Có rất nhiều nhân tố giúp người nuôi xác định được lượng thức ăn cho cá, bao gồm toàn bộ những sinh vật có trong ao tại một thời điểm nhất định số lượng và trọng lượng cá trong ao, kích
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH SỐ LẦN CHO ĂN THÍCH HỢP VỚI LƯỢNG ĂN
TỐI ĐA TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
Sinh viên thực hiện: DƯƠNG THỊ PHI NI
Niên khóa: 2008 – 2010
Tháng 8/2010
Trang 2XÁC ĐỊNH SỐ LẦN CHO ĂN THÍCH HỢP VỚI LƯỢNG ĂN TỐI ĐA
TRÊN CÁ TRA (Pangasianodon hypophthalmus)
Tác giả
DƯƠNG THỊ PHI NI
Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ sư Nuôi Trồng Thủy Sản
Giáo viên hướng dẫn
TS NGUYỄN NHƯ TRÍ
Tháng 8 năm 2010
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành cảm tạ:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban chủ nhiệm Khoa Thủy Sản, cùng tất cả Quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
- TS Nguyễn Như Trí đã hết lòng hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp tại trường
- PGS TS Lê Thanh Hùng, Ths Ngô Văn Ngọc và cô Võ Thị Thanh Bình đã hỗ trợ chúng tôi trong việc mua cá thí nghiệm cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp trong thời gian chúng tôi thực tập tại Trại thực nghiệm thủy sản của trường
- Các anh, em tại Trại thực nghiệm thủy sản đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
- Các bạn Châu Điền Minh Phụng, Trang Ngọc Thanh Tùng, Hồ Thị Hồng Mai, Chử Thị Ngân, Phạm Gia Điệp, Nguyễn Huy Lâm đã giúp đỡ tôi rất tận tình trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp tại Trại thực nghiệm Thủy sản của trường
- Các bạn bè thân yêu của lớp LT08NT đã chia sẻ cùng tôi những vui buồn trong thời gian học tập cũng như hết lòng hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập khóa luận tốt nghiệp
Trang 4TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa trên cá tra
(Pangasianodon hypophthalmus)” được tiến hành tại Trại thực nghiệm thủy sản
trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu từ tháng 4 đến cuối tháng
6 năm 2010
Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trong ao đất, gồm 3 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Nghiệm thức I cho ăn 2 lần/ngày, nghiệm thức II cho ăn 3 lần/ngày, nghiệm thức III cho ăn 4 lần/ngày Cá được cho ăn với lượng tối đa
Kết quả thu được như sau:
- Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống trung bình của cá tra ở các nghiệm thức (NT) khi kết thúc thí nghiệm là: NT I 94,7%; NT II là 96,0%; NT III là 90,0% Tỷ lệ sống giữa các nghiệm thức sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,615 > 0,05)
- Trọng lượng trung bình (TLTB): TLTB của cá tra lúc bố trí thí nghiệm là 3,8 gam TLTB của cá tra ở các NT khi kết thúc thí nghiệm là: NT I là 146,9 gam; NT II là 156,0 gam; NT III là 135,2 gam TLTB giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,134 > 0,05)
- Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR): FCR trung bình của cá tra ở các NT khi kết thúc thí nghiệm: NT I là 1,26; NT II là 1,32; NT III là 1,50 FCR trung bình giữa các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm sai biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,021 < 0,05) Cụ thể:
∗ FCR của cá tra ở NT I và NT II sai biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê;
∗ FCR của cá tra ở NT I và NT III sai biệt có ý nghĩa về mặt thống kê;
∗ FCR của cá tra ở NT II và NT III sai biệt có ý nghĩa về mặt thống kê
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa i
Lời cảm tạ ii
Tóm tắt iii
Danh sách các bảng vi
Danh sách các hình vii
Danh sách các đồ thị vii
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt Vấn Đề 1
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus) 3
2.1.1 Vị trí phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Hình thái, sinh lý 4
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và tính ăn 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
2.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
2.2 Tổng Quan Về Dinh Dưỡng Trên Cá Da Trơn 6
2.2.1 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá da trơn Mỹ 6
2.2.2 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá da trơn Việt Nam 9
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài 12
3.2 Vật Liệu 12
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu 13
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 13
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 14
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 14
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
4.1 Một Số Yếu Tố Môi Trường Trong Thí Nghiệm 17
4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan (DO) 18
Trang 64.1.2 Độ pH của nước 19
4.1.3 Nhiệt độ nước 21
4.1.4 Ammonia 22
4.2 Kết Quả Thí Nghiệm 22
4.2.1 Chỉ tiêu về tỷ lệ sống 22
4.2.2 Chỉ tiêu về trọng lượng trung bình 25
4.2.3 Chỉ tiêu về hệ số chuyển đổi thức ăn 29
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 33
5.1 Kết Luận 33
5.2 Đề Nghị 34
TÀI LIỆU THAM KHẢO 35
PHỤ LỤC
Trang 7Bảng 4.3 Trọng lượng trung bình (gam) của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm
tra .25
Bảng 4.4 FCR trung bình của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra 29
Trang 8DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) 3
Hình 3.1 Các cỡ viên thức ăn được sử dụng trong quá trình thí nghiệm 15
Hình 3.2 Máy đo pH 15
Hình 3.3 Máy đo oxy và nhiệt độ 16
Hình 3.4 Cân cá định kỳ 16
Hình 4.1 Giai cá thí nghiệm được bố trí thêm lưới che phía trên để phòng địch hại 23
Hình 4.2 Cá tra lúc bố thí nghiệm 28
Hình 4.3 Cá tra sau 4 tuần thí nghiệm 28
Hình 4.4 Cá tra sau 8 tuần thí nghiệm 28
Hình 4.5 Cá tra sau 12 tuần thí nghiệm 29
DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ Trang Đồ thị 4.1 Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan trong suốt quá trình thí nghiệm 19
Đồ thị 4.2 Sự biến động pH của nước ao trong suốt quá trình thí nghiệm 20
Đồ thị 4.3 Sự biến động của nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm 21
Đồ thị 4.4 Tỷ lệ sống của cá tra ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm 24
Đồ thị 4.5 Trọng lượng trung bình của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra26 Đồ thị 4.6 FCR của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra 31
Trang 9Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt Vấn Đề
Cá tra là loài cá được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước Đông Nam Á, là một trong
6 đối tượng nuôi quan trọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông Mekong là Thái Lan, Lào, Việt Nam và Campuchia đã có nghề nuôi cá tra truyền thống do có nguồn cá bột tự nhiên phong phú (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
Ở nước ta, các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đã có truyền thống nuôi cá tra lâu năm Hiện nay, nghề nuôi cá tra đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam
Bộ mà một số nơi ở miền Trung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi đối tượng này Đặc biệt từ khi chúng ta hoàn toàn chủ động về sản xuất giống nhân tạo thì nghề nuôi càng ổn định và phát triển (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
Trong những năm gần đây, dù con cá tra đang là hiện tượng lạ, mang lại những giá trị vật chất lớn cho vùng ĐBSCL, nhưng đằng sau nó vẫn tiềm ẩn nhiều thách thức Nguyên nhân là do việc quản lý nhà nước đối với con cá tra của vùng ĐBSCL còn nhiều bất cập, như: thiếu quy hoạch, kế hoạch và thông tin cụ thể cho cả vùng từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy như lúc thừa lúc thiếu, chất lượng, môi trường, gian lận thương mại, cạnh tranh không lành mạnh Đó là những khó khăn nhìn từ góc độ vĩ mô của các nhà quản lý, trên thực tế thì người nuôi
cá tra hiện nay đã và đang đương đầu với rất nhiều khó khăn, bất cập mới Dịch bệnh,
ô nhiễm môi trường, giá thành sản xuất tăng cao, thu nhập kinh tế từ nghề nuôi cá giảm Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do việc sử dụng quá nhiều thuốc và hóa chất trong quá trình nuôi, vấn nạn ô nhiễm môi trường nước và đặc biệt là chi phí thức ăn cho cá không ngừng tăng lên, trong khi giá thành cá tra thương phẩm ngày càng giảm và luôn biến động
Như vậy, để tiếp tục phát huy lợi thế nuôi cá tra và ba sa ở ĐBSCL phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, đảm bảo sự phát triển bền vững và an toàn của môi trường,
Trang 10nhà nước và các địa phương cần tập trung giải quyết những thách thức nói trên Đồng thời cần có nhiều hơn nữa các nghiên cứu chuyên sâu về đối tượng này, nhất là lĩnh vực dinh dưỡng và các nhóm giải pháp cải tiến kỹ thuật nuôi nhằm giảm bớt chi phí cho sản xuất, nhất là chi phí thức ăn, mang lại thu nhập ổn định cho người dân và tạo điều kiện thuận lợi cho nghề nuôi cá tra tiếp tục phát triển Để góp phần cho mục tiêu trên và được sự phân công của Khoa Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Thành phố
Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Xác định số lần cho ăn thích
hợp với lượng ăn tối đa trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)”
1.2 Mục Tiêu Đề Tài
Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa trên cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus)
Trang 11Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.1 Vị trí phân loại
Cá tra là một trong số 11 loài thuộc họ cá tra (Pangasiidae) đã được xác định ở
sông Cửu Long Tài liệu gần đây nhất của tác giả Rainboth xếp cá tra nằm trong giống
cá tra dầu Cá tra dầu rất ít gặp ở nước ta và còn sống sót rất ít ở Thái Lan và Campuchia, đã được xếp vào danh sách cá cần được bảo vệ nghiêm ngặt (sách đỏ) Cá
tra của ta cũng hoàn toàn khác với cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) thuộc họ
Ictaluridae
Bộ: Cá nheo – Siluriformes Họ: Cá tra – Pangasiidae Giống: Cá tra dầu – Pangasianodon
