1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH SỐ LẦN CHO ĂN THÍCH HỢP VỚI LƯỢNG ĂN TỐI ĐA TRÊN CÁ RÔ PHI DÒNG GIFT (Oreochromis niloticus) VÀ CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis sp.)

72 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Đề tài nghiên cứu “Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa trên cá rô phi dòng GIFT Oreochromis niloticus và cá rô phi đỏ Oreochromis sp.” được tiến hành tại trại t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

XÁC ĐỊNH SỐ LẦN CHO ĂN THÍCH HỢP VỚI LƯỢNG ĂN TỐI ĐA TRÊN CÁ RÔ PHI DÒNG GIFT

(Oreochromis niloticus) VÀ CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis sp.)

Họ và tên sinh viên: DƯƠNG NGUYỄN THÙY AN Ngành: NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Niên khóa: 2006 – 2010

Tháng 8/2010

Trang 2

XÁC ĐỊNH SỐ LẦN CHO ĂN THÍCH HỢP VỚI LƯỢNG ĂN TỐI ĐA TRÊN CÁ RÔ PHI DÒNG GIFT

(Oreochromis niloticus) VÀ CÁ RÔ PHI ĐỎ (Oreochromis sp.)

Tác giả

DƯƠNG NGUYỄN THÙY AN

Khóa luận được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng Kỹ Sư Nuôi Trồng Thủy Sản

Giáo viên hướng dẫn:

TS NGUYỄN NHƯ TRÍ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

 Ban giám hiệu trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản, cùng tất cả Quý Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

 TS Nguyễn Như Trí đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp

 Công ty Dinh Dưỡng Nông Nghiệp Quốc Tế Anco đã giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi cả về vật chất và tinh thần giúp tôi có đủ điều kiện để hoàn thành quá trình học tại trường

 Công ty Uni-President Việt Nam đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực tập hoàn thành luận văn tốt nghiệp cuối khóa

 Thầy Ngô Văn Ngọc, Anh Ngô Đăng Lâm, Anh Đặng Phúc Thiện, Anh Nguyễn Thanh Liêm đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp

 Các anh, các bạn trong trại thực nghiệm đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp

 Tập thể lớp DH06NT đã giúp đỡ chia sẻ khó khăn cùng tôi trong suốt thời gian học và thực tập tốt nghiệp

 Gia đình đã động viên, giúp đỡ tạo điều kiện về kinh phí và ủng hộ tinh thần giúp tôi thực hiện khóa luận

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa trên cá

rô phi dòng GIFT (Oreochromis niloticus) và cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.)” được

tiến hành tại trại thực nghiệm khoa thủy sản trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 7 năm 2010 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên

Kết quả thu được như sau:

+ Tỷ lệ sống (TLS): TLS trung bình của cá ở các nghiệm thức (NT) khi kết thúc thí nghiệm là:

- Cá rô phi dòng GIFT: NT1 (cho ăn 2 lần/ngày) là 80,8%, NT2 (cho ăn 3 lần/ngày) là 83,3%, NT3 (cho ăn 4 lần/ngày) là 92,5%

- Cá rô phi đỏ: NT1 là 65,8%, NT2 là 74,2%, NT3 là 72,5%

TLS giữa các nghiệm thức trong cùng loài không có sai biệt về mặt thống kê (P = 0,45 > 0,05) nhưng có sự sai biệt về mặt thống kê của TLS giữa 2 loài cá thí nghiệm (P = 0,025 < 0,050)

+ Trọng lượng trung bình (TLTB): TLTB của cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi

đỏ lúc bố trí thí nghiệm là 4 – 5 gam/con TLTB của cá ở các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm là:

- Cá rô phi dòng GIFT: 149,8g (NT1), 147,1g(NT2) và 147,56g (NT3)

- Cá rô phi đỏ: 91,8g (NT1), 96,2g (NT2) và 95,3g (NT3)

TLTB giữa các nghiệm thức trong cùng loài không có khác biệt về mặt thống kê (P = 0,45 > 0,05) nhưng có sự khác biệt về mặt thống kê của TLTB giữa 2 loài cá thí nghiệm (P = 0,00 < 0,05)

+ Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR): FCR trung bình của các nghiệm thức khi kết thúc thí nghiệm là:

- Cá rô phi dòng GIFT: NT1 là 1,40, NT2 là 1,53, NT3 là 1,49

- Cá rô phi đỏ: NT1 là 1,44, NT2 là 1,45, NT3 là 1,46

FCR giữa các NT trong cùng loài cũng như giữa 2 loài cá với nhau sai biệt không

có ý nghĩa về mặt thống kê (P = 0,20 > 0,05 (các NT cùng loài) và P = 0,48 > 0,05

Trang 5

MỤC LỤC

Trang tựa i

Lời cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục iv

Danh mục các bảng vi

Danh sách các hình và đồ thị vii

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu đề tài 2

Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Vị trí phân loại 3

2.2 Nguồn gốc và sự phân bố 4

2.2.1 Giới thiệu về cá rô phi đỏ 6

2.2.2 Giới thiệu về cá rô phi vằn dòng GIFT 7

2.3 Đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn dòng GIFT và cá rô phi đỏ 8

2.3.1 Đặc điểm hình thái, sinh lý 8

2.3.1.1 Cá rô phi vằn dòng GIFT 8

2.3.1.2 Cá rô phi đỏ 8

2.3.2 Một số yếu tố môi trường của cá rô phi vằn dòng GIFT và cá rô phi đỏ 9

2.3.2.1 Nhiệt độ 9

2.3.2.2 Oxy hòa tan (DO) 10

2.3.2.3 Độ mặn 10

2.3.2.4 pH 11

2.3.2.5 Ammonia 11

2.3.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 11

2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng 12

2.3.5 Đặc điểm sinh sản 12

2.4 Tổng quan về dinh dưỡng trên cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ 13

2.5 Chế độ ăn của cá rô phi 14

Trang 6

Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài 16

3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 16

3.3 Các chỉ cần tiêu cần theo dõi trong quá trình thí nghiệm 17

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19

4.1 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm 19

4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan 19

4.1.2 pH của nước 20

4.1.3 Nhiệt độ 21

4.1.4 Ammonia 22

4.2 Kết quả thí nghiệm 23

4.2.1 Chỉ tiêu tỷ lệ sống 23

4.2.2 Chỉ tiêu trọng lượng trung bình 26

4.2.3 Chỉ tiêu hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) 33

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 36

5.1 Kết luận 36

5.2 Đề nghị 36

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Những loài cá rô phi quan trọng trong nuôi trồng thủy sản 5 Bảng 2.2: Phân biệt đực cái cá rô phi 9 Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong điều kiện nuôi 11 Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT ở các nghiệm thức qua các lần

kiểm tra 24 Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra 24 Bảng 4.3: So sánh tỷ lệ sống giữa cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ khi kết

thúc thí nghiệm (%) 24 Bảng 4.4: Trọng lượng trung bình của cá rô phi dòng GIFT ở các nghiệm thức

qua các lần kiểm tra 26 Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình của cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức qua các

lần kiểm tra 27 Bảng 4.6: So sánh trọng lượng trung bình giữa cá rô phi dòng GIFT và cá rô

phi đỏ khi kết thúc thí nghiệm (gam) 28 Bảng 4.7: FCR của cá rô phi dòng GIFT ở các nghiệm thức qua các lần kiểm

tra 34 Bảng 4.8: FCR của cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức qua các lần kiểm tra 34 Bảng 4.9: So sánh FCR giữa cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ sau khi kết

thúc thí nghiệm 35

Trang 8

DANH SÁCH CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1: Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus 3

Hình 2.2: Cá rô phi đỏ Oreochromis sp 4

Hình 3.1: Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 18

Hình 3.2: Cân sử dụng để kiểm tra trọng lượng cá sau mỗi 2 tuần thí nghiệm và cân thức ăn mỗi ngày 18

Hình 4.1: Giai bố trí thí nghiệm có che lưới 23

Hình 4.2: Cá rô phi dòng GIFT lúc bố trí thí nghiệm 29

Hình 4.3: Cá rô phi dòng GIFT sau 2 tuần thí nghiệm 29

Hình 4.4: Cá rô phi dòng GIFT sau 4 tuần thí nghiệm 29

Hình 4.5: Cá rô phi dòng GIFT sau 6 tuần thí nghiệm 30

Hình 4.6: Cá rô phi dòng GIFT sau 8 tuần thí nghiệm 30

Hình 4.7: Cá rô phi dòng GIFT sau 10 tuần thí nghiệm 30

Hình 4.8: Cá rô phi dòng GIFT sau 12 tuần thí nghiệm 31

Hình 4.9: Cá rô phi đỏ lúc bố trí thí nghiệm 31

Hình 4.10: Cá rô phi đỏ sau 2 tuần thí nghiệm 31

Hình 4.11: Cá rô phi đỏ sau 4 tuần thí nghiệm 32

Hình 4.12: Cá rô phi đỏ sau 6 tuần thí nghiệm 32

Hình 4.13: Cá rô phi đỏ sau 8 tuần thí nghiệm 32

Hình 4.14: Cá rô phi đỏ sau 10 tuần thí nghiệm 33

Hình 4.15: Cá rô phi đỏ sau 12 tuần thí nghiệm 33

Đồ thị Đồ thị 4.1: Sự biến động của oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm 20

Đồ thị 4.2: Sự biến động pH trong quá trình thí nghiệm 21

Đồ thị 4.3: Sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 22

Đồ thị 4.4: Tỷ lệ sống của cá rô phi ở các nghiệm thức trong thí nghiệm 25

Đồ thị 4.5: Trọng lượng trung bình của cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức trong thí nghiệm 28

Trang 9

Đồ thị 4.6: FCR của cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức

trong thí nghiệm 35

Trang 10

Chương I

GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Cá và sản phẩm thủy sản là những mặt hàng thương mại phổ biến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Năm 2006, trên thế giới xuất khẩu thủy sản đạt 85,9 tỷ USD, tăng 32,1% so với giai đoạn 2000 – 2006 Trong đó, các nước đang phát triển cũng có những đóng góp đáng kể, từ 43% năm 1992 lên 53% năm 2006 (FAO, 2006)

Cá rô phi là loài cá phổ biến, dễ nuôi và được biết đến khá lâu Cá rô phi được nuôi phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan, Philippin, Ấn Độ và các nước Trung Mỹ, Nam Mỹ,… Ngoài mục đích cải thiện dinh dưỡng cho người dân nghèo, nuôi cá rô phi còn tạo ra sản phẩm hàng hóa ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

Với ưu thế ít dịch bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao, dễ nuôi, dễ chế biến theo nhiều dạng sản phẩm khác nhau nên cá rô phi được đa số người tiêu dùng chấp nhận

Nuôi cá rô phi đã góp phần tăng nhanh sản lượng cá nuôi, tăng tỷ trọng sản phẩm thủy sản xuất khẩu được nuôi từ nước ngọt, đa dạng hóa sản phẩm từ nhiều đối tượng

để tạo ra những loại sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao, tận dụng tốt hơn các vùng nước ngọt hiện có Ở nước ta, trong việc nuôi thâm canh cá rô phi thì chi phí lớn nhất

là về thức ăn, chiếm khoảng 80% tổng chi phí đầu tư Các nghiên cứu về cá rô phi ở nước ta chưa thực sự nhiều, nhất là về lĩnh vực dinh dưỡng, thức ăn nhằm nâng cao năng suất, sản lượng, giảm giá thành sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế Số lần cho cá ăn trong ngày và khẩu phần ăn của cá là vấn đề đang rất được người nuôi quan tâm Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2009) đã thực hiện thí nghiệm cho cá ăn với số lần khác nhau trong ngày theo một khẩu phần ăn nhất định và kết quả cho thấy không có sự khác nhau về tăng trọng, tỷ lệ sống cũng như FCR giữa các nghiệm thức của thí nghiệm

Trang 11

Nhưng nếu cho cá ăn nhiều lần trong ngày với lượng ăn không khống chế thì kết quả

sẽ ra sao? Để góp phần trả lời cho câu hỏi trên và được sự phân công của khoa Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành đề tài

nghiên cứu “Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa trên cá rô phi

dòng GIFT (Oreochromis niloticus) và cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.)”

1.2 Mục tiêu đề tài

Xác định số lần cho ăn thích hợp với lượng ăn tối đa của cá rô phi vằn dòng GIFT và cá rô phi đỏ

Trang 12

Loài: Oreochromis niloticus

Hình 2.1: Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus

Trang 13

Theo Trawavas (1982) cá rô phi đỏ thuộc:

Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi Cho đến năm 1964 người ta mới biết khoảng

30 loài cá rô phi Hiện nay thì con số này khoảng 100 loài, trong đó có khoảng 10 loài

có giá trị kinh tế (Nguồn: http://agriviet.com) Ở nước ta hiện nay đã nhập nhiều loài

và dòng cá rô phi khác nhau như:

Cá rô phi đen (O mossambicus) được nhập vào Việt Nam năm 1951 Dòng cá

này có ưu điểm là chịu được sự thay đổi lớn của môi trường từ nước ngọt sang nước mặn có nồng độ muối đến 31‰, từ nhiệt độ 5,6 – 400C Cá thuộc loại ăn tạp, ăn nhiều tảo xanh và mùn bã hữu cơ Loài này lớn khá nhanh, mắn đẻ, đẻ quanh năm Tuy

Trang 14

nhiên, do thiếu những kỹ thuật tiến bộ về nuôi và giữ giống, loài cá này trở nên đẻ dày, chậm lớn, cỡ thương phẩm nhỏ, hiện nay ít được quan tâm (Trần Văn Vỹ, 2002)

Cá rô phi vằn (O niloticus) được nhập vào Việt Nam năm 1973 từ Đài Loan Sau

khi giải phóng Miền Nam được chuyển ra Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I năm 1977 Dòng cá này được lưu giữ chu đáo và chăm sóc tốt nên thích nghi cao với điều kiện các tỉnh phía Bắc (Trần Văn Vỹ, 2002)

Cá rô phi vằn dòng Thái Lan, dòng Ai Cập, dòng GIFT nhập vào nước ta năm

1994 (Trần Văn Vỹ, 2002)

Theo Trewavas (1983; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009) thì cá rô phi trên

thế giới được chia làm 3 giống, đó là Tilapia, Sarotherodon và Oreochromis dựa trên

cơ sở di truyền và tập tính sinh sản của chúng Bảng 2.1 dưới đây trình bày tập tính sinh sản và các loài cá rô phi quan trọng trong nuôi trồng thủy sản

Bảng 2.1: Những loài cá rô phi quan trọng trong nuôi trồng thủy sản (Trần Văn

Vỹ, 2002)

Tên giống Kiểu sinh sản Loài quan trọng trong

nuôi trồng thủy sản Tilapia Khi đẻ cần có giá thể để trứng

bám Cá làm tổ đẻ bằng cỏ rác

Sau khi đẻ cá cái và cá đực cùng tham gia bảo vệ tổ

T zillii, T rendalli

Sarotherodon Cá bố mẹ đào tổ đẻ, cá đực hoặc

cá cái hoặc cá đực và cá cái đều

Trang 15

2.2.1 Giới thiệu về cá rô phi đỏ

Cá rô phi đỏ (là con lai giữa O mossambicus và O hornorum) có màu hồng được

nhập vào Việt Nam năm 1975 từ Malaysia Loài này có sức lớn nhanh, màu sắc đẹp, thịt thơm ngon, rất được thị trường ưa chuộng (Trần Văn Vỹ, 2002)

Xuất xứ cá rô phi đỏ từ Đài Loan Từ năm 1997, cá rô phi đỏ được nhập về để nuôi thương phẩm Hiện nay chúng đã phát triển tốt trong điều kiện khí hậu của nước

ta và là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế

Cá rô phi đỏ là con lai giữa hai loài cá khác nhau trong cùng một giống cá rô phi

(Oreochromis) (Payne và ctv.,1982; Liao và Chang, 1982, Vatanabe và ctv., 1988;

trích bởi Lê Trần Hồng Yến, 2002)

Nó có thể là con lai giữa:

Là con lai giữa hai loài cá rô phi nên cá rô phi đỏ phân bố ở những nơi có sự phân

bố của cá rô phi Ngoài tự nhiên ít thấy có sự hiện diện của cá rô phi đỏ, đôi khi có xuất hiện nhưng dần dần lai với những cá rô phi đen nên cá rô phi đỏ cũng dần biến mất

Ngày nay, tình hình nuôi cá rô phi đỏ ở nước ta đang có chiều hướng gia tăng Hiện đã có một số trại sản xuất giống tập trung sản xuất cá bột được và không xử lý hormone để cung cấp theo nhu cầu của người nuôi

Cá rô phi đỏ xuất hiện ở các nước như: Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Israel, một

số nước Châu Phi và các nước vùng Đông Nam Á

Vì là con lai nên thừa hưởng những đặc tính của cả cha lẫn mẹ, do đó cá rô phi đỏ

có thể sống dễ dàng trong cả ba vùng nước: mặn, lợ, ngọt, chịu đựng tốt với những điều kiện khắc nghiệt của môi trường Cũng như các loài cá rô phi khác, cá rô phi đỏ

Trang 16

sinh sản dễ dàng trong ao nuôi, thức ăn chủ yếu có nguồn gốc từ thực vật và mùn bã hữu cơ

2.2.2 Giới thiệu về cá rô phi vằn dòng GIFT

Rô phi dòng GIFT là sản phẩm một dự án nhằm cải thiện di truyền trên loài

Oreochromis niloticus của ICLARM (nay là Worldfish Center), bởi lẽ đây là một loài

cá thương mại quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới với những đặc điểm nổi bật như tốc độ tăng trưởng nhanh, màu sắc sáng và chu kỳ sinh sản ngắn Chữ GIFT viết tắc của Genetically Improved Farmed Tilapia Dự án được ủng hộ và tài trợ của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) và Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và được sự chú ý của trên 60 quốc gia

Mục tiêu của dự án là phát triển một phương pháp hiệu quả cho việc sản xuất dòng cá rô phi cải thiện với chi phí nuôi thấp, một phương pháp có thể ứng dụng trong một khu vực rộng lớn cho các nước nhiệt đới trong chương trình cải tiến gen Dự án GIFT được thực hiện tại Châu Á và Châu Phi dựa trên tình hình cá rô phi hiện có tại

đó để tiến tới việc tạo ra dòng cá có tính chịu đựng và thích nghi trên toàn thế giới Philippine được chọn là nơi triển khai dự án chính thức bởi người nông dân nuôi

cá quốc gia này đang cần sản xuất nhiều cá và một hệ thống cung cấp giống tối ưu Đồng thời Philippine còn được sự giúp đỡ của chính phủ, các tổ chức tư nhân và được

sự giúp đỡ kỹ thuật mạnh mẽ từ nhiều quốc gia khác

Năm 1988 – 1989, dòng GIFT được lựa chọn trên nền tảng là 4 dòng thuần hoang dã: Ai Cập, Ghana, Kenya và Senegal, 4 dòng thương mại: Israel, Singapore, Đài Loan, Thái Lan Người ta đem 8 dòng này nuôi thí nghiệm ở 11 điều kiện môi trường khác nhau đại diện cho 11 vùng rộng lớn của hệ thống nuôi cá rô phi ở Philippine, từ những ao nuôi đơn giản như từ phía sau nhà của người dân cho tới những hệ thống nuôi thâm canh hơn: những ao được bón phân, những ao được bón phân với chế phẩm nông nghiệp, hệ thống nuôi kết hợp cá – lúa, chuồng và những vùng khác trên đảo Luzon Kết quả được so sánh với các loài cá rô phi hoang dại thì cho thấy chúng phát triển nhanh hơn (Eknath và ctv., 1993; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

Tiếp theo, người ta tiến hành giao phối 8 x 8 dòng (lai chéo) sản sinh ra 64 dòng con lai nhằm đánh giá mức độ dị hợp tử hay ưu thế lai Khoảng 21.000 cá hương được

Trang 17

thấy sự phát triển và tỷ lệ sống thấp Sau đó người ta chọn ra 25 dòng tốt từ các dòng trên cho lai với nhau tạo nên dòng GIFT Dòng GIFT vẫn được tuyển chọn sau mỗi thế

hệ Kết quả của sự lựa chọn trên thì sau một thế hệ lựa chọn trong giống tổng hợp, cá được lựa chọn phát triển nhanh hơn 20% so với thế hệ trước và nhanh hơn 60% so với các dòng thương mại phổ biến (Eknath và ctv., 1993; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

Vào năm 1994, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản I (Bắc Ninh) thuộc Bộ Thủy Sản (cũ) được chuyển giao công nghệ chọn lọc và các gia đình của cá GIFT ở thế hệ thứ tư Sau đó, tại đây các nhà khoa học tiếp tục nhân giống dòng cá này và phân phối cho các tỉnh trong cả nước với mục đích là cải thiện chất lượng giống cá rô phi trên phạm vi toàn quốc Đây là dòng cá có sức tăng trưởng nhanh, sức kháng bệnh tốt nên hiện nay chúng được nuôi với qui mô lớn nhằm đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu

2.3 Đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn dòng GIFT và cá rô phi đỏ

2.3.1 Đặc điểm hình thái, sinh lý

2.3.1.1 Cá rô phi vằn dòng GIFT

Cá rô phi vằn toàn thân phủ vẩy, ở phần lưng có màu xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc xanh nhạt Trên thân có từ 7 – 9 vạch chạy từ phía lưng xuống bụng Vây đuôi có sọc màu đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân

bố khắp vây đuôi Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt Bảng 2.2 (trang 9) giúp chúng ta dễ dàng phân biệt cá rô phi đực và cái

2.3.1.2 Cá rô phi đỏ

Cá rô phi đỏ có vẩy trên thân có màu vàng đậm hoặc nhạt, hay màu đỏ hồng Cũng có thể gặp những cá thể có màu vàng, màu hồng xen lẫn những vẩy màu đen nhạt

Trang 18

Bảng 2.2: Phân biệt đực cái cá rô phi (Trần Văn Vỹ, 2002)

Ðặc điểm phân biệt Cá đực Cá cái Ðầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trễ do

ngậm trứng và con Màu sắc Vây lưng và vây đuôi

sặc sỡ có màu hồng hoặc hơi đỏ

Màu nhạt hơn

Lỗ niệu và lỗ sinh dục 2 lỗ: Lỗ niệu sinh dục

và lỗ hậu môn

3 lỗ: Lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ hậu môn

Hình dạng huyệt Ðầu thoát lỗ niệu sinh

dục dạng lồi, hình nón dài và nhọn

Dạng tròn, hơi lồi và không nhọn như ở cá đực

2.3.2 Một số yếu tố môi trường sống của cá rô phi vằn dòng GIFT và cá rô phi đỏ

Cá rô phi có khả năng chịu đựng tốt hơn so với các loài cá nước ngọt khác nuôi

phổ biến hiện nay về sự thay đổi độ mặn, nhiệt độ cao, hàm lượng oxy hòa tan thấp và

nồng độ NH3 cao nhưng chúng nhạy cảm với nhiệt độ nước thấp (Lim và Webster,

2006)

2.3.2.1 Nhiệt độ

Cá rô phi có khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ rất cao, từ 8 – 420C Cá

chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C (Long, 1964; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ

Hạnh, 2009)

Nhiệt độ cho sự tăng trưởng tối ưu của cá rô phi là từ 29 – 310C, cá tăng trưởng

không tốt khi nhiệt độ thấp hơn 160C (Sticknet, 1986a; trích bởi Lim và Webster,

2006) và chúng ngừng sinh sản khi nhiệt độ dưới 200C (Balarin và Haller, 1982)

Khi được cho ăn tối đa, sự tăng trưởng ở nhiệt độ tối ưu tốt hơn 3 lần so với ở

220C Sự tiêu thụ thức ăn tối đa ở nhiệt độ 220C chỉ bằng 50 – 60% khi ở nhiệt độ

260C Cá rô phi có thể chịu đựng nhiệt độ lên đến 400C nhưng khi nhiệt độ khoảng 37

Trang 19

– 380C sẽ gây bệnh và làm chết cá (Allanson va Noble, 1964; trích bởi Lim và Webster, 2006)

2.3.2.2 Oxy hòa tan (DO)

Cá rô phi dường như có khả năng lấy oxy hòa tan từ lớp nước được bão hòa ở tầng mặt Trong những thời điểm mà lớp nước sâu bị thiếu oxy, cá có thể nổi lên tầng mặt để lấy nước chứa hàm lượng oxy cao hơn qua mang (Nguyễn Văn Tư, 2000; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, chịu đựng sự thiếu oxy tốt Cá sinh trưởng tốt với hàm lượng oxy trong nước lớn hơn 2 mg/L (Nguyễn Phú hòa, 2000)

Cá có thể tồn tại được ở DO = 1 mg/L và ngưỡng oxy gây chết cá là 0,1 – 0,3 mg/L Tuy nhiên, nếu hàm lượng oxy hòa tan trong nước thấp kéo dài thì sẽ làm cá chậm lớn rõ rệt, giảm khả năng kháng bệnh (Trần Văn Vỹ, 2002)

Sự tăng trưởng của cá rô phi vằn tốt nhất ở độ mặn nhỏ hơn 15‰ (Popma và Masser, 1999; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008) Trong khi đó cá rô phi xanh phát triển tốt nhất trong môi trường nước lợ có độ mặn nhỏ hơn 20‰, cá rô phi đen thì phát triển tốt ở độ mặn gần hay bằng độ mặn nước biển

Độ mặn cao gây cản trở và làm giảm sự ăn mồi của cá Độ mặn thích hợp nhất cho sự phát triển nhanh và có thể sinh sản của cá rô phi vằn là 8,5 – 17‰ (Balarin và Haller, 1982; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

Trang 20

2.3.2.4 pH

Cá rô phi có thể chịu được một giới hạn rộng của pH, từ 4 – 11 Khi vượt quá giới hạn này cá sẽ chết trong vòng 2 – 6 giờ (Baralin và Halton, 1979; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009)

Tuy nhiên pH nhỏ hơn 5 thì ảnh hưởng xấu đến sự kết hợp của máu và oxy, cá bỏ

ăn, ảnh hưởng đến sự phát triển, pH thích hợp cho sự phát triển của cá rô phi từ 6,5 – 8,5 (Wangead và ctv., 1988; trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

2.3.2.5 Ammonia

Cá rô phi vằn có khả năng chịu đựng hàm lượng ammonia tối đa 2,4 mg/L (Trần Văn Vỹ, 2002)

2.3.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển

Cá rô phi có tốc độ tăng trưởng khá nhanh Tốc độ tăng trưởng thay đổi tùy theo điều kiện môi trường sống và thức ăn Với cùng một điều kiện nuôi cá đực thường lớn nhanh hơn cá cái Theo Popma và Masser (1999) thì trong điều kiện môi trường và thức ăn tốt, cá rô phi đực có thể đạt trọng lượng 20 – 40 gr trong 5 – 6 tuần đầu, 200 gr trong 3 – 4 tháng, 400 gr trong 5 – 6 tháng và đạt 700 gr trong 8 – 9 tháng

Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng của cá rô phi vằn trong điều kiện nuôi

Thời gian nuôi Trọng lượng trung bình

của cá (g/con) Ghi chú

Nguồn: Nguyễn Văn Tư, 2000 (Trích bởi Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

Trang 21

2.3.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Tất cả các loài cá rô phi đều có tính ăn tạp nghiêng về thực vật Giai đoạn đầu sau khi tiêu hết noãn hoàng cá ăn các thức ăn có kích thước nhỏ như phù du động, thực vật,… Sau một tháng cá có thể ăn được các loại thức ăn có kích thước lớn hơn, ăn được thức ăn chế biến, rau xanh bằm nhỏ, bèo tấm Cá trưởng thành ăn tạp, có thể ăn các loại thức ăn như rau, bèo, mùn bã hữu cơ, tảo lắng ở đáy ao, ấu trùng côn trùng, thức ăn nhân tạo, thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp

Cá rô phi có khả năng thích nghi cao đối với những loại thức ăn chế biến do con người làm ra Ngoài ra, chúng còn có khả năng sử dụng rất hiệu quả thức ăn tự nhiên trong môi trường ao nuôi Giá trị dinh dưỡng của thức ăn tự nhiên được cung cấp trong

ao là rất quan trọng, đặc biệt là trong môi trường không có sự thay nước Thức ăn tự nhiên có thể cung cấp 1/3 hay nhiều hơn tổng dinh dưỡng cho sự phát triển của cá (Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

