Khảo sát thị hiếu của người tiêu dùng đối với các thực phẩm được chế
biến từ tôm tại Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ ngày 22/02/2010 đến ngày
30/07/2010 thông qua việc phỏng vấn 200 người tiêu dùng và đồng thời quan sát được
1198 khách hàng tại hai siêu thị Co.op Mart xa lộ Hà Nội và Co.op Mart Suối Tiên,
kết quả khảo sát như sau:
Tỷ lệ người mua thực phẩm được chế biến từ tôm so với người ghé xem chiếm tỷ
lệ rất thấp
Người tiêu dùng có xu hướng dùng thực phẩm được chế biến từ tôm trong tương
lai nhưng không cao 68.50%
Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm được chế biến từ tôm của
người tiêu dùng là: thu nhập, giá cả sản phẩm, hạn sử dụng, vệ sinh an toàn thực phẩm,
chất lượng, tên công ty, nhãn hiệu…
Giới tính, thu nhập bản thân và tần suất ảnh hưởng đến mức độ thích của người
tiêu dùng, còn sở thích và nghề nghiệp lại có ảnh hưởng đến tần suất mua thực phẩm
được chế biến từ tôm của người tiêu dùng
Đa số người tiêu dùng cho rằng giá của các thực phẩm được chế biến từ tôm là
quá đắt Hệ thống phân phối còn chưa phổ biến, chủ yếu được bày bán ở siêu thị là
chính
Tiêu chí chọn thực phẩm được chế biến từ tôm của người tiêu dùng là sự tiện
dụng (ít tốn thời gian chế biến), giá cả, nhìn thấy tươi và ngon, hạn sử dụng
Deleted: 1¶
Formatted: Font: Times New Roman
Trang 5Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Tổng quan về các sản phẩm được chế biến từ tôm 4
2.1.1 Giới thiệu chung về các sản phẩm chế biến từ tôm 4
2.1.1.1 Thực phẩm đông lạnh 4
2.1.2 Tình hình thị trường tiêu thụ thủy sản trong nước 4
2.1.3 Thị trường tiêu thụ thủy sản thế giới 5
a Xu hướng tiêu thụ thuỷ sản 6
2.1.3.2 Xu hướng tiêu thụ thủy sản ở một số thị trường chính 8
Trang 6Formatted: Centered
2.4 Những thuận lợi và khó khăn của thủy sản Việt Nam 14
2.4.1 Thuận lợi 15
2.4.2 Khó khăn 15
2.5 Cơ sở lý luận của nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng 17
2.5.1 Lý thuyết về hàng vi mua của người tiêu dùng 17
2.5.1.1 Mô hình các yếu tố tác động đến hành vi của người tiêu dùng 18
2.5.2 Khái niệm về nhãn hiệu sản phẩm 24
2.5.3 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm 26
2.5.4 Khái niệm về sản phẩm và chất lượng sản phẩm 26
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
3.1 Phương pháp nghiên cứu 29
3.1.1 Thời gian và địa điểm 29
3.1.1.2 Địa điểm 29
3.1.2 Phương pháp thu thập số liệu 29
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 31
4.1 Kết quả quan sát khách hàng tại các siêu thị 31
4.1.1 So sánh số người ghé xem sản phẩm được chế biến từ tôm ở hai siêu thị
Co.op Mart Suối Tiên, Co.op Mart xa lộ Hà Nội 31
4.1.2 Số lượng người mua thực phẩm được chế biến từ tôm khi quan sát ở hai siêu
thị Co.op Mart Suối Tiên, Co.op Mart xa lộ Hà Nội 32
4.3 Khảo sát mức độ thích dùng các thực phẩm được chế biến từ tôm của người
4.3.1 Mức độ thích các thực phẩm được chế biến từ tôm 35
4.3.2 Lý do của sự lựa chọn thích hay không thích dùng các thực phẩm được chế
Deleted: 1¶
Trang 7Formatted: Centered
4.3.3 Mối liên hệ giữa sở thích với giới tính, tuổi, thu nhập, nghề nghiệp của
4.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thích thông qua chỉ số thích LI 37
4.4 Tần suất sử dụng thực phẩm được chế biến từ tôm 39
4.4.1 Tần suất sử dụng thực phẩm được chế biến từ tôm 39
4.4.2 Mối liên hệ giữa tần suất sử dụng thực phẩm được chế biến từ tôm với sở
4.4.3 Thu nhập của bản thân và của cả gia đình người tiêu dùng ảnh hưởng đến
tần suất mua sản phẩm 40
4.4.4 Giới tính ảnh hưởng đến tần suất mua sản phẩm 42
4.5 Địa điểm mua các thực phẩm được chế biến từ tôm 43
4.7 Hình thức biết đến thực phẩm được chế biến từ tôm 45
4.8 Những yếu tố quyết định hành vi mua thực phẩm được chế biến từ tôm của
4.9 Những yếu tố khiến người tiêu dùng quyết định chọn thực phẩm được chế
4.9.1 So với thực phẩm thịt khác (bò, gà, heo…) 48
4.9.2 So với sản phẩm thủy sản khác (cá, mực, nghêu, sò,…) 49
4.10 Những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm được chế biến từ tôm 49
4.10.1 Thu nhập ảnh hưởng đến quyết định mua thực phẩm được chế biến từ tôm 49
4.10.3 Chất lượng của thực phẩm được chế biến từ tôm 50
4.10.4 Vệ sinh an toàn thực phẩm 50
4.10.5 Sự tiện dụng của sản phẩm 51
4.11 Mức độ quan tâm đến nhãn hiệu và chứng nhận về chất lượng 51
4.11.1 Mức độ quan trọng của nhãn hiệu hay nhà sản xuất 51
4.11.2 Mức độ quan tâm đến những chứng nhận về chất lượng như ISO, HACCP
của sản phẩm 52
Deleted: 1¶
Trang 8Formatted: Centered
4.12 Nhận xét của người tiêu dùng về giá của sản phẩm 52
4.13 Xu hướng tiêu dùng thực phẩm được chế biến từ tôm trong tương lai 53
4.14 Các yếu tố khiến người tiêu dùng không hài lòng (cần khắc phục) về sản
Trang 9Formatted: Centered
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN (Association of South East Asian Nations): Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam Á
FAO (Food and Agriculture Organization of The United Nations): Tổ chức
Lương thực và Nông nghiệp Thế Giới
WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới
HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points): Phân tích mối nguy và
kiểm soát điểm tới hạn
ISO (International Organization for Standardization): Tổ chức quốc tế về tiêu
chuẩn hóa
VASEP (The Vietnam Association of Seafood Exporters and Producers): Hiệp
hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
EU (European Union): Liên minh châu Âu
VSATTP: Vệ sinh an toàn thực phẩm
GDP: (Gross Domestic Product): Thu nhập tính theo bình quân đầu người trên
1 năm
USD: (United States Dollars): Đô la Mỹ
WIPO: (World Intellectual Property Organization): Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế
giới
Deleted: 1¶
Trang 10Formatted: Centered
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG TRANG
Bảng 2.1: Dự báo tiêu thụ thủy sản theo nhóm nước 6
Bảng 2.2: Dự báo tình hình tiêu thụ thủy sản toàn cầu 9
Bảng 2.3: Tổng giá trị sản lượng và giá trị nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới giai
Bảng 4.3: Mối liên hệ giữa sở thích với giới tính, tuổi, thu nhập, nghề nghiệp 37
Bảng 4.4: Mối liên hệ giữa tần suất mua sản phẩm được chế biến từ tôm với
sở thích, thu nhập cá nhân, giới tính, tuổi, nghề nghiệp của người tiêu dùng 43
Deleted: 1¶
Formatted: Font: Times New Roman
Formatted: Font: Times New Roman
Formatted: Font: Times New Roman
Trang 11Formatted: Centered
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH TRANG
Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người mua 18
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người mua 19
Hình 2.3: Thang hệ thống cấp bậc đòi hỏi Maslow 21
Hình 2.4: Quá trình thông qua quyết định mua sắm của người tiêu dùng 21
Hình 2.5: Những bước từ giai đoạn đánh giá các phương án đến giai đoạn quyết
Deleted: 1¶
Field Code Changed Formatted: Font: Times New Roman
Trang 12Formatted: Centered
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Số lượng người ghé xem thực phẩm được chế biến từ tôm ở
siêu thị Co.op Mart xa lộ Hà Nội 31
Biểu đồ 4.2: Số lượng người tiêu dùng ghé xem thực phẩm được chế biến từ
Biểu đồ 4.3: So sánh số lượng người mua và ghé xem vào buổi sáng ở hai siêu thị 33
Biểu đồ 4.4: So sánh số lượng người mua và ghé xem vào buổi tối ở hai siêu thị 33
Biểu đồ 4.5: Mức độ thích hay không thích dùng thực phẩm được
Biểu đồ 4.6: Chỉ số thích LI của các nhóm nghề nghiệp đối với mức độ thích 37
Biểu đồ 4.7: Chỉ số thích LI của tần suất sử dụng sản phẩm
Biểu đồ 4.8: Chỉ số thích LI của thu nhập bản thân đối với mức độ thích 38
Biểu đồ 4.9: Tần suất sử dụng thực phẩm được chế biến từ tôm 39
Biểu đồ 4.10: Sở thích ảnh hưởng đến tần suất mua sản phẩm của người tiêu dùng 39
Biểu đồ 4.11: Ảnh hưởng của thu nhập cá nhân đến tần suất mua thực phẩm được
Biểu đồ 4.12: Ảnh hưởng của thu nhập cả gia đình đến tần suất mua
Biểu đồ 4.13: Ảnh hưởng của giới tính đến tần suất mua
Biểu đồ 4.14: Địa điểm mua thực phẩm được chế biến từ tôm 44
Biểu đồ 4.15: Dịp mua thực phẩm được chế biến từ tôm 45
Biểu đồ 4.16: Hình thức biết đến thực phẩm được chế biến từ tôm 45
Biểu đồ 4.17: Những yếu tố quyết định hành vi mua sản phẩm của người tiêu dùng 46
Biểu đồ 4.18: Yếu tố khiến người tiêu dùng mua thực phẩm được
Biểu đồ 4.19: Yếu tố khiến người tiêu dùng mua thực phẩm được
Biểu đồ 4.20: Các yếu tố cần khắc phục của các thực phẩm được chế biến từ tôm 54
Deleted: 1¶
Formatted: Font: Times New Roman
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Nước ta đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại đã
và đang có những tác động mạnh đối với nền kinh tế nước ta Nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển, thu nhập của người dân được gia tăng, chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn
Ngày nay người dân ngày càng có ý thức hơn đối với chất lượng hàng hóa, đặc biệt là chú ý quan tâm đến sản phẩm thủy sản Thủy sản là một trong những loại thực phẩm thiết yếu trong đời sống của mỗi gia đình Nó là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều vitamin và đặc biệt là chứa một lượng lớn omega3 giúp cho não phát triển… hiện nay người dân rất bận rộn với công việc, để đáp ứng được nhu cầu của họ thì sản phẩm thủy sản đông lạnh, tiện dụng làm sẵn, khô, đồ hộp…đã ra đời để đáp ứng được nhu cầu của người dân Nó không những giúp cho người dân giảm bớt thời gian nấu nướng mà còn cung cấp các chất dinh dưỡng cho cơ thể Việc lựa chọn sản phẩm thủy sản để mua cho gia đình không chỉ nhằm phục vụ cho nhu cầu ăn uống mà còn phải bao gồm cả nhu cầu về an toàn vệ sinh nữa Đặc biệt là đối với người dân Thành phố Hồ Chí Minh
Trong đó, tôm là một mặt hàng rất phổ biến đối với người dân Nó không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của con người Hiện nay các sản phẩm được chế biến từ tôm rất nhiều Trên khắp cả nước nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã
có rất nhiều nhà máy, xí nghiệp sản xuất ra nhiều mặt hàng được chế biến từ tôm, từ các sản phẩm đông lạnh, tiện dụng làm sẵn, đến các mặt hàng giá trị gia tăng hay đồ hộp đang ngày càng đa dạng hơn, giúp cho người dân có nhiều cơ hội để chọn lựa sản phẩm cho riêng mình và cho những người thân của họ
Vấn đề đặt ra là bên cạnh các cơ sở sản xuất hoạt động với quy mô lớn, đảm bảo
về chất lượng mẫu mã thì phần lớn các cơ sở sản xuất với quy mô nhỏ lẻ, tự phát không theo chuẩn mực chất lượng nào cũng như hệ thống các tiêu chuẩn mà nhà nước
Trang 14quy định Có thể nói đây là một trong những nguyên nhân khiến các sản phẩm được chế biến từ tôm chưa thể chiếm lĩnh được thị trường trong nước
Ngoài ra, chất lượng cuộc sống ngày càng tăng, mức sống của người dân ngày càng cao thì thị hiếu tiêu dùng của họ cũng sẽ có nhiều thay đổi hơn so với trước Trong việc lựa chọn sản phẩm thủy sản người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến việc giảm thời gian nấu nướng mà còn quan tâm đến nhãn hiệu, chất lượng, giá bán và nhiều yếu tố khác như vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, không ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng
Thị trường tôm ở thành phố Hồ Chí Minh như thế nào? Người tiêu thụ nhận thức như thế nào về các sản phẩm được chế biến từ tôm? Đồng thời chưa có một nghiên cứu nào đánh giá thị hiếu và hành vi mua của người tiêu dùng đối với các sản phẩm được chế biến từ tôm Từ những vấn đề nêu trên, để tìm hiểu được thị hiếu tiêu dùng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng đối với sản phẩm được chế biến từ tôm, được sự cho phép của khoa Thủy Sản và được sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Minh Đức tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Khảo sát thị hiếu người tiêu dùng đối với các thực phẩm được chế biến từ tôm tại Thành phố Hồ Chí Minh”, nhằm cung cấp đến các nhà sản xuất những thông tin thị trường cần thiết, đưa ra những giải pháp khả thi từng bước ổn định, nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tốt và kịp thời những nhu cầu của người tiêu dùng
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu thị hiếu tiêu dùng và chất lượng của các sản phẩm được chế biến từ tôm gồm:
) Xác định xu hướng dùng thực phẩm được chế biến từ tôm của người tiêu dùng trong tương lai
Trang 15) Đánh giá thị hiếu của người tiêu dùng đối với các thực phẩm được chế biến từ tôm
) Vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và nhãn hiệu
Đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề nhằm phát triển thị trường cho thực phẩm được chế biến từ tôm
Trang 16Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về các sản phẩm được chế biến từ tôm
2.1.1 Giới thiệu chung về các sản phẩm làm từ tôm
2.1.1.1 Thực phẩm đông lạnh
Hiện nay, người dân trên thế giới đã không còn xa lạ với thực phẩm đông lạnh nữa Bởi nó là nguồn thực phẩm rất cần thiết cho người dân các nước phát triển Với quỹ thời gian ngày càng eo hẹp để có một bữa ăn nhanh chóng, chúng ta bắt buộc phải dùng đến thực phẩm đông lạnh Đông lạnh thực phẩm sẽ làm chậm lại quá trình ôi thiu
và giúp bảo quản được lâu hơn Thực phẩm được bảo quản ở nhiệt độ càng lạnh thì càng ngăn được họat động phá hoại của vi khuẩn đồng thời quá trình thay đổi về mặt hóa học dưới tác động của enzym cũng diễn ra Thực phẩm đông lạnh là những sản phẩm được sơ chế, chế biến theo những quy trình nhất định nghiêm ngặt về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo chất lượng Ngay từ khâu tiếp nhận nguyên liệu, nguyên liệu phải đạt yêu cầu, chất lượng phải đảm bảo, sau đó sẽ được sơ chế, chế biến phù hợp với vệ sinh an toàn thực phẩm, từ đó tạo ra những sản phẩm an toàn cho người dân Trước khi những sản phẩm này đến tay người tiêu dùng thì chúng được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận của các cơ quan y tế Cho nên thực phẩm đông lạnh
là sản phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao
2.1.1.2 Một số sản phẩm được chế biến từ tôm
Tôm nguyên con đông lạnh, tôm lột vỏ đông lạnh, tôm khô, chả giò tôm, tôm cuốn khoai tây, tôm cuốn khoai môn, tôm tẩm bột chiên sù, tôm tẩm cốm, tôm viên, chạo tôm, càng bao tôm, hoành thánh tôm, tôm chua, há cảo tôm…
2.1.2 Tình hình thị trường tiêu thụ thủy sản trong nước
Với gần 80 triệu dân, Việt Nam là một thị trường tiêu thụ thực phẩm thủy sản không nhỏ Kinh tế Việt Nam trong những năm qua có sự phát triển đáng kể, thu nhập
và mức sống người dân ngày càng cao, khách du lịch đến Việt Nam ngày càng nhiều;
do đó thủy sản tươi sống, đông lạnh, đồ hộp và thực phẩm chế biến sẵn sẽ ngày càng
Trang 17phát triển mạnh Ngoài ra, với mức sống của người dân tại các thành phố lớn ngày càng tăng, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản chế biến sẵn và các sản phẩm thủy sản qua sơ chế sẽ ngày càng tăng Trong khí đó, sản lượng tiêu thụ nội địa của Tổng công ty thủy sản Việt Nam Seaprodex chỉ chiếm khoảng 3,1 %; đây là một tỷ trọng khá thấp so với một đất nước gần 80 triệu dân Do vậy, thị trường tiêu thụ nội địa là một thị trường tiềm năng lớn của các công ty thủy sản mà nếu khai thác tốt thị trường này sẽ tạo thế cân bằng và giảm rủi ro xảy ra trong kinh doanh xuất khẩu
Theo đánh giá của FAO (1999), Việt Nam xếp thứ 17 trong số 20 nước có sản lượng khai thác thủy sản hàng năm từ 1 triệu tấn trở lên Đến năm 2000, tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam đã đạt gần 2 triệu tấn - là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các công ty thủy sản Hiện tại, thị trường cung cấp nguyên liệu của các công ty tập trung ở các tỉnh Kiên Giang, Vũng Tàu, Nha Trang, An Giang, Đồng Tháp
2.1.3 Thị trường tiêu thụ thủy sản thế giới
Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO, 2009) dự báo nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm sẽ chiếm 137 triệu tấn Đến năm 2010, trung bình mỗi người tiêu thụ 18,4
kg thủy sản, và tiêu thụ 19,1 kg vào năm 2015, so với 16,1 kg năm 1999 - 2000 Tiêu thụ cá và các sản phẩm từ cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 13.7 kg vào năm 2010
và tiêu thụ 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu tiêu dùng thuỷ sản có vỏ và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người
Do sự gia tăng nhanh hơn về dân số và thu nhập nên tình hình tiêu thụ thuỷ sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn Những yếu tố hạn chế nhịp độ tăng sản lượng ở các nước phát triển chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người đã ở mức cao Ngoài ra, còn có sự thay đổi về cơ cấu tiêu thụ theo khu vực trong giai đoạn dự báo, trong đó khu vực Đông Bắc á (trừ Nhật Bản) sẽ có mức tăng tiêu thụ thủy sản cao nhất khoảng 30%/năm, tiếp theo là các nước ASEAN và các nước ở Châu Á khác Bên cạnh đó, mức độ tiêu thụ thủy sản thấp nhất
là ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ Với việc cải cách hệ thống phân phối hàng thuỷ sản
và còn nhiều nguyên nhân khác, ở các nước sẽ có xu hướng tăng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản tại gia đình bên cạnh hệ thống dịch vụ ăn uống công cộng, các nhà hàng, khách sạn… Thị phần của kênh tiêu thụ gia đình sẽ tăng lên trong tổng tiêu thụ thuỷ sản của một khu vực thị trường (Nguồn: Vinanet, 2009)
Trang 18Bảng 2.1: Dự báo tiêu thụ thủy sản theo nhóm nước
Đơn vị: Triệu tấn
% tăng bình quân
2005 2010 2015 2010/2005 2015/2010
Thế giới 144,5 157,2 183,0 1,75 3,05 Tiêu dùng cho thực phẩm 107,5 117,2 138,0 1,75 3,30
Hao hụt và tiêu dùng khác 37,0 40,0 45,0 1,60 2,40
Trong đó
Các nước đang phát triển 74,5 82,4 2,05 4,05
Các nước phát triển 33,0 34,8 1,40 4,88
a Xu hướng tiêu thụ thuỷ sản
Trong hai thập kỷ qua, sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội là một
trong những nguyên nhân dẫn đến nhu cầu thuỷ sản trên toàn cầu không ngừng tăng
cao với tốc độ tăng hằng năm 4,3% Thị trường tiêu thụ ngày nay quan tâm nhiều hơn
đến thuỷ sản như nguồn thực phẩm dinh dưỡng quan trọng không chỉ cung cấp 16%
nhu cầu prôtêin của con người mà còn đáp ứng các chất khoáng và Omega 3 cần thiết
cho cơ thể để phát triển trí não và ngăn ngừa một số bệnh Cùng với sự gia tăng dân số
và sự phát triển kinh tế xã hội, mức tiêu thụ thuỷ sản trên thị trường thế giới ngày càng
tăng cao
Về thị hiếu, tiêu thụ thuỷ sản thế giới sẽ chuyển sang hướng tiêu dùng nhiều thuỷ
sản tươi, sống, đặc biệt là các loại có giá trị cao: giáp xác, nhuyễn thể, cá ngừ, cá hồi
Tỷ trọng dầu cá, bột cá trong cơ cấu tiêu thụ vẫn ổn định, trong khi tỷ lệ tiêu thụ đồ
hộp ngày càng giảm do nguy cơ bị nhiễm chất hoá học từ sản phẩm đồ hộp gia tăng
Đồng thời, nhu cầu thực phẩm chế biến nhanh tăng, đòi hỏi thời gian chế biến tối thiểu
và hương vị phải đặc sắc như thực phẩm chế biến tại gia Yêu cầu về an toàn thực
phẩm ngày càng gia tăng và phổ biến rộng rãi trên khắp thế giới
b Mức tiêu thụ
Lượng cung cấp thực phẩm thuỷ sản cho tiêu thụ của con người trên toàn cầu
tăng từ 53,4 triệu tấn năm 1981 đến hơn 104 triệu tấn năm 2003 Mức tiêu thụ thuỷ sản
bình quân theo đầu người trên thế giới tăng từ 11,8 kg đến 16,5 kg trong giai đoạn này
Theo FAO dự báo, nhu cầu thuỷ sản còn có thể tăng mạnh nữa trong tương lai và mức
Trang 19tiêu thụ sẽ có thể lên đến 18,4 kg/người/năm vào năm 2010 và 19,1 kg/người/năm vào năm 2015
Châu Á và Thái Bình Dương là khu vực khai thác và nuôi trồng thuỷ sản quan trọng nhất Một số nước trong khu vực này có mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người cao nhất thế giới Thủy sản là thực phẩm cho bữa ăn hằng ngày của người dân ở khu vực này nên mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người cao, đạt 39,6kg/người năm 2003
2.1.3.1 Xu hướng tiêu thụ thuỷ sản ở châu Á
Hiện nay, thuỷ sản trong thực đơn hằng ngày của người dân vùng nông thôn đang dần thay đổi, do việc giảm nguồn lợi khai thác, chuyển đổi nghề nghiệp và sự thay đổi
cơ chế quản lý nguồn nước Thực phẩm từ nguồn nuôi trồng đang dần thay thế thuỷ sản từ nguồn khai thác tự nhiên
Từ năm 1950-1970 lượng tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người tăng gấp đôi và từ đó ổn định ở mức 9-10 kg/đầu người Tuy nhiên, tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người dự kiến sẽ tiếp tục tăng cao cùng với sự tăng trưởng dân số thế giới Lượng cung cấp thuỷ sản có thể sẽ bị hạn chế do các yếu tố môi trường và phạm vi nhu cầu có thể là 150 đến 160 triệu tấn, hoặc 19-20kg/đầu người vào năm 2030 Tăng tiêu thụ thực phẩm thuỷ sản toàn cầu chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát triển nơi dân số đang ngày càng tăng và thu nhập cao tạo điều kiện cho người dân tăng sức mua các mặt hàng thuỷ sản giá trị cao Theo dự báo của FAO (2009), tổng nhu cầu thuỷ sản
ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 30,5 triệu tấn năm 1979/81 tới gần 140 triệu tấn năm 2015 Châu Á chiếm khoảng 68% tổng nhu cầu thuỷ sản năm 1979/81 và sẽ tăng tới 86% vào năm 2010 và năm 2015 Mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân theo đầu người
ở Ðông Nam á sẽ đạt tới 25,8 kg vào năm 2020 và cũng sẽ tăng tới 39,5 kg ở Trung Quốc Còn ở các nước đang phát triển sẽ tăng từ 10,7 kg/người/năm trong giai đoạn 1999-2001 lên 13,5 kg/người/năm vào năm 2015, trong khi các nước phát triển cũng
sẽ tăng từ 16,3 kg lên 17,3 kg
Châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, là khu vực được coi là nhà sản xuất, xuất khẩu cũng như nhập khẩu các sản phẩm thuỷ sản lớn nhất, đặc biệt là các sản phẩm nuôi trồng Nhu cầu đối với sản phẩm thuỷ sản ở khu vực này cao và ngày càng tăng (trừ Nhật Bản) vì người tiêu dùng rất thích ăn thuỷ sản Tiêu thụ ở hộ
Trang 20gia đình và nhà hàng ngày càng tăng Tuy nhiên, do sở thích về các loài và các dạng sản phẩm khác nhau cũng là lý do dẫn đến nguồn cung cấp phong phú Bên cạnh đó, ngành du lịch phát triển bùng nổ thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ đối với các loài có giá trị cao Hệ thống bán lẻ hiện đại và tăng trưởng kinh tế nhanh nhất là các nước đang phát triển (Trung Quốc, Việt Nam và Singapo) cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu thụ tăng cao ở khu vực này
2.1.3.2 Xu hướng tiêu thụ thuỷ sản ở một số thị trường chính
Nhu cầu về các sản phẩm thuỷ sản đang ngày càng tăng mạnh, nhất là ở những thị trường lớn như Mỹ và EU nhưng lại có phần chậm lại ở thị trường Nhật Bản Nhu cầu của các loài nuôi như tôm, cá rô phi và cá tra đang tăng nhanh, đặc biệt là thị trường Mỹ Năm 2004, tổng sản lượng thuỷ sản tiêu thụ ở Mỹ là 2,18 triệu tấn Do tiêu thụ tăng nên nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ cũng tăng theo, đạt 11,3 tỷ USD so với 11,1
tỷ USD năm 2003 Các sản phẩm thuỷ sản đông lạnh và tươi (tôm và cá rô phi) được tiêu thụ mạnh, chiếm 71% tổng sản lượng tiêu thụ Trong khi đó, các sản phẩm chế biến bảo quản và đóng hộp có xu hướng giảm Nhu cầu đối với các loài thuỷ sản nuôi cũng đang tăng, đặc biệt là tôm, cá hồi, cá tra và cá rô phi
Ở Nhật Bản, nhu cầu về các sản phẩm thuỷ sản không tăng, thậm chí có xu hướng giảm chủ yếu là do ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế trong những năm 90 Hơn nữa
là sự thay đổi cách sống của thế hệ trẻ ở Nhật Bản và việc giảm nguồn cung cấp thuỷ sản trong nước cũng làm thay đổi xu hướng tiêu thụ ở Nhật Bản Tiêu thụ của tất cả các loại sản phẩm thuỷ sản ở các hộ gia đình cũng có xu hướng giảm
Nhu cầu thuỷ sản ở EU cũng đang tăng và tiêu thụ theo đầu người của các nước thành viên EU-25 cũng dự kiến tăng 1-12% từ 2005-2006 (FAO, 2004) Sự tăng trưởng kinh tế, sự nhận thức về sức khoẻ, thay đổi cách sống và sự phân phối thuỷ sản qua các của hàng bán lẻ hiện đại là những yếu tố chính thúc đẩy sự gia tăng này Nhu cầu các sản phẩm nuôi nhiệt đới như tôm đang tăng nhanh ở thị trường EU được phản ảnh ở tình tình nhập khẩu tăng Các nước trong khối EU ngày càng có xu hướng tiêu thụ nhiều thủy sản hơn để tăng cường sức khoẻ EU đang tăng cường nhập khẩu thủy sản từ các nước ASEAN nhằm đáp ứng nhu cầu trong khu vực Dựa vào nghiên cứu của FAO (2004), tiêu thụ thuỷ sản của EU trong tương lai sẽ theo 3 xu hướng khác nhau :
Trang 21- Tiêu thụ thuỷ sản chế biến bảo quản và thuỷ sản ướp lạnh/tươi hầu như là ổn
định
- Tiêu thụ giáp xác, nhuyễn thể, philê cá và các sản phẩm đã chế biến sẽ tăng
- Tiêu thụ sản phẩm đông lạnh sẽ giảm
Mức tăng tiêu thụ cao nhất được dự báo cho các loài giáp xác, đặc biệt là tôm và
mặt hàng philê cá
Bảng 2.2: Dự báo tình hình tiêu thụ thủy sản toàn cầu
Đơn vị: kg/người
Năm Nhóm loài 1961-1965 1981-1985 1991-1995 2001 2010 2020
Cá 8,2 9,9 10,6 12,1 13,7 14,3 Loài khác 1,3 2,2 3,2 4,2 4,7 4,8
Tổng 9,5 12,1 13,8 16,3 18,4 19,1 Nguồn: FAO * dự báo, (2004)
2.1.4 Triển vọng phát triển của ngành
Nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới ngày một tăng cao, nhất là một số nước
phát triển như Mỹ, Nhật, Nga, các nước thuộc khối EU
Bảng 2.3: Tổng giá trị sản lượng và giá trị nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới giai đoạn
1993 – 2003
Năm 1993 1995 1998 2000 2001 2002 2003 Giá trị
(triệu USD) 35,690 44,137 49,958 56,732 50,275 60,707 67,314 Sản lượng
(ngàn tấn) 24,457 31,198 39,089 45,665 48,459 51,578 54,786
Xu hướng phát triển kinh tế cao và hiện đại, nhu cầu về tiêu dùng thực phẩm
thức ăn nhanh và chế biến sẵn (đông lạnh, đồ hộp ) ngày một tăng và trở thành sản
phẩm thiết yếu nhất là những nước có nền kinh tế phát triển Giá trị sản lượng tiêu
thụ thực phẩm từ nhập khẩu từ những nước đang phát triển với nguồn nguyên liệu
dồi dào, chi phí sản xuất và nhân công thấp, giá thành phù hợp Trong đó, thực phẩm
có nguồn gốc từ thuỷ sản được ưa chuộng ngày càng tăng cao do nhiều nguyên nhân
Trang 22- Nguồn cá biển tự nhiên ngày một cạn kiệt do nạn đánh bắt tràn lan, một số loài cá biển có nguy cơ bị tuyệt chủng
- Dịch cúm trên gia cầm và lở mồm, long móng trên gia súc trong thời gian gần đây khiến người tiêu dùng có xu hướng chuyển sang sử dụng thuỷ sản ngày càng nhiều
Thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao (như protein, vitamin, khoáng chất, omega3) có lợi cho sức khoẻ mặc dù có giá bán cao nhưng vẫn được sự ưa chuộng của người tiêu dùng
Riêng tại Việt Nam, ngành chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu hiện đang
có triển vọng phát triển tốt Ngoài ra, thị trường trong nước cũng có cơ hội tăng trưởng cao dựa trên những yếu tố tích cực như: nền kinh tế phát triển, thu nhập bình quân đầu người và mức sống ngày càng cao
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng cả về sản lượng lẫn giá trị kim ngạch xuất khẩu trong
ngành
Năm SL khai
thác (tấn)
SL nuôi trồng (tấn)
Tổng sản lượng (tấn)
Giá trị xuất khẩu
Tỷ lệ tăng GTXK (hằng năm)
Trang 23thức nuôi thả loài cá này
Ngành Thuỷ sản Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân và mục tiêu phát triển của đất nước thông qua những ảnh hưởng của ngành về sản xuất thực phẩm, tạo việc làm và xuất khẩu Thuỷ sản đã chiếm 21% GDP trong cơ cấu nông-lâm-ngư nghiệp và chiếm hơn 4% trong GDP của nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu Thuỷ sản đứng vị trí thứ 03 (sau dầu hoả và may mặc) là một trong các lĩnh vực xuất khẩu thu về ngoại tệ cho Việt Nam Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Thuỷ sản bình quân trong 05 năm là 12%/năm
Theo đánh giá của FAO (2006), Việt nam nằm trong danh sách 20 nước có sản lượng khai thác thủy sản hằng năm từ 01 triệu tấn trở lên Năm 1998, tổng sản lượng đạt khoảng 1,67 triệu tấn các loại, đến năm 2000 đạt gần 2 triệu tấn, năm 2004 là 2,82 triệu tấn
Theo Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển của ngành Thuỷ sản đến năm
2010 và định hướng năm 2020, mục tiêu cụ thể đến 2010 như sau:
- Sản lượng tăng với tốc độ bình quân 3,8%/năm;
- Giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tăng với tốc độ bình quân 10,63%/năm;
- Tổng sản lượng thuỷ sản đến 2010 đạt 3,5 - 4,0 triệu tấn/năm
Trang 24- Giá trị kim ngạch xuất khẩu 2010 đạt 4 tỷ USD
- Lao động nghề cá tăng bình quân 3%/năm
Với mục tiêu nêu trên, có thể thấy tốc độ phát triển trong hoạt động xuất khẩu thuỷ sản là rất lớn, hứa hẹn nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản vươn lên theo hướng mở rộng thị trường và gia tăng năng lực sản xuất
2.2 Tổng quan về nơi nghiên cứu (TP.HCM)
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam
Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01 km² Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm 0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số thành phố là 7.123.340 người (chiếm 8,30% dân số Việt Nam), mật độ trung bình 3.401 người/km² Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá trị sản xuất công nghiệp của cả quốc gia Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức
70 % lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất
2.3 Hiện trạng sản xuất
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP, 2009) cho biết, năm 2009 tôm là mặt hàng thủy sản xuất khẩu duy nhất tăng cả về lượng và giá trị so với năm 2008 Dự báo năm 2010, tôm sú vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong khi xuất khẩu tôm chân trắng sẽ tăng gấp đôi về kim ngạch
2009 là một năm đầy biến động đối với ngành tôm nói riêng và ngành thuỷ sản nói chung Nhu cầu tiêu dùng sụt giảm, khiến giá tôm trên thị trường thế giới giảm Trong khi các nhà máy chế biến trong nước thường xuyên phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nguyên liệu do người nuôi bỏ đầm, do dịch bệnh và thời tiết bất thuận khiến sản lượng thu hoạch đạt thấp
Trang 25Trước những khó khăn đó, các doanh nghiệp sản xuất và chế biến tôm vẫn "vững tay chèo" để duy trì sản xuất và tăng trưởng Theo VASEP, ước tính kim ngạch xuất khẩu tôm cả năm 2009 vượt trên 1,6 tỷ USD
Xuất khẩu tôm sang 3 thị trường lớn là Nhật, Mỹ và Australia trong tháng 11, tháng 12/2009 giảm cả về lượng lẫn giá trị Ngược lại xuất khẩu sang các thị trường khác như ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Canada, Thụy Sĩ lại tăng mạnh Có thể nói đây là xu hướng đáng chú ý nhất trong xuất khẩu tôm năm 2009 Trong các thời điểm xuất khẩu sang các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật hay EU gặp khó khăn, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm đã nỗ lực và nhanh chóng tìm kiếm những cơ hội mới, các thị trường khác, bên cạnh việc cố gắng duy trì bạn hàng truyền thống
Cả nước có hơn 300 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu tôm, trong đó 60 doanh nghiệp dẫn đầu chiếm hơn 80% kim ngạch; 120 doanh nghiệp có giá trị xuất khẩu tôm hơn 1 triệu USD Năm 2009, Việt Nam xuất khẩu tôm vào 82 thị trường trong đó 10 thị trường đầu tiên chiếm hơn 80% cả về khối lượng lẫn giá trị gồm Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Trung Quốc, Australia, Canada, Anh và Bỉ Tôm sú vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm trên 75% giá trị xuất khẩu Trên thị trường thế giới, từ chỗ con tôm sú thống lĩnh thị trường tiêu thụ tôm đông lạnh, thì đến nay theo tính toán của một tổ chức thủy sản quốc tế, tiêu thụ tôm thẻ chân trắng đang chiếm 2/3 tiêu thụ tôm toàn cầu Năm 2009, xuất khẩu tôm được giữ vững, phần nhiều nhờ công đóng góp của con tôm thẻ chân trắng Trong tình cảnh người tiêu dùng tôm thế giới thắt chặt chi tiêu, cần mua tôm giá rẻ, tôm thẻ chân trắng càng có lợi thế để bứt phá Theo thống kê
sơ bộ, xuất khẩu tôm thẻ chân trắng năm 2009 đạt hơn 50.000 tấn với kim ngạch hơn
300 triệu USD
Theo Ông Trương Đình Hoè, Tổng thư ký VASEP đưa ra dự báo (Nguồn tin: Sài Gòn Giải Phóng, 19/02/2010): Năm 2010, tôm sú vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực, kim ngạch dự kiến sẽ đạt 1,4 tỉ USD Thời gian tới, giá thành tôm sú sẽ tác động trực tiếp lên xuất khẩu Trong khi đó, dự báo sản lượng tôm thẻ chân trắng xuất khẩu năm
2010 sẽ tăng gấp 3 lần năm 2009, lên 150.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng gấp đôi, tức 500 - 600 triệu đôla Mỹ, chiếm 1/3 kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước Việt Nam có thể sẽ có lợi thế ở thị trường tôm chân trắng cỡ nhỏ do có tiềm năng phát triển Cụ thể, hiện giá tôm sú dao động 90.000 - 100.000 đồng/kg, trong khi tôm thẻ
Trang 26chân trắng giá bán hơn 80.000 đồng/kg, kém tôm sú chút ít là yếu tố kích thích nông dân đẩy mạnh nuôi tôm thẻ chân trắng
Giá thấp, năng suất cao, kích cỡ tôm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng thế giới là điều kiện để tôm thẻ chân trắng "lên ngôi" Theo tính toán của các chuyên gia thủy sản, giá thành nuôi 1 kg tôm thẻ chân trắng nguyên liệu chỉ gần 30.000 đồng, trong khi nuôi 1 kg tôm sú tốn hơn gấp đôi, 65.000 – 75.000 đồng Năm 2010, Nhật vẫn là thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam, thị trường này đang gia tăng nhập khẩu tôm thẻ chân trắng, chiếm tới 18% khối lượng tôm nhập khẩu Năm 2010, Hàn Quốc sau khủng hoảng cũng sẽ là thị trường quan trọng đối với tôm Việt Nam
Giá tôm thẻ chân trắng liên tục tăng cao đã lên mức 60.000 – 70.000 đồng/kg Mức giá này có thể kéo dài cho đến khi vụ thu hoạch tôm sú bắt đầu vào tháng 4 năm nay
Theo Bộ NN&PTNT (Nguồn tin: ĐCSVN, 05/03/2010), xuất khẩu thủy sản 2 tháng đầu năm 2010 đạt 628 triệu USD, tăng trên 41% so với cùng kỳ năm ngoái Theo dự báo của các chuyên gia trong năm 2010 xuất khẩu thuỷ sản sẽ có kết quả khả quan hơn nhiều so với năm 2009 Trong năm 2009 xuất khẩu thuỷ sản của cả nước đạt 1.216 nghìn tấn, trị giá 4,25 tỷ USD, giảm 1,6% về lượng và 5,7% về giá trị so với năm 2008 Tuy nhiên, đây vẫn được coi là kết quả khả quan trước những khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, những rào cản về kỹ thuật và thuế quan của các nước nhập khẩu Cũng trong năm 2009, Việt Nam xuất khẩu 85 loại sản phẩm thuỷ sản sang 163 thị trường Số lượng sản phẩm và thị trường xuất khẩu đều tăng Trong
đó, tôm đông lạnh là mặt hàng chiếm tỉ trọng cao nhất (39,4%), cá tra 31,6%, mực, bạch tuộc 6,45%, cá ngừ 4,26%, hàng khô 3,77%, cá biển và các loại hải sản khác chiếm 14,5% (Ngày cập nhật trên web Việt Linh: 7/3/2010)
2.4 Những thuận lợi và khó khăn của thủy sản Việt Nam
Khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành thuỷ sản sẽ
có nhiều thuận lợi, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức Yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục khai thác tốt các tiềm năng, đầu tư phát triển có hiệu quả, bền vững và tiếp tục hội nhập nhanh với thủy sản khu vực và quốc tế
Trang 272.4.1 Thuận lợi
Gia nhập WTO sẽ mang lại cơ hội cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trong việc thâm nhập thị trường thế giới, do các nước biết đến Việt Nam nhiều hơn, doanh nhân các nước sẽ quan tâm hơn đến xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, trong đó có sản phẩm thủy sản
Sự ưu đãi hơn về thuế quan, xuất xứ hàng hoá, hàng rào phi thuế quan và những lợi ích về đối xử công bằng, bình đẳng sẽ tạo điều kiện để hàng thủy sản Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới
Vào WTO sẽ là cơ hội để các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hơn đến đầu tư vào phát triển thủy sản tại Việt Nam Ngành Thuỷ sản Việt Nam đã đứng vị trí thứ 7 trong topten có kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất, với 2,65 tỷ USD đạt được trong năm 2005, và đã có mặt ở 105 thị trường nước ngoài…
Để đáp ứng được các quy định của WTO cũng như yêu cầu của các nước thành viên, Bộ Thủy sản đã không ngừng điều chỉnh cơ chế chính sách và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các tiêu chuẩn cho phù hợp
Ngoài ra với hơn 80 triệu dân, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào Điều kiện tự nhiên thuận lợi, bờ biển dài, sông ngòi dày đặc nên Việt Nam có tiềm năng khai thác và nuôi trồng thủy sản cao, cung cấp nguồn nguyên liệu lớn cho các nhà máy chế biến thủy sản
Tuy nhiên, sự bùng nổ mạnh mẽ này là một phần khiến cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam phải đối mặt với những rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe về an toàn vệ sinh cũng như các vụ kiện chống bán phá giá (điển hình như vụ kiện cá tra, basa và vụ kiện tôm)
2.4.2 Khó khăn
Việt Nam là nước đang phát triển, nên khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản còn yếu, trình độ quản lý còn nhiều bất cập, trong khi các yêu cầu về chất lượng, an toàn
vệ sinh thực phẩm của các nước thường xuyên thay đổi và ngày càng đòi hỏi khắt khe
Sự hiểu biết của các doanh nghiệp về luật pháp quốc tế, nhất là hiểu rõ về pháp luật trong tranh chấp thương mại còn rất hạn chế, điều này ảnh hưởng khá lớn tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Trang 28Do Việt Nam là nước đang phát triển nên nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp rất nhiều khó khăn về vốn, công nghệ và kinh nghiệm, bên cạnh đó kỹ năng và trình độ quản trị của nhiều doanh nghiệp thủy sản chưa đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế và còn rất thấp so với các đối thủ
Hệ thống cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh thủy sản (hệ thống thủy lợi, các chợ thủy sản đầu mối, các trung tâm thương mại thủy sản) chưa có hoặc còn yếu, cộng với khả năng cạnh tranh thấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là thách thức lớn trong việc giữ được thị trường trong nước
Sự mất cân đối giữa khu vực sản xuất nguyên liệu và khu vực chế biến xuất khẩu,
cụ thể hơn là khu vực sản xuất nguyên liệu chưa đáp ứng được nhu cầu của khu vực chế biến xuất khẩu cả về số lượng cũng như chất lượng sản phẩm
Công tác quản lý nguồn lợi, quản lý tàu thuyền trên biển, công tác thống kê nghề
cá còn lạc hậu và chưa đáp ứng được các yêu cầu về hội nhập
Ngành thủy sản Việt Nam chưa có sự liên kết “hàng dọc” (liên kết giữa người nuôi, nhà kỹ thuật, nhà doanh nghiệp…) Làm cho giá nguyên liệu đầu vào không ổn định, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh xuất khẩu của nước ta trên thị trường thế giới
Vấn đề thương hiệu của thủy sản Việt Nam cũng được coi là một thách thức lớn,
vì hiện nay các mặt hàng thủy sản Việt Nam được xuất khẩu thông qua các nhà nhập khẩu và được phân phối dưới nhiều thương hiệu khác nhau, vừa không quảng bá được sản phẩm, vừa có thể gây ra những rắc rối như vụ “cá basa” thành “cá mú” ở thị trường Mỹ vừa qua
Vì vậy, chủ động các điều kiện và biện pháp để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm đã và đang được các cơ quan chức năng của Bộ Thủy sản dành nhiều công sức chuẩn bị nhất Theo Vụ hợp tác quốc tế Bộ thuỷ sản, có bảy biện pháp cần được tập trung đẩy mạnh:
Một là, tăng cường công tác nghiên cứu và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất nguyên liệu thủy sản, đặc biệt là công nghệ sinh học, nhằm đa dạng hóa đối tượng xuất khẩu với giá thành hạ
Hai là, tổ chức lại sản xuất trong toàn ngành theo hướng liên kết ngang và dọc giữa các khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ thủy sản, nhằm tạo ra sản phẩm có
Trang 29chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm và phù hợp với nhu cầu thị trường trong và ngoài nước
Ba là, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá, tăng cường năng lực chế biến cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tăng năng lực chế biến mặt hàng giá trị gia tăng, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm
Bốn là, tiếp tục công tác quy hoạch phát triển thủy sản, thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản làm nguồn cung cấp chính nguyên liệu sạch cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng nội địa
Năm là, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, chú trọng vào xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường cho các sản phẩm chủ lực
Sáu là, tăng cường công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi để có biện pháp bảo vệ, tái tạo nguồn lợi, thực hiện quản lý an toàn vệ sinh, môi trường, đảm bảo phát triển nghề cá bền vững
Bảy là, tăng cường công tác quản lý, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa người sản xuất nguyên liệu với chế biến, tiêu thụ nhằm ổn định và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh(Theo Vinanet, ngày 08/8/2006)
2.5 Cơ sở lý luận của nghiên cứu thị hiếu người tiêu dùng
2.5.1 Lý thuyết về hàng vi mua của người tiêu dùng
Nghiên cứu hành vi người mua là nghiên cứu cách thức một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức chọn lựa, mua, sử dụng và loại bỏ các sản phẩm, dịch vụ,…để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
Nghiên cứu khách hàng sẽ cung cấp “chìa khóa” cho việc phát triển sản phẩm mới, hình thành các đặc điểm của sản phẩm, chọn lựa kênh tiếp thị, thông điệp và các yếu tố khác của marketing mix (4Ps)
Mục đích của nghiên cứu marketing nói chung là đáp ứng thỏa mãn những nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể nói ra những mong muốn của mình nhưng lại làm một cách khác Do đó muốn thỏa mãn khách hàng thì cần phải nghiên cứu những nhu cầu, sở thích và hành vi mua sắm lựa chọn mua sắm các sản phẩm của người tiêu dùng
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng giúp chúng ta đạt được những mục tiêu :
Trang 30- Hiểu biết sâu sắc và khoa học về hành vi người tiêu dùng nhằm trở thành một nhà quản trị marketing hiệu quả, hay nói cách khác là giúp cho những nhà quản trị có được những quyết định marketing tốt hơn
- Nâng cao sự hiểu biết chung về một khía cạnh chủ yếu của hành vi con người
- Những nhân tố tác động đến quá trình ra quyết định mua sắm của người tiêu dùng
- Những ảnh hưởng của hành vi người tiêu dùng đối với chiến lược marketing
- Mô hình hoạt động của hành vi người tiêu dùng
2.5.1.1 Mô hình các yếu tố tác động đến hành vi của người tiêu dùng
Trong những thời gian đầu tiên, những người làm marketing có thể hiểu được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng cho họ hàng ngày Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được thể hiện trong Hình 2.1 Marketing và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định Nhiệm vụ của người làm marketing là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua
Hình 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của người mua
Trang 31Trong đó hành vi của người mua chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ yếu: Văn hóa, xã hội, cá nhân, và tâm lý Tất cả những yếu tố này đều cho ta những căn cứ để biết cách tiếp cận và phục vụ người mua một cách hiệu quả hơn (Nguyễn Minh Đức, 2009)
Trong 4 yếu tố: văn hóa, xã hội, tính cách cá nhân, tâm lý thì mỗi một yếu tố đều
có trong nó những yếu tố nhỏ hơn Mức độ ảnh hưởng của những yếu tố nhỏ đó đến người mua với từng mức độ mạnh yếu khác nhau Nó tùy thuộc vào từng loại sản phẩm mà người mua đang nhắm tớ
Hình 2.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của người mua
Với các sản phẩm được chế biến từ tôm mà đề tài đang nghiên cứu thì qua việc tìm hiểu và nghiên cứu sơ bộ thì đi sâu vào những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng đó là:
(1) Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến hành vi của người tiêu dùng.Nền văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một người Một đứa trẻ khi lớn lên sẽ tích luỹ được một số những giá trị, nhận thức, sở thích và hành vi thông qua gia đình của nó và những định chế then chốt khác
(2) Gia đình là đơn vị (tổ chức) tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội Mỗi thành viên trong gia đình hình thành nên một nhóm tham vấn xã hội có ảnh hưởng lớn nhất đến hành vi mua hàng của người mua Các nhà tiếp thị đặc biệt quan tâm đến vai trò quyết định của mỗi thành viên trong gia đình
Trang 32(3) Hoàn cảnh kinh tế: hoàn cảnh kinh tế bao gồm các yếu tố: thu nhập, tài sản, thái độ đối với chi tiêu và tiết kiệm Với những người có thu nhập cao thì họ sẽ không
e dè khi mua những sản phẩm đắt tiền, ngon, bổ dưỡng và đảm bảo chất lượng Và động cơ là một nhu cầu đủ sức mạnh để thôi thúc người tiêu dùng hành động Động lực mua các sản phẩm từ tôm là xuất phát từ nhu cầu mong muốn đem lại bữa ăn ngon, đầy đủ chất dinh dưỡng cho gia đình mình, bên cạnh đó còn phải đảm bảo an toàn sức khỏe cho bản thân và gia đình
(4) Ngoài ra còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng như: nhận thức (quá trình chọn lọc, sắp xếp và diễn giải các thông tin có được), học hỏi (thay đổi hành vi từ kinh nghiệm), niềm tin và thái độ (hình thành từ quá trình học hỏi) Niềm tin có thể dựa trên những hiểu biết, dư luận hay sự tin tưởng Niềm tin tạo nên những hình ảnh của sản phẩm cũng như nhãn hiệu và người tiêu dùng sẽ hành động theo những hình ảnh đó Đối với tôm thì người tiêu dùng sẽ mua dùng thử và nếu thỏa mãn được nhu cầu của họ thì niềm tin của người đó về sản phẩm sẽ được nâng cao và họ sẽ tiếp tục mua sản phẩm đó lần sau Nếu không thì họ sẽ không mua nữa và
sẽ có ấn tượng xấu về sản phẩm đó Như vậy niềm tin và thái độ ảnh hưởng lớn đến hành vi của người tiêu dùng (Nguyễn Minh Đức, 2009)
2.5.1.2 Lý thuyết động cơ của Maslow
Abraham Maslow (1973) đã tìm cách giải thích tại sao những thời điểm khác nhau, người ta lại bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau Tại sao có người đã dành
ra nhiều thời gian và sức lực để đảm bảo an toàn cá nhân và có người lại cố gắng giành được sự kính trọng của người xung quanh? Ông cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất Thứ bậc nhu cầu do Maslow đưa ra được trình bày trong Hình 2.3 theo thứ tự tầm quan trọng các nhu cầu
đó được sắp xếp như sau: Những nhu cầu sinh lý, những nhu cầu an toàn, những nhu cầu xã hội, những nhu cầu được tôn trọng và những nhu cầu tự khẳng định mình Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất Khi người ta
đã thoả mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa, và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo
Trang 33Hình 2.3: Thang hệ thống cấp bậc đòi hỏi Maslow
Con người trước tiên sẽ cố gắng thỏa mãn những nhu cầu quan trọng nhất Khi con người thành công trong việc thỏa mãn những nhu cầu quan trọng thì đòi hỏi đó sẽ không còn là nhân tố tác động với họ trong thời gian ấy và người ấy sẽ bị tác động bởi đòi hỏi rất quan trọng kế tiếp
Nhu cầu sinh lý: đói, khát, chỗ ở, hướng về giới tính, và những đòi hỏi bản thân khác…
Nhu cầu an toàn: an ninh và bảo vệ thoát khỏi thiệt hại vật chất và xúc cảm Nhu cầu xã hội: sự ảnh hưởng, sự phụ thuộc, chấp nhận, tình bạn hữu
Nhu cầu tôn trọng: những nhân tố tôn trọng bên trong như tự trọng, tự quản, thực hiện; và những nhân tố tôn trọng bên ngoài như địa vị, thừa nhận, chú ý
Nhu cầu tự khẳng định mình: sự phát triển, phát huy tiềm năng của mình và tự hoàn thành (nhiệm vụ) (Trần Đoàn Dũng, 2004)
Hình 2.4: Quá trình thông qua quyết định mua sắm của người tiêu dùng
Mô hình này chứa đựng một ẩn ý là người tiêu dùng khi mua một sản phẩm phải trải qua tất cả năm giai đoạn Song thực tế không phải như vậy, nhất là trong những trường hợp mua những mặt hàng ít cần để tâm Người tiêu dùng có thể bỏ qua hay đảo lại một số giai đoạn Chẳng hạn như một phụ nữ mua thường xuyên một nhãn hiệu thuốc đánh răng, đi thẳng từ nhu cầu về thuốc đánh răng đến quyết định mua, bỏ qua
Ý thức
nhu cầu
Tìm kiếm thông tin Đánh giá các lựa
chọn
Quyết định mua sắm
Hành vi hậu mãi
Trang 34các giai đoạn tìm kiếm thông tin và đánh giá Tuy nhiên ta vẫn sử dụng mô hình ở Hình 2.4, vì nó bao quát được đầy đủ những vấn đề nảy sinh khi một người tiêu dùng đứng trước một việc mua sắm mới cần để tâm nhiều
Ý thức nhu cầu: Đây là giai đoạn đầu của quá trình mua sắm Quá trình mua sắm bắt đầu từ khi người mua ý thức được vấn đề hay nhu cầu Người mua cảm thấy có sự khác biệt giữa tình trạng thực tế và tình trạng mong muốn Nhu cầu có thể bắt nguồn
từ những tác nhân kích thích nội tại hay bên ngoài Đối với các sản phẩm được chế biến từ tôm, vấn đề nhu cầu được nhận định qua sự mong muốn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng cho bữa ăn, đồng thời cũng làm giảm được thời gian dành cho việc nấu nướng Khi người tiêu dùng có nhu cầu này, họ bắt đầu quan tâm đến các sản phẩm tiện dụng, làm sẵn và tìm kiếm thông tin về các sản phẩm này
Tìm kiếm thông tin: Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin hoặc cũng có thể là không tìm kiếm thông tin Nếu như nhu cầu cao và hàng hóa có khả năng thỏa mãn họ và dễ tìm kiếm thì người tiêu dùng sẽ mua ngay Mối quan tâm then chốt của người làm marketing là những nguồn thông tin chủ yếu mà người tiêu dùng tìm đến và ảnh hưởng tương đối của từng nguồn đó đến quyết định mua sắm tiếp sau Người tiêu dùng có thể lựa chọn những nguồn thông tin sau: nguồn thông tin cá nhân: gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý, bao bì, triển lãm Nguồn thông tin công cộng: các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức nghiên cứu người tiêu dùng Nguồn thông tin thực nghiệm: cầm, tìm hiểu, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm Mức độ ảnh hưởng tương đối của các nguồn thông tin này sẽ thay đổi tùy theo đặc tính và loại hàng hóa mà người mua muốn.Nói chung, người tiêu dùng nhận được nhiều thông tin nhất
về sản phẩm từ những nguồn thông tin thương mại, nghĩa là những nguồn thông tin mà người làm marketing khống chế Mặt khác, những nguồn thông tin cá nhân lại là những nguồn có hiệu quả nhất Trong những sản phẩm được sử dụng để cung cấp dinh dưỡng cho con người, tôm là mặt hàng có giá trị tương đối cao (giá cả đắt) Do đó người tiêu dùng đặt nặng vào giai đoạn này
Đánh giá các lựa chọn: Người tiêu dùng xử lý thông tin về các nhãn hiệu cạnh tranh rồi đưa ra phán quyết cuối cùng về giá trị như thế nào? Hóa ra là không có một quá trình đánh giá đơn giản và duy nhất mà tất cả mọi người tiêu dùng đều sử dụng
Trang 35hay thậm chí một người tiêu dùng sử dụng cho tất cả các tình huống mua sắm Phương
án thông dụng nhất của quá trình đánh giá của người tiêu dùng đều định hướng theo nhận thức, tức là cho rằng khi hình thành những xét đoán về sản phẩm, người tiêu dùng chủ yếu dựa trên cơ sở ý thức và hợp lý
Quyết định mua hàng: Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với những nhãn hiệu trong tập lựa chọn Người tiêu dùng cũng có thể hình thành ý định mua nhãn hiệu ưa thích nhất Tuy nhiên còn hai yếu tố nữa có thể xen vào giữa ý định mua và quyết định mua hàng của họ Những yếu tố này được thể hiện trong Hình 2.5
Hình 2.5: Những bước từ giai đoạn đánh giá các phương án đến giai đoạn quyết định
mua hàng
Khi hình thành ý định mua hàng, người tiêu dùng dựa trên những yếu tố thu nhập gia đình, giá bán, lợi ích của sản phẩm đem lại cho họ Quyết định của người tiêu dùng thay đổi, hoãn hay huỷ bỏ quyết định mua hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều rủi ro nhận thức được Những món hàng đắt tiền đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào
đó Người tiêu dùng không thể giám chắc được về kết quả của việc mua hàng Điều này gây ra sự băn khoăn lo lắng Mức độ rủi ro nhận thức được thay đổi theo số tiền bị nguy hiểm, mức độ không chắc chắn của các tính chất và mức độ tự tin của người tiêu dùng Người tiêu dùng triển khai những biện pháp nhất định để giảm bớt rủi ro, như huỷ bỏ quyết định, thu thập thông tin từ bạn bè, và những yếu tố gây ra cảm giác bị rủi
Thái độ của những người khác
Quyết định mua
Đánh giá
các lựa
chọn
Ý định mua hàng
Những yếu tố tình huống bất ngờ
Trang 36ro ở người tiêu dùng, cung cấp những thông tin và hỗ trợ để làm giảm bớt rủi ro nhận thức được
Hành vi hậu mãi: Đối với người tiêu dùng thì sau khi mua và sử dụng sản phẩm,
họ sẽ cảm thấy hài lòng hay ko hài lòng ở một mức độ nào đó.Người tiêu dùng cũng
sẽ có những hành động sau khi mua và những cách sử dụng sản phẩm đáng để cho người làm marketing quan tâm Công việc của người làm marketing chưa kết thúc khi sản phẩm đã được mua, mà còn tiếp tục cả trong thời kỳ sau khi mua Sự hài lòng thể hiện ở những tính năng sử dụng của sản phẩm tương xứng với kỳ vọng của người tiêu dùng Trái lại nó cũng làm cho người tiêu dùng không hài lòng về sản phẩm Những điều này sẽ làm cho người tiêu dùng tiếp tục mua các sản phẩm đó và nói tốt về nó hoặc là không mua và nói xấu về nó cho những người khác biết (Theo Scribd, ngày 03/05/2009)
2.5.2 Khái niệm về nhãn hiệu sản phẩm
Nhãn hiệu đã có từ rất xa xưa, trước khi con người có sự trao đổi hàng hóa với nhau trên thị trường Người Ấn Độ với chữ ký được chạm khảm trên đồ kim hoàn mỹ nghệ, người Trung Quốc với những nét bút tinh tế trên đồ gốm, sứ để xuất khẩu, người Nhật Bản với những con dấu trên giấy viết
Đến nay, nhãn hiệu hàng hóa bắt đầu đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống hiện đại, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường Hàng hóa ngày càng đa dạng hơn dẫn đến người tiêu dùng cần được chỉ dẫn để có thể lựa chọn chính xác, nhanh chóng sản phẩm hàng hóa cần lựa chọn, và đặt tên cho sản phẩm, dịch vụ là điều kiện tất yếu Nhãn hiệu hàng hóa có khả năng giúp người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn những sản phẩm, dịch vụ phù hợp, bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của người sản xuất, người cung cấp dịch vụ, từ đó khuyến khích hơn nữa sự tái tạo sản xuất và phát triển nền kinh tế
Nhãn hiệu được tạo nên khi nó được tích hợp từ sự trải nghiệm của khách hàng qua những thông điệp về sản phẩm và dịch vụ mà bạn đưa ra Nhãn hiệu là đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất giúp bạn cạnh tranh với các đối thủ của mình (Theo wikipedia, 2007)
Trang 372.5.2.1 Nhãn hiệu hàng hóa là gì?
Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu của một doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh nghiệp) dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các doanh nghiệp khác
"Nhãn hiệu" là thuật ngữ để chỉ chung nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết hợp với hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
Với chức năng của công cụ marketing - truyền đạt tới người tiêu dùng uy tín của sản phẩm dịch vụ mang nhãn hiệu được hình thành bởi trí tuệ mà doanh nghiệp đầu tư cho sản phẩm dịch vụ đó - nhãn hiệu được pháp luật coi là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp
Nhãn hiệu hàng hoá gồm: Chữ có khả năng phát âm, có nghĩa hoặc không có nghĩa, trình bày dưới dạng chữ viết, chữ in hoặc chữ được viết cách điệu; Hình vẽ, ảnh chụp; Chữ hoặc tập hợp các chữ kết hợp với hình vẽ, ảnh chụp
Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá phải: Được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố độc đáo, dễ nhận biết; Không trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác đã nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Cục SHCN (sở hữu công nghiệp) hoặc đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá; Không trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hoá được coi là nổi tiếng
2.5.2.2 Thương hiệu là gì?
Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức
Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức Thương hiệu được hiểu là một dạng tài sản phi vật chất Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry
Trang 38Thương hiệu (brand, brand name, trademark), hiểu một cách đơn giản, là một cái tên gắn với một sản phẩm hoặc một nhà sản xuất Thương hiệu ngày nay đang ngày càng trở nên một thành tố quan trọng trong văn hóa và trong nền kinh kế Hàng hiệu hoặc đồ hiệu được coi là những "vật phẩm văn hóa và triết lý cá nhân"
Các yếu tố cấu thành thương hiệu bao gồm: phần đọc được, phần không đọc được, bản sắc của thương hiệu, sự trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, dấu hiệu nhận biết thương hiệu một cách nhanh chóng, chất lượng sản phẩm hay dịch
vụ được cung cấp trong nhận thức của khách hàng và liên tưởng của khách hàng khi nhìn thấy hoặc nghe thấy thương hiệu (Theo wikipedia, 2007)
2.5.3 Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm
An toàn thực phẩm là đảm bảo chất lượng và giữ gìn giá trị dinh dưỡng trên cơ sở
vệ sinh thực phẩm, tránh tạp nhiễm các vi sinh vật gây bệnh và hóa chất độc hại đối với người tiêu dùng
Quản lý chất lượng thực phẩm là quản lý cả dây chuyền thực phẩm bao gồm các công đoạn quản lý sau: từ khâu định hướng sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch, chế biến và sản xuất thành phẩm tiêu dùng, lưu thông, phân phối lương thực, thực phẩm tới người tiêu dùng
Hai yêu cầu cơ bản của công tác quản lý Nhà nước là đảm bảo tính phù hợp mục đích sử dụng và tính an toàn của sản phẩm đối với đối tượng tiêu dùng
Như vậy, phạm vi quản lý các sản phẩm thực phẩm – trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, công nghiệp thực phẩm, thương mại, dịch vụ, du lịch rất rộng Nhiệm vụ quản lý chất lượng sản phẩm và vệ sinh thực phẩm nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng
Đó là điều kiện cần thiết và duy nhất để cho sản phẩm thực phẩm được lưu hành trên thị trường (Lương Đức Phẩm, 2002)
2.5.4 Khái niệm về sản phẩm và chất lượng sản phẩm
Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nói chung là tất cả những gì có thể thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được đem trao đổi trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và sử dụng hoặc tiêu dùng Nói cách khác đó là những thứ mà người mua có thể chấp nhận để thỏa mãn các mong muốn và nhu cầu mình Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản phẩm là để bán cho người tiêu dùng Vì vậy chính họ phải nhìn nhận chất lượng sản phẩm dưới
Trang 39quan điểm của người tiêu dùng, hoặc cụ thể hơn, phải xem người tiêu dùng ứng xử như thế nào đối với sản phẩm mà họ sản xuất và đem ra bán
Khái niệm về chất lượng:
“ Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu của thị trường” Chi tiết hơn chất lượng sản phẩm phải được thể hiện ở các chi tiết sau:
“Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thể hiện tính năng
kỷ thuật hay tính hữu dụng của nó” Đối với thực phẩm, không thể chú ý đến giá trị dinh dưỡng mà bỏ qua các chỉ tiêu cảm quan, hay các chỉ tiêu vệ sinh
“Chất lượng sản phẩm cần phải được thể hiện cùng với chi phí” Người tiêu dùng không dễ gì mua sản phẩm với bất kỳ giá nào Vì vậy các doanh nghiệp cần phải hết sức chú ý đến các chi phí bổ sung để nâng cao chất lượng sản phẩm với giá cả bán ra được thị trường chấp nhận
“Chất lượng sản phẩm phải được gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương…”
“Chất lượng sản phẩm còn gắn liền với “tính thời trang” của người tiêu dùng” ( Nguyễn Quang Toản, 1994 )
Chất lượng sản phẩm/dịch vụ phải thể hiện thông qua 3 chữ P của chất lượng là
sự hoàn thiện của sản phẩm (perfectibility), giá thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai thác và sử dụng nó (Price), sự kịp thời cả về chất lượng và thời gian (Punctuality)
Ngày nay, khái niệm chất lượng được mở rộng, một sản phẩm/dịch vụ còn phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường, sức khỏe cộng đồng, an toàn nghề nghiệp (Nguyễn Thị Bích Phương, 2005)
Ngoài ra chất lượng sản phẩm còn được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau: Các nhà quản lý sản phẩm cho rằng: “Chất lượng sản phẩm là phải đáp ứng được những chỉ tiêu kĩ thuật đã đề ra cho sản phẩm”; còn các nhà bán lẻ lại cho rằng:
“Chất lượng sản phẩm nằm trong mắt và túi tiền người mua, sản phẩm nào bán được nhiều thì sản phẩm đó có chất lượng” (Lê Thế Giới, 2005)
Chất lượng sản phẩm: “Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm hàng hóa đáp ứng được các yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, tiêu chuẩn kỹ thuật tương ứng’’
Trang 40Chất lượng VSATTP: VSATTP là các điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo cho thực phẩm không gây hại cho sức khỏe và tính mạng con người
Phân loại về chất lượng:
Nhóm sản phẩm, hàng hoá không có khả năng gây mất an toàn thì được quản lý trên cơ sở chất lượng sản phẩm do người sản xuất công bố và tự áp dụng
Nhóm sản phẩm, hàng hoá có khả năng gây mất an toàn thì được quản lý trên cơ
sở quy chuẩn chất lượng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn chất lượng do người sản xuất công bố áp dụng