Ở khu vực Miền Trung Việt Nam, huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi là một trong những địa phương nổi bật về các hoạt động sản xuất thủy sản.. Tuy nhiên, ngành thủy sản của huyện Bình Sơ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn KH: TS Trần Phước Trữ
Phản biện 1: PGS.TS Lê Văn Huy
Phản biện 2: PGS.TS Bùi Văn Huyền
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 23 tháng 02 năm 2019
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia ven biển với đường bờ biển dài và vùng biển khai thác rộng lớn Với lợi thế về điều kiện tự nhiên có sẵn, ngày 09/02/2007 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã cho ra Nghị quyết 09-NQ/TW “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” với định hướng tập trung phát triển ngành nghề thủy sản Năm
2017, theo thống kê của Tổng cục Hải Quan thì thủy sản là nhóm hàng đứng vị trí thứ 6 trong số các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam Đến nay có thể khẳng định rằng thủy sản đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam [17]
Ở khu vực Miền Trung Việt Nam, huyện Bình Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi là một trong những địa phương nổi bật về các hoạt động sản xuất thủy sản Năm 2017, sản lượng thủy sản đạt hơn 27.000 tấn, giá trị sản xuất đạt 668,6 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ gần 33% giá trị sản xuất nông lâm thủy sản của huyện Tuy nhiên, ngành thủy sản của huyện Bình Sơn vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: hoạt động nuôi trồng thủy sản tại địa phương còn tự phát và nhỏ lẻ; hệ thống cơ sở
hạ tầng còn rất thô sơ; chưa có sự kết nối giữa Nhà nước, ngư dân và doanh nghiệp trong việc sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm thủy sản; hoạt động khai thác thủy sản vẫn còn sử dụng các phương pháp đánh bắt lạc hậu, tận diệt làm cho trữ lượng thủy sản sụt giảm nghiêm trọng Đ c biệt, tình trạng đánh bắt bất hợp pháp trên những vùng biển nước ngoài như c, Indonesia, Philippines ở một số địa phương tại Việt Nam trong đó có Bình Sơn đã làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tại các nước này Dẫn đến Liên minh Châu Âu - một trong những thị trường lớn nhập khẩu thủy sản Việt Nam đã ra “thẻ vàng” đối với thủy sản nước ta, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động
Trang 4xuất khẩu thủy sản trong nước Tất cả các vấn đề trên đang là những nguyên nhân làm cho ngành thủy sản tại địa phương chưa thực sự phát huy hết tiềm năng của mình
Vì lẽ đó, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước để khắc phục các vấn đề còn tồn tại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay Với mong muốn nghiên cứu một cách khoa học và tìm ra được lời giải
cho vấn đề nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản nhằm mục tiêu hình thành khung lý thuyết nghiên cứu về quản lý nhà nước về thủy sản tại một huyện
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thủy sản của huyện Bình Sơn
- Kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Bình Sơn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề về lý luận và thực tiễn có liên quan đến quản lý nhà nước về thủy sản của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Trong phạm vi đề tài này, luận văn chỉ tập
trung nghiên cứu về: QLNN về khai thác thủy sản và QLNN về nuôi trồng thủy sản Qua đó, luận văn nghiên cứu đề xuất ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với thủy sản trên địa bàn một huyện
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung trên tại
địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng trong thời kỳ
2013 -2017 và đề xuất giải pháp đến năm 2025
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ:
Niên giám thống kê, các báo cáo tổng kết, báo cáo thường niên, dữ
liệu điều tra của Phòng NN&PTNT
- Dữ liệu sơ cấp: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn chủ
thể quản lý là các cá nhân tham gia công tác quản lý nhà nước về thủy sản huyện Bình Sơn
4.2 Phương pháp phân tích
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích như sau: phương pháp thống kê mô tả; phương pháp đối chiếu, so sánh; phương pháp chuyên gia
Trang 6trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi;
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Bình Sơn thời gian đến
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ THỦY SẢN 1.1 NH NG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦY SