Đề tài làm rõ thực trạng phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn thị xã Phú Thọ bằng cách phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển sản xuất rau an toàn bao gồm: chi p
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tất Thắng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Hà Sỹ Duẩn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc TS Nguyễn Tất Thắng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Kinh tế, Khoa KT & PTNT- Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND thị xã Phú Thọ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Hà Sỹ Duẩn
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ và sơ đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất rau an toàn 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.2 Điều kiện và quy trình sản xuất RAT 9
2.1.3 Đặc điểm và tiêu chuẩn của RAT 11
2.1.4 Vai trò của sản xuất rau an toàn 13
2.1.5 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất RAT 14
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau an toàn 18
2.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển sản xuất sản xuất rau an toàn 24
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất RAT của các nước trên thế giới 24
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất rau an toàn của các địa phương trong nước 29
2.2.3 Bài học kinh nghiệm 33
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 35
Trang 53.1 Đặc điểm cơ bản cơ bản địa bàn nghiên cứu 35
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 35
3.1.2 Đặc điểm xã hội 39
3.1.3 Đặc điểm kinh tế 40
3.1.4 Tình hình cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn 41
3.2 Phương pháp nghiên cứu 42
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 42
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu 43
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin 45
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 45
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46
Phần 4 Kết quả và thảo luận 48
4.1 Khái quát về phát triển sản xuất rat trên địa bàn thị xã Phú Thọ 48
4.1.1 Diện tích sản xuất RAT của thị xã Phú Thọ giai đoạn 2013 – 2015 48
4.1.2 Năng suất RAT của thị xã Phú Thọ giai đoạn 2013 – 2015 50
4.1.3 Sản lượng RAT của thị xã Phú Thọ giai đoạn 2013 – 2015 50
4.2 Thực trạng phát triển sản xuất rau an toàn tại thị xã Phú Thọ 51
4.2.1 Nguồn lực và đầu tư cho phát triển sản xuất RAT ở thị xã Phú Thọ 51
4.2.2 Tình hình thực hiện quy trình sản xuất RAT 55
4.2.3 Hiệu quả sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ 66
4.2.4 Đánh giá thực trạng sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ 72
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển rat trên địa bàn thị xã Phú Thọ 77
4.3.1 Điều kiện tự nhiên 78
4.3.2 Cơ sở hạ tầng 78
4.3.3 Chủ trương chính sách 79
4.3.4 Tổ chức thực hiện quy trình sản xuất RAT 80
4.3.5 Vốn sản xuất 80
4.3.6 Thị trường 80
4.3.7 Cơ chế quản lý chất lượng RAT 81
4.3.8 Khoa học kỹ thuật 82
4.3.9 Công tác quy hoạch phát triển RAT 82
4.4 Định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn ở thị xã Phú Thọ 83
Trang 64.4.1 Định hướng và mục tiêu phát triển sản xuất RAT trên địa bàn thị xã
Phú Thọ 83
4.4.2 Một số giải pháp phát triển sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ 86
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 95
5.1 Kết luận 96
5.2 Kiến nghị 98
5.2.1 Đối với Nhà nước 98
5.2.2 Đối với chính quyền địa phương 98
5.2.3 Đối với các hộ sản xuất rau an toàn 99
Tài liệu tham khảo 100
Trang 7CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPTG Chi phí trung gian
UBND Ủy ban nhân dân
VA Giá trị gia tăng
VSV Vi sinh vật
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thống kê diện tích đất thị xã Phú Thọ 37
Bảng 3.2 Hiện trạng dân số năm 2010-2015 39
Bảng 3.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn thị xã Phú Thọ 42
Bảng 3.3 Thu thập số liệu thứ cấp 44
Bảng 3.4 Phân bổ mẫu điều tra 45
Bảng 4.1 Diện tích sản xuất rau an toàn qua các năm 2013 - 2015 49
Bảng 4.2 Diện tích một số loại RAT của thị xã Phú Thọ qua 3 năm 2013 – 2015 49
Bảng 4.3 Năng suất một số loại RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ giai đoạn 2013 - 2015 50
Bảng 4.4 Sản lượng RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ giai đoạn 2013 – 2015 51
Bảng 4.5 Nguồn lực sản xuất của các hộ điều tra từ năm 2013 - 2015 52
Bảng 4.6 Các hình thức hỗ trợ vốn sản xuất RAT của các hộ điều tra 53
Bảng 4.7 Chi phí sản xuất một số loại RAT 54
Bảng 4.8 Nguồn cung và hình thức thanh toán một số giống RAT của các hộ 56
Bảng 4.9 Tỷ lệ sử lý giống của các hộ trồng RAT 57
Bảng 4.10 Tình hình sử dụng phân bón cho sản xuất RAT của các hộ 58
Bảng 4.11 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho RAT của các hộ điều tra 60
Bảng 4.12 Nguồn nước sử dụng sản xuất RAT của các hộ 61
Bảng 4.13 Tỷ lệ hộ điều tra tham gia tập huấn sản xuất RAT 62
Bảng 4.14 Tình hình thu hoạch và bảo quản rau của các hộ điều tra 63
Bảng 4.15 Phân phối tiêu thụ một số loại RAT của các hộ điều tra năm 2015 64
Bảng 4.16 Giá bán một số loại RAT và rau thường 67
Bảng 4.17 Chất lượng một số loại RAT của hộ điều tra năm 2015 68
Bảng 4.18 Giá bán theo phân cấp chất lượng RAT trên thị trường 69
Bảng 4.19 Giá trị kinh tế một số loại RAT năm 2015 69
Bảng 4.20 Hiệu quả sản xuất một số loại RAT của các hộ năm 2015 70
Bảng 4.21 Hiệu quả sản xuất RAT theo từng nhóm hộ 71
Bảng 4.22 Phân tích SWOT trong phát triển sản xuất RAT 76
Bảng 4.23 Một số khó khăn trong sản xuất RAT theo đánh giá của hộ 77
Bảng 4.24 Nguyện vọng của người sản xuất về chính sách của nhà nước 79
Bảng 4.25 Bảng công thức luôn canh trồng RAT 95
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Bản đồ địa giới hành chính thị xã Phú Thọ 37
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu vốn của các hộ 53
Biểu đồ 4.2 Cơ cấu cung úng giống cho các hộ 55
Sơ đồ 4.3 Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm của các hộ 66
Sơ đồ 4.4 Mô hình liên kết “ 4 nhà” 65
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Cơ sở đào tạo: Học Viện nông nghiệp Việt Nam
Đánh giá thực trạng sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ trong thời gian qua Từ đó, phân tích các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng, sản lượng, mở rộng diện tích và thị trường tiêu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra; phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin sơ cấp và thu thập thông tin thứ cấp, phương pháp tổng hợp và xử lý
số liệu
Đề tài làm rõ thực trạng phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn thị xã Phú Thọ bằng cách phân tích các yếu tố liên quan đến quá trình phát triển sản xuất rau an toàn bao gồm: chi phí đầu tư; nguồn lực phát triển sản xuất rau an toàn (vốn, đất đai, lao động); thực hiện chăm sóc, sử dụng giống, phòng trừ sâu bệnh; công tác khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; liên kết trong phát triển sản xuất; và cuối cùng là kết quả và hiệu quả phát triển sản xuất rau an toàn (diện tích, năng suất, sản lượng, giá trị sản xuất,…)
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển sản xuất và tiêu thụ trên địa bàn thị xã, phân tích những mặt đạt được và những tồn tại Sản xuất rau an toàn trên địa bàn thị xã vẫn còn nhiều hạn chế: Công tác tuyên truyền, hướng dẫn quy trình sản xuất RAT tới nông dân còn chưa thường xuyên và hiệu quả, việc kiểm tra hướng dẫn của cán bộ khuyến nông chưa sâu sát Việc đầu tư cơ sở hạ tầng đã được chú trọng song chưa đồng bộ, nhất là hệ thống giao thông Việc quảng bá thương hiệu chưa được đẩy mạnh, các hình thức trợ giúp của HTX chưa trọng tâm Việc áp dụng tiêu chuẩn VietGAP tức là một cách kết hợp phương pháp quản lý dịch hại tổng hợp – IPM, một hệ thống tiêu chuẩn sản xuất RAT chưa được các hộ áp dụng phổ biến
Trang 11Đề tài nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau an toàn của thị xã bao gồm các nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên, các chính sách phát triển, nguồn lực, các yếu tố về thị trường,
Trên cơ sở thực trạng phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn thị xã, đề tài đã đề xuất một số giải pháp: 1) Giải pháp về quy hoạch; 2) giải pháp về kỹ thuật; 3) giải pháp các yếu tố đầu vào; 4) giải pháp về thị trường, tổ chức tiêu thụ sản phẩm; 4) Các giải pháp về xây dựng cơ sở hạ tầng và các tổ chức, doanh nghiệp trong ngành hàng
