CHƯƠNG I: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG THEO IAS/IFRS 1.1 Khái quát về dự phòng rủi ro tín dụng và kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS 1.1.1 Rủi ro tín dụng và dự phòng rủ
Trang 1HỌC VIỆN NGÂN HÀNG KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Thanh Hương
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Thu Hà
Hà Nội, năm 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận này là của riêng em, không sao chép của bất kỳ ai
Số liệu và nội dung trong khóa luận là trung thực, được sử dụng từ những nguồn rõ ràng và đáng tin cậy
Hà Nội, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Hoàng Thị Thu Hà
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG THEO IAS/IFRS 4
1.1 Khái quát về dự phòng rủi ro tín dụng và kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS 4
1.1.1 Rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong các NHTM 4
1.1.2 Khái quát về kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS 11
1.2 Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS 39 15
1.2.1 Một số quy định chung 15
1.2.2 Về xác định khoản vay bị giảm giá trị 17
1.2.3 Về đo lường giá trị lỗ suy giảm 19
1.2.4 Những chỉ trích đối với mô hình lỗ phát sinh của IAS 39 25
1.3 Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IFRS 9 26
1.3.1 Về xác định khoản vay bị suy giảm 26
1.3.2 Về đo lường giá trị lỗ suy giảm 28
CHƯƠNG 2: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT VỚI IAS/IFRS 32
2.1 Chế độ kế toán hiện hành về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng áp dụng cho các NHTM Việt Nam 32
2.1.1 Khái quát về khung pháp lý 32
2.1.2 Một số quy định chung 34
2.1.3 Về xác định khoản vay cần trích lập dự phòng 38
2.1.4 Về mức dự phòng cần trích lập 43
2.2 Chế độ hiện hành về kế toán dự phòng rủi ro tín dụng - Khác biệt cơ bản với chuẩn mực kế toán quốc tế và tác động 48
Trang 42.2.1 Các khác biệt cơ bản giữa chế độ kế toán hiện hành ở Việt Nam về dự
phòng rủi ro tín dụng và IAS/IFRS 48
2.2.2 Tác động của sự khác biệt giữa chế độ kế toán Việt Nam và IAS/IFRS đến BCTC của các NHTM Việt Nam 52
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VỀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG IAS/IFRS VÀO KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 57
3.1 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 57
3.1.1 Nhân tố Văn hóa 57
3.1.2 Nhân tố Chính trị - Pháp lý 57
3.1.3 Nhân tố kinh tế 58
3.1.4 Nhân tố Công nghệ - Nhân lực 61
3.2 Khảo sát về khả năng áp dụng IAS/IFRS vào kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 62
3.2.1 Xây dựng bảng hỏi 62
3.2.2 Mẫu khảo sát 64
3.2.3 Kết quả khảo sát 65
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ VỀ MẶT CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 71 4.1 Định hướng hoàn thiện kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 71
4.2 Giải pháp thúc đẩy quá trình áp dụng IAS/IFRS vào kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 72
4.2.1 Xây dựng khuôn khổ kế toán cho kế toán dự phòng RRTD tại các NHTM Việt Nam theo CMKT quốc tế 73
4.2.2 Củng cố và hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 75
Trang 54.2.3 Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 77
4.3 Một số kiến nghị để hoàn thiện kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 79
4.3.1 Về phía Chính phủ và Bộ tài chính 79
4.3.2 Về phía Ngân hàng nhà nước 80
4.3.3 Về phía các NHTM 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC: PHIẾU PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA 86
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ HÌNH
Hình 1.1 Quy trình ước tính suy giảm giá trị khoản vay 20
BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tóm tắt kết quả phân loại nợ theo phương pháp định lượng 41Bảng 2.2 Tỷ lệ khấu trừ tối đa với tài sản bảo đảm 47Bảng 2.3 So sánh dự phòng RRTD theo IAS và VAS tại ngân hàng TMCP BIDV (2010 - 2011) 54Bảng 2.4 So sánh dự phòng RRTD theo IAS và VAS tại ngân hàng TMCP Techcombank (2009 - 2013) 55Bảng 4.1 Lộ trình xây dựng chuẩn mực kiến nghị 80
BIỂU
Biểu 2.1 Dự phòng RRTD theo IAS và VAS tại NH TMCP Techcombank
(2009 - 2013) 55
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CMKT Chuẩn mực kế toán
CBTD Cán bộ tín dụng
IAS International Accounting Standards
(Chuẩn mực kế toán quốc tế) IFRS International Financial Reporting Standards
(Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế) NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
RRTD Rủi ro tín dụng
TCTD Tổ chức tín dụng
VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã siết chặt giám sát để đảm bảo rằng các ngân hàng đưa ra mức dự phòng rủi ro tín dụng tương xứng với mức độ rủi ro trong danh mục cho vay một cách kịp thời Rất nhiều thay đổi được thực hiện trong nỗ lực giải quyết yêu cầu ghi nhận hợp lý các RRTD trong NHTM đã thúc đẩy quá trình hội tụ với các chuẩn mực kế toán quốc tế được công nhận cũng như cải tiến phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng theo thông lệ quốc tế
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng trong phương pháp phân loại nợ và đo lường RRTD áp dụng cho các NHTM Việt Nam Vào cuối năm
2011, Ngân hàng Nhà nước ước tính nợ xấu có thể lên tới 5% trong trường hợp xấu nhất Con số chính thức này khác xa so với số liệu công bố của các NHTM và của Fitch Ratings - một trong ba tổ chức đánh giá tín nhiệm uy tín nhất trên thế giới Theo một phân tích gần đây của Trung tâm quốc gia Việt Nam về thông tin xã hội
và dự báo, Fitch Ratings ước tính rằng tỉ lệ nợ xấu của Việt Nam có thể lên tới 13% Dựa trên sự khác biệt này, rất nhiều chuyên gia ngân hàng và các phóng viên tài chính nhận định rằng tỉ lệ nợ xấu và mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng trong ngành ngân hàng Việt Nam đang bị đánh giá thấp hơn thực tế Sự khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) được cho là nguyên nhân chủ yếu của việc ghi nhận thiếu dự phòng RRTD
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang gia nhập với nền kinh tế thế giới đầy sôi động, có thể nói các NHTM Việt Nam đang đứng trước những vận hội to lớn cho sự phát triển Song những yếu kém trong quản trị RRTD có thể làm cho hệ thống ngân hàng Việt Nam phải chịu phần thua thiệt nhiều hơn phần lợi được hưởng từ quá trình hội nhập quốc tế và có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với thế giới Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu của các NHTM Việt Nam là hoàn thiện công tác phân loại
nợ và trích lập dự phòng RRTD cho các khoản vay phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm đánh giá về chất lượng khoản vay và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trước tình hình cấp thiết đó, cùng với những kiến thức có được trong quá trình
học tập tại Trường Học viện Ngân hàng, em quyết định chọn đề tài “Kế toán dự
Trang 9phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS và khả năng áp dụng cho các NHTM Việt Nam” để từ đó có nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc phân loại nợ và
trích lập dự phòng RRTD nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại các NHTM Việt Nam, tiến gần tới các chuẩn mực quốc tế
1 Mục tiêu nghiên cứu:
Một là, tìm hiểu phương pháp xác định và đo lường RRTD theo chuẩn mực kế toán quốc tế, xu hướng đổi mới phương pháp ước tính trong thời gian tới
Hai là, tìm hiểu chế độ kế toán áp dụng cho các NHTM Việt Nam của NHNN
ban hành, so sánh với những chuẩn mực kế toán quốc tế để thấy được sự khác biệt
và những tồn tại yếu kém trong quy định của Việt Nam
Ba là, nhận dạng các điều kiện hiện tại của Việt Nam nhằm đánh giá khả năng
áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế cho các NHTM Việt Nam
Bốn là, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác phân loại nợ
và trích lập dự phòng theo kịp những yêu cầu của quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Các chuẩn mực kế toán quốc tế về dự phòng RRTD,
cụ thể là IAS 39 “Các công cụ tài chính: Ghi nhận và đo lường” và IFRS 9 “Các
công cụ tài chính”; các chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam hiện hành liên quan đến nội dung này, chủ yếu là Thông tư 02/2013/TT-NHNN
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu về quy định phân loại nợ và
trích lập dự phòng RRTD đối với các khoản cấp tín dụng và khả năng áp dụng cho các NHTM Việt Nam
3 Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận sử dụng một số phương pháp sau đây trong việc nghiên cứu đề tài:
- Phương pháp thu thập số liệu từ báo cáo hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra lấy ý kiến của các chuyên gia
Trang 104 Bố cục đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận được chia thành 4 chương
như sau:
Chương 1: Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS
Chương 2: Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam và những khác biệt với IAS/IFRS
Chương 3: Đánh giá khả năng áp dụng quy định của IAS/IFRS trong kế toán
dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam
Chương 4: Một số giải pháp và kiến nghị
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hương cùng các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, các cán bộ nhân viên một số đơn vị đã tham gia trả lời phỏng vấn, tạo điều kiện cho em hoàn thành khoá luận
Dù cố gắng nhưng do hiểu biết còn hạn chế, khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo
và các bạn để khoá luận của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 11CHƯƠNG I: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG THEO IAS/IFRS
1.1 Khái quát về dự phòng rủi ro tín dụng và kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS
1.1.1 Rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong các NHTM
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng được
hiểu như sau: “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền và hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) với bên đi vay (cá nhân, tổ chức), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoạn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đế hạn thanh toán.”
Trong nền kinh tế thị trường, cấp tín dụng đã trở thành một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng Đối với hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam thì hoạt động tín dụng chiếm hơn 1/2 tổng tài sản có, và thu nhập từ tín dụng chiếm hơn 1/2 đến 2/3 tổng thu nhập của ngân hàng Đi kèm với đó thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng lại chủ yếu bắt nguồn từ danh mục tín dụng
Rủi ro tín dụng hiểu một cách chung nhất là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện khách hàng không trả dược nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng Nói một cách khách là người đi vay đã không thực hiện đúng cam kết vay vốn theo hợp đồng tín dụng, không tuân thủ theo đúng nguyên tắc hoàn trả khi đáo hạn Do đó, rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn
Tuy nhiên cần hiểu rủi ro tín dụng theo nghĩa xác suất, tức là khả năng có thể xảy ra hay không xảy ra tổn thất Điều này được hiểu là một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất Đó là lí do mà khi tiến hành soát xét hoạt động tín dụng của một ngân hàng, luôn cần kiểm tra toàn bộ danh mục tín dụng và hồ sơ đảm bảo tín dụng đối với các khoản tín dụng lớn, chọn mẫu kiểm tra ngẫu nhiên đối với các khoản cho vay vừa và nhỏ nhằm đánh giá mức độ rủi ro của chính sách tín dụng và đảm bảo tín lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng Nhận thức được vấn đề này giúp cho các ngân hàng chủ động trong phòng ngừa, hạn chế và có biện pháp đảm bảo bù đắp tổn thất khi rủi ro tín dụng thực sự xảy ra
Trang 12Về mặt định lượng: rủi ro tín dụng được phản ánh bởi chính số tiền nợ quá hạn, nợ tồn đọng của mỗi ngân hàng
Về mặt định tính: rủi ro tín dụng có quan hệ ngược chiều với chất lượng tín dụng Nếu chất lượng tín dụng được đánh giá càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp
và ngược lại
Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể phân chia thành 2 loại sau căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro:
- Rủi ro giao dịch: là rủi ro có nguyên nhân là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch được phân chia thành 3 loại chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ
Cụ thể:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng để lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả cho việc ra quyết định tài trợ của ngân hàng
+ Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức bảo đảm và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và kỹ thuật xử lí các khoản vay có vấn đề
- Rủi ro danh mục: Là hình thức rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong quản
lý danh mục cho vay của ngân hàng, được cấu thành từ 2 bộ phận: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính đặc thù bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành nghề, lĩnh vực kinh tế Nó phát sinh từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng
+ Rủi ro tập trung: là rủi ro tiềm ẩn trong trường hợp ngân hàng tập trung quá nhiều vốn vay cho một đối tượng khách hàng (một số khách hàng lớn/ các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trog cùng một vùng địa lí nhất định,…) hoặc cho cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Trang 13 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt
động tín dụng Chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng
Vì thế, các ngân hàng cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi
ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận được Ngân hàng sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lí, có thể kiểm soát được và nằm trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng
Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Rủi ro tín dụng xảy ra sau khi ngân hàng
giải ngân vốn vay và trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng Tình trạng thông tin bất cân xứng thông thường sẽ đặt ngân hàng vào thế bị động Việc bên cho vay nhận được thông tin không kịp thời hoặc không chính xác về tình hình khó khăn của bên đi vay dẫn đến những ứng phó đưa ra là chậm trễ
Rủi ro tín dụng rất đa dạng, phức tạp: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng,
phức tạp của nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng như diễn biến sự việc, hậu quả khi rủi ro xảy ra
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Nhận diện được những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng giúp ngân hàng chủ động hơn trong công tác phòng ngừa rủi ro:
Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân bất khả kháng:
Hoạt động kinh doanh đôi khi gặp phải những tai họa hay rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh,… không thể tránh khỏi có thể tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả các nghĩa vụ đối với ngân hàng
Bên cạnh đó, quá trình tự do hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến những rủi ro tất yếu Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt khiến nhiều khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bản thân sự cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lí yếu kém gặp phải nguy cơ nợ xấu
Trang 14tăng cao bởi hầu hết khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút
- Chính sách vĩ mô của Nhà nước:
Một mặt, quy định của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến các ngân hàng Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh đặc biệt có ảnh hưởng sâu rộng đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Do đó, hoạt động ngân hàng cũng chịu sự điều tiết chặt chẽ về mặt pháp lí của Nhà nước mà hoạt động tín dụng là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp Chính sách còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ khiến cho các ngân hàng lúng túng trong áp dụng hoặc lợi dụng kẽ hở để làm đẹp tình hình tài chính của mình dẫn đến không nhận biết kịp thời những rủi ro tiềm ẩn trong danh mục tín dụng để có biện pháp xử lí
Mặt khác, chính sách điều hành vĩ mô của Nhà nước cũng tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp Kế hoạch thúc đẩy hay hạn chế tăng trưởng các ngành/ vùng kinh tế khác nhau sẽ dẫn đến sự gia tăng hay sụt giảm vốn đầu tư vào khu vực đó gây ra khủng hoảng cho doanh nghiệp Sức mạnh tài chính của người đi vay suy giảm gián tiếp gây ra thiệt hại đối với người cho vay
- Thông tin bất đối xứng:
Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính dẫn đến lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đặt các ngân hàng trước nguy cơ rủi ro cao
Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân từ phía khách hàng:
Nguyên nhân từ phía người đi vay là một trong những nguyên nhân chính gây
ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng Thông thường loại rủi ro này bao gồm:
+ Rủi ro trong kinh doanh của khách hàng: Loại rủi ro này thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh Rủi ro trong kinh doanh sẽ xảy ra nếu việc xậy dựng và triển khai ác phương án, dự án đầu tư, sản xuất kinh doanh không khoa học, vệc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù hợp,…
Trang 15+ Rủi ro tài chính: rủi ro tài chính thể hiện ở việc doanh nghiệp không sử dụng hợp lí nguồn vốn vay, cơ cấu vốn không hợp lí dẫn đến mất cân đối tài chính, mất khả năng chi trả
Tuy nguyên nhân xuất phát bên ngoài ngân hàng nhưng rủi ro từ phía khách hàng có thể xác định cũng như hạn chế được thông qua tìm hiểu, theo dõi tình hình tài chính khách hàng cả trước, trong và sau khi cho vay cũng như giám sát mục đích
sử dụng vốn và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
- Nguyên nhân từ phía ngân hàng:
+ Do sự yếu kém trong công tác quản lý, xây dựng chính sách tín dụng:
Công tác điều hành quản trị không hiệu quả có thể xuất phát từ mô hình quản
lí lạc hậu kiểu quyền lực và trách nhiệm tập trung vào giám đốc còn trách nhiệm của các cá nhân bên dưới không rõ ràng, dẫn đến thiếu tinh thần trách nhiệm; hoặc ngược lại tất cả trách nhiệm quy trực tiếp cho mỗi cán bộ tín dụng phụ trách khoản vay dẫn đến ban lãnh đạo không theo dõi sát sao, thậm chí lạm quyền để yêu cầu cấp dưới cấp các khoản vay dưới tiêu chuẩn, gây ra hậu quả nghiêm trọng
Bên cạnh đó, nhiều nhà quản trị chưa đủ điều kiện về chuyên môn nghiệp vụ cũng như năng lực quản lí để điều hành ngân hàng, không nhanh nhẹn nắm bắt kịp thời những thông tin thay đổi để đưa ra chính sách tín dụng linh hoạt, hiểu quả, ảnh hưởng xấu tới hoạt động của cả bộ máy
+ Nguyên nhân từ đội ngũ cán bộ tín dụng:
Quy trình cho vay ở hầu hết các ngân hàng thương mại hiện nay tương đối đầy
đủ và phù hợp với cơ chế thị trường cũng như quy định phá luật nhằm đảm bảo an toàn vốn vay của chính tổ chức tín dụng đó
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cho vay, vì nhiều lí do khách nhau mà CBTD đã bỏ qua một số quy trình; năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lí khoản vay có vấn đề còn yếu kém, đặc biệt là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao; việc kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ ngân hàng còn bộc lộ nhiều hạn chế trong việc thẩm định cho vay
Trang 16Một số trường hợp cán bộ tín dụng hoặc lãnh đạo, do tự lợi đã cấu kết với khách hàng để giải ngân các khoản vay dưới tiêu chuẩn thì nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng đối với món vay đó là rất cao
+ Công tác giám sát, quản lí sau cho vay lỏng lẻo:
Về yêu cầu đối với thẩm định cho vay, các ngân hàng thương mại hiện nay thường tập trung thẩm định trước cho vay mà hoạt động kiểm tra kiểm soát đồng vốn sau giải ngân chưa được đảm bảo Khoảng cách giữa các lần đánh giá mục đích
và hiệu quả sử dụng vốn sau cho vay quá xa (thường là một năm một lần) dẫn đến ngân hàng không thể kịp thời phát hiện các dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ của khách hàng Mặt khác, thông tin do khách hàng cung cấp để đánh giá chất lượng tín dụng cũng không đầy đủ, đa phần vẫn dựa trên quan sát thực tế của cán bộ tín dụng, không thể cho kết quả chính xác cho công tác quản lí
Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong các khoản cho vay có vấn đề, được biểu hiện bằng nhiều dấu hiệu, có dấu hiểu thì biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng Ngân hàng cần có biện pháp để nhận ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và kịp thời xử lí chúng Nhưng cần chú ý rằng, các dấu hiệu này thông thường chỉ được nhận ra trong một quá trình theo dõi chứ không phải tại một thời điểm Do vậy, cán bộ tín dụng cần phải nhận biết chúng một cách hệ thống
Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có thể chia thành các nhóm sau:
Nhóm 1: Các dấu hiệu liên quan đến tình hình tài chính của khách hàng
Một số biểu hiện cụ thể:
- Doanh nghiệp có dấu hiệu suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh, thể hiện
ở sự giảm đồng loạt hoặc trọng yếu của các chỉ tiêu về vòng quay hàng tồn kho, vòng quay vốn lưu động, vòng quay các khoản phải thu
- Dòng tiền thu từ hoạt động kinh doanh trong năm/kỳ đánh giá giảm trọng yếu so với kỳ trước
Trang 17- Khả năng thanh khoản của doanh nghiệp có dấu hiệu suy giảm, thể hiện ở các chỉ tiêu thanh toán hiện hành và thanh toán nhanh tại cuối năm/kỳ đánh giá giảm trọng yếu so với kỳ trước
- Doanh thu (hoặc lợi nhuận) trong năm/kỳ đánh giá giảm trọng yếu so với kỳ trước…
Nhóm 2: Các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lí của khách hàng
Có thể nhận biết các dấu hiệu này thông qua việc thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị và ban điều hành; công tác quản trị phân tán, được hoạch định bởi ban giám đốc ít kinh nghiệm,…
Ngoài ra, CBTD cũng cần chú ý một số thay đổi theo chiều hướng tiêu cực về cấu trúc bộ máy, ban lãnh đạo, chủ sở hữu như: chủ sở hữu của doanh nghiệp bị ốm nặng, bị tàn phế, bị phá sản hoặc mất tư cách pháp nhân; các thành viên chủ chốt trong ban điều hành rời bỏ vị trí, mất đi các nhà đầu tư chiến lược…
Nhóm 3: Các dấu hiệu liên quan đến môi trường kinh doanh của khách hàng
Đó là các khó khăn xuất phát từ ngành nghề kinh doanh của khách hàng, chẳng hạn: thị trường nguyên liệu đầu vào bị thiếu, giá tăng cao; thị trường đầu ra bị suy giảm; nguồn nhân lực bị cắt giảm về số lượng, suy giảm về chất lượng; xuất hiện thêm đối thủ cạnh tranh…
Những dấu hiệu tiêu cực còn bắt nguồn từ các yếu tố thuộc về môi trường hoạt động:
- Yếu tố chính trị như xung đột, bất ổn chính trị…
- Yếu tố xã hội: các trào lưu mới xuất hiện làm thay đổi thói quen, sở thích của người tiêu dùng…
- Yếu tố kinh tế như thay đổi chiến lược phát triển kinh tế của các vùng, địa phương, giảm các chính sách hỗ trợ, tăng thuế suất…
- Yếu tố công nghệ như sự ra đời của các công nghệ mới và các sản phẩm thay thế…
- Yếu tố pháp luật như ban hành các qui định hạn chế/ cấm sản xuất, cung cấp một số hàng hóa nhất định (thuốc lá, rượu bia…)
- Yếu tố tự nhiên như thiên tai, dịch bệnh…
Trang 18Nhóm 4: Các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ của khách hàng với đối tác
Đối với khách hàng: CBTD cần đánh giá xem trong thời gian vừa qua uy tín
và thương hiệu của khách hàng có bị giảm sút không qua biểu hiện cụ thể như: Có phản hồi tiêu cực về chất lượng sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng;
bị mất đi một số lượng lớn khách hàng/ mất một số khách hàng chiến lược; bị khiếu nại, kiện tụng; bị khởi tố, truy tố của các cơ quan chức năng do vi phạm các quy
định pháp luật…
Đối với ngân hàng: Các biểu hiện cho thấy thông tin của doanh nghiệp không
minh bạch, chẳng hạn: ý kiến kiểm toán trên báo cáo kiểm toán năm trước không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần; khách hàng gây khó khăn cho CBTD trong quá trình giám sát khoản vay hoặc không cung cấp thông tin hoặc cung cấp không đầy
đủ hoặc không chính xác theo yêu cầu của CBTD một cách cố ý…
Đối với các đối tượng khác: Việc tìm hiểu tình hình thực hiện nghĩa vụ thanh
toán của khách hàng với các đối tượng khác cũng giúp CBTD nhận biết các rủi ro
có thể phát sinh Một số biểu hiện xấu như khách hàng chậm trả gốc, lãi hoặc xin gia hạn, cơ cấu lại nợ tại các TCTD khác; chậm thanh toán đối với các nhà cung cấp; chậm thanh toán lương thưởng và các lợi ích khác cho nhân viên…
Có thể nói, chính tác động to lớn của RRTD đến tình hình hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng đã tạo ra một mối quan tâm đặc biệt đối với hầu hết các nước trên thế giới về việc phân loại nợ và phòng ngừa rủi ro cũng như công khai, minh bạch về chất lượng của hoạt động tín dụng trong mỗi ngân hàng Kế toán ngân hàng cũng vì thế mà được yêu cầu phải có các phương pháp đánh giá và ước tính RRTD phù hợp để đáp ứng yêu cầu thông tin ngày càng cao của người sử dụng, bao gồm cả các nhà đầu tư và các cơ quan quản lý
1.1.2 Khái quát về kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS/IFRS
Chuẩn mực kế toán quốc tế là hệ thống các nguyên tắc hạch toán kế toán, trình bày báo cáo tài chính, các quy định về kế toán được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới do Hội đồng Chuẩn mực kế toán Quốc tế (IASB) ban hành và thường xuyên nghiên cứu cập nhật sửa đổi, bổ sung IASB (International Accounting Standards Board) là một tổ chức độc lập thuộc khu vực tư nhân, có trụ sở chính ở thành phố
Trang 19London, Vương quốc Anh, chuyên thực hiện việc phát triển và chấp nhận việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các chuẩn mực kế toán quốc tế
IASB hoạt động dưới sự giám sát của Ủy ban sáng lập chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee Foundation) IASB được thành lập từ năm 2001 để thay thế Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) do Ngân hàng thế giới hỗ trợ thành lập và phát triển từ năm 1973 đến năm 2000
Mục tiêu hoạt động chính của IASB là phát triển các chuẩn mực kế toán có chất lượng cao, thống nhất, dễ hiểu và có tính chất khả thi cao cho toàn thế giới trên quan điểm phục vụ lợi ích của công chúng; tăng cường tính minh bạch, có thể so sánh được của thông tin trong báo cáo tài chính và các báo cáo liên quan đến tài chính, kế toán khác; giúp cho những thành viên tham gia thị trường vốn thế giới và những người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra các quyết định kinh tế; xúc tiến việc
sử dụng và ứng dụng nghiệm ngặt các chuẩn mực kế toán quốc tế; đem đến những giải pháp có chất lượng cao cho sự hòa hợp giữa hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia và chuẩn mực kế toán quốc tế
Chuẩn mực kế toán quốc tế gồm 3 nhóm chính là IASs (International Accounting Standards) – nhóm chuẩn mực kế tóa do IASC ban hành; IFRSs (International Financial Reporting Standards) – chuẩn mực báo cáo tài chính quốc
tế do IASB ban hành; và các hướng dẫn thực hiện chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế do Ủy ban hướng dẫn IFRS (International Financial Reporting Interpretations Committee) ban hành
Một nguyên tắc kế toán cơ bản trong chuẩn mực kế toán quốc tế là nguyên tắc thận trọng, theo đó, giá trị ghi sổ của tài sản không được lớn hơn giá trị thực tế có thể thu hồi của tài sản đó Một thực thể kinh doanh phải ghi giảm giá trị ghi sổ của tài sản về giá trị có thu hồi nếu giá trị ghi sổ đó không thể được thu hồi một cách đầy đủ Điều này đặt ra yêu cầu phải có phương pháp cụ thể để đánh giá suy giảm
và các xử lý, thuyết minh kế toán có liên quan
Trang 20Theo IAS 36, “giảm giá trị 1” được hiểu là một sự sụt giảm giá trị của tài sản (tài sản tài chính hoặc tài sản phi tài chính) khiến cho giá trị có thể thu hồi nhỏ hơn giá trị của tài sản đó trên báo cáo tài chính
Chuẩn mực này cũng chỉ ra rằng, nếu giá trị của một tài sản theo kế toán cao hơn giá trị thực tế của tài sản đó, đo lường dựa trên giá trị có thể thu hồi của tài sản,
thì tài sản đó được coi là đã gánh chịu một khoản “lỗ suy giảm 2 ” Vì thế giá trị của
nó nên được điều chỉnh giảm một lượng bằng giá trị khoản lỗ suy giảm đó và ngay lập tức khoản lỗ suy giảm phải được ghi nhận làm giảm lợi nhuận trong kỳ của đơn
vị
Tuy nhiên, IAS 36 chỉ đưa ra khái niệm cơ bản ban đầu về giảm giá trị Các quy định chi tiết khác liên quan đến việc xác định, đo lường và ghi nhận giảm giá trị của IAS 36 chủ yếu áp dụng cho các tài sản phi tài chính Phương pháp kế toán đối với đa số các tài sản tài chính (trừ một số tài sản tài chính đã được đề cập đến trong các chuẩn mực khác), do đặc điểm về rủi ro và yêu cầu quản lý riêng, thuộc phạm vi
của IAS 39 Các công cụ tài chính: Ghi nhận và Đo lường và IFRS 9 dự kiến thay
thế cho IAS 39
Tùy theo mục đích nắm giữ của nhà đầu tư, IAS 39 phân chia các tìa sản tài chính thành bốn nhóm chính sau:
- Tài sản tài chính phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua lãi hoặc lỗ
- Các khoản đầu tư được nắm giữ đến khi đáo hạn
- Các khoản cho vay và khoản phải thu
- Các tài sản tài chính sẵn sàng để bán
IFRS 9 có cách phân loại khác thành ba nhóm:
- Tài sản tài chính phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua lãi hoặc lỗ (bao gồm: Tài sản tài chính phản ánh theo giá trị hợp lý thông qua lãi lỗ và tài sản tài chính sẵn sàng để bán)
- Tài sản tài chính phản ánh theo giá trị phân bổ (bao gồm: Các tài sản tài chính nắm giữ đến khi đáo hạn và Các khoản cho vay và các khoản phải thu)
1impairment
2
Trang 21Như vậy, kế toán đối với các khoản cho vay nói chung và giảm giá trị khoản vay nói riêng tại các tổ chức tín dụng trên thế giới đang bị chi phối bởi IAS 39 và IFRS 9
Trước khi chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 9 được ban hành, các vấn đề liên quan đến kế toán suy giảm khoản vay được quy định trong chuẩn mực kế toán quốc
tế IAS 39: Phân loại và đo lường với nội dung chính là đặt ra các yêu cầu để phân
loại và đo lường các tài sản tài chính, nghĩa vụ tài chính và một số hợp đồng mua hoặc bán các mặt hàng phi tài chính Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB)
đã kế thừa IAS 39 từ cơ quan tiền nhiệm của mình là Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC) IAS 39 bắt đầu hình thành qua bản dự thảo E40 “Các công cụ tài chính” tháng 9/1991 Qua nhiều năm điều chỉnh, chuẩn mực có hiệu lực chính thức ngày 01/01/2001
Theo IAS 39, sau thời điểm ghi nhận ban đầu, nếu có bằng chứng khách quan
về một hay nhiều sự kiện tổn thất có ảnh hưởng đến dòng tiền ước tính do tài sản hay nhóm tài sản tài chính mang lại, và thiệt hại đó có thể được ước tính một cách đáng tin cậy thì cần phải phản ánh khoản lỗ suy giảm để đưa tài sản về giá trị thực của nó Cụ thể với hoạt động tín dụng, khi có những dấu hiệu cho thấy bên đi vay không thể trả đúng và đủ nợ gốc và lãi thì ngân hàng cần tiến hành đánh giá mức giảm giá trị và ghi nhận lỗ vào kết quả kinh doanh trong kỳ Như vậy, chuẩn mực kế toán quốc tế không đề cập đến khái niệm “dự phòng rủi ro tín dụng” bởi thực chất đây là sự điều chỉnh giảm vào giá trị ghi sổ của khoản cho vay để phản ánh giá trị thực tế có thể thu hồi được của khoản mục tài sản này
Tóm lại, mục đích chính của việc đánh giá giảm giá trị là:
- Ghi nhận và theo dõi rủi ro trong danh mục cho vay của ngân hàng
- Thể hiện đúng giá trị tài sản và kết quả hoạt động kinh doanh
Tuy nhiên, trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, việc chậm ghi nhận lỗ tín dụng liên quan đến các khoản cho vay và các công cụ tài chính khác
đã được chỉ ra là một điểm yếu của chuẩn mực kế toán hiện hành Nguyên nhân cơ bản do yêu cầu đánh giá giảm giá trị theo IAS 39 dựa trên mô hình lỗ phát sinh (một khoản lỗ tín dụng sẽ chỉ được ghi nhận khi thực sự xảy ra sự kiện gây tổn thất) Đây
Trang 22là sự bất hợp lí về thời điểm ghi nhận tổn thất dự kiến trong suốt thời gian cho vay
và lỗ suy giảm thực tế phát sinh
Đáp ứng yêu cầu đó, IASB đã làm việc cùng Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Mỹ (FASB) và quyết định IFRS 9 sẽ thay thế IAS 39 trong 3 phần chính:
Phân loại và đo lường; Phương pháp suy giảm và Khuôn khổ kế toán
Trải qua các lần sửa đổi bổ sung, ngày 24/07/2014, IASB đã chính thức ban
hành phiên bản đầy đủ của chuẩn mực kế toán quốc tế IFRS 9: Các công cụ tài chính, thay thế hầu hết các quy định trong IAS 39, bao gồm cả mô hình đánh giá
suy giảm mới cho phép việc ghi nhận sớm các khoản thiệt hại do giảm giá trị Chuẩn mực hoàn chỉnh sẽ có hiệu lực cho năm tài chính bắt đầu vào hoặc sau ngày 01/01/2018 để các tổ chức kinh tế có thời gian hoàn thiện hệ thống, quy trình và cơ
sở dữ liệu ấp ứng yêu cầu của chuẩn mực Các tổ chức nếu có điều kiện cũng được cho phép áp dụng IFRS 9 sớm hơn
Do đó, hiện nay cả 2 chuẩn mực kế toán quốc tế liên quan đến lỗ suy giảm là IAS 39 và IFRS 9 vẫn đang được áp dụng song song
1.2 Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IAS 39
1.2.1 Một số quy định chung
1.2.1.1 Thời điểm xác định và đánh giá suy giảm khoản vay
Xuất phát từ mục đích đánh giá suy giảm là để phản ánh đúng giá trị có thể thu hồi được (cả gốc và lãi) của hợp đồng vay, IAS 39 quy định thời điểm đánh giá là vào ngày lập bảng cân đối kế toán khi có bất cứ bằng chứng khách quan nào về việc giảm giá trị của khoản vay
1.2.1.2 Hạch toán kế toán lỗ suy giảm
Chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay đang cho phép áp dụng 2 phương án hạch toán lỗ suy giảm:
Cách 1: Kế toán ghi tăng chi phí và ghi giảm trực tiếp giá trị khoản vay và
khoản phải thu
Trang 23Cách 2: Kế toán ghi tăng chi phí và sử dụng tài khoản dự phòng rủi ro (gián
tiếp điều chỉnh giảm giá trị khoản cho vay)
Sau khi ghi nhận việc giảm giá trị lần đầu, nếu số tiền tổn thất do giảm giá trị giảm xuống và phần giảm liên quan đến một cách khách quan đến một sự kiện xảy
ra sau ghi nhận tổn thất lần đầu thì khoản bị ghi giảm trước đây sẽ được hoàn nhập trực tiếp vào tài khoản theo dõi cho vay hoặc gián tiếp thông qua tài khoản dự phòng tùy vào cách hạch toán ban đầu Tuy nhiên việc hoàn nhập dự phòng phải đảm bảo không dẫn đến việc giá trị ghi sổ của khoản vay vượt quá giá trị ban đầu trước khi ghi nhận lỗ
Hạch toán cụ thể:
- Phản ánh số lỗ suy giảm tăng thêm:
Nợ TK Chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi:
Có TK Chi phí dự phòng nợ phải thu khó đòi:
1.2.1.3 Trình bày Báo cáo tài chính đối với lỗ suy giảm
Lỗ suy giảm (bao gồm cả phần hoàn nhập lỗ suy giảm) cần được trình bày thành một chỉ tiêu riêng trên bao cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bên phần tài sản của bảng cân đối kế toán như là một khoản dự phòng giảm giá trị khoản vay (Reserves for Impaired Loans)
Tổ chức tín dụng phải thuyết minh về rủi ro tín dụng như sau:
Trang 24- Thuyết minh về các khoản cho vay:
+ Số liệu thể hiện trung thực nhất mức độ rủi ro tín dụng tối đã tại ngày báo cáo không tính đến tài sản bảo đảm hay hỗ trợ tín dụng khác
+ Mô tả về tài sản bảo đảm nắm giữa làm vật thế chấp hoặc các loại hỗ trợ tín dụng
+ Thông tin về chất lượng tín dụng của các khoản vay chưa quá hạn hay chưa
bị giảm giá
+ Giá trị ghi sổ của các khoản vay đáng lẽ bị quá hạn hoặc giảm giá nhưng được cơ cấu lại
- Đối với các khoản nợ quá hạn hoặc giảm giá trị:
+ Phân tích tuổi nợ của các tài sản tài chính đã quá hạn nhưng không giảm giá tại ngày báo cáo
+ Phân tích khoản vay được đánh giá riêng lẻ là có giảm giá trị tại ngày báo cáo, bao gồm những nhân tố mà đơn vị sử dụng để khi xem xét sự suy giảm giá trị của khoản vay
+ Mô tả ước tính về giá trị hợp lí của tài sản bảo đảm nắm giữ bởi đơn vị
- Đối với các tài sản bảo đảm và các hình thức hỗ trợ tín dụng nhận được:
+ Bản chất và giá trị ghi sổ của tài sản thu được
+ Nếu các tài sản chưa sẵn sàng chuyển thành tiền mặt, chính sách của đơn vị
về việc thanh lý những tài sản đó hoặc việc sử dụng chúng trong hoạt động của đơn
vị như thế nào
1.2.2 Về xác định khoản vay bị giảm giá trị
Một tài sản tài chính hay nhóm tài sản tài chính bị coi là giảm giá trị theo IAS
39 khi và chỉ khi thỏa mãn 3 điều kiện sau:
(1) Có sự kiện tổn thất: Sự kiện tổn thất đối với một tài sản tài chính nào
đó có thể hiểu là sự kiện xảy ra sau ghi nhận lần đầu tài sản này và có những bằng chứng khách quan cho thấy sự kiện này sẽ làm giảm giá trị của tài sản đó
(2) Sự kiện tổn thất tạo nên một tác động lên dòng lưu chuyển tiền tệ dự kiến trong tương lai của tài sản hay nhóm tài sản tài chính
(3) Tác động của sự kiện tổn thất đến dòng lưu chuyển tiền tệ dự kiến của tài sản hay nhóm tài sản tài chính là có thể ước tính một cách đáng tin cậy
Trang 25Trên thực tế, thường khó chỉ ra được một sự kiện rời rạc, đơn lẻ làm giảm giá trị khoản vay, mà thay vào đó là ảnh hưởng kết hợp của nhiều sự kiện Danh sách các sự kiện tổn thất được chấp nhận để xác định khoản vay cần trích lập dự phòng bao gồm:
- Khó khăn đáng kể của bên phát hành (chứng khoán nợ) hay bên đi vay;
- Một vi phạm hợp đồng như không trả được nợ hoặc chậm trả gốc hoặc chậm trả lãi;
- Bên cho vay, vì các lý do kinh tế hoặc pháp luật liên quan đến khó khăn tài chính của bên đi vay, dành cho bên đi vay những ưu đãi lớn hơn trong điều kiện bình thường;
- Có khả năng bên đi vay sẽ nộp đơn xin bảo hộ phá sản hoặc tái cơ cấu tài chính;
- Sự biến mất của thị trường sôi động cho tài sản tài chính đó do những khó khăn tài chính; hoặc
- Những dữ liệu quan sát được cho thấy kể từ khi ghi nhận ban đầu, những tài sản đó đã có một sự suy giảm có thể xác định được về dòng tiền tương lai ước tính
từ một nhóm tài sản tài chính mặc dù chưa thể chỉ ra sự suy giảm này gắn với tài sản cụt hể nào trong nhóm Các dữ liệu như vậy bao gồm:
+ Những thay đổi tiêu cực về tình trạng thanh toán của các bên đi vay trong nhóm (ví dụ số lượng thanh toán bị chậm trễ tăng hoặc số lượng chủ thẻ tí dụng sử dụng tối đã hạ mức tín dụng và trả số tiền tối thiểu hàng tháng tăng);
+ Các điều kiệu kinh tế quốc gia hay ở địa phương có tương quan với các trường hợp không trả được nợ đối với tài sản trong nhóm (ví dụ tỉ lệ thất nghiệp tăng trong địa bàn của các bên đi vay, giá bất động sản thế chấp trong khu vực giảm, giá dầu giảm tác động đến các khoản cho vay các nhà sản xuất dầu mỏ, hay những thay đổi tiêu cực về các điều kiện trong ngành có ảnh hưởng đến bên vay vốn,…)
Theo quan điểm này, lỗ dự kiến do một sự kiện xảy ra trong tương lai gây ra,
dù xác suất xảy ra cao hay thấp, cũng không được phép ghi nhận Trong khi thông tin kế toán ngày càng hướng đến cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định của người sử dụng thì rõ ràng mô hình này đã không phản ánh hết được những rủi
ro ảnh hưởng đến giá trị của tài sản tài chính Quy định của IAS sẽ khiến cho các
Trang 26khoản vay được ghi nhận cao hơn hoặc thấp hơn thực tế một cách có hệ thống, dẫn đến thông tin kế toán cung cấp không còn đáng tin cậy nữa
1.2.3 Về đo lường giá trị lỗ suy giảm
Theo IAS 39, lỗ suy giảm của khoản vay được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa giá trị ghi sổ của tài sản với giá trị có thể thu hồi ước tính
Trong đó, giá trị thu hồi có thể ước tính là giá trị hiện tại của các dòng lưu chuyển tiền tệ ước tính trong tương lai được chiết khấu theo lãi suất thực của tài sản tài chính Luồng tiền ước tính trong tương lai bao gồm tiền nợ gốc, tiền lãi và bất cứ dòng tiền nào phát sinh từ xử lý tài sản thế chấp nhưng không bao gồm tổn thất tín dụng trong tương lai chưa phát sinh
Ước tính mức giảm giá trị của khoản vay cần trải qua hai bước theo sơ đồ sau:
Trang 27Hình 1.1 Quy trình ƣớc tính giảm giá trị khoản vay
1 Có bằng chứng khách quan
của sự suy giảm giá trị dựa trên
cơ sở đánh giá riêng lẻ không?
4 Có bằng chứng khách quan
của sự suy giảm giá trị trong
danh mục đầu tư, trên góc độ
dự phòng chung?
2 Xác định giá trị khoản vay
có thể thu về
• Tổng hợp toàn bộ những đối tượng không trọng yếu
• Giá trị hiện tại của dòng tiền được ước tính trong tương lại tại lãi suất thực gốc
3 Giá trị ghi nhận có vượt quá giá trị có thể thu hồi không?
7 Không ghi nhận lỗ
do suy giảm giá trị
5 Xác định giá trị của danh
mục đầu tư có thể thu hồi được
• Tổng hợp của những rủi ro tín
dụng tương tự
• Giá trị thực của dòng tiền
được ước tính trong tương lai
6 Giá trị ghi nhận có vượt quá
giá trị có thể thu hồi không?
8 Ghi nhận là lỗ do suy giảm giá trị
Có
Trang 28Bước 1: Đánh giá giảm giá trị đối với khoản vay riêng lẻ
Ở bước này, đối với các khoản vay trọng yếu khi đứng riêng lẻ, ngân hàng cần đánh giá từng tài sản một xem có bằng chứng khách quan về sự giảm giá trị không Đối với các khoản vay không trọng yếu khác, ngân hàng có thể xem xét từng khoản
vay hoặc từng nhóm khoản vay để đánh giá sự suy giảm
Nếu có bằng chứng cho thấy khoản vay bị giảm giá trị thì ngân hàng phải ước tính các dòng tiền có khả năng thu hồi trong tương lai và chiết khấu về thời điểm hiện
tại để so sánh với giá trị ghi sổ là xác định giá trị cần trích lập dự phòng nếu có
Lãi suất dùng để chiết khấu dòng tiền ước tính trong tương lai là lãi suất thực được tính toán khi ghi nhận ban đầu của tài sản (đối với khoản vay có lãi suất cố định) Trường hợp khoản vay có lãi suất thả nổi thì có thể dùng lãi suất thực hiện hành tại thời điểm tính dự phòng làm lãi suất chiết khấu
Tình huống ví dụ phương pháp tính toán thiệt hại do suy giảm giá trị:
Tại ngày 1/1/2009, doanh nghiệp cho vay $100 Khoản vay sẽ được thanh toán làm 5 lần, mỗi lần trị giá $25 vào các ngày 31/12 hàng năm (từ 31/12/2009 đến 31/12/2013) Giả sử không có rủi ro tín dụng trong tương lai, doanh nghiệp dự kiến
sẽ thu hồi hoàn toàn khoản kể trên Do vậy, lãi suất thực tế (EIR) là 7.93%
Tại ngày 31/12/2009, doanh nghiệp nhận được $25 thanh toán đầu tiên, trong
đó số lãi thanh toán là $7.93 và số gốc hoàn trả là $17.07 Do vậy, giá trị ghi sổ của khoản vay chỉ còn là: 100-17.07=$82.93 Sau đó, doanh nghiệp được thông báo rằng bên đối tác gặp khó khăn và bị giáng cấp xếp hạng tín nhiệm Hai sự kiện này là bằng chứng cấu thành một sự kiện “tổn thất” và doanh nghiệp dự tính sẽ không thu được các khoản thanh toán cho các năm 2012 và 2013
Tổn thất do giảm giá trị (lỗ suy giảm) được xác định thế nào?
Lịch trả nợ gốc theo hợp đồng:
Trang 29Năm kết thúc Số đầu kỳ Lãi Gốc Số tiền phải trả
Nợ Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng $38.31
Chuẩn mực cũng chỉ rõ, giá trị ước tính luồng tiền kỳ vọng từ tài sản bảo đảm nên phản ánh được các ảnh hưởng của việc tịch biên, bất kể có xảy ra hay không, và
số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm trừ đi các chi phí cần thiết để xử
lý/khai thác tài sản đó, có tính đến giá trị và thời gian dự kiến thu hồi của dòng tiền
Tuy chuẩn mực kế toán quốc tế không đề cập đến giá trị hợp lý như là một phương án bắt buộc khi định giá tài sản bảo đảm nhưng trên thực tế áp dụng, các tổ chức tín dụng thường sẽ ước tính dòng tiền từ việc bán tài sản bảo đảm dựa trên giá trị hợp lý của nó Trong trường hợp tài sản có tính thanh khoản thấp, một số điều
Trang 30chỉnh có thể được đưa ra cho phù hợp với những thay đổi dự kiến trong giá trị hợp lý,
tùy thuộc vào ngày dự định bán tài sản bảo đảm
Bước 2: Đánh giá giảm giá trị đối với danh mục tín dụng
Nếu qua bước 1, các khoản vay được đánh giá là chưa có bằng chứng về sự giảm giá trị hoặc giá trị có thể thu hồi vẫn cao hơn giá trị ghi sổ thì ngân hàng cần tiến hành phân loại khoản vay này vào các nhóm (danh mục tín dụng) có chung đặc điểm về rủi ro để đánh giá khả năng giảm giá trị của từng nhóm Các khoản vay trong cùng một nhóm nên có sự tương đồng về ngành nghề kinh doanh, địa lý, sản phẩm, loại tài sản bảo đảm, tình trạng quá hạn hay các yếu tố liên quan khác Mục đích của việc này là cho phép ghi nhận những tổn thất được coi là thực sự tồn tại trong danh mục cho vay (theo kinh nghiệm) nhưng chưa có chứng cứ cụ thể và vì thế nó được gọi là tổn thất ẩn Để tránh tính toán trùng lặp, những khoản nợ đã được trích dự phòng khi đánh giá riêng lẻ không được phân nhóm để tiếp tục đánh giá suy giảm
theo danh mục tín dụng nữa
Lãi suất sử dụng để chiết khấu dòng tiền tương lai về thời điểm hiện tại là lãi suất của các khoản vay trong quá khứ có đặc điểm rủi ro tương tự với các khoản vay trong nhóm Trường hợp trước đây ngân hàng chưa từng có khoản vay nào tương tự
để lấy thông tin lãi suất thì có thể sử dụng lãi suất của các nhóm nợ khác tương đương Tuy nhiên lãi suất quá khứ này cần phải được điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện hiện tại mà trước đây chưa có và cần được tính toán lại định kỳ
Tác giả sẽ mô tả cơ chế đánh giá giảm giá trị đối với danh mục tín dụng thông qua mô hình đơn giản hóa sau:
Danh mục tín dụng có tổng dư nợ trị giá 1 triệu USD, lãi suất 12%/năm (trả hàng tháng), đáo hạn trong 12 tháng Xác suất vỡ nợ 2.95%, tỷ lệ lỗ trong trường hợp vỡ nợ là 40% Khoảng thời gian ghi nhận suy giảm là 10 tháng (Khoảng thời gian tính từ khi xuất hiện sự kiện tổn thất cho tới khi sự kiện vỡ nợ phát sinh - theo
đó, sự kiện vỡ nợ được mô hình hóa giả định rằng nó sẽ xảy ra đồng nhất xuyên xuốt
10 tháng tới Đó là kết quả được thống kê trên cơ sở thường niên)
Xác định tổn thất do giảm giá trị của danh mục tín dụng?
Ta có bảng tính sau:
Trang 31Tháng
Dòng tiền không bị
giảm giá
trị
Xác suất giảm giá trị hàng tháng
Xác suất không giảm giá trị của danh mục
Dòng tiền giảm giá trị
Dòng tiền đƣợc phục hồi
Tổng dòng tiền giảm giá trị thực tế
Giá trị hiện tại của tổng dòng tiền giảm giá trị
1 − (0.0295 × 4) = 0.98820
(5) Dòng tiền giảm giá trị thể hiện dòng tiền dự kiến từ các thành phần không mất khả năng chi trả trong danh mục và được tính bằng tích dòng tiền không suy giảm với xác suất không giảm giá trị tại một thời điểm: 5 = 2 × (4)
Trang 32(6) Dòng tiền được phục hồi thể hiện giá trị có thể thu hồi được trong trường hợp sự kiện vỡ nợ xảy ra Mỗi đồng tổn thất trên gốc, (1 – Tổn thất trong trường hợp
1,000,000 − 971,948 = 28,052
1.2.4 Những chỉ trích đối với mô hình lỗ phát sinh của IAS 39
Mô hình lỗ phát sinh theo IAS 39 đã vấp phải một số chỉ trích, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Thực tế đã chứng minh rằng, sự thay đổi mức độ rủi ro tín dụng của các khoản vay có tính chu kỳ gắn liền với chu kỳ biến động của nền kinh tế, thường bắt đầu với thời kỳ tổn thất lành tính gắn với việc mở rộng và tăng trưởng của nền kinh tế nói chung, các nguồn tín dụng nói riêng, theo sau
đó là giai đoạn suy giảm kinh tế với mức rủi ro tín dụng tăng cao Việc đánh giá giảm giá trị khoản vay chỉ dựa vào những sự kiện thực tế phát sinh mà bỏ qua xu hướng của thị trường và các dữ liệu khác đã dẫn đến tình trạng: Mức dự phòng tại thời điểm khởi đầu cuộc khủng hoảng không đủ để hấp thụ hết các thiệt hại cao xảy ra trong cuộc khủng hoảng với khả năng xảy ra rất cao Dự phòng ít làm lợi nhuận tăng sẽ khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn vào thị trường Ngược lại, sự tăng lên các khoản lỗ được ghi nhận tại đỉnh của cuộc khủng hoảng dẫn đến lợi nhuận bị ghi nhận thấp hơn một cách không hợp lí làm giảm lòng tin của thị trường trong lĩnh vực ngân hàng Chính điều này đã làm trầm trọng hơn mức độ nghiêm trọng và thời gian của cuộc khủng hoảng tài chính hay chính là nới rộng biên độ biến động của chu kỳ kinh tế Cuộc khủng hoảng tài chính gần đây đã một lần nữa dấy lên những chỉ trích trên về điểm yếu của mô hình lỗ phát sinh Mặc dù các nguyên tắc cơ bản của mô hình này vẫn còn hợp lí, nhưng rõ ràng một sự thay đổi hướng tiếp cận đánh giá sự
Trang 33suy giảm giá trị khoản vay có xét đến tính chu kỳ của thị trường là cần thiết nhằm tăng cường chất lượng thông tin kế toán cho các nhà đầu tư
1.3 Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo IFRS 9
1.3.1 Về xác định khoản vay bị suy giảm
Chuẩn mực mới IFRS 9 đề xuất một mô hình mới “lỗ kì vọng” thay thế cho “lỗ phát sinh” theo chuẩn mực cũ IAS 39, theo đó, các ngân hàng không phải chờ đến khi có sự kiện tổn thất xảy ra mới ghi nhận khoản lỗ suy giảm mà thay vào đó, tại thời điểm lập báo cáo tài chính, họ sẽ phải ghi nhận một khoản tổn thất do thay đổi
về lỗ kì vọng để phản ánh biến động rủi ro tín dụng sau ghi nhận lần đầu
- Đối với những tài sản hay nhóm tài sản tài chính có sự tăng lên đáng kể rủi ro tín dụng sau lần ghi nhận đầu tiên thì phải phải ước tính lỗ kì vọng trong suốt thời gian của khoản nợ đó (là lỗ dự kiến phát sinh do tất cả các sự kiện tổn thất có thể xảy
ra trong thời gian của khoản nợ đó)
- Đối với những tài sản hay nhóm tài sản tài chính không có sự tăng lên đáng kể rủi ro tín dụng sau lần ghi nhận đầu tiên thì vẫn phải ước tính lỗ kì vọng 12 tháng (là một phần của lỗ kì vọng trong suốt thời gian khoản nợ nhưng dự kiến phát sinh trong vòng 12 tháng hoặc ít hơn kể từ ngày lập báo cáo) Tuy nhiên cần phân biệt rõ rằng lỗ
kỳ vọng 12 tháng nhấn mạnh vào xác suất xảy ra các sự kiện tổn thất dựa vào kinh nghiệm trong quá khứ Vì thế lỗ kỳ vọng 12 tháng không phải là sự suy giảm dòng tiền dự kiến xảy ra trong vòng 12 tháng từ ngày lập báo cáo
- Trong các kì báo cáo tiếp theo, nếu chất lượng tín dụng của khoản vay được cải thiện và rủi ro tín dụng không còn tăng lên đáng kể nữa thì ngân hàng sẽ chuyển
từ ghi nhận lỗ suy giảm trên cơ sở lỗ kì vọng suốt thời gian khoản nợ sang cơ sở lỗ kì vọng 12 tháng
Vậy làm thế nào để nhận biết sự tăng lên đáng kể của rủi ro tín dụng? IASB đã nêu ra một danh sách không đầy đủ các chỉ số và yếu tố các ngân hàng nên quan tâm khi đánh giá rủi ro tín dụng để trích dự phòng như sau:
Có một sự thay đổi đáng kể thực tế hay dự kiến về xếp hạng tín dụng của khoản vay từ bên ngoài
Trang 34 Xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng đã thực tế hay dự kiến hạ bậc; hoặc giảm điểm hành vi của khách hàng (sử dụng trong chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ) Kết quả chấm điểm hay xếp hạng tín dụng nội bộ sẽ đáng tin cậy hơn nếu có liên
hệ với kết quả xếp hạng hoặc các đánh giá khả năng vỡ nợ từ bên ngoài
Những thay đổi bất lợi thực tế hay dự báo về điều kiện kinh doanh, tài chính, kinh tế,… mà dự kiến gây ra ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả
nợ của bên vay, ví dụ lãi suất hay tỷ lệ thất nghiệp dự kiến hoặc thực tế tăng lên
Thay đổi đáng kể thực tế hay dự kiến trong kết quả hoạt động của khách hàng,
ví dụ như việc giảm doanh thu, lợi nhuận, tăng rủi ro hoạt động, thiếu vốn lưu động, chất lượng tài sản suy giảm, thay đổi về quản lí, phạm vi kinh doanh hay cơ cấu tổ chức,… mà dự kiến gây ra ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thực hiện nghĩa vụ trả
nợ của bên vay
Các công cụ tài chính khác của bên vay bị đánh giá tăng đáng kể rủi ro tín dụng
Sự thay đổi bất lợi thực tế hay dự kiến trong môi trường pháp lý, kinh tế hoặc công nghệ có khả năng tác động đến năng lực trả nợ của khách hàng, chẳng hạn sự suy giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của khách hàng vì một thay đổi trong công nghệ
Sự thay đổi đáng kể giá trị tài sản bảo đảm hoặc chất lượng bảo lãnh của bên thứ 3 dự kiến sẽ làm giảm động lực trả nợ của khách hàng
Chẳng hạn, ngân hàng W sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ gồm 10 bậc theo mức độ rủi ro của khoản vay tăng dần từ 1 đến 10 Ngân hàng W quy định rằng mức giảm 2 bậc xếp hạng là biểu hiện của sự tăng lên đáng kể về rủi ro tín dụng và các khoản vay từ nhóm 3 trở xuống là có rủi ro thấp
Tại ngày lập báo cáo, công ty A có hai khoản vay còn dư nợ như sau:
Xếp hạng tại thời điểm
Trang 35Ngân hàng W tiến hành đánh giá xem có sự tăng lên đáng kể của rủi ro tín dụng hay không đối với từng khoản vay và đi đến kết luận sau:
Rủi ro tín dụng tăng lên Cơ sở ghi nhận dự phòng
Rõ ràng, tuy cả hai khoản vay được có cùng xếp hạng tín dụng nhưng cơ sở tính
dự phòng cho mỗi khoản lại khác nhau do sự khác biệt về mức tăng lên của rủi ro tín dụng
Mô hình này hướng tới tương lai nhiều hơn so với IAS 39, bởi vì các ngân hàng không chỉ phải xem xét các thông tin quá khứ đã được xử lý để phản ánh tác động của điều kiện hiện thời và thông tin cung cấp bằng chứng khách quan về món vay bị giảm giá trị do những khoản lỗ thực sự phát sinh, mà chuẩn mực còn yêu cầu họ đánh giá những thông tin hợp lí khác hỗ trợ dự đoán điều kiện kinh tế trong tương lai khi tính toán rủi ro tín dụng
Có thể thấy, theo mô hình đánh giá suy giảm mới thì sẽ có nhiều món vay cần trích lập dự phòng hơn, cũng như rủi ro tín dụng sẽ được ghi nhận sớm hơn Quy định này sẽ mang lại lợi ích cho người sử dụng báo cáo tài chính khi mà thông tin về giá trị các công cụ tài chính, đặc biệt là các khoản vay trở nên đáng tin cậy và hữu dụng hơn
Tuy nhiên áp dụng chuẩn mực mới đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp đáng kể về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến rủi ro dự kiến Và khi mà mức độ xét đoán tăng lên thì rất khó để so sánh kết quả trên báo cáo tài chính của các ngân hàng khác nhau Để giải quyết vấn đề này, IFRS 9 cũng yêu cầu công khai thông tin chi tiết hơn so với IAS 39 về những thông tin đầu vào cũng như kĩ thuật được sử dụng để ước tính dự phòng, nhờ đó tính minh bạch của thông tin kế toán sẽ được nâng cao
1.3.2 Về đo lường giá trị lỗ suy giảm
Với quan điểm cho rằng bất kì khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro tín dụng, tại thời điểm cuối kỳ kế toán, IFRS 9 yêu cầu các món nợ được phân thành 3 nhóm:
