1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện vân đồn, tỉnh quảng ninh

104 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Bùi Lệ Hằng Tên luận văn: Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Ngành: Quản lý kinh

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

BÙI LỆ HẰNG

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Ngọc Ninh

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ với bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Lệ Hằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt luận văn này, ngoài những cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới

sự quan tâm giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin chân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của các thầy, cô Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự kính trọng sâu sắc tới thầy giáo TS Hồ Ngọc Ninh, người đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân trọng cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp tại các khối cơ quan, ban ngành của huyện Vân Đồn đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi tra cứu, điều tra, khảo sát để có dữ liệu hoàn thành luận văn này

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ và ghi nhận những tình cảm quý báu đó

Một lần nữa, tôi xin được trân trọng cảm ơn và chúc sức khoẻ, hạnh phúc, thành đạt tới tất cả mọi người!

Vân Đồn, ngày 14 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Bùi Lệ Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục từ viết tắt vii

Danh mục bảng ix

Danh mục hình, sơ đồ, đồ thị xi

Trích yếu luận văn xii

Thesis abstract xiv

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Đóng góp mới của luận văn 3

Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5

2.1.2 Vai trò và nguyên tắc quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục 10

2.1.3 Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 14

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 15

2.2 Cơ sở thực tiễn 19

2.2.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo 19 2.2.2 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo

Trang 5

dục ở một số địa phương ở Việt Nam 20

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Vân Đồn trong quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục 21

2.2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 22

Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 24

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Vân Đồn 24

3.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 28

3.1.3 Hệ thống quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục ở huyện Vân Đồn 30

3.2 Phương pháp nghiên cứu 33

3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 33

3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 34

3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34

Phần 4 Kết quả và thảo luận 35 4.1 Thực trạng quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013-2015 35

4.1.1 Thực trạng phát triển cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 35

4.1.2 Thực trạng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 37

4.1.3 Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 43

4.1.4 Đánh giá chung về quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013-2015 61

4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục huyện Vân Đồn 64

4.2.1 Chính sách tài chính của Nhà nước 64

4.2.2 Trình độ chuyên môn của kế toán và năng lực quản lý của chủ tài khoản tại các đơn vị trường học 65

4.2.3 Công tác luân chuyển cán bộ hàng năm 66

Trang 6

4.2.4 Bộ máy tổ chức và phân cấp quản lý của cơ quan tài chính 68

4.3 Giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 69

4.3.1 Mục tiêu định hướng phát triển giáo dục của huyện Vân Đồn đến năm 2020 69

4.3.2 Một số quan điểm cơ bản trong việc hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 71

4.3.3 Một số giải pháp tăng cường quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn 71

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 81

5.1 Kết luận 81

5.2 Kiến nghị 82

5.2.1 Đối với trung ương 82

5.2.2 Đối với chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương 84

Tài liệu tham khảo 85

Phụ lục 87

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

CBCCVC Cán bộ công chức viên chức

CKTX Chi không thường xuyên

CTX Chi thường xuyên

ĐTXDCB Đầu tư xây dựng cơ bản

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

GDĐT Giáo dục đào tạo

GDP Tổng sản phẩm nội địa

HĐCM Hoạt động chuyên môn

HĐND Hội đồng nhân dân

HS TNTHCS Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở

HSTN Học sinh tốt nghiệp

KBNN Kho bạc nhà nước

KL/TW Kết luận / Trung ương

KPCĐ Kinh phí công đoàn

KT-XH Kinh tế xã hội

LS-TC-GD ĐT-LĐTBXH Liên sở tài chính giáo dục đào tạo lao động

thương binh xã hội MSSC Mua sắm sửa chữa

Trang 8

Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

TT-BNV Thông tư bộ nội vụ

TTCN Thanh toán cá nhân

TTGDTX Trung tâm giáo dục thường xuyên

TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH Thông tư liên tịch bộ giáo dục đào tạo bộ tài

chính bộ lao động thương binh xã hội TTLT-BNV-BTC Thông tư liên tịch bộ nội vụ bộ tài chính

TXNSNN Thường xuyên ngân sách nhà nước

UBND Ủy ban nhân dân

XDCB Xây dựng cơ bản

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Bảng dân số và mật độ dân số Vân Đồn theo xã giai đoạn 2013 -

2015 28 Bảng 3.2 Cơ cấu giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Vân Đồn, giai đoạn

2013-2015 29 Bảng 4.1 Hiện trạng phát triển giáo dục huyện Vân Đồn, giai đoạn 2013-2015 36 Bảng 4.2 Cơ cấu chi NSNN cho các cấp học trong hệ thống giáo dục huyện

Vân Đồn từ nguồn ngân sách huyện Vân Đồn 39 Bảng 4.3 Mức thu học phí tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn,

giai đoạn 2013 - 2015 41 Bảng 4.4 Nguồn thu học phí thu được từ các cấp học Mầm non và THCS theo

năm học 42 Bảng 4.5 Tình hình thực hiện chuyển giao dự toán chi NSNN cho sự nghiệp

giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn (Nguồn ngân sách huyện) 44 Bảng 4.6 Đánh giá của cán bộ QLNS và kế toán về công tác xây dựng, lập,

duyệt phân bổ dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục 49 Bảng 4.7 Chi NSNN cho các cấp giáo dục trong địa bàn huyện Vân Đồn 50 Bảng 4.8 Các khoản đóng góp của các đơn vị trong ngành giáo dục trên địa

bàn huyện Vân Đồn năm 2015 53 Bảng 4.9 Chi đầu tư xây dựng cơ bản các trường đất liền vùng trung tâm và

các trường thuộc vùng khó khăn và ngoài đảo 55 Bảng 4.10 Đánh giá của cán bộ, giáo viên, nhân viên về cơ sở vật chất tại các

cơ sở giáo dục 56 Bảng 4.11 Nguồn kinh phí chi cho sự nghiệp giáo dục huyện Vân Đồn Quảng

Ninh 57 Bảng 4.12 Đánh giá của cán bộ quản lý về công tác quyết toán chi NSNN 59 Bảng 4.13 Đánh giá của kế toán về công tác thanh tra, kiểm tra của cán bộ quản

lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2013-2015 60 Bảng 4.14 Đánh giá một số quy định của chính sách ảnh hưởng đến công tác

quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục 65 Bảng 4.15 Trình độ chuyên môn của kế toán và năng lực quản lý của chủ tài

khoản tại các đơn vị trường học làm công tác quản lý chi NSNN 66

Trang 10

Bảng 4.16 Công tác luân chuyển cán bộ, giáo viên, nhân viên hàng năm của

ngành giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013-2015 67 Bảng 4.17 Tổng hợp ý kiến đánh giá của cán bộ, giáo viên, nhân viên về việc

điều động luân chuyển hàng năm 68 Bảng 4.18 Đánh giá về bộ máy quản lý đến công tác quản lý chi NSNN cho sự

nghiệp giáo dục 69

Trang 11

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ

Hình 3.1: Lược đồ hành chính huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh 25

Sơ đồ 3.1 Mô hình bộ máy quản lý chi NSNN cho giáo dục đào tạo năm 2015 31

Đồ thị 4.1: Tình hình điều chỉnh tăng giảm dự toán chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục

giai đoạn 2013-2015 47

Trang 12

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Bùi Lệ Hằng

Tên luận văn: Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Ngành: Quản lý kinh tế Mã số: 60.34.04.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Huyện Vân Đồn là huyện miền núi, hải đảo có mạng lưới giáo dục phân bố rải rác trên tất cả các đảo khác nhau và đất liền Đảng, nhà nước và các cấp chính quyền của tỉnh, huyện quan tâm đầu tư NSNN cho sự nghiệp giáo dục với nhiều chính sách ưu đãi Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính cho sự nghiệp giáo dục huyện Vân Đồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn và tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong thực hiện quản lý tài chính theo ngành, công tác lập, phân bổ và giao dự toán còn chưa sát thực tế, chưa kịp thời Kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở trường lớp, mua sắm trang thiết bị chưa hợp lý Công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với các cơ sở giáo dục vẫn còn buông lỏng nên khó nhận ra sai phạm trong việc sử dụng nguồn NSNN Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”

Trong nghiên cứu này tôi tập trung đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện đến năm 2020 Mục tiêu

cụ thể của đề tài gồm: (1) Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự ngiệp giáo dục; (2) Đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013-2015; (3) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013 -2015; (4) Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn đến năm 2020

Trong nghiên cứu này tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp thông qua sách báo, tạp chí báo cáo thống kê, báo cáo tài chính về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Vân Đồn và thu thập số liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn cán bộ chuyên viên các phòng ban của huyện và chủ tài khoản, kế toán, giáo viên các đơn vị trường học trên địa bàn huyện Các phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu, phân tích số liệu như thống kê mô tả, so sánh, nhằm

Trang 13

đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn

Qua đánh giá thực trạng quản lý chi NSNN cho sự nghệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn năm 2013-2015 cho thấy huyện cũng đã đạt được những kết quả tích cực trong việc chấp hành đúng mẫu biểu theo quy định của luật ngân sách, đảm bảo chi đúng, đủ Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị được quan tâm đầu tư, quy

mô trường lớp được mở rộng Tuy nhiên, quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện vẫn tồn tại những mặt hạn chế trong xây dựng, lập, duyệt, phân bổ

dự toán chưa sát thực tế nên hàng năm phải bổ sung kinh phí Kinh phí phải bổ sung cao nhất là 18.874 triệu đồng/1 năm Công tác quản lý các khoản đóng góp không tốt nên dẫn đến tình trạng nợ đọng bảo hiểm lên hơn 562 triệu đồng và lãi nộp chậm hơn 265 triệu đồng, chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp và mua sắm trang thiết bị chưa bám sát tình hình thực tế gây lãng phí NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát còn buông lỏng mức độ sai phạm phát hiện nộp ngân sách chỉ có 2,65 triệu đồng

Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn là do chính sách tài chính của nhà nước ban hành chưa đầy

đủ, kịp thời, cụ thể hóa; do trình độ chuyên môn của đội ngũ kế toán và năng lực quản

lý của chủ tài khoản tại các đơn vị trường học còn hạn chế; do công tác luân chuyển cán

bộ hàng năm dẫn đến việc xáo trộn nhân sự giữa các trường là nguyên nhân dẫn đến công tác xây dựng dự toán thiếu sát thực và điều chỉnh dự toán tăng giảm cuối năm gia tăng; và do bộ máy tổ chức và phân cấp quản lý tài chính chưa phù hợp

Thông qua nghiên cứu tôi đề xuất 5 giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn gồm: (1) bồi dưỡng nâng cao trình

độ chuyên môn của kế toán và chủ tài khoản các đơn vị trường học; (2) tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; (3) hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý chi NSNN; (4) hoàn thiện công tác luân chuyển cán bộ giáo viên nhân viên hàng năm; (5) hoàn thiện chế độ chính sách tài chính của nhà nước

Trang 14

THESIS ABSTRACT

Author: Bùi Lệ Hằng

Thesis title: Strengthening the management of state budget expenditures for education in Van Don district, Quang Ninh Province

Major field: Economic management Code: 60.34.04.10

Name of university: Vietnam National University of Agriculture

Van Don district is mountainous, and island with scattered educational networks across all the different islands and mainland Party, state and provincial authorities, and district have many preferential policies to allocate the state budget for education career However, the financial management for education in Van Don district still faces many difficulties and problems, weakness in the implementation of financial management by industry, and formulation, distribution and assignment estimates are not realistic, not in time Funds invested in the construction of schools, facilities are irrational The inspection and supervision by higher superiors for education institutions remain loose,

so it is difficult to recognize irregularities in utilizing the state budget Therefore, we chose research topics: "Strengthening the management of state budget expenditures for education in Van Don district, Quang Ninh Province"

In this study focused on evaluating the situation and analyzing factors that affect the management of the state budget for education in Van Don district, then propose policy measures to strengthen the management of state budget spending for education in the district by 2020 The specific objectives of this study include: (1) to systematize the theoretical basis and practical management of state budget for education; (2) Assessment of the current management of state budget spending for education in Van Don district in period 2013-2015; (3) Analysis of factors affecting the management of state budget expenditures for education in Van Don district in period 2013 -2015; (4) propose orientations and measures to strengthen the management of state budget expenditures for education in Van Don district upto 2020

In this study utilized several research methods such as: Methods of collecting secondary data through books, magazines, statistical reports, financial reports on natural conditions, socio-economic conditions of Van Don district and primary data collected through interviewing staff members of the district office and the account holder, accountants, teachers, school units in the district Methods of synthesis and processing

Trang 15

of data, data analysis were used such as descriptive statistics, comparisons, to assess the current management of state budget expenditures for education in Van Don district Results of the study showed that the district has achieved positive results in the strict observance of form prescribed by law budget, to ensure proper spending for eduction School facilities, equipment investment is concerned, and the scale of shoolds

in the district has been expanded However, the management of state budget for education in the district still remains the shortcomings in term of construction, establishment, approval, and allocation of realistic cost estimates should not have additional annual funding Additional funding must be allocated in a highest amount of 18,874 million/1 year The management of contributed funds is not good leading to insolvency insurance to more than 562 million and late payment of interest more than

265 million; capital expenditure for building the school facilities and equipment procurement were not stick to the real situation resulting to wasteful state budget; the inspection, testing and supervision is loose irregularities

Factors affecting the management of the state budget expenditures for education

in Van Don district include: fiscal policy of the state has not issued fully, timely and concretized; knowledge of accountants and management capacity of the account holder

at the school unit are limited; the rotation of staff in the schools happended every year resulting in the disturbance of personnel allocation which leads to the low quality of the annual cost estimates planning; and the organizational structure and financial decentralization is not appropriate

In order to strengthen the management of state budget expenditures for education

in Van Don district, there are five policy measures suggested as: (1) fostering professional qualifications of accountants and account holders of the schools; (2) strengthening the inspection and examination; (3) complete the organizational structure

of the management and enhance coordination among agencies in charged for budget expenditure management; (4) complete the rotation of staff personnel and teachers; (5) complete the financial policies of the state

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Ngân sách nhà nước được thể hiện qua việc Thu – Chi ngân sách được coi

là công cụ đặc biệt giúp quản lý, điểu tiết tốt mọi hoạt động của nền kinh tế Đặc biệt chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục, cần được chú trọng để đầu

tư sao cho đúng trọng tâm, hiệu quả và thay đổi cho phù hợp nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường hiện nay

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia thì nguồn lực tri thức luôn được coi là nhân tố phát triển hàng đầu Nguồn lực đó là sản phẩm của giáo dục và đào tạo, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của quốc gia đó Trong hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Giáo dục có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển của một quốc gia Vì vậy, những năm vừa qua nhà nước

ta đã quan tâm đầu tư cho phát triển sự nghiệp giáo dục tăng lên đáng kể Điều

đó đã góp phần tạo điều kiện cải tạo, tăng cường cơ sở vật chất trường học, mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy và học trên phạm vi cả nước

Huyện Vân Đồn là huyện miền núi, hải đảo nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh và được hình thành từ nhiều hòn đảo lớn nhỏ vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái Tử Long Huyện Vân Đồn có mạng lưới giáo dục phân bố rải rác trên tất cả các đảo khác nhau và đất liền Với 6 xã đặc biệt khó khăn chủ yếu nằm trên các xã đảo Giao thông gặp nhiều khó khăn, kinh

tế chưa phát triển nhưng được Đảng, nhà nước và các cấp chính quyền của tỉnh, huyện quan tâm đầu tư cho giáo dục với nhiều chính sách hỗ trợ giáo viên và học sinh nhằm giúp giáo dục huyện Vân Đồn ngày càng phát triển

Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo huyện Vân Đồn đang thực hiện quản

lý tài chính theo phân cấp ngành Vì vậy công tác quản lý tài chính cần được nâng cao rõ rệt và cần được chú trọng thực hiện một các nghiêm túc có định hướng

Mặc dù, công tác quản lý tài chính của huyện cũng đã có nhiều thay đổi tích cực Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính cho sự nghiệp giáo dục huyện Vân Đồn vẫn còn gặp nhiều khó khăn và tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong thực hiện quản lý tài chính theo ngành như công tác lập dự toán chưa sát thực tế, giao

Trang 17

dự toán chưa kịp thời, phân bổ dự toán và biên chế giáo viên giữa các đơn vị còn chênh lệch lớn, chưa hợp lý giữa các trường trên địa bàn xã có điều kiện kinh tế khó khăn và các trường trên địa bàn xã thị trấn Kinh phí mua sắm cấp cho các đơn vị vẫn mang tính hình thức, chỉ định, áp đặt Kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở trường lớp chưa hợp lý Các đơn vị chấp hành quy định về lập dự toán, điều hành

dự toán và quyết toán ngân sách chưa nghiêm Trình độ chuyên môn của đội ngũ

kế toán cơ sở chưa cao và năng lực quản lý tài chính của thủ trưởng các cơ sở giáo dục chưa tốt nên việc tham mưu, quản lý sử dụng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) chưa hợp lý và hiệu quả Công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với các cơ sở giáo dục vẫn còn buông lỏng nên khó nhận ra sai phạm trong việc

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện đến năm 2020

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách nhà nước cho

sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn giai đoạn 2013 -2015;

- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn đến năm 2020 1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1/ Thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa

Trang 18

bàn huyện Vân Đồn như thế nào? Công tác quản lý chi ngân sách NN cho sự nghiệp giáo dục của huyện Vân Đồn có những ưu điểm, nhược điểm là gì?

2/ Đâu là những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn trong thời gian qua?

3/ Những giải pháp nào nhằm tăng cường quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn trong thời gian tới là gì?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn

Đối tượng khảo sát: Thanh tra huyện, Phòng tài chính – kế hoạch, phòng Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục khối mầm non, tiểu học, trung học cơ

sở, phổ thông cơ sở công lập trên địa bàn huyện Vân Đồn

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

1.4.2.1 Phạm vi về nội dung

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn (Khối Mầm Non, tiểu học, THCS, phổ thông cơ cở, Phòng giáo dục& đào tạo huyện Vân Đồn) Qua đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện

1.4.2.2 Phạm vi thời gian

Thời gian thu thập số liệu thứ cấp (số liệu phục vụ nghiên cứu) trong 3 năm từ năm 2013 – 2015 Số liệu điều sơ cấp phục vụ nghiên cứu được tiến hành trong năm 2016

Thời gian thực hiện luận văn từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 9/2016 1.4.2.3 Phạm vi không gian

Đề tài được nghiên cứu, thực hiện trên địa bàn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

1.5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN và công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục cấp huyện Phân tích thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Vân

Trang 19

Đồn để đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và tìm ra nguyên nhân Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện Vân Đồn

Đề tài cũng đã chỉ ra được những ưu - khuyết điểm trong nghiên cứu công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện và cụ thể hóa vấn đề quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục ở huyện nhằm hạn chế những biểu hiện tiêu cực, lãng phí gây thất thoát ngân sách nhà nước

Trang 20

PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước gắn liền hoạt động của Nhà nước, là một trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động nhà nước Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền hình thành chế độ sở hữu

và đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người, mang tính tất yếu

và khách quan, do vậy NSNN cũng mang tính khách quan Khi không còn Nhà nước thì không còn NSNN Bản chất Nhà nước quyết định bản chất NSNN, nhưng quản

lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý NSNN mang tính chủ quan Do vậy, nhận thức đúng về bản chất của NSNN và vận dụng thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền (Quốc hội, 2002)

Khi nói về ngân sách Nhà nước, có nhiều cách định nghĩa khác nhau Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ tại điều 1 của Luật NSNN số 01/2002/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 như sau: "Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước"(Quốc hội, 2002)

Có thể hiểu NSNN là bộ phận chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ của mình Mặt khác nó còn là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế xã hội (Quốc hội, 2002) 2.1.1.2 Khái niệm chi ngân sách nhà nước

Chi NSNN được quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật NSNN năm 2002 là: “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước, chi trả nợ của nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” (Quốc hội, 2002)

Có thể hiểu chi NSNN là hoạt động nhằm sử dụng quỹ ngân sách, là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để chi dùng vào những mục đích khác nhau Từ đó chi NSNN được tiến hành trên cơ sở pháp luật và theo kế hoạch chi ngân sách cũng như phân bổ ngân sách do cơ quan quyền lực nhà nước

Trang 21

quyết định Hoạt động chi NSNN nhằm vào mục tiêu thỏa mãn nhu cầu về tài chính cho sự vận hành của bộ máy nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình Chi NSNN là hoạt động được tiến hành bởi hai nhóm chủ thể: nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN; nhóm chủ thể sử dụng NSNN (Quốc hội, 2002)

Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm: Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội, dự trữ tài chính, trả nợ vay nước ngoài, lãi vay trong nước, các khoản chi thường xuyên cho mua sắm của các cơ quan nhà nước