Loài: Pangasianodon hypophthalmus (Sauvage, 1878)
Hình 2.1 Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus)
2.1.2 Phân bố
Cá tra phân bố ở lưu vực sông Mekong, có mặt ở cả 4 nước Lào, Việt Nam, Campuchia và Thái Lan Ngoài ra, cá tra còn được tìm thấy ở Malaysia Ở Thái Lan còn gặp cá tra ở lưu vực sông Chao Phraya Ở nước ta những năm trước đây khi chưa
Trang 12có cá sinh sản nhân tạo, cá bột và cá giống được vớt trên sông Tiền và sông Hậu Cá trưởng thành chỉ thấy trong ao nuôi, rất ít gặp trong địa phận tự nhiên Việt Nam vì cá
có tập tính di cư ngược dòng sông Mekong để sinh sống và tìm nơi sinh sản tự nhiên (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
2.1.3 Hình thái, sinh lý
Cá tra là cá da trơn (không vẩy), thân dài, lưng xám đen, bụng hơi bạc, miệng rộng, có 2 đôi râu Cá tra sống chủ yếu trong nước ngọt, có thể sống được ở vùng nước hơi lợ (nồng độ muối < 10‰), có thể chịu được nước phèn với pH > 5, dễ chết ở nhiệt
độ thấp dưới 150C, nhưng chịu nóng tới 390C Cá tra có số lượng hồng cầu trong máu nhiều hơn các loài cá khác Cá có cơ quan hô hấp phụ và còn có thể hô hấp bằng bóng khí và da nên chịu đựng được môi trường nước thiếu oxy hòa tan (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
2.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng và tính ăn
Cá tra khi hết noãn hoàng thích ăn mồi tươi sống Vì vậy, chúng ăn thịt lẫn nhau ngay trong bể ấp và chúng vẫn tiếp tục ăn nhau nếu cá ương không được cho ăn đầy đủ, thậm chí cá vớt trên sông vẫn thấy chúng ăn nhau trong đáy vớt cá bột Ngoài
ra, khi khảo sát cá bột vớt trên sông còn thấy trong dạ dày của chúng có rất nhiều phần
Trong quá trình ương nuôi cá tra bột thành cá giống trong ao, cá ăn các loại phù
du động vật có kích thước vừa với cỡ miệng và các loại thức ăn nhân tạo Khi cá lớn thể hiện tính ăn rộng, ăn tạp thiên về động vật và dễ chuyển đổi loại thức ăn Trong điều kiện thiếu thức ăn, cá có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khác như mùn bã hữu cơ, thức ăn có nguồn gốc động vật Trong ao nuôi, cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại thức ăn khác nhau như cám, rau, động vật đáy (Hội nghề cá Việt Nam, 2004)
Trang 13Khi phân tích thức ăn trong ruột cá đánh bắt ngoài tự nhiên, cho thấy thành phần thức ăn của cá tra ăn tạp thiên về động vật
Bảng 2.1 Thành phần thức ăn trong ruột cá tra trong tự nhiên
(Nguồn: Menon và Cheko, 1955; trích bởi Lê Thanh Hùng, 2000)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá tra là loài tăng trưởng nhanh Khi còn nhỏ cá tăng nhanh về chiều dài, từ khoảng 2,5 kg trở đi, mức tăng trọng lượng nhanh hơn so với chiều dài cơ thể Cá tra trong tự nhiên có thể sống trên 20 năm Cá nuôi ao trong năm đầu tiên có thể đạt 1 - 2 kg/con và những năm sau tăng trọng nhanh hơn (Thông Tin Chuyên Đề Thủy Sản, 2008)
Theo Nguyễn Văn Trọng (1989; trích bởi Lê Thanh Tú, 2008) hệ số thành thục của cá tra khảo sát được trong tự nhiên (cỡ cá sống trên sông nặng khoảng 8 – 11 kg)
từ 1,76 – 12,94% ở cá cái và từ 0,83 – 2,10% ở cá đực Trong ao nuôi vỗ, hệ số thành thục cá tra cái có thể đạt tới 19,50%
Mùa vụ thành thục của cá tra trong tự nhiên bắt đầu từ tháng 5 – 6 dương lịch,
cá có tập tính di cư đẻ tự nhiên trên những khúc sông có điều kiện sinh thái phù hợp thuộc địa phận Prek Kampi đến hết Koh Rongiev thuộc địa giới 2 tỉnh Kratie và Stung Treng Tại đây có thể bắt được những cá tra nặng tới 15 kg với buồng trứng đã thành
Trang 14thục Cá đẻ trứng dính vào giá thể, thường là rễ của một loài cây (Gimenila asiatica)
sống ven sông (Thông Tin Chuyên Đề Thủy Sản, 2008)
Trong sinh sản nhân tạo, cá có thể được nuôi thành thục sớm và cho đẻ sớm hơn trong tự nhiên từ tháng 3 dương lịch hàng năm Cá tra có thể tái phát dục 1 – 3 lần trong một năm (Thông Tin Chuyên Đề Thủy Sản, 2008)
Sức sinh sản tuyệt đối của cá tra từ 200 ngàn đến vài triệu trứng Sức sinh sản tương đối có thể tới 135 ngàn trứng/kg cá cái Kích thước của trứng cá tra tương đối nhỏ và có tính dính Trứng sắp đẻ có đường kính trung bình 1mm Sau khi được đẻ ra
và hút nước, đường kính trứng khi trương nước có thể tới 1,5 - 1,6 mm (Thông Tin Chuyên Đề Thủy Sản, 2008)
2.2 Tổng Quan Về Dinh Dưỡng Trên Cá Da Trơn
2.2.1 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá da trơn Mỹ
Cá bột trong các trại giống được cho ăn thức ăn được xay nhuyễn chứa 45 - 50% protein Những con cá hương lớn hơn được cho ăn thức ăn viên nổi (đường kính: 1/8 inch (3 mm) chứa 35% protein Cá giống lớn 5 - 6 inch (12,7 - 15,2 mm) và cá thịt thì nên cho ăn thức ăn nổi có đường kính khoảng 5/32 - 3/16 inch (4 – 5 mm), chứa 28 – 32% protein (Robinson và ctv, 1998)
Thông thường, cá nên được cho ăn 1 lần/ngày thì thức ăn đó sẽ được chúng tiêu thụ mà không gây bất lợi đến chất lượng nước Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự thay đổi của chất lượng nước và sức khỏe của cá mà chúng được cho ăn ít hơn lượng thức ăn hàng ngày hoặc cho ăn kém thường xuyên hơn Về lâu dài lượng thức ăn cho phép không nên vượt quá 100 – 125 pound/mẫu Anh/ngày (45,40 – 56,75 kg/0,4 ha/ngày) (Robinson và Li, 2007)