Phát triển sản xuất rau an toàn đã thu lại nhiều kết quả, tuy nhiên đó mới chỉ là những kết quả ban đầu, vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn hạn chế Để khắc phục những hạn chế yếu kém đó thì Nhà nước cần có chính sách cụ thể liên quan đến phát triển sản xuất rau an toàn, đầu tư về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực; cần có sự phối hợp của các cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo phát triển sản xuất rau an toan, chuyển giao kỹ thuật Bên cạnh đó, các hộ nông dân cũng cần mạnh dạn đầu tư các nguồn lực để mở rộng quy mô sản xuất và tăng chất lượng sản phẩm
Trang 12THESIS ABSTRACT Author: Ha Sy Duan
Title of the study: Developing the safe vegetable production in Phu
Tho town
Major: Agricultural Economics
Code: 60.62.01.15
Educational institution: Vietnam National University of Agriculture
The study seeks to evaluate the safe vegetable production situation in Phu Tho town and examine its affecting factors Based on that analysis, the study aims at proposing solutions to improving the safe vegetable quality and quantity, expanding the production area and the consumer market for the product
Both of the primary and secondary data has been collected Subsequently, the gathered data is synthesized, processed and presented
First, the thesis aims at providing the description on the safe vegetable production situation at Phu Tho town, based on the analysis of the major factors affecting the production process Those factors include the cost of investment, the factors regarding production techniques such as seedling selection, pest control, etc., the agricultural extension and technological transfer, the production linkage, and the outcomes and efficiency of the safe vegetable production with the analysis of the criteria like areas, output, productivity, etc
On the basis of the analysis on the safe vegetable production situation in the town, the study aims at drawing some main conclusions on the advantages and disadvantages of the safe vegetable production situation To specify, in spite
of some initial improvements in the safe vegetable production, there are a lot of revealed shortcomings, such as the unstandardized infrastructure, the inadequate support from the agricultural cooperatives, the inefficiency in the technical support activities of the agricultural extension staff, the lack of trade promotion and brand building activities and the unpopularity of the standardized production technique application like VietGAP
Finally, the study provides several implications in terms of planning, technical support, inputs, product consumption, infrastructure improvement,
Trang 13entrepreneurship development, etc In addition, it is necessary that the government is supposed to issue the specific pro- safe vegetable production policies and enforce them with the coordination of the local authority Meanwhile, the farmer households are advised to invest in expanding their production and improving their product quality
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Rau là loại thực phẩm không thể thiếu trong đời sống hằng ngày là nguồn thực phẩm quan trọng trong việc bổ sung dinh dưỡng thiết yếu cho con người Đặc biệt là các loại vitamin, chất khoáng, chất xơ có trong rau giúp cân bằng dinh dưỡng cho cơ thể Rau còn có ý nghĩa kinh tế: là cây lương thực, là loại hàng hoá có giá trị xuất khẩu cao và là nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến Một số loại rau còn được xem như loại thực phẩm chức năng, được sử dụng như dược liệu quý giúp tăng cường sức khoẻ và ngăn ngừa bệnh tật Tuy nhiên, việc người tiêu dùng hiện nay có được sử dụng các loại thực phẩm này với chất lượng đảm bảo tươi sạch và an toàn hay không đang là vấn
đề được quan tâm đặc biệt
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trong rau xanh đang thực sự trở thành vấn đề quan tâm của toàn xã hội Tình trạng rau bị ô nhiễm do thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV), Nitrat (NO3), kim loại nặng, vi sinh vật (VSV) gây hại đã đến mức báo động Kết quả phân tích dư lượng các chất độc hại trong rau của Cục BVTV và Viện BVTV trong thời gian gần đây cho thấy: có tới 30 – 50% số mẫu rau có dư lượng thuốc BVTV, kim loại nặng, Nitrat và vi sinh vật gây bệnh vẫn được bán tràn lan trên thị trường Đó là những nguyên nhân chính gây nên tình trạng ngộ độc thực phẩm cấp tính cho người sử dụng
Thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ nằm ở bờ hữu ngạn sông Thao, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng sông Hồng và vùng đồi núi trung du Với lợi thế đó, nhân dân các xã, phường trên địa bàn thị xã đã phát triển nghề trồng rau xanh bán cho nhân dân các vùng lân cận, có điều trước đây việc sản xuất, canh tác, tiêu thụ chủ yếu theo cách truyền thống, người ta áp dụng mọi biện pháp làm sao
có năng suất, sản lượng rau cao nhất mà ít chú ý đến vấn đề an toàn Từ năm
2010, người dân trên địa bàn thị xã được hướng dẫn và áp dụng phương pháp trồng rau an toàn (RAT) theo chủ trương của UBND tỉnh Phú Thọ Sau hơn 5 năm áp dụng vào sản xuất thì sản lượng rau an toàn của thị xã Phú Thọ đã góp một phần làm phong phú thêm chủng loại rau và số lượng rau cung cấp cho người tiêu dùng, giải quyết việc làm cho phần lớn lao động ở các vùng nông thôn Đem lại nguồn thu nhập ổn định và từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa có
Trang 15chất lượng, hiệu quả kinh tế Tuy nhiên việc sản xuất RAT cũng gặp những khó khăn về thời tiết Điều kiện cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất Tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng nhiều Nguồn giống cây trồng chưa được đảm bảo tốt, sản xuất còn manh mún , nhỏ lẻ, chưa quy hoạch chi tiết vùng sản xuất RAT, chưa xây dựng được hệ thống phân phối, tiêu thụ
Sản xuất rau an toàn bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng, không chỉ là vấn
đề tất yếu của sản xuất nông nghiệp hiện nay, mà còn góp phần nâng cao tính cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở ra thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước, khuyến khích phát triển sản xuất Xuất phát từ lợi ích của người sản xuất rau và tình hình thực tế sản xuất rau của thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ còn
nhiều hạn chế cần tìm hướng giải quyết, tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển sản xuất rau an toàn trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ” làm đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ Với mong muốn đưa ra những giải pháp góp phần giải quyết những khó khăn trong việc phát triển sản xuất RAT thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp cận đô thị của thị xã Phú Thọ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ trong thời gian qua Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sản xuất RAT trên địa bàn thị xã Phú Thọ trong thời gian tới
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu các vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất rau
Trang 16an toàn với chủ thể là các hộ sản xuất rau an toàn; hợp tác xã (HTX), những đối tượng tham gia bảo quản, tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn thị xã
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung phát triển sản xuất rau an toàn và tìm
ra những giải pháp để phát triển sản xuất rau an toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và định hướng của thị xã Phú Thọ
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ Trong đó tập trung nghiên cứu sản xuất rau an toàn của các hộ sản xuất kinh doanh trên địa bàn 03 xã, phường: Văn Lung, Hà Thạch và phường Trường Thịnh
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
- Số liệu thứ cấp trong đề tài được thu thập trong thời gian: 2013 - 2015
- Số liệu sơ cấp sẽ khảo sát trong năm 2015
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC, THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong phát triển sản xuất RAT từ đó hoàn thiện quy trình sản xuất RAT theo hướng VietGap, có hiệu quả trong điều kiện của thị xã Phú Thọ
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của đề tài áp dụng vào sản xuất sẽ góp phần làm tăng năng xuất, chất lượng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất RAT trên địa bàn thị xã
Phú Thọ, hướng tới sản xuất bền vững và nâng cao thu nhập cho các hộ dân
- Cung cấp cơ sở khoa học và góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất RAT
theo hướng VietGap, có hiệu quả trong điều kiện của thị xã Phú Thọ
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT RAU AN TOÀN 2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm rau an toàn
Rau an toàn trong thời gian gần đây được nhiều người quan tâm Trên thực
tế đã có nhiều trường hợp, người tiêu dùng sau khi ăn rau đã bị ngộ độc và đã có
trường hợp bị tử vong Vậy rau an toàn là gì ?