Chi bảo đảm xã hội bao gồm: Giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin đại chúng, thể thao, lương hưu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh tế, quản lý hành chính, an ninh quốc phòng, các khoản chi khác

Phân phối và tài phân phối xã hội: Lương công nhân viên chức và các khoản trợ cấp xã hội, hưu trí

2.1.1.3 Khái niệm hệ thống ngân sách nhà nước

Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ với nhau trong việc tập trung và phân phối, sử dụng nguồn thu để thực hiện các nhiệm vụ chi (Dương Thị Hoàn, 2014)

Hệ thống NSNN được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan

hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách Tại nước ta, tổ chức hệ thống NSNN gắn bó chặt chẽ với việc tổchức bộ máy nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo Hiến pháp Mỗi cấp chính quyền có một cấp ngân sách riêng cung cấp phương tiện vật chất cho cấp chính quyền đó thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trên vùng lãnh thổ Việc hình thành

hệ thống chính quyền nhà nước các cấp là một tất yếu khách quan nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên mọi vùng lãnh thổ của đất nước Chính sự ra đời của hệ thống chính quyền nhà nước nhiều cấp đó là tiền đềcần thiết để tổ chức hệ thống NSNN nhiều cấp (Quốc hội, 2002)

Cấp ngân sách được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền Nhà nước, phù hợp với mô hình tổ chức hệ thống chính quyền Nhà nước ta hiện nay, hệ thống

Trang 22

ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (Quốc hội, 2002):

Ngân sách trung ương phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống ngân sách nhà nước Nó bắt nguồn từ vị trí, vai trò của chính quyền trung ương được Hiến pháp quy định đối với việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Ngân sách trung ương cấp phát kinh phí cho yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trung ương (sự nghiệp văn hoá, sự nghiệp an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, đầu tư phát triển…) Nó còn là trung tâm điều hoà hoạt động ngân sách của địa phương Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngoài ngân sách

xã chưa có đơn vị dự toán, các cấp ngân sách khác đều bao gồm một số đơn vị dự toán của cấp ấy hợp thành

Trên thực tế, ngân sách trung ương là ngân sách của cả nước, tập trung đại

bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhiệm vụ chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nước ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của ngân sách trung ương.Ngân sách trung ương bao gồm:

Ngân sách cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) Ngân sách cấp tỉnh phản ánh nhiệm vụ thu, chi theo lãnh thổ, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh trên địa bàn tỉnh

để tăng nguồn thu, đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách cấp mình

Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện)

Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) Ngân sách cấp xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt và cũng có đặc thù riêng: nguồn thu được khai thác trực tiếp trên địa bàn và nhiệm vụ chi cũng được bố trí để phục vụ cho mục đích trực tiếp của cộng đồng dân cư trong xã mà không thông qua một khâu trung gian nào Ngân sách xã là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống ngân sách nhà nước, đảm bảo điều kiện tài chính để chính quyền xã chủ động khai thác các thế mạnh về đất đai, phát triển

Trang 23

kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn

an ninh, trật tự trên địa bàn (Dương Thị Hoàn, 2014)

2.1.1.4 Khái niệm quản lý chi ngân sách nhà nước

Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách còn hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý Rõ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Quản lý chi NSNN là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi NSNN là quá trình

sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH Vấn đề quan trọng trong quản lý chi NSNN là việc

tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau (Quốc hội, 2002):

Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát

Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước

Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi

Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các

tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển KT-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp

Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi

2.1.1.5 Giáo dục

Giáo dục là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục học

Về bản chất giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệm lịch sử xã hộicủa các thế hệ loài người

Trang 24

Về hoạt động giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành chohọ những phẩm chất nhân cách

Về mặt phạm vi khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:

Ở cấp độ rộng nhất giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoá con người Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan vàkhách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân

Ở cấp độ thứ hai giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội Đó là hoạt động có mục đíchcủa xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người đểhình thành cho họ những phẩm chất nhân cách

Ở cấp độ thứ ba giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình sư phạm là quátrình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp

Ở cấp độ thứ tư giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩmchất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sống hoạt động và giao lưu (Hà Thị Mai, 2013)

2.1.1.6 Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Nhằm mục đích nâng cao phúc lợi xã hội về mặt giáo dục và phát triển về thể chất, tinh thần của nhân dân Chi ngân sách cho giáo dục là điều kiện không thể thiếu cho sự nghiệp của toàn đảng, tàn dân nhằm nâng cao chất lượng dạy và học “tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa các điều kiện dạy và học, chi của ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục là nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ đặt ra cho giáo dục kết hợp với các nguồn kinh phí khác (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Các khoản chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục được thể hiện qua từng nhóm mục chi như sau:

Nhóm 1: Chi thanh toán cho cá nhân (chi cho con người)

Nhóm 2: Chi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ;

Nhóm 3: Chi mua sắm, sửa chữa;

Nhóm 4: Các khoản chi khác

Ngoài ra còn chi đầu tư xây dựng cơ bản, chi cho các chương trình mục tiêu

Trang 25

2.1.2 Vai trò và nguyên tắc quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục

2.1.2.1 Vai trò của chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Thứ nhất, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, đảm bảo tiết kiệm,có hiệu quả Thông qua quản lý các khoản cấp phát của chi NSNN sẽ có tác động khác nhau đến đời sống KT-XH, giữ vững ổn định, đặc biệt là giải quyết các vấn đề bức xúc của xã hội như: xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,các hoạt động mang tính cộng đồng Quản lý chi tiêu của NSNN có hiệu quả sẽ tác động vào kích cầu khi nền kinh tế bị giảm sút hoặc cắt giảm chi tiêu chính phủ để bình ổn giá cả thúc đẩy sản xuất phát triển, hình thành quỹ dự phòng trong NSNN để ứng phó với những biến động của thị trường (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ hai, thông qua quản lý các dự án đầu tư phát triển nhằm phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả Quản lý chi ngân sách góp phần điều tiết thu nhập dân cư thực hiện công bằng xã hội Trong tình hình phân hoá giàu nghèo ngày càng gia tăng chính sách chi NSNN và quản lý chi NSNN sẽ giảm bớt khoảng cách phân hoá giàu nghèo giữa các vùng, các khu vực, các tầng lớp dân cư, góp phần khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường Vai trò của quản lý chi ngân sách trong việc phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở tầm vĩ mô được thể hiện rất rõ Đồng thời vai trò của nó còn thể hiện ở chổ thông qua đầu tư và quản lý vốn đầu tư sẽ tạo ra điều kiện rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị,giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa Có thể nói quản lý chi ngân sách có hiệu quả là yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển bền vững(Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ ba, quản lý chi NSNN có vai trò điều tiết giá cả,chống suy thoái và chống lạm phát Khi nền kinh tế lạm phát và suy thoái nhà nước phải sử dụng công cụ chi ngân sách để khắc phục tình trạng này Sự mất cân đối giữa cung - cầu sẽ tác động đến giá cả giá cả tăng hoăc giảm Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách để điều tiết, can thiệp vào thị trường dưới hình thức cắt giảm chi tiêu, cắt giảm đầu tư hoặc tăng đầu tư, tăng chi tiêu cho bộ máy QLNN, cũng như trợ vốn, trợ giá và sử dụng quỹ dự trữ của nhà nước Trong quá trình điều tiết thị trường việc quản lý chi ngân sách có vai trò rất lớn đến trong viêc chống lạm phát và suy thoái, kích cầu nền kinh tế Khi nền kinh tế lạm phát nhà nước cắt giảm chi tiêu, thắt chặt chính sách tiền tệ để hạn chế tổng cung tổng cầu, hạn chế đầu tư của xã hội làm cho giá cả dần dần ổn

Trang 26

định, chống lạm phát Khi nền kinh suy thoái, sức mua giảm sút nhà nước tăng chi đầu tư để tăng cung, tăng cầu, tạo việc làm, kích cầu chống suy thoái nền kinh tế (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Thứ tư, để duy trì sự ổn định của môi trường kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ chi ngân sách Thông qua quản lý các khoản chi thường xuyên, chi đầu

tư phát triển, Nhà nước sẽ điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng

cụ thể, tạo ra sự kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư vào các ngành kinh tế mũi nhọn, đầu tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở để nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

2.1.2.2 Nguyên tắc quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Nguyên tắc quản lý theo dự toán:

Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu bắt buộc của chu trình quản lý tài chính nhà nước Những khoản chi thường xuyên một khi đã được ghi vào dự toán chi và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên giác độ quản lý, số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chức năng quản lý tài chính nhà nước với các đơn vị thụ hưởng NSNN Lập dự toán là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất cho toàn bộ chu trình chi thường xuyên, nó quyết định số lượng, chất lượng phân

bổ và sử dụng nguồn lực tài chính Lập dự toán còn là căn cứ quan trọng cho việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên phát sinh hàng năm Hay nói cách khác, quản lý theo dự toán đối với chi thường xuyên là cơ sở để đảm bảo cân đối NSNN, tạo điều kiện cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tuỳ tiện của các đơn vị trong quá trình sử dụng ngân sách Tuy vậy, điều quan trọng ở đây là cần phải nâng cao chất lượng lập và xét duyệt dự toán trên cơ cở bố trí ngân sách sát, đúng với thực tế nhiệm vụ của từng đối tượng, từng loại hình hoạt động Mức chi cho mỗi hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quan trong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sự khác nhau, qui mô và tính chất hoạt động có sự khác nhau sẽ dẫn đến mức chi từ NSNN cho các cơ quan đó cũng có sự khác nhau (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả, tiết kiệm:

Một trong những điều kiện để đạt được hiệu quả là tiết kiệm Hiệu quả ở

Trang 27

đây là phải gắn với mục tiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu

để đạt được mục tiêu đó Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chủ đạo của mọi hoạt động kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thường xuyên nói riêng, bởi khả năng cung ứng nguồn tài chính có hạn trong khi nhu cầu chi tiêu lại gia tăng với tốc độ nhanh Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính phải tính toán sao cho với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đạt hiệu quả một cách tốt nhất (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Ngoài ra, do đặc thù hoạt động của NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng

và phức tạp, nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên của NSNN

Phải xây dựng được các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao Chỉ có như vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của NSNN mới trở thành căn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn hình thức cấp phát

áp dụng cho mỗi loại hình đơn vị một cách phù hợp với yêu cầu quản lý của từng nhóm mục chi (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hình hoạt động hoặc theo nhóm các mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn được hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau, trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhất cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì vậy, khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi từ NSNN phải đặt trong sự ràng buộc với hiệu quả và ngược lại (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Khi đánh giá tính hiệu quả của chi NSNN phải có quan điểm toàn diện, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mỗi khoản chi thường xuyên tới các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và tính đến thời gian phát huy tác dụng của nó Vì vậy, khi nói tới hiệu quả của chi NSNN người ta hiểu đó là những lợi ích về kinh

tế và xã hội mà toàn xã hội được thụ hưởng

Trang 28

Sự tôn trọng nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi thường xuyên của NSNN được nhìn nhận qua các giác độ: Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ đơn vị cơ sở thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực nhà nước từ thấp đến cao Quyết định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên thuộc về Quốc hội, HĐND các cấp Chỉ sau khi dự toán đã được Quốc hội, HĐND các cấp phê duyệt và thông qua mới trở thành căn cứ chính thức để phân

bổ số chi thường xuyên cho mỗi ngành, mỗi cấp Do vậy, quyết định của Quốc hội, HĐND các cấp về việc thông qua dự toán chi thường xuyên từ NSNN cho các cấp, các ngành như là một đạo luật điều chỉnh đến hoạt động của lĩnh vực này

Vì vậy, các cấp, các ngành phải có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh các chỉ tiêu thuộc dự toán chi thường xuyên đã được thông qua (Quốc hội, 2002; Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt mà phân bổ

và sử dụng cho các khoản, mục đó và hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định (Vũ Thị Nhài, 2007; Quốc hội, 2002)

Nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN:

Quản lý quỹ NSNN là một trong những chức năng quan trọng của KBNN

Vì vậy, KBNN vừa có quyền, vừa có trách nhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi NSNN, đặc biệt là các khoản chi thường xuyên; chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là chi thường xuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này Thực hiện kiểm soát chi trực tiếp qua KBNN sẽ nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các đơn vị có liên quan đến công tác quản lý

và sử dụng NSNN góp phần lập lại kỷ cương tài chính (Bộ Tài chính, 2011; Quốc hội, 2002)

Một số vấn đề cơ bản khi thực hiện nguyên tắc chi trực tiếp qua KBNN đó là: Một là, mọi khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền qui định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí chuẩn chi (Quốc hội, 2002)

Hai là, tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án sử dụng kinh phí NSNN (gọi chung là đơn vị sử dụng kinh phí NSNN) phải mở tài khoản tại KBNN, chịu

Trang 29

sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch toán và quyết toán NSNN (Quốc hội, 2002)

Ba là, KBNN có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi

và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi NSNN theo đúng qui định, tham gia với các cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số thực chi NSNN qua kho bạc của các đơn vị KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả

và thông báo cho các đơn vị sử dụng NSNN biết đồng thời gửi cho cơ quan tài chính đồng cấp giải quyết trong các trường hợp như: Chi không đúng mục đích, đối tượng theo dự toán được duyệt; chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu tài chính của nhà nước; không đủ các điều kiện về chi theo quy định (Quốc hội, 2002)

Bốn là, mọi khoản chi đều phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo từng niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN Các khoản chi bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được qui đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền qui định (Quốc hội, 2002)

Năm là, trong quá trình quản lý, cấp phát, quyết toán chi NSNN, các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi giảm chi NSNN (Quốc hội, 2002)

2.1.3 Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục Quản lý chi NSNN phải theo một chu trình Một chu trình ngân sách gồm ba khâu nối tiếp nhau: Lập dự toán chi ngân sách, chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách Chu trình ngân sách thường bắt đầu từ trước năm ngân sách và kết thúc sau năm ngân sách Trong một năm ngân sách đồng thời diễn ra cả ba khâu của chu trình ngân sách đó là: chấp hành ngân sách của chu trình ngân sách hiện tại; quyết toán ngân sách của chu trình ngân sách trước đó và lập ngân sách cho chu trình tiếp theo

2.1.3.1 Công tác lập, duyệt và phân bổ dự toán

Lập dự toán căn cứ vào chủ trương đường lối, chính sách phát triển kinh tế của địa bàn; căn cứ vào các định mức chi NSNN; căn cứ vào việc đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm trước Dự toán được lập dựa vào mục lục NSNN hiện hành

Trang 30

Phòng kế toán giáo dục sau khi xem xét dự toán do các trường gửi lên sau

đó tổng hợp lại Sau khi tổng hợp dự toán gửi phòng Tài chính – Kế hoạch trình lên UBND huyện và Sở tài chính

Dựa vào định mức chi đã được duyệt, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho sự nghiệp giáo dục, phòng Tài chính huyện có nhiệm vụ cấp phát NSNN cho các đợn vị giáo dục trong huyện theo đúng dự toán được duyệt

2.1.3.2 Chấp hành chi ngân sách nhà nước

Chấp hành ngân sách là bước tiếp theo và quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới quản lý ngân sách Nếu khâu lập kế có thể triển khai và thực hiện hay không

là tùy vào khâu chấp hành ngân sách Việc chấp hành ngân sách đúng đắn là tiền

đề quan trọng bảo đảm điều kiện để thực hiện các khoản thu, chi đã ghi trong kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, tránh mất cân đối ngân sách Thực chất chấp hành dự toán ngân sách huyện là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, tài chính và hành chính nhằm thực hiện các chỉ tiêu thu, chi trong dự toán ngân sách đã được phê duyệt

2.1.3.3 Quyết toán ngân sách, kiểm tra, giám sát chi ngân sách nhà nước

Quyết toán chi ngân sách nhà nước là khâu cuối cùng của quản lý chi NSNN, từ việc tổng hợp, phân tích, đánh giá các khoản chi NSNN Nội dung công tác quyết toán chi ngân sách bao gồm:

Lập báo cáo quyết toán

Thẩm tra và phê duyệt quyết toán

Công khai tài chính

Kiểm tra, giám sát chi NSNN

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

2.1.4.1 Chính sách tài chính của nhà nước

Hệ thống các văn bản về chính sách pháp quy tài chính, các hình thức, phương pháp tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ, phân phối các nguồn tài chính

Cơ chế quản lý tài chính tạo ra hành lang pháp lý, giúp cho quá trình hình thành, tạo lập, sử dụng các nguồn lực tài chính phục vụ tất cả các lĩnh vực ngân sách phải đảm bảo, là công cụ điều phối các nguồn lực, đảm bảo hài hoà, cân đối

và công bằng hợp lý trong công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý ngân sách nói riêng, giúp thực hiện nguyên tắc thu đúng và đầy đủ, chi tiêu tiết kiệm,

Trang 31

hạn chế tình trạng sử dụng ngân sách lãng phí, thất thoát, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách, cơ chế quản lý tài chính giúp việc tổ chức bộ máy, đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho bộ máy đó hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trước kia với cơ chế quản lý quan liêu bao cấp hầu hết mọi nhu cầu học hành, sinh hoạt của học sinh đều được Nhà nước bao cấp, do vậy số chi NSNN cho Giáo dục và Đào tạo rất cao Ngày nay khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, phạm vi bao cấp của Nhà nước giảm, Nhà nước chỉ đảm bảo kinh phí để duy trì sự đảm bảo của nhà trường, phần còn lại phải huy động qua chính sách thu học phí của học sinh Do vậy, số chi NSNN cho Giáo dục và Đào tạo đã giảm nhẹ mà chỉ mang tính chất định hướng quản lý

Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập không những được giao quyền tự chủ tài chính mà còn được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy và biên chế Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT là một bước cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các đơn vị sự nghiệp

2.1.4.2 Trình độ chuyên môn của kế toán và năng lực quản lý của chủ tài khoản cấp trường

Con người luôn là yếu tố trung tâm, quyết định mọi sự thành công hay thất

Trang 32

bại Cho dù các điều kiện khác có tốt đến mấy mà con người không có trình độ

để làm chủ thì hiệu quả đem lại là rất thấp Ngành giáo dục và đào tạo cũng không nằm ngoài quy luật đó Hiện nay, hầu hết các cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo nhất là cán bộ quản lý tài chính tại các đơn vị cấp trường là những người giỏi về chuyên môn nhưng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về quản lý kinh tế Với cơ chế giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm ngày càng lớn, đòi hỏi phải có kiến thức về huy động vốn và sử dụng nguồn vốn có hiệu quả Nếu có kiến thức quản lý trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo họ sẽ khai thác hiệu quả các nguồn vốn, biết được cần đầu tư cái gì, đầu tư trong lĩnh vực nào, mức độ đầu tư

ra sao, quản lý vốn như thế nào, tiết kiệm khâu gì, tăng thu nhập cho người lao động ra sao? (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

2.1.4.3 Công tác luân chuyển cán bộ hàng năm

Công tác luân chuyển cán bộ viên chức ngành giáo dục được thực hiện hàng năm dựa vào luật viên chức và các quyết định của UBND tỉnh, quyết định

và quy chế của UBND huyện Việc điều động luân chuyển viên chức hàng năm nhằm tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách cán bộ trong thực tiễn, giúp cho cán bộ có thêm kiến thức thực tế và phát triển nhanh, toàn diện hơn Việc luân chuyển cán bộ được thực hiện theo Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ Chính trị về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý (gọi tắt

là Nghị quyết số 11-NQ/TW) nêu rõ: "Đây là một chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, của toàn bộ hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang, nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương đào tạo, bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ; tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán

bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước; tăng cường cán bộ cho các lĩnh vực và địa bàn cần thiết; khắc phục tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, khép kín trong từng ngành, từng địa phương và từng đơn vị"; Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020

và những năm tiếp theo (gọi tắt là Kết luận số 24-KL/TW) đánh giá: "Kết quả luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương trong hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X

đã góp phần đào tạo được nhiều cán bộ" và"Hầu hết cán bộ qua luân chuyển đều

có bước trưởng thành, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, có quan điểm nhìn nhận và phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện hơn, sát thực tế hơn"; Khoản 1, Điều 36 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ

Trang 33

quy định: "Việc luân chuyển công chức chỉ thực hiện đối với công chức giữ chức

vụ lãnh đạo, quản lý và trong quy hoạch vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý cao hơn" Chuyển đổi vị trí công tác đối CBCCVC được thực hiện theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, theo đó tại Khoản 1, Điều 43 quy định: "Cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền quản lý có trách nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại một số vị trí liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng"; Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với CBCCVC, theo đó tại Điều 1 quy định: "các vị trí công tác trong các lĩnh vực, ngành, nghề phải định kỳ chuyển đổi và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước có liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng"

2.1.4.4 Tổ chức bộ máy và phân cấp quản lý chi ngân sách nhà nước

Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới giáo dục đào tạo sẽ tác động mạnh tới số chi, một mạng lưới giáo dục vừa gọn nhẹ vừa đủ, bố trí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý, giảng dạy thì phần nào sẽ giảm chi cho NSNN và ngược lại trường lớp bố trí không hợp lý, bộ máy quản lý cồng kềnh, biên chế giáo viên giảng dạy quá nhiều, không xếp đủ số giờ, số tiết tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước thì chi NSNN sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng NSNN sẽ giảm xuống Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu dài là từng bước hợp lý hoá mạng lưới tổ chức, tinh giản biên chế gọn nhẹ, nâng cao chất lượng giảng dạy, phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệ thống giáo dục đào tạo Ngành Tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chi NSNN cho giáo dục đào tạo để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức mạng lưới giáo dục đào tạo (Nguyễn Ngọc Hùng, 2006)

Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền Nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi của ngân sách Phân cấp quản lý NSNN nhằm mục đích gắn các hoạt động của NSNN với các hoạt động kinh tế - xã hội ở từng địa phương một cách

cụ thể nhằm tạo và nâng cao tính tự chủ của từng địa phương với mục tiêu tập trung đầy đủ, kịp thời, đúng chính sách, đúng chế độ các nguồn tài chính quốc

Trang 34

gia và phân phối, sử dụng công bằng, hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả cao phục vụ các mục tiêu được hoạch định phù hợp từng địa phương

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.2.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT-XH Việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục-đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và tăng cường cơ sở vật chất trường học là nhiệm vụ trọng tâm của GD&ĐT Trong Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI đã khẳng định GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực giáo dục nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính và huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục, ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp giáo dục tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN Từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập, hoàn thiện chính sách học phí (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông: Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định; khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập và đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp: Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học đào tạo trọng điểm; thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo; minh bạch các hoạt động liên doanh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công, bảo

Trang 35

đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

Khuyến khích cá nhân và các doanh nghiệp sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo; xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình cơ sở giáo dục; có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục; thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Bảo đảm đến năm 2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học (Ban Chấp hành Trung ương, 2013)

2.2.2 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

ở một số địa phương ở Việt Nam

Ngành Giáo dục huyện Bình Liêu, đã nghiêm túc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, trong đó định hướng rõ những yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là việc rà soát, sắp xếp để tinh giản bộ máy, biên chế Tính đến 31-3-2014, biên chế của ngành là 777, trong đó Phòng GD-ĐT là 14, các trường là 763 biên chế Năm

2013, ngành đã ký hợp đồng ngắn hạn đối với 46 giáo viên Số lượng biên chế cơ bản đáp ứng được nhu cầu của ngành Hiện trên địa bàn huyện có 24 trường trực thuộc với 145 điểm trường và 464 lớp học Do yêu cầu của công tác phổ cập giáo dục nên mạng lưới trường lớp, điểm trường mở rộng đến hầu hết các thôn, bản Tuy nhiên, việc đi lại giữa các thôn, bản với điểm trường trung tâm không được thuận lợi nên tỷ lệ học sinh/lớp mỏng, điều này gây khó khăn trong công tác quản

lý, tổ chức dạy và học; quy mô bộ máy quản lý cồng kềnh, lãng phí về cơ sở vật chất và nhân lực Phòng GD-ĐT huyện đã xây dựng phương án kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy các trường Trong đó, mục tiêu là huy động học sinh lớp 4, lớp 5 từ các điểm trường lẻ về học tại trường chính và tổ chức bán trú; chuyển đổi các trường TH, THCS thành trường phổ thông dân tộc bán trú; hình thành điểm trường vệ tinh thông qua việc thực hiện ghép lớp 3, lớp 4, lớp 5 từ các điểm trường lẻ xung quanh Cùng với đó, sẽ ghép lớp khác khối trong cùng điểm trường và trường; ghép học sinh ở 2 độ tuổi khác nhau học cùng một trình độ; xoá điểm trường có ít học sinh Theo đó, phương án tinh giản chung của ngành từ năm học 2014 đến 2020 là: Xoá Trường THCS Tình Húc vì số lượng học sinh ít, nhiều học sinh từ nhà đến Trường THCS thị trấn gần hơn đến Trường THCS Tình Húc Theo đó, học sinh các bản của xã Tình Húc gồm: Nà Phạ, Co Nhan, Bắc Liềng, Nà Kẻ, Nà Làng sẽ chuyển sang học ở Trường THCS thị trấn; học

Trang 36

sinh các bản: Chang Nà, Khe Và, Khe Lạc, Khe Cóc, Khe Bốc sẽ học ở Trường PTDT nội trú (trường này đang được xây dựng ở địa bàn xã Tình Húc) Theo phương án, sẽ giảm 22 điểm trường, 107 lớp; 7/8 trường tiểu học và 5/9 trường THCS sẽ có học sinh bán trú Để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, Phòng GD-

ĐT đề nghị UBND huyện bố trí cho phòng 17 biên chế, tăng 3 biên chế so với chỉ tiêu giao năm 2014 Trong đó, lãnh đạo phòng 4 người (1 trưởng phụ trách chung, 3 phó phụ trách 3 cấp học và các nội dung liên quan khác); vị trí của các hoạt động chuyên môn là 12 biên chế và vị trí các công việc hỗ trợ, phục vụ là 1 biên chế Theo lộ trình từ năm 2014 đến 2020, các trường sẽ giảm 169 biên chế

Cụ thể các năm học: 2014-2015 giảm 100; 2015-2016 giảm 32; 2016-2017 giảm 8; 2017-2018 giảm 10; 2018-2019 giảm 7; 2019-2020 giảm 12 Với phương án trên, dự kiến sẽ tiết kiệm được khoảng trên 18 tỷ đồng (Nhật Dạ, 2014)

Huyện Hải Hà là huyện miền núi, điều kiện phát triển kinh tế-xã hội còn gặp nhiều khó khăn, trình độ nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, đây thật sự là rào cản và thách thức đối với ngành giáo dục huyện Hải Hà những năm qua Mặc dù khó khăn song mục tiêu của ngành giáo dục huyện đặt ra trong năm học 2010-2011 là xây dựng mới ba trường trung học cơ sở (THCS), 164 phòng học kiên cố và 64 phòng công vụ cho giáo viên theo đề án kiên cố hóa trường, lớp và sáu phòng học theo đề án mầm non vùng khó Tổng kinh phí đầu

tư cho chương trình này là hơn 100 tỷ đồng, ngành giáo dục huyện đang cùng các cấp, các ngành từ tỉnh đến địa phương tiếp tục đẩy nhanh việc triển khai đề án nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện Đồng thời huyện Hải Hà còn khẩn trương xây dựng kế hoạch và trích hơn 14 tỷ đồng từ ngân sách địa phương cùng với ngân sách tỉnh là hơn 70 tỷ đồng để xây mới 138 phòng học, 56 nhà công vụ cho giáo viên Nhờ sự chủ động, vào cuộc tích cực của địa phương, cho nên trong năm học này, việc học nhờ trường, nhờ lớp như các năm học trước đã giảm đáng kể Phòng Giáo dục huyện Hải Hà, trong năm học 2009-

2010 và học kỳ I năm học 2010-2011, chất lượng giáo dục của huyện đã được nâng lên đáng kể Tỷ lệ lên lớp của các cấp học đạt từ 97% trở lên, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) đạt gần 98% Theo đó, mạng lưới trường, lớp trên địa bàn huyện được quan tâm đầu tư, phát triển đến tận thôn, bản, vùng sâu, vùng xa (Khuyến danh, 2010)

2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Vân Đồn trong quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

Thống nhất chỉ đạo và mạnh dạn phân cấp quản lý kinh tế; phân cấp quản lý

Trang 37

thu, chi ngân sách cho các cấp chính quyền địa phương trên cơ sở thống nhất chính sách, chế độ Tạo điều kiện cho các địa phương phát huy được tính tự chủ,

tự chịu trách nhiệm theo các quy định của pháp luật, thực hiện quản lý tài chính

và sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính; thi hành những biện pháp tài chính cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế địa phương

Thực hiện các biện pháp quản lí chặt chẽ thu, chi NS trên toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách (từ lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán)

Xây dựng một chiến lược đầu tư cho hệ thống giáo dục đào tạo song song với chiến lược phát triển KT-XH Cơ chế, chính sách cho giáo dục đào tạo phải thúc đẩy quan hệ cung cầu về sản phẩm đào tạo, tăng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng, hiệu quả và phải phù hợp với điều kiện, khả năng phát triển KT-XH trong từng thời kỳ

Xây dựng cơ chế quản lý tài chính, ngân sách giáo dục vừa bảo đảm đáp ứng các yêu cầu mở rộng qui mô, chất lượng, hiệu quả, đồng thời gắn với những mục tiêu công bằng, bình đẳng trong giáo dục, kết hợp với cải cách thể chế, cải cách hệ thống tài chính công Đồng thời cần bảo đảm sự đa dạng về phương thức quản lý, cũng như kết hợp chặt chẽ giữa cơ chế quản lý Nhà nước với cơ chế tự vận động của giáo dục trong lĩnh vực quản lý chi cho sự nghiệp giáo dục

2.2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề chi NSNN ở cấp tỉnh, cấp huyện hay các vấn đề về quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục ở các cấp học đã được nghiên cứu rất nhiều từ trước đến nay Nhưng chỉ có một số nghiên cứu có giá trị tham khảo lớn cho đề tài và được thể hiện ở một số nội dung sau:

1 Nghiên cứu “Giải pháp tăng cường quản lý ngân sách nhà nước ở huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” của Hà Sỹ Hiệp (2014) Nghiên cứu phản ánh thực trạng công tác quản lý NSNN trên địa bàn huyện, cũng như đề xuất một số giải pháp cho quản lý chi NSNN ở huyện Vân Đồn

2 Nghiên cứu: “ Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các trường cao đẳng trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” của Tô Kiên Cường (2015) Nghiên cứu góp phần hoàn thiện tổ chức công tác quản lý tài chính tại các trường Cao đẳng trên địa thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

3 Luận án tiến sỹ kinh tế: “đổi mới quản lý chi NSNN trong điều kiện kinh

tế thị trường ở Việt Nam” của Nguyễn Thị Minh (2008) đã hệ thống hoá và làm

Trang 38

rõ thêm được các vấn đề lý luận về NSNN, quản lý chi NSNN trong nền kinh tế thị trường Mối quan hệ phân cấp ngân sách và phân cấp quản lý kinh tế, cơ chế quản lý chi NSNN và sự cần thiết phải đổi mới phương thức chi Quan trọng là khẳng định được vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường thông qua việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế Luận án cũng đã trình bày một cách khái quát thực trạng quản lý chi ngân sách của Việt Nam về phương thức quản lý chi theo yếu tố đầu vào; theo dự án, chương trình mục tiêu; theo kết quả đầu ra và chu trình ngân sách trong khuôn khổ chi tiêu trung hạn Qua đó, rút ra những kết quả đạt được và những hạn chế cùng với những nguyên nhân của việc quản lý chi NSNN trong những năm vừa qua, nhất là từ khi có Luật NSNN ra đời, có hiệu lực và đánh giá được những sửa đổi bổ sung, góp phần tăng cường tiềm lực tài chính quốc gia

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã có ít nhiều đóng góp cho các nhà quả lý trong việc tăng cường quản lý chi NSNN Tuy nhiên, những công trình này chỉ nghiên cứu từng mảng chuyển môn theo nội hàm của chi NSNN,

mà chưa có công trình nào đề cập đến tăng cường quản lý chi NSSN cho sự nghiệp giáo dục trên địa bàn huyện đặc thù như huyện Vân Đồn

Trang 39

PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Vân Đồn

km2 Vân Đồn nằm cách thủ đô Hà Nội 175 km, cách thành phố Hải Phòng 80km Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện;: thị trấn Cái Rồng cách thành phố

Hạ Long 40km về phía Tây, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái trên 100 km về phía Đông

Vị trí địa lí của Vân Đồn thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển (dịch

vụ, du lịch) chất lượng cao, góp phần khai thác vùng biển phía Bắc của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và Tổ Quốc nói chung Vân Đồn nằm trong không gian kinh tế sôi động bao gồm vịnh Bắc Bộ và vành đai kinh tế ven vịnh Bắc Bộ Huyện cũng thuộc hành lang kinh tế Hạ Long - Hải Hà - Móng Cái theo quốc lộ 18, là địa bàn tiếp giáp với Trung Quốc, cửa ngõ ra biển của cả vùng Bắc Bộ

Huyện đảo Vân Đồn có 12 đơn vị hành chính, gồm thị trấn Cái Rồng (trên đảo Cái Bầu) và 11 xã: 6 xã trên đảo Cái Bầu và các đảo nhỏ trong vùn biển phụ cận đảo Cái Bầu ở phía tây bắc của huyện đó là các xã: Đông Xá, Hạ Long, Bình Dân, Đoàn Kết, Đài Xuyên, Vạn Yên; 5 xã thuộc tuyến đảo Vân Hải vòng ra ngoài khơi, ôm lấy rìa phía đông của vịnh Bái Tử Long, là các xã: Minh Châu, Quan Lạn, Ngọc Vừng, Bản Sen, Thắng Lợi

Từ đất liền có thể sang đảo Cái Bầu bằng đường bộ đi qua 3 cây cầu Vân

Trang 40

Đồn I, Vân Đồn II và Vân Đồn III Tỉnh lộ 334 dài 40 km nối tiếp các cây cầu trên và chạy xuyên suốt trong đảo Cái Bầu Tuy nhiên, giao thông trong huyện chủ yếu là bằng đường thủy giữa các đảo Xã Vạn Yên (trên đảo Cái Bầu) có bến cảng Vạn Hoa, thị trấn Cái Rồng (trên đảo Cái Bầu) có cảng Cái Rồng là đầu mối giao thông qua lại giữa các đảo

Hình 3.1 Lược đồ hành chính huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh)

Ngày đăng: 30/03/2019, 07:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w