Trang 36Nhóm 1: các khoản nợ có chất lượng tín dụng không bị suy giảm đáng kể sau
ngày ghi nhận đầu tiên
Nhóm 2: các khoản nợ bị suy giảm đáng kể chất lượng tín dụng kể từ ngay ghi
nhận đầu tiên
Nhóm 3: các khoản nợ đã có bằng chứng khách quan về sự suy giảm tại thời
điểm lập báo cáo
Các khoản vay thuộc nhóm 1 phải được ghi nhận lỗ kỳ vọng 12 tháng với giá trị được xác định bằng phương pháp bình quân gia quyền rủi ro tín dụng theo xác suất xảy ra của chúng, có tính đến giá trị thời gian của tiền:
Tổ chức tín dụng không cần phải xác định tất cả các trường hợp có thể xảy ra nhưng luôn phải đảm bảo có ít nhất hai kịch bản: trường hợp rủi ro vỡ nợ xảy ra (kể
cả khi xác suất của nó rất thấp) và trường hợp không xảy ra rủi ro vỡ nợ IFRS 9 giải thích rằng yêu cầu trên không phải quá phức tạp khi áp dụng bởi trong một số trường hợp, một mô hình tương đối đơn giản là đủ mà không cần phải thu thập quá nhiều thông tin về các kịch bản Chẳng hạn đối với một nhóm khoản vay có chung đặc điểm rủi ro, rủi ro tín dụng trung bình của các khoản vay có thể được coi là ước tính hợp lý của rủi ro theo trọng số xác suất
Thông thường các khoản vay thuộc nhóm 1 không được đánh giá một cách riêng lẻ mà được phân loại vào các nhóm có đặc điểm rủi ro tương tự nhau (danh mục tín dụng như bước 2 theo IAS 39) để giảm bớt công việc tính toán và cho phép nhà quản trị nhìn nhận rủi ro bao quát hơn
Đối với các khoản vay thuộc nhóm 2 và 3, cần phải ghi nhận lỗ kỳ vọng trong suốt thời gian vay, phương pháp tính cũng lấy bình quân gia quyền của rủi ro tín dụng theo xác xuất xảy ra chúng, nhưng dự kiến trong toàn bộ thời gian khoản vay Tổn thất dự kiến trong công thức trên được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị phải thu hồi theo hợp đồng tín dụng và tất cả các dòng tiền mà ngân hàng dự
Trang 37kiến thu hồi được, chiết khấu về hiện tại theo lãi suất thực được xác định tại thời điểm ghi nhận ban đầu Nếu khoản vay có lãi suất thả nổi thì có thể sử dụng lãi suất thực hiện hành
Phương pháp đo lường trên có thể được mô tả trong ví dụ sau đây:
Ngân hàng A nắm giữ một khoản vay trị giá 1 triệu USD, thời hạn 10 năm, lãi trả hàng tháng Lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực và bằng 5%/năm Qua việc xem xét các kì vọng đối với các khoản vay tương tự, rủi ro của khách hàng và triển vọng kinh tế trong 12 tháng tới, ngân hàng A đánh giá tại thời điểm ghi nhận ban đầu, xác xuất xảy ra rủi ro vỡ nợ của khoản vay là 0.5%
Cuối kì, ngân hàng A xác định rằng sự thay đổi về xác suất này trong 12 tháng tương đối xấp xỉ bằng dự thay đổi về xác suất vỡ nợ trong suốt thời gian khoản vay, tức là không có sự tăng lên đáng kể của rủi ro tín dụng kể từ thời điểm ghi nhận ban đầu A cũng ước tính rằng nếu rủi ro vỡ nợ xảy ra thì 25% giá trị khoản vay sẽ bị tổn thất Vì vây, ngân hàng A đã trích lập dự phòng trên cơ sở lỗ kỳ vọng 12 tháng cho khoản vay bằng cách nhân tổng dòng tiền dự kiến thu được trong tương lai với xác suất vỡ nợ và tổn thất trong trường hợp vỡ nợ rồi chiết khấu về hiện tại theo lãi suất thực như sau:
0.5% × 25% × 1,000,000 × 1.05 × 1
1 + 5% = 1,250 (𝑈𝑆𝐷) Cách tính trên chỉ mang tính chất hướng dẫn, còn chuẩn mực kế toán IFRS 9 không định ra một cách tiếp cận cụ thể riêng biệt nào khi tính toán lỗ kỳ vọng mà chỉ nhấn mạnh rằng dù bất kỳ phương pháp nào được dử dụng thì cũng phải thể hiện trong đó:
Trọng số bình quân gia quyền khách quan là kết quả của việc xem xét đa dạng các trường hợp có thể xảy ra
Tính đến giá trị thời gian của dòng tiền
Sử dụng các thông tin hỗ trợ hợp lý, có sẵn về các sự kiện trong quá khứ, điều kiện hiện tại cũng như dự đoán về triển vọng kinh tế trong tương lai
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1:
Chương 1 đã phân tích và làm rõ khái niệm rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng, nêu bật tính chất rủi ro tín dụng, các nguyên nhân phát sinh và các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Đồng thời tác giả cũng phân tích phương pháp pháp kế toán dự phòng rủi ro tín dụng theo CMKT quốc tế (đánh giá và đo lường giảm giá trị khoản vay theo IAS 39
và IFRS 9) Đây là cơ sở để so sánh với chế độ kế toán dự phòng rủi ro tín dụng đang được áp dụng cho các NHTM Việt Nam sẽ được trình bày trong chương 2
Trang 39CHƯƠNG 2: KẾ TOÁN DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM
VIỆT NAM VÀ NHỮNG KHÁC BIỆT VỚI IAS/IFRS 2.1 Chế độ kế toán hiện hành về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng áp dụng cho các NHTM Việt Nam
2.1.1 Khái quát về khung pháp lý
Tại Việt Nam, hệ thống chuẩn mực kế toán hiện hành do Bộ tài chính ban hành được hiệp hội kế toán và kiểm toán Việt Nam đánh giá là đã tuân thủ khoản 95% chuẩn mực kế toán quốc tế Tuy nhiên, hệ thống kế toán áp dụng đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam, đặc biệt là các ngân hàng thương mại mới chỉ tuân thủ khoảng 50% chuẩn mực kế toán quốc tế Nguyên nhân là do hoạt động của TCTD là kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, đối tượng chủ yếu là các công cụ tài chính nhưng hiện tại VAS vẫn chưa có chuẩn mực kế toán về các công cụ tài chính tương ứng với các chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày, ghi nhận, và đo lường công cụ tài chính
mà thay vào đó là cơ chế nghiệp vụ do Ngân hàng nhà nước ban hành
Điều 82 Luật Tổ chức tín dụng quy định: “Việc phân loại tài sản “có”, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng và sử dụng khoản dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do Thống đốc NHNN quy định”
Những văn bản pháp quy đầu tiên liên quan đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được áp dụng là Quyết định 297/1999/QĐ-NHNN5 về tỷ lệ đảm bảo an toàn và Quyết định 488/2000/QĐ-NHNN5 về trích lập dự phòng rủi ro Nhưng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế và sự đa dạng của các dịch vụ tài chính, ngân hàng, hai quyết định trên được ví như “chiếc áo” đã trở nên quá chật và lỗi mốt Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, NHNN Việt Nam đã tiến hành thiết kế những cơ chế nghiệp vụ mới phù hợp hơn cho các tổ chức tín dụng trong điều kiện kinh tế mới Kể từ sự ra đời của Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước, sửa đổi bổ sung một số điều trong Quyết định
số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước và Quyết định 780/QĐ-NHNN năm 2012 về việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ, quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng Việt Nam đã có một bước tiến đáng kể đến gần hơn chuẩn mực quốc tế
Trang 40Nhằm thắt chặt hơn nữa công tác quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại, với mục đích nâng cao chất lượng thông tin kế toán cho yêu cầu quản lý vĩ mô cũng như phục vụ các nhà đầu tư, hai văn bản pháp quy mới đã được ban hành là Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (có hiệu lực
từ ngày 01/06/2013); sửa đổi bổ sung một số điều tại Thông tư 09/2014/TT-NHNN (hiệu lực thi hành từ 20/03/2014)
Ngoài ra còn có một số hướng dẫn về tài sản bảo đảm, thực hiện theo:
Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo
Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 sửa đổi bổ sung một số điều của
NĐ 163/2006/NĐ-CP
Phạm vi điều chỉnh của Thông tƣ 02 và Thông tƣ 09:
Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều trong Thông tư 02 quy định về việc phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro tín dung và việc sử dụng dự phòng đó trong hoạt động ngân hàng đối với các tài sản có sau:
Cho vay;
Cho thuê tài chính;
Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;
Bao thanh toán;
Các khoản cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng;
Các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng;
Số tiền mua và ủy thác mua trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (Upcom) (gọi tắt là trái phiếu chưa niêm yết), không bao gồm mua trái phiếu chưa niêm yết bằng nguồn vốn ủy thác mà bên ủy thác chịu rủi ro;
Ủy thác cấp tín dụng;
Tiền gửi (trừ tiền gửi thanh toán) tại tổ chức tín dụng trong nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật và tiền gửi tại tổ