Rau an toàn được định nghĩa như sau: “ Những sản phẩm rau tươi gồm tất
cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả, có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ ô nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn (RAT)” (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)
Khái niệm rau "an toàn" được quy định là các chất sau đây chứa trong rau không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép:
1 Dư lượng thuốc hoá học (thuốc sâu, thuốc cỏ) -> Dẫn đến ngộ độc đồng loạt
2 Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng -> Gây tiêu chảy và tiêu chảy cấp
3 Dư lượng đạm nitrat (NO3) -> Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác
4 Dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, asêníc, kẽm, đồng ) -> Gây ung thư và một số bệnh khó chữa trị khác
Hai tiêu chuẩn thứ 3 và thứ 4 là tác nhân chính dẫn đến bệnh ung thư, nó không gây tác hại tức thời mà tích luỹ nhiễm độc theo thời gian Nhưng khi đã phát hiện được thì khó chữa trị
Hai tiêu chuẩn 1 và 2, ta thường hay gặp do việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc bệnh không hợp lý, hoặc do sử dụng phân người, phân gia súc tươi để bón cho rau
Ở thời điểm hiện tại có 2 loại rau có thể được coi là an toàn cho người tiêu dùng đó là:
- Rau hữu cơ: Được sản xuất theo phương thức dùng phân vi sinh, tưới nước sạch, trên đất không bị ô nhiễm và không sử dụng phân bón hoá học hay thuốc bảo vệ thực vật Loại rau này được coi là có mức độ tin tưởng về độ sạch cao nhất và đối tượng sử dụng thường xuyên là những người có thu nhập cao
Trang 18- Rau an toàn: Là loại rau được sản xuất theo quy trình phòng, chống dịch hại tổng hợp(IPM) và quá trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật được kiểm soát là chính
Để rau xanh thật sự an toàn thì đối với nhóm 1 cần hạn chế việc sử dụng thuốc trừ sâu, chỉ sử dụng khi cần thiết, không dùng các loại thuốc đã bị cấm và đảm bảo thời gian cách ly ít nhất là 10 sau khi phun mới thu hoạch Đối với nhóm 2 tuyệt đối không dùng phân tươi để bón cho rau và không sử dụng nguồn nước thải khu vực gần bệnh viện để tưới Đối với nhóm 3 cần chú ý không lạm dụng phân đạm và kết thúc bón cho rau trước khi thu hoạch ít nhất 10 – 15 ngày Đối với nhóm 4 chú ý vùng có nhiều kim loại nặng thì không nên trồng, không bón các chất thải công nghiệp…
2.1.1.2 Khái niệm về sản xuất
Sản xuất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề chính sau: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm? Trong sản xuất, con người đấu tranh với thiên nhiên để làm thay đổi những vật chất sẵn
có nhằm tạo ra lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở và những của cải vật chất khác phục vụ cho cuộc sống Sản xuất là điều kiện tồn tại của mỗi xã hội, việc khai thác và tận dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong sản xuất, con người
là lực lượng sản xuất chủ yếu giữ vai trò quyết định Có nhiều quan điểm khác nhau về sản xuất, trong đó có hai quan điểm chính sau:
Theo điểm của hệ thống sản xuất vật chất (MPS), thì sản xuất là tạo ra của cải vật chất, nên trong xã hội chỉ có hai ngành sản xuất là Nông nghiệp và Công nghiệp Theo hệ thống tài khoản quốc gia của Liên hiệp quốc, thì quan niệm về sản xuất rộng hơn Sản xuất là tạo ra của cải vật chất và dịch vụ, nên trong xã hội
có ba ngành sản xuất là Nông nghiệp, Công nghiệp và Dịch vụ Quá trình sản xuất bắt đầu từ khâu chuẩn bị các yếu tố đầu vào, để tiến hành sản xuất cho tới khi có các sản phẩm đủ tiêu chuẩn nhập kho
Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ thống với trình độ
Trang 19sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q = f(X1, X2, , Xn)
Trong đó: Q biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định, X1, X2, , Xn
là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong quá trình sản xuất
Các yếu tố tham gia sản xuất:
Bất cứ quá trình sản xuất nào cũng có sự tham gia của 3 yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và lực lượng lao động (con người) Trong đó, lực lượng lao động là yếu tố quyết định
+ Đối tượng lao động trong sản xuất rau an toàn là: Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…
+ Tư liệu lao động trong sản xuất rau an toàn là: Diện tích đất, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, kho tàng, cơ sở hạ tầng
+ Lực lượng lao động trong sản xuất rau an toàn là người lao động có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng trong sản xuất rau an toàn
Các yếu tố này thường gọi là yếu tố đầu vào hay nguồn lực sản xuất Sản phẩm: Toàn bộ sản phẩm hữu ích thu được từ rau an toàn trong một thời kỳ nhất định, thường tính là một năm Sản phẩm thu được từ rau an toàn là:
- Rau an toàn tươi chưa qua sơ chế
- Rau an toàn đã qua sơ chế
2.1.1.3 Khái niệm về phát triển
chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật
Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay
đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những
Trang 20nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền của công dân Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng bền vững về tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường Tăng trưởng và phát triển là hai mặt của sự phát triển xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng diễn tả động thái của nền kinh tế, còn phát triển phản ánh sự thay đổi về chất lượng của nền kinh tế xã hội để phân biệt các trình độ khác nhau trong sự tiến bộ xã hội (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997)
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế diễn tả động thái biến đổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia Tăng trưởng kinh tế thường được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Đó là kết quả của tất cả các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra Còn phát triển có thể hiểu là một quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Trong đó, bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung, 1997)
2.1.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất
Phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về quy mô (sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản
đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích thích sản xuất phát triển
Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó qui mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước trên cơ sở thị trường chấp nhận
Phát triển sản xuất (PTSX) có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu Trong đó:
- PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không đổi, sử dụng kỹ
Trang 21thuật giản đơn Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên
PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân, hoặc cả hai
- PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế Như vậy PTSX theo chiều sâu là làm tăng khối lượng sản phẩm
và hiệu quả kinh tế sản xuất trên một đơn vị diện tích bằng cách đầu tư thêm giống, vốn, kỹ thuật và lao động
Trong quá trình phát triển như vậy nó sẽ làm thay đổi cơ cấu sản xuất về sản phẩm Đồng thời làm thay đổi về qui mô sản xuất, về hình thức tổ chức sản xuất, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hoàn thiện dần từng bước về cơ cấu, để tạo ra một cơ cấu hoàn hảo
Chú ý trong phát triển sản xuất phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất tìm nguồn đầu vào, đầu ra sao cho bền vững nhất và không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên
Vậy tăng trưởng sản xuất là sự tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm sản xuất trong một thời gian nhất định Là kết quả của tất cả các hoạt động và dịch vụ sản xuất tạo ra
Còn hiệu quả sản xuất phản ánh quy mô sản lượng sản phẩm và dịch vụ sản xuất ra trong 1 thời gian nhất định, thường là 1 năm
2.1.1.5 Phát triển sản xuất rau an toàn
Theo quan điểm phát triển, phát triển sản xuất rau an toàn là sự tăng lên về mặt số lượng, cải thiện về chất lượng sản phẩm, năng suất sản phẩm, sự hoàn thiện của cả thị trường đầu vào và đầu ra Tuy nhiên phải phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về sản phẩm rau an toàn
Phát triển sản xuất rau an toàn nhằm cung ứng cho thị trường sản phẩm sạch
có lợi cho sức khoẻ, sản xuất sản phẩm thị trường cần, đáp ứng nhu cầu thị hiếu, hướng dẫn thị trường, điều tiết hướng dẫn tiêu dùng, góp phần phát triển kinh tế,
ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần tổ chức lại sản xuất và lưu thông phân phối theo hướng văn minh, hiện đại; góp phần phát triển bền vững
Trang 222.1.2 Điều kiện và quy trình sản xuất RAT
2.1.2.1 Điều kiện sản xuất rau an toàn
a, Nhân lực
- Người sản xuất phải được huấn luyện, đào tạo qua các lớp tập huấn IPM rau (nếu sản xuất theo VietGAP thì phải được huấn luyện về kỹ thuật sản xuất RAT theo VietGAP) do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đào tạo và cấp Giấy chứng nhận
- Người sản xuất phải thực hiện đúng Quy trình kỹ thuật sản xuất RAT
- Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT phải có cán bộ chuyên ngành trồng trọt hoặc BVTV từ trung cấp trở lên để hướng dẫn, giám sát kỹ thuật sản xuất RAT
- Đất trồng và giá thể:
Vùng đất sản xuất RAT phải ở trong Quy hoạch vùng đủ điều kiện sản xuất RAT Không chịu ảnh hưởng trực tiếp các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, các lò giết mổ gia súc tập trung, nghĩa trang, đường giao thông lớn
Giá thể sản xuất RAT phải làm từ những vật liệu an toàn, phù hợp với sản xuất rau, không bị nhiễm bẩn, không được pha trộn các loại hóa chất và phân bón độc hại, ngoài danh mục phân bón được phép sử dụng ở Việt Nam
Hàm lượng một số kim loại trong đất, giá thể trước khi sản xuất và trong quá trình sản xuất phải dưới mức quy định tối đa cho phép theo quy định hiện hành Trường hợp có kim loại trong đất vượt ngưỡng cho phép thì phải được cơ quan chuyên môn lấy mẫu rau đại diện để kiểm tra kim loại nặng đó trong rau Nếu hàm lượng kim loại nặng trong rau dưới mức quy định tối đa cho phép thì vẫn công nhận vùng đất đó đảm bảo để sản xuất RAT nhưng định kỳ hàng năm phải lấy mẫu rau phân tích kiểm tra
Trang 23- Nước sử dụng trong sản xuất rau mầm phải đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt cho người theo quy định hiện hành
c, Phân bón
- Chỉ sử dụng phân hữu cơ hoại mục, tuyệt đối không được sử dụng phân tươi Nghiêm cấm xây các bể chứa phân tươi trên đồng, ruộng để bón, tưới cho rau
- Sử dụng hợp lý, cân đối tỷ lệ các loại phân vô cơ, hữu cơ theo quy định
cụ thể trong quy trình kỹ thuật sản xuất RAT
d, Thuốc BVTV
Sử dụng các loại thuốc BVTV có trong danh mục thuốc BVTV được phép
sử dụng trên rau theo quy định của Bộ Nông nghiệp và PTNT Ưu tiên sử dụng thuốc BVTV sinh học, nguồn gốc sinh hoạt Nghiêm cấm sử dụng thuốc ngoài danh mục, thuốc hóa học có độ độc cao và thuốc BVTV cấm Hạn chế sử dụng chất kích thích sinh trưởng trên rau Đảm bảo thời gian cách ly theo quy định trên nhãn thuốc khi thu hái sản phẩm
đ, Quy trình sản xuất RAT
Người sản xuất RAT phải tuân thủ quy trình kỹ thuật sản xuất RAT do cơ quan có thẩm quyền ban hành đối với từng loại rau Trường hợp loại rau chưa được ban hành quy trình thì áp dụng tương tự theo quy trình sản xuất RAT của loại rau khác cùng nhóm
2.1.2.2 Tiêu chuẩn về quy trình sản xuất rau an toàn
- Môi trường sản xuất rau an toàn: bao gồm đất, nước, không khí phải đảm bảo trong lành, không bị bẩn do nước thải của khu công nghiệp, bệnh viện
- Phương thức và trình độ sản xuất: rau an toàn cần phải được sản xuất trong vùng đã được quy hoạch, có tổ chức và quản lý chặt chẽ Người sản xuất phải tự nguyện, tự giác, có kiến thức và tiếp thu được công nghệ, kỹ thuật mới
- Đất trồng: phải cao ráo, dễ thoát nước, thích hợp với sinh trưởng và phát triển của cây rau Đất không nhiễm độc kim loại nặng, thuốc BVTV hóa học và
dư lượng nhiều chất hữu cơ chưa phân hủy hết Bên cạnh đó, đất trồng rau an toàn phải xa khu công nghiệp, bệnh viện, nghĩa trang, đường quốc lộ ít nhất 200m và các vùng gây ô nhiễm
- Giống và thời vụ gieo trồng: phải chọn giống tốt, những cây con phải khỏe mạnh, không mang mầm bệnh, có khả năng chống chịu sâu bệnh cao Trước
Trang 24khi gieo trồng, hạt giống cần được xử lý cẩn thận theo đúng quy trình hướng dẫn Thời vụ gieo trồng phải thích hợp với từng loại giống
- Nước tưới: do rau chiếm 90% là nước nên nước tưới ảnh hưởng rất lớn đến sản lượng và chất lượng của rau Rau an toàn cần phải tưới bằng nước sạch hay nước đã qua xử lý, lọc bẩn và các chất ô nhiễm khác
- Phân bón: nghiêm cấm dùng phân tươi để bón hay tưới cho cây rau, chỉ được dùng phân chuồng đã ủ hoai mục, phân hữu cơ vi sinh, phân hữu cơ hỗn hợp, khoáng theo tỷ lệ cân đối Sử dụng phân bón qua lá, chất kích thích sinh trưởng của các đơn vị được phép sản xuất, dùng đúng liều lượng theo hướng dẫn
- Phòng trừ sâu bệnh: thực hiện triệt để các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp IPM Không được dùng các loại thuốc hóa học đã cấm sử dụng, những loại tiêu diệt cả thiên địch Thuốc BVTV được sử dụng phải đảm bảo có
độ phân giải nhanh, đúng liều lượng và đảm bảo thời gian cách ly cho phép
2.1.3 Đặc điểm và tiêu chuẩn của RAT
Rau an toàn là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trên các diện tích đất có thành phần hoá thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và các chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất bảo vệ thực vật và các chất thải sinh hoạt còn tồn tại trong đất đai), được sản xuất theo những quy trình nhất định (đặc biệt là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và tưới nước) Nhờ vậy, rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan quản lý có thẩm quyền của Nhà nước đặt ra
Trong quá trình sản xuất rau an toàn, người ta phải sử dụng những loại phân bón có nguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép Mặc dù trong rau an toàn còn tồn tại dư lượng nhất định các chất độc hại nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dùng Mức độ bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của sản phẩm rau an toàn được thể hiện trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng như sau:
- Về tiêu chuẩn hình thái: Sản phẩm rau được thu hoạch đúng thời điểm, đúng yêu cầu của từng loại rau, đúng độ chín kỹ thuật (hay thương phẩm); không dập nát, hư thối, không lẫn tạp chất, không sâu bệnh và có bao gói thích hợp
- Về chỉ tiêu nội chất: rau an toàn phải đảm bảo các quy định mức cho phép: + Dư lượng các loại hoá chất bảo vệ thực vật trong sản phẩm rau
Trang 25+ Mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh như E coli, Samonella sp… và
ký sinh trùng đường ruột như trứng giun đũa Ascaris sp…
+ Hàm lượng tích luỹ của một số kim loại nặng chủ yếu như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), Asen (As), cadimi (Cd), đồng (Cu)…
Sản phẩm rau chỉ được coi là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm khi hàm lượng tồn dư của các chỉ tiêu nêu trên không vượt quá giới hạn tiêu chuẩn quy định
Trong đời sống hàng ngày, rau an toàn thường được gọi là rau sạch Vì vậy, cần có sự phân biệt một cách chính xác hơn Khái niệm rau sạch sử dụng để chỉ các loại rau có chất lượng tốt, với dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, các kim loại nặng (Cu, Pb, Cd ), nitrat cũng như các vi sinh vật có hại đối với sức khoẻ con người ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép theo tiêu chuẩn của FAO, WTO hoặc tiêu chuẩn Việt Nam Đây là các chỉ tiêu quan trọng nhất nhằm xác định mức độ
an toàn vệ sinh thực phẩm cho rau quả “sạch”
Rau sạch (sạch hoàn toàn) là loại rau được sản xuất bằng công nghệ sinh học, hoàn toàn không sử dụng phân hoá học, hoá chất bảo vệ thực vật Rau sạch được sản xuất theo quy trình vệ sinh đồng ruộng, bón phân sinh học và phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp sinh học Mức độ đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của rau sạch cao hơn nhiều so với rau an toàn
Sản xuất rau an toàn là một bộ phận của ngành sản xuất nông nghiệp Bên cạnh những đặc điểm chung thì sản xuất rau an toàn còn có những đặc điểm riêng:
- Khi trồng rau an toàn người sản xuất phải xử lý kỹ vườn ươm để phòng chống sâu, bệnh cho cây giống
- Rau an toàn là loại rau yêu cầu kỹ thuật cao, đầu tư vật chất cũng như lao động lớn hơn cây trồng khác
- Là sản phẩm chứa nhiều chất dinh dưỡng nên có nhiều loại sâu bệnh hại, cần phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón đúng quy định (về liều lượng, chủng loại, thời gian…) và tổ chức sử dụng lao động hợp lý, khoa học để vừa cho năng suất, sản lượng cao, vừa đảm bảo chất lượng
- Có sự đòi hỏi rất nghiêm ngặt của thị trường tiêu thụ sản phẩm rau an toàn, người sản xuất phải tôn trọng các tiêu chuẩn chất lượng thì sản phẩm mới tồn tại được trên thị trường
Trang 26- Rau an toàn là sản phẩm tươi sống, có hàm lượng nước cao, cồng kềnh,
dễ hư hỏng, khó vận chuyển và bảo quản nên thường được tiêu thụ tại chỗ
- Tiêu thụ rau mang tính thời vụ nên lượng cung cấp và giá bán là hai yếu
tố biến động tỷ lệ nghịch với nhau Sự khan hiếm vào đầu vụ và cuối vụ làm cho giá bán tăng và giá bán giảm vào giữa vụ do lượng cung tăng
Tuy nhiên, việc sản xuất các loại rau an toàn phải vận dụng các yêu cầu cụ thể cho từng loại rau, với điều kiện thực tế của từng địa phương
2.1.4 Vai trò của sản xuất rau an toàn