2.3.5 Đặc điểm sinh sản

Trong điều kiện ao nuôi, cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng 3 – 4, đối với cá cái có trọng lượng thông thường 100 – 150 g/con Tuy nhiên, kích thước thành thục sinh dục của cá phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, điều kiện nhiệt độ và độ tuổi

Hầu hết các loài cá rô phi trong giống Oreochromis đều tham gia sinh sản nhiều

lần trong một năm Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy: trong buồng trứng lúc nào cũng có tất cả các lứa trứng, từ loại non nhất đến loại chín sẵn sàng rụng để đẻ Vì vậy trong tự nhiên, các ao nuôi cá rô phi chúng ta bắt gặp nhiều cá con ở các kích cỡ khác nhau Số lượng mỗi lần đẻ khoảng 2000 trứng, chu kỳ sinh sản của cá thường kéo dài 3 – 4 tuần

Đến thời kì thành thục, vào mùa sinh sản các đặc điểm sinh sản thứ cấp của cá xuất hiện rất rõ Cá đực có màu hồng hoặc hơi đỏ ở viền vây ngực, vây lưng và vây đuôi Trong khi đó, cá cái có màu hơi vàng, ngoài ra con cái còn có xoang miệng hơi trễ xuống

Trước khi đẻ, cá đực đào tổ xung quanh bờ ao, nơi có nền đáy cứng, độ sâu mực nước khoảng 50 – 60 cm Hố hình lòng chảo, đường kính tổ đẻ từ 30 – 40 cm, sâu từ

7 – 10 cm Cá cái đẻ trứng vào tổ, cá đực tiến hành thụ tinh, sau khi thụ tinh cá cái nhặt hết trứng vào miệng để ấp

Trang 22

Ở nhiệt độ 280C thời gian ấp trứng khoảng 4 ngày

Ở nhiệt độ 300C thời gian ấp trứng khoảng 2 – 3 ngày

Ở nhiệt độ 200C thời gian ấp trứng khoảng 6 ngày

Cá sau khi nở lượng noãn hoàng lớn, cá rất yếu, cá mẹ tiếp tục ấp trứng trong miệng từ 4 – 6 ngày, cá mẹ nhả cá con và tiếp tục bảo vệ trong 1 – 2 ngày đầu Cá bột khi con nhỏ thường bơi thành đàn xung quanh ao, có thể quan sát được vào sáng sớm (Ngô Thị Kim Phụng, 2008)

2.4 Tổng quan về dinh dưỡng trên cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ

Protein là thành phần dinh dưỡng quan trọng và đắt tiền trong thành phần thức ăn của cá (Li và ctv.,2000; trích bởi Nguyễn Thị Diệu Phương và Phạm Anh Tuấn, 2002) Nhu cầu protein của cá nhỏ cao hơn cá lớn Theo Siddiqui (1988; trích bởi Lim và

Webster, 2006), cá rô phi vằn Oreochromis niloticus có trọng lượng 0,8g thì nhu cầu

protein là 40% trong khi nhu cầu protein của cá có trọng lượng 40g là 30%

Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong thức ăn của cá rô phi, ngoài

ra có thể lựa chọn các loại khác như phụ phẩm thịt gia cầm, bột tôm, nhuyễn thể, Những protein thực vật được sử dụng nhiều nhất trong thức ăn cá rô phi là đậu nành, đậu phộng, hạt bông vải, hạt hướng dương, hạt cải dầu

Thí nghiệm thay thế bột cá trong thức ăn cá rô phi O niloticus bằng hỗn hợp đậu

nành và bột bắp đã cho kết quả về tốc độ tăng trưởng đặc biệt và hệ số chuyển đổi thức

ăn tốt hơn thức ăn có chứa bột cá (Borgeson và ctv., 2006; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009)

Nghiên cứu về khả năng thay thế đạm bột cá bằng đạm thực vật cho thấy rằng bánh dầu và bột đậu nành có thể thay thế hoàn toàn lượng bột cá được sử dụng trong

việc sản xuất thức ăn công nghiệp cho cá rô phi O niloticus và acid amin methionine

không bị thiếu hụt trong các khẩu phần thức ăn khi dùng bánh dầu hạt bông vải, bánh dầu đậu nành và bột xương thịt làm nguồn cung cấp protein cho thức ăn cá rô phi (Nguyễn Như Trí, 2007; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009)

Theo Trần Lê Cẩm Tú và ctv (2008; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009) thì việc sử dụng khoai ngọt với tỉ lệ 20% trong công thức thức ăn đảm bảo sự tăng trưởng

và hiệu quả sử dụng thức ăn cho cá rô phi O niloticus

Trang 23

Theo Nguyễn Thị Diệu Phương và Phạm Anh Tuấn (2002), khi tiến hành thí

nghiệm trên cá rô phi vằn O nilonicus thì hàm lượng protein trong thức ăn và số lần

cho ăn có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá nuôi trong bể xi măng và bể composite,

cụ thể như sau: cá có trọng lượng từ 2 – 30 g/con cho ăn 4 lần/ngày bằng thức ăn 35% hoặc 30% protein, cá từ 30 – 50 g/con cho ăn 3 lần/ngày thức ăn 35% protein hoặc 4 lần/ngày bằng thức ăn 30% protein, cá từ 50 – 100 g/con cho ăn 3 lần/ngày bằng thức

ăn 30% protein hoặc 2 lần/ngày bằng thức ăn 35% protein, cá từ 100 – 200 g/con cho

ăn 3 lần/ngày bằng thức ăn 30% protein hoặc 4 lần/ngày bằng thức ăn 25% protein, cá

từ 200 – 400 g/con cho ăn 2 lần/ngày bằng thức ăn 25% protein Chế độ ăn thay đổi theo trọng lượng cá như sau: cá 3 – 10 gam cho ăn lượng thức ăn 10% trọng lượng cơ thể/ngày, cá từ 10 – 30 gam cho ăn 7%, cá từ 30 – 120 gam cho ăn 5%, từ 120 – 250 gam cho ăn 3% trọng lượng cơ thể/ngày

Cá rô phi vằn (O.niloticus) có nhu cầu về acid béo không no Linoleic acid 18:2n6

là 1% Thí nghiệm trên cá rô phi cho thấy: khi thức ăn chỉ chứa oleic acid hay lauric acid (acid béo no), cá tăng trưởng thấp hơn đối chứng Cá này tăng trường tốt nhất khi

bổ sung 0,5 – 0,1% linoleic acid (Trích bởi Lê Thanh Hùng, 2008)

2.5 Chế độ ăn của cá rô phi

Số lần cho ăn khác nhau theo kích cỡ và giai đoạn sống của cá Cá từ 2 ngày tuổi đến 1g cho ăn 8 lần/ngày Cá càng lớn số lần cho ăn càng giảm, khi cá lớn 20 – 100g cho ăn 3 – 4 lần/ngày, 2 – 3 lần/ngày khi cá có trọng lượng hơn 100g và 1 – 2 lần/ngày đối với cá bố mẹ (Lim và Webster, 2006)

Cho cá rô phi ăn nhiều lần trong ngày thì tốt hơn do tập tính ăn liên tục và sức chứa của dạ dày nhỏ hơn so với cá nheo và cá hồi Tuy nhiên cho ăn quá nhiều lần trong ngày thì không có lợi và lãng phí Cá rô phi vằn bột tăng trưởng tốt hơn khi cho

ăn 4 lần/ngày hơn là cho ăn 8 lần/ngày (Kubaryk, 1980; trích bởi Lim và Webster, 2006)

Cho ăn nhiều lần trong ngày cũng làm giảm thời gian tiếp xúc của thức ăn trong nước do đó nó làm giảm sự phân rã thức ăn và tỷ lệ chất dinh dưỡng hòa tan trong nước Khi nhiệt độ nước thấp dưới mức tối ưu cho sự tăng trưởng của cá cũng như khi thời gian bệnh kéo dài hay nhiệt độ quá cao và điều kiện chất lượng nước không thuận

Trang 24

lợi thì đòi hỏi số lần cho ăn ít hơn Cá ăn mạnh lúc trời rạng đông và lúc chạng vạng (Lim và Webster, 2006)

Số liệu thu được từ những cuộc thí nghiệm về tần suất cho cá rô phi ăn vẫn còn ít Tung Shiau (1991; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009) chỉ ra rằng cho cá rô phi đỏ

ăn 6 lần/ngày thì trọng lượng của chúng tăng nhanh hơn so với cho ăn 2 lần/ngày Siraj

và ctv (1988; trích bởi Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, 2009) đạt được sự tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) tốt hơn khi cho cá rô phi đỏ ăn 2 – 3 lần /ngày

Vài cuộc thí nghiệm ở trung tâm nghiên cứu động vật dưới nước Charoen Pokphand (Thái Lan) đã được tiến hành để xác định loại thức ăn và tần suất cho ăn

thích hợp cho sự tăng trưởng của cá rô phi (O mossambicus x O hornorum) Thí

nghiệm 1 để so sánh hiệu suất hai loại thức ăn cho cá rô phi (loại 20 và loại 25% protein thô) Kết quả chỉ rằng không có sự khác nhau nhiều ở các nghiệm thức về trọng lượng trung bình và hệ số chuyển đổi thức ăn Chi phí cho các loại thức ăn chứa

20 và 25% protein tương ứng là 0,322 và 0,388 USD/kg (giá ở Thái Lan) Với cùng hệ

số chuyển đổi như nhau, cá ăn thức ăn 20% protein có chi phí sản xuất tương đối thấp Thí nghiệm 2 để xác định ảnh hưởng của tần suất cho ăn đến sự tăng trưởng của cá rô phi Cá được cho ăn hai, ba và bốn lần/ngày, sử dụng thức ăn chứa 25% protein trong

60 ngày thí nghiệm Kết quả có sự khác nhau đáng kể về trọng lượng trung bình, hệ số chuyển đổi thức ăn Cho ăn ba và bốn lần trong ngày thích hợp cho cá rô phi trong giai đoạn tăng trưởng, cho ăn hai lần/ngày dẫn đến hệ số chuyển đổi thức ăn lớn hơn

Theo Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2009), cho cá rô phi (O niloticus) ăn số lần khác

nhau trong ngày (với lượng ăn nhất định đã được tính theo phần trăm trọng lượng cơ thể) thì không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, trọng lượng trung bình và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá rô phi Khi cho cá ăn với tần số 2 lần/ngày, tỷ lệ cho ăn bằng 80%

so với lượng ăn tối đa thì không làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, trọng lượng trung bình

so với khi cho chúng ăn lượng ăn tối đa hoặc 90% lượng ăn đó nhưng chỉ tiêu FCR có giá trị thấp hơn nhiều so với nghiệm thức cho ăn tối đa

Trang 25

Chương 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài

- Thời gian: từ ngày 15/04/2010 – 08/07/2010

- Địa điểm: Ao C18, trại Thực Nghiệm Thủy Sản – khoa Thủy Sản trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh

3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Dụng cụ cần dùng trong quá trình thí nghiệm: Cân điện tử, giai lưới kích thước 1x1x1,3m, vợt, thước kẻ và giấy kẻ ô ly, cọc tre, lưới, dây kẽm lớn, thau và xô nhựa Máy đo pH, DO, nhiệt độ, máy quang phổ kế để phân tích hàm lượng ammonia tổng cộng

Trước khi bắt đầu thí nghiệm chúng tôi tiến hành tẩy dọn ao: kéo cá tạp, tháo nước, dọn cỏ quanh bờ ao, bón vôi, phơi ao 3 ngày, sau đó cắm cọc, cắm giai rồi cho nước vào Mực nước dao động từ 1,2 – 1,5 m

Thí nghiệm được thực hiện trên 2 loài cá: Cá rô phi vằn dòng GIFT

(Oreochromis niloticus) và cá rô phi đỏ (Oreochromis sp.) cùng cỡ 4 – 5 g/cá, không

dị tật dị hình, không có bệnh Cá sử dụng trong thí nghiệm được mua từ trại giống Phú Hữu, Quận 9, Thành Phố Hồ Chí Minh Trước khi bố trí thí nghiệm cá được giữ trong giai lớn để thích nghi với điều kiện môi trường ao nuôi trong vài ngày Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, các điều kiện khác được giữ đồng đều

Thí nghiệm gồm 6 nghiệm thức (mỗi loài 3 nghiệm thức), tương ứng với số lần cho ăn trong ngày là: 2 lần (7h và 16h), 3 lần (lúc 7h, 11h30 và 16h) và 4 lần (lúc 7h, 11h, 15h và 19h) Mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Mỗi giai thí nghiệm thả 40 con Trước khi thả cá vào giai thí nghiệm chúng tôi tiến hành đếm và cân tổng trọng lượng cá ở từng giai và đo chiều dài ban đầu 30 con ngẫu nhiên đại diện cho từng loài cá

Để tránh địch hại chúng tôi tiến hành che lưới trên các giai thí nghiệm

Trang 26

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Giai 1 2 3 4 5 6 7 8 9

NT G2.1 H1.1 G3.3 G2.3 H1.2 G1.1 G1.2 H3.2 G3.2 Giai 10 11 12 13 14 15 16 17 18

NT H1.3 H2.1 G2.2 G1.3 H3.1 H3.3 H2.2 G3.1 H2.3

Cá rô phi dòng GIFT được kí hiệu là G, cá rô phi đỏ được kí hiệu là H

Thức ăn sử dụng trong quá trình thí nghiệm: Thức ăn viên nổi của công ty President có thành phần dinh dưỡng: Độ ẩm tối đa: 11%, protein thô tối thiểu: 35%, béo thô tối thiểu: 6%, tro tối đa: 16%, xơ thô tối đa: 5%

Uni-Trong quá trình thí nghiệm chúng tôi tiến hành theo dõi chặt chẽ lượng ăn hàng ngày của cá, ghi chép lượng ăn hàng ngày của từng giai, quan sát vớt thức ăn thừa, cân trọng lượng (đếm số viên thức ăn rồi qui đổi ra trọng lượng tương ứng) Hàng ngày cho ăn đúng giờ, kiểm tra có cá chết thì vớt ra cân trọng lượng trước khi bỏ đi để giúp cho việc tính FCR của thí nghiệm được chính xác Ngoài ra, chúng tôi cũng kiểm tra

cá định kỳ 2 tuần/lần bằng cách cân tổng trọng lượng từng giai để theo dõi tỷ lệ sống

và tăng trọng của cá Bên cạnh đó, chúng tôi thường xuyên theo dõi các chỉ tiêu chất lượng nước như: hàm lượng oxy hòa tan (mg/L), pH, nhiệt độ nước (0C) (đo 2 lần/ngày: buổi sáng lúc 7h30, buổi chiều lúc 16h30), ammonia tổng số (mg/L): đo 2 lần/tuần (vào thứ 2 và thứ 5) Nếu có biến động xấu về DO, pH, mực nước thì phải xử

lý ngay bằng cách thay nước hoặc bơm thêm nước mới vào ao nuôi

Ngày cuối cùng của thí nghiệm tiến hành cân tổng trọng lượng của cá trong các giai, đo chiều dài ngẫu nhiên 30 con mỗi loại, đếm số cá còn lại trong mỗi giai để tính

tỷ lệ sống, FCR

3.3 Các chỉ cần tiêu cần theo dõi trong quá trình thí nghiệm

+ Tỷ lệ sống: Xác định tỷ lệ sống sau mỗi thí nghiệm

TLS = Số cá còn lại sau thí nghiệm * 100/Số cá ban đầu

+ Tăng trưởng chiều dài, trọng lượng:

Chiều dài: Đo chiều dài lúc bắt đầu và sau khi kết thúc thí nghiệm (đo ngẫu nhiên 30 con mỗi loại) Công thức tính:

Trang 27

Trọng lượng: Cân trọng lượng cá của từng giai sau mỗi 2 tuần thí nghiệm Công thức tính:

Trọng lượng trung bình (g/con) = Tổng trọng lượng cá/Tổng số cá đem cân + Hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR): Được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm FCR = Lượng thức ăn sử dụng/Tăng trọng cá cuối thí nghiệm

Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê sinh học MINITAB 15.0 để phân tích phương sai ANOVA và so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức Sử dụng phần mềm Excel để tính toán các giá trị trung bình, FCR của từng nghiệm thức

Hình 3.1: Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Hình 3.2: Cân sử dụng để kiểm tra trọng lượng cá sau mỗi 2 tuần thí nghiệm

và cân thức ăn mỗi ngày

Trang 28

Trong quá trình thí nghiệm, các yếu tố môi trường được theo dõi thường xuyên Nhiệt độ, pH, hàm lượng oxy hòa tan được đo 2 lần/ngày và nồng độ NH3 được đo 2 lần/tuần

4.1.1 Hàm lượng oxy hòa tan

Hàm lượng oxy hòa tan là do quá trình khuếch tán oxy trong không khí vào nước

và sự quang hợp của thủy sinh vật trong nước

Hàm lượng oxy hòa tan trong nước không những là điều kiện sống còn đối với sức khỏe động vật thủy sản mà cả đối với vi sinh vật, thực vật có trong ao nuôi Oxy hòa tan là yếu tố quan trọng cho việc duy trì sự sống của cá Nhu cầu oxy của các loài

cá khác nhau tùy thuộc vào giống loài, giai đoạn sống, hoạt động sống,… Ảnh hưởng của oxy hòa tan còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như nhiệt độ, sự thích ứng của

cá tôm (Nguyễn Phú Hòa, 2000)

Cá rô phi sinh trưởng tốt khi hàm lượng DO lớn hơn 2 mg/L (Huỳnh Phạm Việt Huy, 2006) Khi hàm lượng oxy giảm xuống quá mức 2 mg/L sẽ gây ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng, sinh sản của cá, cá dễ bị mầm bệnh tấn công Khi lượng oxy hòa tan vượt quá mức bão hòa sẽ hình thành các bọt khí trong máu, bọt khí xuất hiện trong cấu trúc mang và gây chết

Trang 29

Trong suốt quá trình thí nghiệm, DO trong ao tương đối ổn định, dao dộng DO vào buổi sáng từ 1,5 – 4,3 mg/L, buổi chiều từ 4,6 – 12,9 mg/L Khi DO xuống thấp chúng tôi mở hệ thống sục khí để đảm bảo duy trì hàm lượng DO trong giới hạn chịu đựng của cá

Đồ thị 4.1 dưới đây thể hiện sự biến động DO trong quá trình thí nghiệm

Đồ thị 4.1: Sự biến động của oxy hòa tan trong quá trình thí nghiệm

Qua đồ thị 4.1 cho thấy hàm lượng DO trong quá trình thí nghiệm đều nằm trong giới hạn chịu đựng của cá Như vậy hàm lượng oxy hòa tan trong ao duy trì ở mức thích hợp cho cá sinh trưởng và phát triển, không làm ảnh hưởng đến kết quả của thí

nghiệm

4.1.2 pH của nước

Độ pH của ao nuôi rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến động vật thủy sản và thủy sinh vật pH biểu thị cho môi trường nước tốt hay xấu Trong môi trường nước, yếu tố pH thường xuyên biến động theo ngày đêm, nguyên nhân là do sự

hô hấp và quang hợp của thủy sinh vật Mỗi đối tượng thủy sản thích nghi trong một khoảng pH nhất định Hầu hết các loài tôm cá tăng trưởng tốt ở pH từ 6 – 9 (Nguyễn Phú Hòa, 2000)

Ngoài ra, pH còn ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của cá, đặc biệt pH còn ảnh hưởng đến độc chất NH3, H2S Sự biến động pH quá lớn sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của động vật thủy sản Nếu pH quá cao hay quá thấp thì làm giảm quá trình tiết

Trang 30

chất nhầy, ngăn cản quá trình trao đổi khí giữa máu và nước Nếu pH quá thấp thì mang cá tổn thương và cá không còn khả năng hô hấp (Nguyễn Thị Thu Hương và Bùi Đức Tâm, 2008)

Độ pH của nước ao chịu sự ảnh hưởng của chất đất, sự phân hủy các hợp chất hữu cơ của vi khuẩn, quá trình hô hấp của cá tôm và các sinh vật khác, quá trình quang hợp của phiêu sinh thực vật

Sự biến động pH trong thời gian thí nghiệm được trình bày ở đồ thị 4.2

Đồ thị 4.2: Sự biến động pH trong quá trình thí nghiệm

Trong quá trình thí nghiệm, pH nước ao biến động trong khoảng 6,7 – 8,0 (vào buổi sáng) và 6,8 – 9,0 (vào buổi chiều) Như vậy giá trị pH trong quá trình thí nghiệm vẫn nằm trong giới hạn chịu đựng của cá Vì thế chúng tôi kết luận yếu tố pH không ảnh hưởng đến kết quả của thí nghiệm

Trang 31

tăng làm tăng lượng ăn của cá Khi nhiệt độ gia tăng thì cường độ tiêu hóa gia tăng nhưng khi vượt ngưỡng thích ứng (lớn hơn 300C) thì cường độ trao đổi chất giảm (Nguyễn Văn Tư, 2007) Theo Balarin và Haller (1982), phạm vi nhiệt độ thích hợp của cá rô phi là từ 28 – 350C

Kết quả theo dõi sự biến động của nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm như sau: nhiệt độ buổi sáng dao động từ 30,0 – 32,40C và buổi chiều từ 31,6 – 34,80C Nhìn đồ thị chúng ta thấy rõ biên độ dao động của nhiệt độ trong ngày Nhiệt độ tương đối ổn định trong suốt quá trình thí nghiệm Khoảng dao động này nằm trong khoảng giới hạn nhiệt độ chịu đựng của cá rô phi, vì vậy chúng tôi kết luận yếu tố nhiệt độ không làm ảnh hưởng đến kết quả của thí nghiệm