Hầu hết người nuôi cá da trơn cho ăn 1 lần/ngày, 7 ngày/tuần trong suốt những tháng ấm Mặc dù vậy, cách cho ăn 2 lần/ngày có thể cải thiện một ít về tăng trưởng trên cá giống, nhưng trên thực tế cách cho ăn này ít được áp dụng đối với các trang trại lớn (Robinson và ctv, 1998)
Có rất nhiều nhân tố giúp người nuôi xác định được lượng thức ăn cho cá, bao gồm toàn bộ những sinh vật có trong ao tại một thời điểm nhất định (số lượng và trọng lượng cá trong ao, kích cỡ cá, nhiệt độ nước, chất lượng nước và thời tiết) Việc cho ăn đặc biệt quan trọng khi nuôi cá trong một hệ thống nuôi nhiều lứa, lúc đó sẽ có nhiều
Trang 15cỡ cá trong một ao bởi vì những con nhỏ hơn thì ít hiếu chiến hơn trong việc giành thức ăn Việc cho ăn trong trường hợp này có thể là một vấn đề, vì khi đó ta không biết tất cả cá trong ao có ăn hết không Do đó, sẽ dễ dàng dẫn đến hiện tượng cho ăn quá mức, gây lãng phí thức ăn và làm ảnh hưởng đến chất lượng nước (Robinson và ctv, 1998)
Tỷ lệ cho ăn không nên vượt quá những gì mà cá trong ao cần Giới hạn trung bình về tỷ lệ cho ăn hàng ngày không nên vượt quá 120 – 150 pound/mẫu Anh/ngày (54,48 - 68,10 kg/0,4 ha/ngày), nhưng thỉnh thoảng có thể cho ăn với tỷ lệ cao hơn Khi được so sánh với tỷ lệ cho ăn bị hạn chế (không quá 80 pound/mẫu Anh/ngày, tương đương với 36,32 kg/0,4 ha/ngày) thì cá được cho ăn hàng ngày bằng với lượng 120-150 pound/mẫu Anh/ngày (54,48 - 68,10 kg/0,4 ha/ngày) đạt kết quả về năng suất cao hơn và tăng trưởng nhanh hơn nhưng hệ số chuyển đổi thức ăn lại cao hơn Hệ số chuyển đổi thức ăn thấp trên cá được cho ăn với một tỷ lệ hạn chế là một điều quan trọng bởi vì chi phí thức ăn sẽ thấp hơn khi được so sánh với cá được cho ăn no Kết quả nghiên cứu cũng kết luận rằng tổng lượng thức ăn được hấp thu, năng suất, tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn thì như nhau khi cho ăn tối đa hoặc cho ăn ở một tỷ lệ thấp hơn 120 pound/mẫu Anh/ngày (54,48 kg/0,4 ha/ngày) dưới hệ thống nuôi đơn lứa (Mississipi State University Extension Service, 2007)
So sánh giữa cho ăn 1 lần/ngày và 2 lần /ngày: Cho ăn 1 lần/ngày thì hợp lý hơn
là cho ăn 2 lần/ngày đối với cá nuôi thịt Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cho ăn 2 lần/ngày đối với cá thịt thì không nhất thiết có lợi Nhưng phương pháp cho cá ăn 2 lần/ngày thường được đề nghị nhiều hơn phương pháp cho cá ăn 1 lần/ngày, mặc dù lượng thức ăn nhiều hơn được sử dụng khi cho ăn 2 lần/ngày sẽ không được chuyển đổi hoàn toàn thành trọng lượng của cá Việc cho ăn 2 lần/ngày còn làm tăng hệ số chuyển đổi thức ăn bởi vì nếu người nuôi không cẩn thận thức ăn sẽ bị tiêu phí do việc cho ăn quá mức (Robinson và ctv, 1998)
So sánh giữa cho ăn 1 lần/ngày và cho ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày: Các khuyến cáo đều cho rằng cá da trơn nuôi nên cho ăn 1 lần/ngày Việc cho ăn kém thường xuyên hơn chỉ được yêu cầu trong những điều kiện nhất định So với cá được cho ăn đầy đủ hàng ngày thì cá được cho ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày tiêu thụ một lượng thức ăn nhiều hơn 50 – 65% lượng ăn của cá được cho ăn hàng ngày Lượng thức ăn tiêu thụ được
Trang 16tăng lên trên cá được cho ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày là một kết quả quan trọng của sự bù đắp tăng trưởng, hoặc một phần của sự bù đắp tăng trưởng Cá có thể bù đắp hoàn toàn hoặc một phần sự giảm sút trọng lượng trong khoảng thời gian ngắn không được cho
ăn khi được cho ăn đầy đủ trở lại Mặc dù có một vài lợi thế (hệ số chuyển đổi thức ăn giảm, chi phí lao động và sục khí giảm) khi cá được cho ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày nhưng không nên cho ăn theo cách này vì cá được cho ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày có thể làm giảm năng suất chế biến cá và kéo dài chu kỳ sản xuất Vì thế, về lâu dài phương pháp cho cá ăn 1 lần sau mỗi 3 ngày sẽ không đạt hiệu quả về mặt kinh tế (Robinson
và ctv, 1998)
So sánh giữa cho ăn 7 ngày/tuần với 6 ngày/tuần hoặc 5 ngày/tuần: Trong suốt
vụ nuôi, người sản xuất cá da trơn cho cá ăn 7 ngày/tuần, nhưng một số người sản xuất khác lại cho ăn 6 ngày/tuần Việc cho ăn 6 ngày/tuần (không cho ăn vào ngày chủ nhật) làm giảm năng suất gần 3,3% và cho ăn 5 ngày/tuần (không cho ăn vào ngày thứ
7 và ngày chủ nhật) thì làm giảm năng suất gần 6,9% so với cá được cho ăn 7 ngày/tuần trong suốt vụ nuôi Hệ số chuyển đổi thức ăn giảm 4,8% và 7,9% đối với cá được cho ăn 6 ngày/tuần và cá được cho ăn 5 ngày/tuần khi được so sánh với cá cho ăn
7 ngày/tuần Cho ăn 6 ngày/tuần có thể làm giảm chi phí sản xuất đối với cá nheo đốm khi đạt kích cỡ cá thịt (nghiên cứu dùng hệ thống nuôi đơn lứa và cá được cho ăn đến mức tối đa) Ngoài ra, nếu sử dụng chiến lược cho ăn này trong một hệ thống nuôi cá nhiều lứa, việc bỏ cho ăn nhiều ngày có thể có một tác động tiêu cực hơn so với trong
hệ thống nuôi đơn lứa bởi vì những cá nhỏ có thể mất nhiều trọng lượng hơn (Robinson và ctv, 1998)
Một kết quả nghiên cứu về những ảnh hưởng của kích cỡ và tần số cho ăn trên
cá nheo đốm (Ictalurus punctatus) cho rằng cá được cho ăn hàng ngày thì lượng thức
ăn được tiêu tốn nhiều hơn và cho năng suất cao hơn Khi so sánh lượng ăn của cá được cho ăn một lần sau mỗi 3 ngày với cá được cho ăn hàng ngày thì tỷ lệ thức ăn bị tiêu tốn trong những ngày được cho ăn tăng 61% cho cá nhỏ (trọng lượng ban đầu =
36 gam), 46% cho cá trung bình (169 gam) và 68% cho cá lớn (354 gam) Hệ số chuyển đổi thức ăn trên cá được cho ăn hàng ngày thì cao hơn ở cá được cho ăn 3 ngày một lần Cá lớn hơn thì ăn nhiều hơn và cho sản lượng cao hơn so với cá có kích thước trung bình và nhỏ Qua phân tích số liệu cho thấy cá được cho ăn hàng ngày thì tiêu
Trang 17thụ nhiều thức ăn hơn và cho năng suất cao hơn cá cho ăn một lần sau mỗi 3 ngày (Robinson và ctv, 1998)
Việc biết được thời gian cho ăn tốt nhất trong suốt một ngày trên một trang trại lớn là điều quan trọng bởi vì trong một thời gian hạn chế cần phải sử dụng nhiều thiết
bị để có thể hoàn thành việc cho ăn trên một số lượng lớn ao Trong khoảng thời gian
có thời tiết ấm áp, các nhà sản xuất cá da trơn thường cho ăn vào mỗi buổi sáng ngay khi hàm lượng oxy hòa tan bắt đầu tăng Tuy nhiên, theo kết quả của các nghiên cứu khác thì không có một lợi thế nào trong việc cho ăn vào một thời điểm nhất định trong ngày Tức là không có những sự khác nhau trong tăng trưởng, lượng thức ăn được tiêu thụ và hệ số chuyển đổi thức ăn giữa cá được cho ăn vào các thời điểm 8 giờ 30; 16 giờ; 20 giờ; không có sự khác nhau trong thời gian sục khí khẩn cấp được ghi lại giữa các nghiệm thức Tuy nhiên, không nên cho ăn vào lúc gần tối hoặc vào buổi tối ở những ao nuôi lớn bởi vì thật không hợp lý khi tiến hành sục khí trong ao nuôi lớn như trong các thí nghiệm nhỏ được Thông thường hàm lượng oxy hòa tan xuống thấp nhất sau 6 giờ cá ăn Nếu DO trong thời gian này thấp mà sự sục khí không đủ cung cấp oxy thì cá có thể bị stress và chết Nói chung, trên thực tế cho ăn vào buổi sáng là tốt nhất, khi hàm lượng oxy hòa tan bắt đầu tăng trong suốt những tháng có thời tiết ấm
áp Tuy nhiên trong những ngày trời lạnh, nhiệt độ nước sẽ cao hơn vào buổi chiều và khi đó cá sẽ ăn tốt hơn (Robinson và ctv, 1998)
2.2.2 Một số nghiên cứu về dinh dưỡng trên cá da trơn Việt Nam
Cá tra thịt cho ăn 1 – 2 lần/ngày Cá háu ăn và tranh mồi nhiều, do đó cá lớn giành
ăn trước cá nhỏ hơn Khẩu phần ăn tùy thuộc vào sức ăn của cá, thường từ 3 – 5% trọng lượng cá/ngày Hệ số tiêu tốn thức ăn của cá tra trung bình 2,5 – 3,0 đối với thức
ăn tự chế biến (Bùi Quang Tề, 2006)
Cá nhỏ cho ăn 4 – 6 lần/ngày do kích thước dạ dày nhỏ chứa lượng thức ăn ít, tỷ lệ giữa lượng thức ăn và trọng lượng lớn, tăng trưởng nhanh hơn cá lớn Số lần cho ăn giảm xuống còn 2 – 3 lần/ngày đối với cá lớn Cùng một kích cỡ với nhau nhưng số lần cho ăn tăng lên 3 – 4 lần thay vì 2 – 3 lần thì cá sẽ tăng trưởng nhanh hơn và hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn vì:
Trang 18∗ Cho ăn 1 – 2 lần, lượng thức ăn của một lần quá nhiều cá ăn không hết
Số lần cho ăn tăng lên thì lượng thức ăn được chia nhỏ ra dẫn đến lượng thức ăn cá lấy vào nhiều hơn (Lê Thanh Hùng, 2000)
∗ Về phương diện sinh lý tiêu hóa, cùng số lượng thức ăn lấy vào hàng ngày, nhưng khi số lần cho ăn nhiều hơn, hiệu quả tiêu hóa và hấp thu thức ăn tăng hơn, do nhịp sản xuất các enzyme tiêu hóa và thời gian thức
ăn lưu giữ trong đường tiêu hóa Do đó, nếu có điều kiện cho ăn thì nên cho ăn nhiều lần trong ngày sẽ tốt hơn cho ăn 1 – 2 lần/ngày (Lê Thanh Hùng, 2000)
Trong sản xuất, một vấn đề cũng được đặt ra là cho ăn vào thời điểm nào thì tốt nhất Đối với cá rô phi cho ăn ban ngày và ban đêm là như nhau Cá ăn mồi, khi hàm lượng oxy hòa tan trong ao cao trên 2 mg/l Khi oxy giảm thấp, cá không ăn, tất cả đều nổi đầu Vì vậy, đối với cá rô phi nuôi trong ao, thường được cho ăn vào 8 – 9 giờ sáng và tối không cho ăn Trái lại cá da trơn thường có tập tính ăn mạnh vào ban đêm, nên cho ăn vào lúc sáng sớm và chiều tối (Lê Thanh Hùng, 2000)
Lượng thức ăn trong ngày thay đổi tùy kích cỡ cá Lượng cho ăn tính theo phần trăm trọng lượng thân Cá càng nhỏ thì lượng cho ăn trên trọng lượng thân càng lớn và khi cá lớn lên lượng thức ăn tương đối này giảm theo (Lê Thanh Hùng, 2000)
Bảng 2.2 Định lượng thức ăn cho cá da trơn Mỹ
Cỡ cá Đường kính viên thức ăn (mm) % trọng lượng thân
(Nguồn: Lê Thanh Hùng, 2000)
Bên cạnh đó, có một vài thách thức đang được đăt ra đối với những người nuôi
cá tra làm thế nào để giảm bớt lượng thức ăn bị hao hụt trong quá trình cho cá ăn nhằm đối phó với tình hình giá thức ăn nuôi cá ngày càng tăng cao Trong thực tế hiện nay, người nuôi cá đã và đang áp dụng một trong ba phương pháp cho ăn khác nhau trong sản xuất đó là cho ăn tối đa, cho ăn vừa phải theo nhu cầu và cho ăn theo định lượng
Trang 19Tuy nhiên, để đánh giá được hiệu quả chính xác của mỗi phương pháp cho ăn nói trên đối với con cá tra nuôi thương phẩm hiện nay thì vẫn có rất ít những nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này Mặc dù vậy, trong một nghiên cứu gần đây của Lê Thanh
Tú (2008) “Xác định số lần và tỷ lệ cho ăn thích hợp trên cá tra” đã thu được một số kết quả rất đáng quan tâm Khi cá được cho ăn nhiều lần khác nhau trong ngày thì trọng lượng trung bình tăng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giảm Cụ thể là khi cho
cá ăn với một tỷ lệ cho ăn nhất định nếu cá được cho ăn 4 lần/ngày sẽ có trọng lượng trung bình cao nhất và FCR thấp hơn so với cá được cho ăn 2 lần/ngày hoặc cá được cho ăn 3 lần/ngày Cũng theo kết quả nghiên cứu này, để đạt được mức tăng trưởng tối
ưu (hệ số thức ăn thấp, tăng trọng nhanh và hạn chế được tình trạng lãng phí thức ăn
do cá ăn thừa) người nuôi cá nên chọn phương pháp cho ăn 4 lần/ngày theo một tỷ lệ cho ăn nhất định
Trang 20Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài
- Địa điểm: Tại ao C18 của trại Thực Nghiệm Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh
- Thời gian: Từ 04/04/2010 – 28/06/2010
3.2 Vật Liệu
- Đối tượng thí nghiệm: Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) với kích thước
cá trung bình từ 7 – 8,5 cm, mua ở huyện Củ Chi vào ngày 24 tháng 3 Sau khi chuyển
về trại Thực nghiệm của Khoa Thủy Sản, cá được thả nuôi trong bể composite, được cho ăn và chăm sóc hàng ngày đến khi bố trí thí nghiệm
- Thức ăn thí nghiệm: Chúng tôi sử dụng loại thức ăn viên nổi Catfish T503SL, T503S và T504 của công ty Uni-President với thành phần dinh dưỡng như sau:
o Protein thô tối thiểu: 30%
o Độ ẩm tối đa: 10%
o Béo thô tối thiểu: 5%
o Tro tối đa: 12%
o Xơ thô tối đa: 6%
Để đảm bảo mục tiêu của đề tài và không làm ảnh hưởng đến tính ăn của cá (đường kính viên thức ăn hợp với cỡ miệng của cá) chúng tôi đã đề nghị phía công ty Uni-President hỗ trợ ba loại viên thức ăn thí nghiệm giống nhau về hàm lượng đạm (30% protein) nhưng có đường kính khác nhau, lần lượt là 2 – 2,2 mm; 3 – 3,2 mm; 4 – 4,2 mm
- Dụng cụ và hóa chất sử dụng gồm:
∗ Cân điện tử, giấy kẻ ô ly, giai lưới có kích thước 1x1x1,3 m, cọc tre, thau nhựa, xô, vợt, đèn pin
Trang 21∗ Test kiểm tra chất lượng nước gồm: test đo hàm lượng ammonia, test đo
độ pH
∗ Máy đo pH, máy đo oxy hòa tan và nhiệt độ
- Ao nuôi thí nghiệm (ao C18): Trước khi tiến hành thí nghiệm 4 tuần, chúng tôi tiến hành tẩy dọn ao: kéo cá tạp, bơm cạn ao; phát dọn cỏ quanh bờ ao; bón vôi và phơi ao 1 ngày trước khi cho nước vào ao, cắm cọc và giăng giai
3.3 Phương Pháp Nghiên Cứu
3.3.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức (NT), ứng với 3 tần số cho ăn khác nhau: NT I cho ăn 2 lần/ngày (vào lúc 7 giờ 30 phút và 16 giờ), NT II cho ăn 3 lần/ngày (vào lúc 7 giờ 30 phút, 11 giờ 30 phút và 17 giờ) và NT III cho ăn 4 lần/ngày (vào lúc 7 giờ 30 phút, 11giờ 30 phút, 15 giờ và 19 giờ) Mỗi NT được lặp lại 3 lần (1 lần lặp lại ứng với 1 giai lưới kích thước 1x1x1,3 m) Các điều kiện về chất lượng nước và thức ăn được giữ đồng đều
Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:
Giai 1 2 3 4 5 6 7 8 9
I1
NT II1
NT I2
NT III1
NT II2
NT I3
NT III2
NT II3
NT III3
Cá thí nghiệm được lựa đồng cỡ, khỏe mạnh, không dị tật, trọng lượng trung bình là 3,8 gam/con Sau khi cân trọng lượng tổng, cá được bố trí vào các giai lưới (1x1x1,3 m) cắm trong ao đất C18, với mật độ 50 con/giai Mực nước ao sâu khoảng
từ 1,5 – 1,8 m, diện tích ao nuôi là 600 m2 Bên cạnh đó, chúng tôi cũng chọn 50 con
cá có trọng lượng tương đương với cá thí nghiệm cho vào giai trữ riêng để bổ sung trong trường hợp có cá chết trong vòng 3 ngày sau khi bố trí
Vì mục tiêu của đề tài là cho cá ăn no đến mức tối đa nên sau mỗi lần cho ăn khoảng 1 giờ chúng tôi quan sát lượng thức ăn thừa, vớt và đếm số viên rồi quy đổi ra trọng lượng Từ đó tính lượng ăn hàng ngày của cá ở mỗi giai của từng nghiệm thức Định kỳ 4 tuần chúng tôi cân cá một lần Cá được nuôi thí nghiệm trong vòng 84 ngày
Trang 223.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi
- Các chỉ tiêu về môi trường: Ngoài chỉ tiêu NH3 (mg/l) được đo vào sáng thứ 3
và sáng thứ 6, các chỉ tiêu về chất lượng nước khác như DO, pH và nhiệt độ được theo dõi hàng ngày (sáng và chiều)
∗ Hàm lượng oxy hòa tan (mg/l) và nhiệt độ được đo bằng máy đo DO và nhiệt độ hiệu YSI – 550A;
∗ pH được đo với máy đo pH hiệu pH Scan 2;
∗ Hàm lượng ammonia được đo bằng máy quang phổ
Chúng tôi theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước hàng ngày Nếu thấy có biến động không tốt thì tiến hành cho sục khí hoặc cấp thêm nước vào ao nhằm ổn định môi trường nước, hạn chế ảnh hưởng bất lợi cho cá thí nghiệm
- Các chỉ tiêu trên cá thí nghiệm: Sau mỗi 4 tuần thí nghiệm chúng tôi tiến hành cân cá, xác định tỷ lệ sống, trọng lượng trung bình và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá tra ở từng giai cũng như ở từng nghiệm thức Đến ngày cuối cùng của tuần thứ 12 thì tiến hành kéo cá, đếm số cá của mỗi giai và cân tổng trọng lượng để tính tỷ lệ sống, trọng lượng trung bình và hệ số chuyển đổi thức ăn
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình và FCR của từng nghiệm thức:
∗ Tỉ lệ sống (%) = Số cá còn lại*100/Số cá ban đầu;
∗ Trọng lượng trung bình (gam/con) = Tổng trọng lượng cân được/Tổng số cá;
∗ Hệ số chuyển đổi thức ăn (Feed conversion ratio: FCR) = Lượng thức ăn sử dụng /Tăng trọng cá cuối thí nghiệm
Sử dụng phần mềm thống kê sinh học MINITAB 15.0 để phân tích phương sai ANOVA và so sánh sự khác biệt của các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, trọng lượng trung bình
và FCR của cá tra thí nghiệm giữa các nghiệm thức
Trang 23Hình ảnh về một số vật liệu và dụng cụ dùng trong thí nghiệm
Hình 3.1 Các cỡ viên thức ăn được sử dụng trong quá trình thí nghiệm
Hình 3.2 Máy đo pH
Trang 24Hình 3.3 Máy đo oxy và nhiệt độ
Hình 3.4 Cân cá định kỳ
Trang 25Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Một Số Yếu Tố Môi Trường Trong Thí Nghiệm
Quá trình sinh trưởng và phát triển của các thủy sinh vật nói chung và các loài
cá nói riêng đều chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường cũng như các yếu tố sinh học khác Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sinh trưởng và phát triển của các loài sinh vật Trong đề tài này, chúng tôi khảo sát một số yếu tố môi trường chủ yếu có thể tác động đến kết quả thí nghiệm Do vậy, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi nhận thấy sự thay đổi của điều kiện thời tiết (sự giao mùa, từ nắng gắt chuyển sang mưa lớn và liên tục) cùng với mật độ cao của tảo trong nước ao đã tác động rõ rệt lên khoảng dao động của các yếu tố môi trường trong ao nuôi
Bảng 4.1 Biên độ dao động của các yếu tố môi trường trong thời gian thí nghiệm
Biên độ dao động Yếu tố môi trường
Thí nghiệm được tiến hành trong ao đất có diện tích 600 m2 Do mực nước thấp
và thay đổi nên các yếu tố môi trường thường có sự dao động Tuy nhiên, các biên độ dao động này vẫn ở mức chấp nhận được so với phạm vi cho phép về yêu cầu sinh lý
Trang 26của cá tra (Kết quả theo dõi các chỉ tiêu về chất lượng nước được trình bày ở phần phụ lục 1)
4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
Hàm lượng oxy hòa tan là một yếu tố vô cùng quan trọng không chỉ với các loài thủy sản mà cả đối với các vi sinh vật, các loài thủy sinh thực vật…có trong ao nuôi Hàm lượng oxy hòa tan phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ mặn, độ đục, gió,
áp suất khí quyển, các loài phiêu sinh có trong ao, mức độ phong phú của các loài này, hoạt động quang tổng hợp cũng như hô hấp của chúng
Trong các ao nuôi nước tĩnh hàm lượng oxy hòa tan có thể mất đi do quá trình
hô hấp của thủy sinh vật và quá trình oxy hóa vật chất hữu cơ trong nước và trong nền đáy ao
Cá tra là loài có cơ quan hô hấp phụ, chúng có thể hô hấp qua da và bóng khí
Vì vậy, chúng có thể sống trong môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp < 2 mg/l trong một thời gian dài Mặc dù cá không cần DO cao nhưng để duy trì chất lượng nước và cần thiết cho phiêu sinh vật phát triển nên chúng tôi luôn giữ DO ở mức thích hợp (từ 2 – 9 mg/l) Khi thấy có dấu hiệu mật độ phiêu sinh vật quá cao (mặt nước có váng tảo nổi lên) và chênh lệch DO đo sáng và chiều lớn hoặc quá thấp thì chúng tôi tiến hành cấp nước mới và sục khí để đảm bảo DO trong ao nuôi luôn ổn định Dưới đây là đồ thị 4.1 trình bày chi tiết sự dao động DO trong ngày của ao nuôi thí nghiệm
Trang 27Đồ thị 4.1 Sự biến động hàm lượng oxy hòa tan trong suốt quá trình thí nghiệm
Qua đồ thị 4.1 chúng tôi nhận thấy sự biến động của hàm lượng oxy trong ngày của ao nuôi trong suốt quá trình thí nghiệm là tương đối lớn Nguyên nhân gây ra biến động như đã trình bày ở trên, cá biệt trong khoảng từ ngày 2/5 đến ngày 30/5 trời thường nắng gắt thì khoảng dao động của DO trong ngày khá cao, buổi sáng là 2,2 ± 0,4 (mg/l) và buổi chiều là 8,8 ± 2,0 (mg/l) Riêng những ngày mưa, trời âm u DO buổi sáng thường rất thấp (< 2 mg/l) Trong những ngày này, chúng tôi theo dõi thấy lượng ăn của cá giảm tương đối so với những ngày bình thường và để khắc phục tình trạng trên thì chúng tôi đã tiến hành sục khí hoặc cấp thêm nước mới vào ao
4.1.2 Độ pH của nước
pH là một trong các yếu tố quan trọng trong đánh giá chất lượng nước trong ao nuôi thủy sản vì nó không những ảnh hưởng đến tiến trình hóa học mà nó còn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên khả năng bắt mồi, trao đổi chất và quá trình hô hấp của các loài thủy sinh vật trong ao nuôi
Trang 28Theo Swingle (1989; trích bởi Vũ Quang Thủy, 1997) pH dao động từ 6,5 – 9 là thích hợp cho tôm, cá nuôi Tuy nhiên mỗi loài cá đều có một khoảng pH thích hợp và khoảng pH tốt nhất cho cá tôm nước ngọt là 6,5 – 7,5
Trong ao nuôi thủy sản rất ít khi pH < 5 và pH > 9 Vì vậy, ảnh hưởng trực tiếp của pH quá cao hay quá thấp như thế thường không đáng kể bằng ảnh hưởng gián tiếp của pH: Trong các ao có độ kiềm thấp, pH không đủ thấp để gây hại đến tôm, cá nhưng nó đủ thấp để gây nên hiện tượng thiếu CO2 cho tảo quang hợp Trong các ao nuôi thâm canh, hàm lượng ammonia thường cao, pH cao sẽ làm tăng độc tính của
NH3 đối với các loài cá nuôi Nếu cá được vận chuyển từ vùng nước này tới vùng nước khác có sự sai khác lớn về pH, chúng sẽ bị sốc pH và chết (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2006)
Độ pH của nước chịu ảnh hưởng của pH đất, sự quang tổng hợp và sự hô hấp của phiêu sinh vật Kết quả về sự thay đổi pH của nước ao nuôi trong quá trình thí nghiệm được trình bày qua đồ thị 4.2
Đồ thị 4.2 Sự biến động pH của nước ao trong suốt quá trình thí nghiệm
Qua đồ thị 4.2 chúng tôi thấy khoảng biến động của pH trong ao nuôi trong suốt quá trình thí nghiệm là tương đối ổn định Mặc dù khoảng thời gian về sau của thí nghiệm pH nước ao thường xuyên có biến động do trời mưa kéo dài trong nhiều ngày nhưng không lớn lắm
Trang 29Tuy nhiên, cá tra là loài thích nghi rộng với điều kiện môi trường nên với khoảng pH của ao nuôi thí nghiệm dao động từ 7 – 9 không làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá
4.1.3 Nhiệt độ nước
Cá là loài động vật biến nhiệt cho nên nhiệt độ cơ thể thay đổi theo nhiệt độ môi trường Mọi sự thay đổi nhiệt độ bên ngoài đều ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trao đổi chất của chúng Mỗi loài cá, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển mà cần một khoảng nhiệt độ khác nhau Nhiệt độ quá cao hay quá thấp cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá Nhiệt độ trong ngày không nên vượt quá 50C (Đỗ Thị Hòa và ctv, 2006) Sự thay đổi của nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm được biểu diễn cụ thể
ở đồ thị 4.3
Đồ thị 4.3 Sự biến động của nhiệt độ trong suốt quá trình thí nghiệm
Trong suốt quá trình thí nghiệm, chúng tôi theo dõi được khoảng dao động của nhiệt độ nước trong ao nuôi là từ 30,0 – 34,60C So với ngưỡng nhiệt độ chịu đựng của
cá tra từ 15 – 390C (Hội nghề cá Việt Nam, 2004) thì đây là khoảng nhiệt độ tương đối
ổn định, không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nuôi thí nghiệm
Trang 304.1.4 Ammonia
Ammonia hiện diện trong ao hồ là do sự phân hủy của thức ăn, mùn bã hữu cơ…Khi nồng độ ammonia trong nước tăng sẽ làm ngăn cản quá trình bài tiết ammonia, dẫn đến sự gia tăng ammonia trong máu và mô, gia tăng pH máu và ảnh hưởng bất lợi đến các phản ứng sinh hóa có sự xúc tác của enzyme Nồng độ ammonia cao trong nước cũng làm gia tăng tiêu hao oxygen của máu, tổn thương mang và khả năng vận chuyển oxygen của máu (Nguyễn Văn Tư, 2004) Chúng làm ức chế sự sinh trưởng bình thường, giảm khả năng chống bệnh của cá nuôi Khi pH tăng cao cũng làm gia tăng tính độc của ammonia
Hàm lượng ammonia mà chúng tôi đo được trong quá trình thí nghiệm nằm trong khoảng từ 0,00 – 0,05 mg/l (phụ lục 1) Đây là khoảng ammonia hầu như không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá
4.2 Kết Quả Thí Nghiệm
4.2.1 Chỉ tiêu về tỷ lệ sống
Để tránh sai sót trong việc tính tỷ lệ sống cho từng nghiệm thức, sau khi bố trí thí nghiệm trong khoảng 3 ngày đầu tiên, nếu có cá chết ở các giai chúng tôi sẽ tiến hành thay thế số cá này vì nguyên nhân gây chết cá có thể là do bị xây xát khi bố trí chứ không phải do các yếu tố của thí nghiệm gây ra Trọng lượng cá thay thế tương đương với trọng lượng cá bị chết Trong thực tế thì không có cá chết ở tất cả các giai trong 3 ngày đầu tiên sau khi bố trí thí nghiệm
Tuy nhiên trong quá trình thí nghiệm có một vài yếu tố khách quan đã ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của các nghiệm thức là các loài động vật săn mồi như các loài cò, vạc Trong quá trình thí nghiệm chúng tôi đã một vài lần thấy chúng ăn cá ở trong các giai thí nghiệm Để khắc phục tình trạng này chúng tôi đã tiến hành giăng các tấm lưới lên trên các giai
Trang 31
Hình 4.1 Giai cá thí nghiệm được bố trí thêm lưới che phía trên để phòng địch hại
Dưới đây là bảng trình bày tỷ lệ sống của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra và đồ thị biểu diễn tỷ lệ sống của cá tra ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm (Tỷ lệ sống của cá tra ở các giai của thí nghiệm qua các lần kiểm tra được trình bày ở phụ lục 2)
Bảng 4.2a Tỷ lệ sống (%) của cá tra ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra
Thời gian Nghiệm thức
Sau 4 tuần Sau 8 tuần Sau 12 tuần
- Các giá trị trình bày trong bảng được biểu diễn dưới dạng số trung bình ± độ
lệch chuẩn ( Standard Deviation: SD)