Trong bữa ăn hàng ngày, rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế được như các loại vitamin A, B, C, D, E, K, các loại axít hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sự phát triển của con người Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng chất mà còn có tác dụng chữa bệnh Chất xơ trong rau có tác dụng ngăn ngừa bệnh tim, huyết áp và bệnh đường ruột, vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày, vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế những biến cố về ung thư phổi
Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể tiến hành trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp Phát triển sản xuất RAT có ý nghĩa lớn về kinh tế xã hội: tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho hộ gia đình Rau là cây ngắn ngày, có những loại rau như cải canh, cải củ từ 30-40 ngày đã cho thu hoạch, rau cải bắp 75 – 85 ngày, rau gia vị chỉ 15 – 20 ngày một vụ cho nên một năm có thể trồng được 2 – 3 vụ, thậm chí 4 – 5 vụ Cây rau còn là cây dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất Trồng rau không những tận dụng được đất đai mà còn tận dụng được cả lao động và những tư liệu sản xuất khác Cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, 1 ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2 – 5 lần so với trồng lúa Vì vậy trồng rau là nguồn tạo ra thu nhập lớn cho hộ Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho chế biến Sản xuất rau tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như cải bắp, cà chua, ớt, dưa chuột đóng góp một phần đáng kể vào sản xuất chung của cả nước và mở rộng quan hệ quốc tế Tóm lại, sản xuất rau
có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp lương thực, thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho người lao động
Trang 272.1.5 Nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất RAT
Dựa trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển kinh tế, chúng ta có thể quan niệm phát triển sản xuất RAT là sự tăng tiến về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về chất lượng sản phẩm cây trồng Ngoài ra, trong phát triển sản xuất RAT, những thay đổi tích cực về mặt xã hội như tạo thêm việc làm cho lao động dưa thừa ở nông thôn, làm tăng lợi ích của cộng đồng, hay những lợi ích về mặt môi trường như không làm suy thoái, ô nhiễm các nguồn tài nguyên đất, nước, không khí… cũng là một trong những biểu hiện của sự phát triển
Trên cơ sở đó, phát triển sản xuất RAT cần tuân theo những nguyên tắc sau:
- Phát triển bền vững: Phát triển RAT phải đảm bảo cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường
- Phát triển sản xuất RAT phải theo hướng sản xuất hàng hóa: sản xuất theo hướng hàng hóa đối với RAT không có nghĩa là phải tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn mà cần phải căn cứ vào nhu cầu của người tiêu dùng, nhu cầu của thị trường để ra quyết định sản xuất như mở rộng diện tích, thay đổi cơ cấu cây trồng, chủng loại cây trồng đáp ứng nhu cầu thị trường
Dựa trên cơ sở đó nội dung nghiên cứu phát triển sản xuất RAT trên địa
bàn thị xã Phú Thọ tập trung đi vào nghiên cứu các nội dung chính sau:
2.1.5.1 Huy động nguồn lực
- Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sản xuất Mọi hoạt động sản xuất đều là do lao động của con người quyết định, nhất là kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Dó đó, chất lượng lao động quyết định đến hiệu quả sản xuất Bởi vậy, để phát triển sản xuất RAT, kinh nghiệm sản xuất, chuyên
môn của người dân đóng góp vai trò rất quan trọng quyết định
- Nguồn nhân lực về đất đai
Nguồn lực về đất đai cho phát triển RAT phải xem xét trên các tiêu chí: diện tích canh tác, diện tích có khả năng sản xuất và diện tích đã sản xuất của hộ, bên cạnh đó cần đánh giá chất lượng nguồn đất đai phù hợp cho sản xuất RAT Mỗi chủng loại cây thích hợp với loại đất có thành phần cơ, lý, hoá học khác nhau Nắm bắt được từng loại đất, hộ nông dân sẽ sử dụng đầy đủ và hợp lý, khai thác triệt để tiềm năng của đất đai
- Vốn sản xuất
Trang 28Vốn là yếu tố quan trọng để phát triển RAT Vốn được sử dụng để mua giống, đầu tư cho sản xuất, mở rộng quy mô Nguồn vốn hạn hẹp gây khó khăn cho người nông dân, họ không dám đầu tư nhiều vào giống mới mà chủ yếu tận dụng sử dụng giống cũ từ đó làm giảm năng suất cây trồng Tâm lý của người nông dân rất sợ rủi ro, hay lo sợ, vì thế càng hạn chế việc đầu tư cũng như mở rộng quy mô trong sản xuất Hộ sản xuất có nguồn vốn không bị bó hẹp thì họ mạnh dạn đầu tư hơn, sử dụng những giống cây trồng mới, áp dụng những tiến
bộ KH - KT, mở rộng quy mô sản xuất và đạt hiệu quả cao hơn
Để phát triển sản xuất RAT, việc huy động vốn đầu tư là rất quan trọng Hiện nay có rất nhiều nguồn vốn mà hộ nông dân có thể huy động
+Huy động nguồn vốn tự có trong nhân dân: đây là nguồn vốn rất quan trọng, nó có tác dụng thức đẩy người nông dân tham gia vào quá trình phát triển sản xuất RAT Mặt khác, khi người nông dân tự bỏ vốn ra thì họ sẽ có trách nhiệm với nguồn vốn mà mình đã bỏ ra đầu tư
+Vốn vay ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng hỗ trợ: đây cũng là nguồn vốn không thể thiếu Thông qua các dự án phát triển, ngân hàng Nhà nước đầu tư vốn góp phần ổn định, đảm bảo cho quá trình phát triển sản xuất được diễn ra ổn định và liên tục
- Cơ sở hạ tầng
Phát triển sản xuất RAT đòi hỏi các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình phải
có đủ điều kiện về cơ sở hạ tầng thiết yếu để phục vụ sản xuất như đường giao thông, nguồn nước tưới (hồ đập trữ nước, kênh mương và máy bơm nước), hệ thống điện, xe để vận chuyển nông sản, công cụ máy móc phục vụ cho sản xuất, nhà kho để bảo quản sản phẩm …Cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hiệu quả sẽ đáp ứng cho yêu cầu sản xuất, năng suất chất lượng sản phẩm tăng lên, giảm tỷ lệ hao hụt trong nông sản, tăng thu nhập cho người dân
Thực tế ở những địa phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống cơ sở hạ tầng thì tại đó nghề RAT mới có điều kiện phát triển Như vậy, phát triển sản xuất RAT và việc nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ nhau trong đó quy hoạch cơ sở hạ tầng cần được thực hiện trước một bước
Trang 29lựa chọn những giống cây có chất lượng tốt, phù hợp với địa hình và khí hậu của mỗi địa phương Chọn mua giống ở các trung tâm giống, đại lý có uy tín, để có được nguồn giống đầu vào tốt nhất
- Sử dụng phân bón cho sản xuất RAT
Phân bón là nguồn cung cấp năng lượng thiết yếu cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển Nếu thiếu phân bón cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, nếu thừa phân bón sẽ làm cho cây trồng dư thừa chất dinh dưỡng, dẫn đến chất lượng cây trồng không được đảm bảo Đặc biệt, việc sử dụng phân bón trong sản xuất rau an toàn càng quan trọng vì yêu cầu chất lượng rau là rất cao
- Sử dụng thuốc BVTV cho sản xuất RAT
Việc phòng trừ sâu bệnh hại đảm bảo cho năng suất, chất lượng RAT Hiện nay, có nhiều loại sâu bệnh hại các cây trồng như: châu chấu, sâu đục thân, sâu ăn lá, bệnh khô vằn, bệnh đốm lá, sâu xanh, sâu tơ, sâu khoang, bọ nhảy, bệnh thối nhũn gây hại nhẹ đến trung bình Việc phòng trừ sâu bệnh kịp thời giúp đảm bảo chất lượng, năng suất cây rau cho người dân
- Sử dụng nước tưới cho sản xuất rau an toàn
Nguồn nước tưới của các hộ trồng rau chủ yếu lấy từ sông Hồng và phần còn lại là từ nước giếng khoan Trong vài năm gần đây tình hình hạn hán kéo dài
đã làm cho mực nước sông Hồng hạ xuống rất thấp làm ảnh hưởng đến nguồn nước tưới của bà con nông dân Đứng trước tình trạng này các HTX đã chỉ đạo các xã viên và sử dụng nguồn vốn huy động được để xây dựng, sửa chữa, tu bổ kênh mương dẫn nước phục vụ sản xuất Đồng thời, khoan giếng để chủ động về nước tưới phục vụ cho sản xuất Nguồn nước tưới này đã được kiểm nghiệm đủ điều kiện để sản xuất rau an toàn, tuy nhiên với tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay thì không thể đảm bảo nguồn nước tưới này có an toàn hay không? Trong khi đó việc kiểm nghiệm chỉ làm một lần và không định kỳ kiểm tra nên cũng không thể chắc chắn đảm bảo quy trình sản xuất rau an toàn hay không
- Khoa học kỹ thuật
Trong tiến trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, những năm qua các cấp, các ngành của thị xã đã tập trung chỉ đạo, triển khai công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 30Hiện nay, phương tiện chuyển giao KHKT đến nông dân đã được áp dụng phổ biến là tổ chức điều tra mô hình sản xuất có hiệu quả trên địa bàn thị xã để nhân rộng những mô hình này Đồng thời, xây dựng mô hình trình diễn ứng dụng KHKT để phổ biến cho người dân học hỏi, làm theo Đây cũng là con đường ngắn nhất đưa kết quả nghiên cứu từ các cơ sở nghiên cứu đến đồng ruộng
Ứng dụng các công nghệ mới, máy móc tiên tiến nhằm giảm sức lao động con người đồng thời nâng cao năng suất cây trồng Xây dựng quy trình canh tác
kỹ thuật theo từng nhóm giống, tiểu vùng sinh thái
- Thực hiện chăm sóc
Một trong những yếu tố quan trọng để RAT đạt năng suất và hiệu quả cao
đó là thực hiện gieo trồng đúng khung thời vụ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào chăm sóc cây trồng từ khâu làm đất, làm cỏ, bón phân, chăm sóc đúng thời
kỳ cũng giúp cho RAT tăng trưởng và phát triển tốt
- Thu hoạch, sơ chế, chế biến và tiêu thụ rau an toàn
Để RAT đạt được chất lượng cao thì việc thu hoạch, sơ chế phải đảm bảo các quy định, tiêu chuẩn đã được ban hành Khi rau được thu hoạch song phải có dụng cụ cần thiết để bảo quản Còn tiêu thụ là khâu cuối cùng của sản xuất hàng hoá Chỉ khi nào hàng hoá tiêu thụ được thì quá trình tái sản xuất hàng hoá mới diễn ra, vì thế để tiêu thụ được hàng hoá, kích thích quá trình tái sản xuất hàng hoá diễn ra nhanh chóng thì trước hết người sản xuất phải đáp ứng đầy đủ, kịp thời như cầu của thị trường
- Liên kết trong phát triển sản xuất RAT
Trong thực tế, sản xuất theo quy mô nhỏ lẻ, manh mún sẽ dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm không đồng đều, kém hiệu quả, giá thành sản xuất trên một đơn vị sản phẩm cao Vì vậy, tổ chức sản xuất RAT theo hướng liên kết là yếu tố cần thiết
Mục đích liên kết lại là nhằm hỗ trợ nhau về vốn, kỹ thuật, lao động và tiêu thụ sản phẩm Thông qua liên kết giữa các tác nhân (hộ - hộ, hộ - doanh nghiệp, hộ - nhà khoa học, …) trong các nội dung liên kết (liên kết trong cung ứng giống, liên kết trong chuyển giao kỹ thuật, liên kết trong tiêu thụ, …) Đẩy mạnh, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất: Hợp tác xã sản xuất, hợp tác xã cung ứng (cung ứng về giống, thuốc BVTV,…), các hộ gia đình liên kết, hợp tác với nhau, các trang trại, hộ gia đình Sẽ góp phần giúp các tác
Trang 31nhân có điều kiện tiếp thu, phổ biến, truyền đạt kinh nghiệm, kỹ thuật trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, kết quả và hiệu quả sản xuất từ
đó góp phần cho phát triển sản xuất RAT ổn định, bền vững Vậy phát triển sản xuất RAT cần có những liên kết gì? mức độ liên kết đó ra sao? đối tượng nào tham gia trong tiến trình liên kết? Để phát triển sản xuất RAT thì cần làm
rõ những câu hỏi trên
- Hiệu quả phát triển sản xuất RAT
Trong khái niệm phát triển sản xuất RAT nhằm mục đích cuối cùng là tạo ra được sản phẩm RAT đó là kết quả của sản xuất, tăng thu nhập cho người dân, tạo giá trị sản xuất cho nền kinh tế quốc dân Giải quyết các vấn đề xã hội như tạo công
ăn, việc làm cho lao động trong vùng, từng bước nâng cao mức sống của người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định trật tự an toàn xã hội cũng như an ninh quốc phòng, và đồng thời phải cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sinh thái Bên cạnh đó việc đầu tư vốn, cơ sở hạ tầng, áp dụng KHKT vào sản xuất; giống; phòng trừ sâu bệnh; thực hiện chăm sóc cũng giúp cho sản xuất RAT đem lại hiệu quả cao Việc mở rộng quy mô sản xuất ở mỗi khâu trong sản xuất cũng cần một lực lượng lao động để đem lại công ăn việc làm, thu nhập thêm trong thời gian ranh rỗi Vì vậy việc phát triển sản xuất RAT cần được đánh giá tính hiệu quả không chỉ về mặt kinh
tế mà còn cả về hiệu quả xã hội và môi trường
2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất rau an toàn
Quá trình sản xuất rau an toàn không chỉ bó hẹp trong các hoạt động sản xuất mà còn cả trong thu hoạch, chế biến, lưu thông và phân phối Vì vậy, để có thể sản xuất ra các loại rau an toàn đảm bảo chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cần phải tính đến các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến quá
trình sản xuất rau an toàn
2.1.6.1 Nhóm nhân tố tự nhiên
a, Điều kiện địa lý
Điều kiện địa lý ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như sản xuất rau an toàn nói riêng Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên không gian rộng lớn, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có điều kiện địa lý, khí hậu rất khác nhau
b, Điều kiện đất đai
Đất đai là điều kiện không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp nói chung
Trang 32và sản xuất rau an toàn nói riêng Các tiêu thức của đất đai cần được phân tích đánh giá về mức độ thuận lợi hay khó khăn cho sản xuất rau an toàn gồm: Tổng diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp, đặc điểm về đất, đặc điểm về địa hình, độ cao của đất Đặc điểm cơ bản cần lưu ý khi đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể
c, Điều kiện khí hậu
Yếu tố khí hậu mang tính quyết định cho sản xuất nông nghiệp nói chung
và sản xuất rau an toàn nói riêng Cần phải phân tích những thông số cơ bản của khí hậu như: nhiệt độ, lượng mưa, ánh sang, độ ẩm không khí….đánh giá về mức
độ ảnh hưởng đến phát triển của từng loại cây trồng cụ thể
2.1.6.2 Nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội
a, Nguồn vốn
Bên cạnh nguồn lực lao động, nguồn vốn cũng là vấn đề rất quan trọng trong phát triển sản xuất rau an toàn Vốn trong sản xuất rau an toàn thường là vốn tự có của các hộ nông dân, hay vốn đi vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có chính sách ưu đãi Nhà nước cũng có các chính sách đầu tư vốn ngân sách cho nông nghiệp qua các tổ chức khuyến nông hoặc các hình thức cho vay vốn ưu đãi khác nhau
b, Về lao động
dụng cụ lao động tác động lên đối tượng lao động Tuy nhiên, lao động của nông
hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường còn hạn chế Để phát triển sản xuất RAT yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải bồi dưỡng một đội ngũ lao động có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới
c, Thị trường
Trên thực tế, mặc dù tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của sản xuất nhưng lại là khâu rất quan trọng đối với sản xuất, quyết định sự sống còn của sản xuất Sản phẩm có tiêu thụ được mới ra khỏi được khâu sản xuất, mới có thể đi vào khâu lưu thông phân phối và sang lĩnh vực tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu của xã hội Vì vậy, tiêu thụ được sản phẩm sẽ kích thích sản xuất, mở rộng quy mô và ngược lại, nếu sản phẩm không được tiêu thụ sẽ hạn chế sản xuất, ảnh hưởng đến
Trang 33sự tồn tại của quá trình sản xuất Do đó nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lớn, chi phối quá trình sản xuất kinh doanh rau an toàn của các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh rau an toàn
- Về nhu cầu thị trường đối với rau an toàn: cầu thị trường phụ thuộc vào thu nhập, cơ cấu dân cư ở các vùng, khu vực
- Về cung cấp rau an toàn: cung cấp rau an toàn hiện nay còn ít, chưa đáp ứng đủ nhu cầu Các hình thức sản xuất chủ yếu là các hộ sản xuất, hợp tác xã, các mô hình, quy mô còn nhỏ
- Về giá cả: đây là yếu tố quan trọng, giá rau an toàn thường cao hơn so với rau thường do chi phí sản xuất rau an toàn cao hơn.Giá quá cao thì người tiêu dùng sẽ tiêu dùng ít hơn, giá thấp quá thì người sản xuất thua lỗ Chính vì vậy cơ
sở sản xuất kinh doanh rau an toàn cần phải có mức giá hợp lý để đảm bảo lợi ích cho cả người tiêu dùng và người sản xuất
d, Chính sách, cơ chế quản lý
Các chính sách, cơ chế quản lý hợp lý sẽ tạo nhiều thuận lợi trong phát triển sản xuất rau an toàn Nhà nước có các chính sách để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau an toàn nói riêng như: chính sách nhiều thành phần kinh tế, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia, tăng tính cạnh tranh của thị trường; chính sách tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cư trên cơ sở đó tăng sức mua của nhân dân; chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp; chính sách giá cả, bảo trợ sản xuất và tiêu thụ…
Bên cạnh đó, sản xuất rau an toàn cần phải đảm bảo các quy định của Nhà nước về điều kiện sản xuất rau an toàn như:
- Về nhân lực: Phải có cán bộ kỹ thuật chuyên ngành hoặc hợp đồng thuê cán bộ chuyên ngành về trồng trọt hoặc bảo vệ thực vật từ trung cấp trở lên để hướng dẫn kỹ thuật rau sản xuất an toàn Người trồng rau an toàn phải qua lớp tập huấn kỹ thuật sản xuất rau an toàn
- Về đất trồng: có đặc điểm lý, hoá, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng
và phát triển của cây rau Đất ở các vùng sản xuất rau an toàn phải được kiểm tra mức độ ô nhiễm định kỳ và đột xuất
- Về phân bón: Chỉ sử dụng các loại phân bón trong danh mục phân bón được phép sản xuất kinh doanh ở Việt Nam
Trang 34- Về nước tưới: nước tưới cho rau phải lấy từ nguồn không bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật và hoá chất độc hại, phải đảm bảo chất lượng nước tưới theo tiêu chuẩn quy định Nguồn nước tưới cho các vùng rau an toàn phải được kiểm tra định kỳ và đột xuất
- Về kỹ thuật canh tác rau an toàn: sử dụng các phương pháp luân canh, xen canh hợp lý, vệ sinh đồng ruộng thường xuyên Không sử dụng các loại rau biến đổi gen khi chưa có giấy chứng nhận an toàn sinh học Phân bón đúng chủng loại, liều lượng, thời gian và cách bón theo quy trình trồng rau an toàn cho từng loại rau, riêng phân đạm phải đảm bảo thời gian cách ly trước khi thu hoạch
ít nhất 7 ngày và ít nhất 10 ngày đối với phân bón lá
-Về phòng trừ sâu bệnh: sử dụng các biện pháp phòng trừ thủ công, hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu bệnh Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuốc hoá học phải tuân thủ nguyên tắc 4 đúng: đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng cách, đúng thời gian
- Về thu hoạch và bảo quản rau an toàn: phải được thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng thời điểm đảm bảo năng suất, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm
- Về công bố tiêu chuẩn rau an toàn: trước khi tiến hành sản xuất, tổ chức sản xuất rau an toàn phải công bố tiêu chuản chất lượng theo quy định về công bố tiêu chuẩn chất lượng hang hoá ban hành kèm theo Quyết định số 03/2006/QĐ-BKHCN ngày 10/01/2006 của Bộ Khoa học và Công nghệ,
- Sản phẩm rau an toàn trước khi lưu thong: phải đảm bảo các điều kiện:
có giấy chứng nhận rau an toàn do tổ chức chứng nhận rau an toàn câp, bao gói thích hợp, nhãn hang hoá gắn liền với bao gói, …
- Tổ chức sản xuất, kiểm tra và giám sát rau an toàn: khuyến khích các tổ chức sản xuất rau an toàn theo các hợp đồng phù hợp với quy mô sản xuất như: hợp tác xã, doanh nghiệp…
Ngoài ra còn có các quy định của Nhà nước về thủ tục chứng nhận điều kiện sản xuất rau an toàn, thủ tục chứng nhận rau an toàn Các cơ sở sản xuất rau
an toàn phải đảm bảo đầy đủ các quy định của Nhà nước về các vấn đề có liên quan đến rau an toàn này mới có thể đi vào sản xuất kinh doanh rau an toàn
e, Cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ
- Các nhân tố về cơ sở vật chất – kỹ thuật bao gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá giao thông, phương tiện vận tải, hệ thống kho bãi, hệ thống thông tin
Trang 35liên lạc, ….Hệ thống này đóng vai trò quan trọng trong việc lưu thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho sản xuất cũng như tiêu thụ rau an toàn
- Các nhân tố về kỹ thuật và công nghệ sản xuất đặc biệt quan trọng trong việc tăng khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường tiêu thụ của cơ sở sản xuất kinh doanh rau an toàn
2.1.6.3 Nhóm nhân tố về tổ chức thực hiện
a, Quy hoạch phát triển sản xuất RAT
Để phát triển rau an toàn, đầu tiên cần làm tốt công tác quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn Thị xã Phú Thọ nằm sát sông Hồng có điều kiện về tự nhiên phù hợp nên việc hoàn thiện sớm công tác quy hoạch sẽ bảo đảm điều kiện sản xuất cho vùng rau an toàn, bảo đảm không chồng chéo với quy hoạch của các ngành khác Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cả nước thì công nghiệp và thương mại của thị xã mức độ ưu tiên cao hơn so với phát triển nông nghiệp nói chung, rau an toàn nói riêng Hơn nữa, công tác quy hoạch ảnh
hưởng lớn đến đầu tư cơ sở hạ tầng, vật chất cho phát triển rau an toàn
b, Tổ chức thực hiện quy trình sản xuất RAT
Kinh nghiệm, tập quán và trình độ kỹ thuật của người sản xuất ảnh hưởng nhiều đến việc bố trí cơ cấu cây trồng và chất lượng sản phẩm Trong đó,
kỹ thuật canh tác rau an toàn là yếu tố ảnh hưởng khá mạnh để tạo ra rau an toàn Sản xuất rau an toàn phải tuân thủ các quy định chặt chẽ về đất, nước, môi trường và quy trình kỹ thuật canh tác thân thiện với môi trường Nếu không tuân thủ các quy định đó thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và rau an toàn sẽ không còn là rau an toàn
Để sản xuất được rau toàn thì đất trồng rau an toàn phải có các đặc điểm
lý, hoá, sinh học phù hợp với sự sinh trưởng, phát triển của cây rau Đất không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư, bệnh viện, lò giết mổ gia súc tập trung và từ các nghĩa trang, không được
ở gần đường giao thông lớn
Quá trình sản xuất phải tuân thủ các quy định về sử dụng phân bón, chỉ sử dụng các loại phân bón trong danh mục phân bón được phép sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam, phân hữu cơ đã qua xử lý, bảo đảm không còn nguy cơ ô nhiễm hoá chất vi sinh vật gây hại Không sử dụng các loại phân bón có nguy cơ
ô nhiễm cao như phân chuồng tươi, nước giải, phân chế biến từ rác thải sinh hoạt,
Trang 36rác thải công nghiệp để bón trực tiếp cho rau Sử dụng phân bón đúng chủng loại, liều lượng, thời gian bón và cách bón theo quy trình trồng trọt rau an toàn cho từng loại rau
Nước tưới cho rau phải là nguồn nước không bị ô nhiễm bởi các vi sinh vật và hoá chất độc hại Không sử dụng nước thải công nghiệp chưa qua xử lý; nước thải từ các bệnh viện, các khu dân cư tập trung, các trang trại chăn nuôi, các
lò giết mổ gia súc, nước phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau
Người sản xuất cần có ý thức và tuân thủ các quy định về luân canh, xen canh hợp lý giữa các loại rau và giữa rau và các cây trồng khác để không tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển Thực hiện thường xuyên khâu vệ sinh đồng ruộng
để hạn chế nguồn sâu bệnh hại và ô nhiễm khác
Áp dụng kỹ thuật quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên rau và sản xuất rau
an toàn theo quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) Sử dụng nhà lưới, nhà màng cách ly côn trùng phù hợp với nhu cầu sinh trưởng của mỗi loại rau và điều kiện sinh thái của từng vụ, từng vùng Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm sâu bệnh hại để phòng trừ kịp thời, áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, đặc biệt là biện pháp bắt sâu, bắt bướm và diệt ổ trứng sâu vào thời điểm thích hợp Hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu bệnh cho rau Trường hợp cần thiết phải sử dụng thuốc hoá học phải tuân thủ 4 nguyên tắc; đúng chủng loại, đúng liều lượng, đúng cách và đúng thời gian
Rau an toàn được thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng thời điểm để đảm bảo năng suất chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Rau sau khi thu hoạch phải được bảo quản bằng biện pháp thích hợp để giữ được hình thái và chất lượng của
sản phẩm
Sản xuất rau an toàn muốn thành công và ngày càng phát triển thì cần có vùng chuyên canh trồng rau an toàn vì không thể có rau an toàn khi ruộng trồng rau an toàn nằm sát ruộng trồng hoa hoặc canh các cây trồng khác hoặc cạnh ruộng của gia đình khác trồng rau truyền thống Trên cơ sở quy hoạch vùng chuyên canh, cần tổ chức sản xuất theo các mô hình hợp tác như tổ, nhóm, câu lạc bộ hoặc hợp tác xã Nếu không tổ chức sản xuất theo mô hình hợp tác, rất khó kiểm tra, giám sát các cá nhân vi phạm các quy định về sản xuất rau an toàn Từ
đó ảnh hưởng đến chất lượng, thương hiệu của sản phẩm Đồng thời, tổ chức sản xuất ở dạng hợp tác sẽ giúp cho việc liên kết trong tiêu thụ dễ dàng hơn
Trang 37Tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm cũng cần được tính đến, nếu các hộ trồng rau có hệ thống kiểm tra nội bộ, thường xuyên ghi chép và cung cấp thông tin về quy trình sản xuất, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón, lịch thời vụ gieo trồng và thu hoạch, chủng loại rau cùng với diện tích, năng suất, chất lượng thì các sản phẩm bán ra đều đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định
Song song với quá trình sản xuất rau an toàn, cần phải hình thành hệ thống thu mua và bán buôn Hệ thống này được trang bị kho mát để thu mua và bảo quản, dự trữ rau quanh năm để cung cấp cho những người bán lẻ Nhưng trên thưc tế, thực sự chưa hình thành được các nhà phân phối lớn với đầy đủ điều kiện vật chất cần thiết để thu mua rau an toàn cho người sản xuất vì những lý do chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó yếu tố kinh phí cũng là một lý do cơ bản Do đó, việc tiêu thụ thẳng cho người bán lẻ không giải quyết hết đầu ra cho người sản xuất, không khuyến khích được người sản xuất
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT SẢN XUẤT RAU
AN TOÀN
2.2.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất RAT của các nước trên thế giới
a, Kinh nghiệm sản xuất rau an toàn ở Thái Lan (Tạp chí Nông nghiệp - Phát triển nông thôn 2013)
- Về công tác giống: Đầu tư thích đáng cho khâu nghiên cứu sản xuất giống mới, nhập khẩu giống mới, nhân giống mới và cải tạo giống, hỗ trợ nông dân trong việc sử dụng giống mới để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá thành
hạ Một trong những nguyên nhân thành công là Thái Lan rất coi trọng trong khâu “giống”, coi “giống” là yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh một cách bền vững trong việc đưa sản phẩm thâm nhập thị trường quốc tế Nguyên tắc của Thái Lan là: giống phải có nguồn gốc rõ ràng, có địa chỉ, có hướng dẫn quy trình thâm canh, có bằng chứng chứng minh giống đó đã được trồng thử nghiệm đạt kết quả tốt Chính phủ Thái Lan có chính sách hỗ trợ để nhập khẩu giống mới, lựa chọn,
lai tạo và trợ giá cho việc phổ biến giống mới
- Về qui hoạch các khu trồng rau công nghệ cao: Điều kiện tự nhiên và kinh
tế xã hội của Bangkok cho phép nông nghiệp ở đây hình thành các vùng sản xuất
vệ tinh chuyên môn hóa xen kẽ các khu công nghiệp và dân cư, cách thủ đô từ 40 -100 km Tại những vùng nông nghiệp gần Bangkok, nông dân phát triển sản xuất rau quả an toàn trên liếp Tại các vùng cách xa thủ đô hàng trăm km, nông dân phát triển các mô hình nông nghiệp tổng hợp, với các trang trại chăn nuôi kết
Trang 38hợp trồng cây ăn quả, hoặc phát triển sản xuất lương thực kết hợp với nuôi thả cá
để giải quyết vấn đề môi trường và an toàn lương thực Vấn đề tiêu thụ sản phẩm được giải quyết trên cơ sở phát triển quan hệ hợp đồng giữa các công ty chế biến nông sản của Bangkok và các hộ nông dân ở các vùng nông nghiệp vệ tinh Đặc biệt, chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến các chính sách tài chính, tín dụng, khuyến nông, xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết ô nhiễm… thúc đẩy các vùng sản xuất vệ tinh này phát triển Việc quy hoạch các vùng nông nghiệp vệ tinh của Bangkok đã thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển nông nghiệp đô thị Bangkok theo hướng tập trung hóa kết hợp đa dạng hóa, đáp ứng khá tốt yêu cầu của nền nông nghiệp đô thị sinh thái
- Đa dạng hóa các sản phẩm của ngành rau: Việc đa dạng hóa các sản phẩm nhằm tăng doanh thu trong ngành và giảm thiểu rủi ro biến động thời tiết và thị trường đã được người nông dân Thái Lan lựa chọn Cơ cấu sản xuất rau của Thái Lan đã được đa dạng hóa từ những năm 1990, giá trị gia tăng của các sản phẩm rau cũng tăng lên rõ nét Những sản phẩm có giá trị cao như rau hữu cơ, rau an toàn, rau chế biến, đóng hộp, rau tươi sẵn sàng cho tiêu thụ trực tiếp đã được đầu
tư sản xuất Các nhà xuất khẩu của Thái Lan đã đầu tư dây truyền công nghệ cho các sản phẩm rau đủ tiêu chuẩn xuất khẩu theo qui định của Hoa Kỳ và châu Âu Một phần các sản phẩm này cũng được xúc tiến tiêu thụ nội địa, đặc biệt tại các thành phố lớn nơi mức sống cao hơn so với các khu vực khác Cầu đối với các sản phẩm rau giá trị cao khá co giãn với thu nhập và chủ yếu được tiêu thụ bởi những người có thu nhập cao
Những người nông dân Thái Lan quyết định đưa các sản phẩm rau có giá trị cao vào sản xuất đã phải chấp nhận đầu tư nhiều vốn, công sức và các nỗ lực lớn về công nghệ để đảm bảo tiêu chuẩn sản xuất các sản phẩm này cũng như đạt được mức lợi nhuận nhất định Tuy nhiên trong dài hạn, những người nông dân sản xuất rau chất lượng cao theo hợp đồng đã nhận định rằng mức tỷ suất lợi nhuận mà họ đạt được lớn hơn so với sản xuất rau thường và bán tại các chợ truyền thống
- Cải tiến công nghệ và nâng cao năng suất: Với những nỗ lực ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, người trồng rau Thái Lan đã không chỉ kiểm soát được hoạt động sản xuất của họ bằng các kinh nghiệm truyền thống mà bằng cả
sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại Trong nhiều trường hợp, các công nghệ có giá trị ứng dụng cao đã được phổ biến nhanh chóng trong ngành rau Thái Lan,
Trang 39một phần nhờ các nỗ lực tuyền truyền và nguồn vốn đầu tư của Chính phủ, phần khác do động lực học hỏi và ứng dụng các công nghệ mới của chính những người sản xuất rau của Thái Lan
Sử dụng các công nghệ sinh học tiên tiến trong việc cải tạo giống, nguồn nước, đất trồng và đối phó với sâu bệnh là một trong những hướng đi quan trọng mà ngành rau Thái Lan đã lựa chọn Nông dân Thái Lan không chỉ nhanh chóng áp dụng các công nghệ tiên tiến từ nước ngoài mà còn tự tạo ra được các giống cây mới cũng như những công nghệ phù hợp với điều kiện sản xuất trong nước Kết quả là trong vài thập kỷ họ đã tạo ra nhiều giống rau mới, với sự lai tạo giữa các giống cây năng suất cao ở phương tây đồng thời giữ được những hương vị đặc trưng của rau châu Á Một số sản phẩm là kết quả của công nghệ lai tạo mới đã được xuất khẩu và được chấp nhận tại các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản
Kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy những hỗ trợ từ phía nhà nước đối với việc ứng dụng công nghệ trong ngành rau là rất quan trọng Một lượng ngân sách lớn đã được dành cho các công nghệ về xử lí đất, nguồn nước và ứng phó với sâu bệnh, cũng như những kỹ thuật gieo trồng, bón phân mới nhằm đảm bảo
sự phát triển tự nhiên và tối ưu nhất của các loại rau trồng Việc đa dạng hóa các giống cây và các hoạt động trong trồng trọt cũng đòi hỏi sự hậu thuẫn rất lớn bởi công nghệ
- Một kinh nghiệm khác của Thái Lan là huy động thành công sự tham gia của các trường đại học và các tập đoàn tư nhân trong đầu tư ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất và phát triển sản phẩm kinh doanh rau an toàn Những chương trình đào tạo liên tục dành cho người trồng rau được thực hiện bởi các cơ quan chức năng hoặc các tổ chức phi chính phủ đã giúp người trồng rau Thái Lan làm chủ được công nghệ mà họ đang ứng dụng thay vì tuân thủ một cách máy móc các qui định quốc tế về sản xuất rau an toàn Một số tiêu chuẩn cao như EUREP-GAP cũng như những đòi hỏi ngày càng cao hơn của người tiêu dùng ở các thị trường khó tính đang từng bước được người trồng rau Thái Lan đáp ứng một cách nhanh chóng hơn so với người trồng rau tại nhiều nước đang phát triển khác
- Các chương trình tái cấu trúc ngành: Tái cấu trúc ngành nông nghiệp nói chung và ngành trồng rau nói riêng đã được tiến hành tại Thái Lan từ những năm
1980 và tiếp tục đẩy mạnh trong những năm 1990 Mục tiêu là tái cấu trúc hệ thống sản xuất và phân phối nông sản theo hướng gia tăng các sản phẩm có giá trị
Trang 40gia tăng cao và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Vào giai đoạn đầu, cơ chế quản lí quan liêu đã dẫn đến việc dư thừa cung một số loại nông sản trong khi một số khác luôn rong tình trạng thiếu hụt cả về chất và lượng Cũng chính vì thế mà giá nông sản nói chung và giá rau nói riêng liên tục biến động (đây là thực trạng của các ngành nông sản trong đó có ngành rau tại Việt Nam hiện nay) Để giải quyết vấn đề này, Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một tiến trình tái cấu trúc ngành, theo đó khuyến khích và yêu cầu nông dân Thái Lan chuyển dần từ những sản phẩm dư cung sang những sản phẩm có giá trị hơn và mang lại lợi nhuận lớn hơn
Những chương trình đầu tiên tập trung vào việc xây dựng cơ chế hợp đồng giữa các nhà kinh doanh rau với những hộ nông dân trồng rau, với sự giám sát và
hỗ trợ của Chính phủ với cơ chế giá đảm bảo (giá rau mà người nông dân cung ứng ra thị trường sẽ được đảm bảo ở một mức nhất định, bất chấp điều kiện thị trường thực tế như thế nào) Một vài dự án và chương tình tương tự cũng đã thất bại khi người nông dân trở nên cảnh giác hơn với các hỗ trợ từ Chính phủ và quay lưng với các khoản vay Chính điều này đã buộc các chính sách về nông nghiệp của Chính phủ Thái Lan phải thay đổi sau khi diễn ra khủng hoảng kinh
tế 1997, đặc biệt là trong các chương trình về tín dụng và trì hoãn nợ
- Chương trình trì hoãn nợ: Năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã một lần nữa đưa ra các hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp thông qua chương trình trì hoãn nợ (DDP) Chương trình này đã thành công trong việc cung cấp dịch vụ tín dụng nông nghiệp cho 90% nông hộ và các hợp tác xã nông nghiệp tại Thái Lan Tổng tín dụng cung cấp cho các nông hộ đã tăng 17 lần, từ 14,9 tỷ baht vào năm
1985 lên 258,1 tỷ baht vào năm 2003 Trong giai đoạn diễn ra khủng hoảng
1997, chương trình này cũng giữ một vai trò quan trọng trong việc duy trì sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng dần các sản phẩm có giá trị gia tăng cao
- Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và mở rộng (R&E): Một trong những
lý giải cho sự thành công của nền nông nghiệp Thái Lan trong những thập kỷ gần đây chính là việc tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong sản xuất nông nghiệp Bộ Nông nghiệp và hợp tác xã của Thái Lan (MOAC) đã chiếm tới 95% tổng ngân sách nghiên cứu và phát triển của Chính phủ trong lĩnh vực nông nghiệp Sau đó, khi hoạt động sản xuất đã vào guồng và dần được tư nhân hóa, tỷ lệ ngân sách của MOAC cho hoạt động nghiên cứu và mở rộng đã giảm dần, từ mức 0,68% GDP vào năm 1997 xuống còn 0,41% vào năm 2003 Khoảng 23% ngân sách của MOAC dành cho R&E so với mức 50% dành cho hệ thống tưới tiêu