Đồ thị 4.3: Sự biến động nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 4.1.4 Ammonia

Ammonia trong ao là do sự biến dưỡng của các thủy sinh vật, đặc biệt là sự phân hủy của các hợp chất protein, các chất hữu cơ như phân bón hữu cơ, thức ăn thừa (Nguyễn Phú Hòa, 2000) Khi nồng độ ammonia trong ao tăng cao thì làm ngăn cản quá trình tiết ammonia từ cơ thể cá ra môi trường bên ngoài, làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu

Ngoài ra, yếu tố pH thay đổi cũng làm độc tính ammonia thay đổi theo pH tăng cao cũng làm tăng độc tính NH3

Trang 32

Hàm lượng NH3 gây chết cho cá phụ thuộc vào từng loài cá và điều kiện môi trường Đồng thời, hàm lượng NH3 cao hay thấp đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cá Theo Meade (1989; trích bởi Nguyễn Phú Hòa, 2000), nồng độ NH3

thích hợp trong môi trường nuôi cá nước ngọt là nhỏ hơn 0,1 mg/L

Hàm lượng ammonia trong thời gian thí nghiệm dao động từ 0,001 – 0,050 mg/L Khoảng dao động này nằm trong khoảng thích hợp cho cá phát triển Như vậy yếu tố

NH3 không làm ảnh hưởng đến kết quả của thí nghiệm

4.2 Kết quả thí nghiệm

4.2.1 Chỉ tiêu tỷ lệ sống

Tỷ lệ sống là số cá còn lại sau khi kết thúc thí nghiệm Để đánh giá ảnh hưởng của số lần cho ăn lên khả năng sống của cá thí nghiệm chúng tôi sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ sống

Sau khi bố trí thí nghiệm 3 ngày, nếu có cá chết ở các giai chúng tôi sẽ thay bằng

cá khác có trọng lượng tương đương, vì cá chết trong khoảng thời gian này chủ yếu là

do xây xát lúc bố trí chứ không phải do các yếu tố thí nghiệm gây ra Điều này sẽ làm giảm sai sót trong việc tính tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức

Trong quá trình thí nghiệm có xuất hiện các động vật ăn cá như cò, rắn, chúng tôi

đã làm lưới che phủ lên trên các giai để tránh thất thoát cá

Hình 4.1: Giai bố trí thí nghiệm có che lưới

Trang 33

Kết quả về tỷ lệ sống của 2 loài cá ở các nghiệm thức sau khi kết thúc thí nghiệm được trình bày ở bảng 4.1, 4.2 và 4.3 dưới đây:

Bảng 4.1: Tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT ở các nghiệm thức qua các lần

kiểm tra (%)

Nghiệm thức (NT) Thời gian

Trang 34

Qua bảng 4.1 ta nhận thấy tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT tương đối cao, của

cá rô phi đỏ thì thấp hơn do 2 tuần đầu sau khi bố trí thí nghiệm lượng cá rô phi đỏ hao hụt nhiều hơn cá rô phi dòng GIFT Cá rô phi đỏ không được kiểm soát tốt về lai lịch

bố mẹ và không được chọn lọc tốt nên có thể dẫn đến sức khỏe không tốt, hơn nữa cá

rô phi đỏ có màu sắc nổi bật nên dễ bị địch hại (cò, vạc,…) tấn công do đó cá bị chết nhiều trong 2 tuần đầu của thí nghiệm Trong quá trình thí nghiệm số lượng cá chết được phát hiện không trùng khớp với số lượng cá chết tương ứng ở các giai Điều này chứng tỏ cá chết là do địch hại gây ra chứ không phải do yếu tố thí nghiệm Sau khi tiến hành thí nghiệm được 2 tuần, chúng tôi tiến hành kiểm tra định kỳ thì phát hiện cá

rô phi đỏ có sự hao hụt nhiều nên chúng tôi đã làm lưới che phủ lên trên các giai để tránh thất thoát cá

Đồ thị 4.4 dưới đây cho chúng ta thấy tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT ở nghiệm thức 3 là cao nhất (92,5%) kế đến là nghiệm thức 2 (83,3%) và thấp nhất là nghiệm thức 1 (80,8%) Đối với cá rô phi đỏ thì tỷ lệ sống ở nghiệm thức 2 là cao nhất (74,2%), kế đến là nghiệm thức 3 (72,5%) và thấp nhất là nghiệm thức 1 (65,8%)

Đồ thị 4.4: Tỷ lệ sống của cá rô phi ở các nghiệm thức trong thí nghiệm

Tuy nhiên khi chúng tôi tiến hành phân tích thống kê (phụ lục 13) thì tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức trong cùng loài không có

sự khác biệt về mặt thống kê (P = 0,45 > 0,05) Tỷ lệ sống giữa 2 loài cá rô phi dòng

Trang 35

vậy số lần cho ăn khác nhau trong ngày với lượng cho ăn tối đa không ảnh hưởng đến

tỷ lệ sống của cá rô phi dòng GIFT và cá rô phi đỏ

4.2.2 Chỉ tiêu trọng lượng trung bình

Chỉ tiêu trọng lượng trung bình của cá được chúng tôi theo dõi sau mỗi 2 tuần Chúng tôi tiến hành cân trọng lượng cá ở từng giai, đếm số lượng cá còn lại, sau đó tính trọng lượng trung bình cho từng giai cũng như cho từng nghiệm thức

Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm có hàm lượng protein tối thiểu là 35% Theo Nguyễn Thị Diệu Phương và Phạm Anh Tuấn (2002), cho cá ăn thức ăn có hàm lượng protein 35% với tần suất cho ăn như sau: cá có trọng lượng 2 – 30 gam cho ăn 4 lần/ngày, trọng lượng 30 – 50 gam cho ăn 3 lần/ngày, trọng lượng 50 – 100 gam cho

ăn 2 lần/ngày Trong thí nghiệm, chúng tôi cho cá ăn 2, 3 và 4 lần/ngày ở các nghiệm thức của thí nghiệm, sau 12 tuần chúng tôi thu được kết quả được trình bày ở bảng 4.4

và 4.5 (trang 27) dưới đây

Bảng 4.4: Trọng lượng trung bình của cá rô phi dòng GIFT ở các nghiệm thức qua các

lần kiểm tra

Nghiệm thức (NT) Thời gian

Trang 36

Qua bảng 4.4 và 4.5 chúng ta thấy được sau 12 tuần nuôi trọng lượng của cá rô phi dòng GIFT ở nghiệm thức 1 là cao nhất (149,6g) sau đó đến nghiệm thức 3 (147,6g) và thấp nhất là ở nghiệm thức 2 (147,1g) Đối với cá rô phi đỏ thì trọng lượng trung bình của cá ở nghiệm thức 2 là cao nhất (96,2g) giảm dần đến nghiệm thức 3 (95,3g) và thấp nhất ở nghiệm thức 1 (91,8g)

Bảng 4.5: Trọng lượng trung bình của cá rô phi đỏ ở các nghiệm thức qua các lần

kiểm tra

Nghiệm thức (NT) Thời gian

Ngày đăng: 31/03/2019, 15:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm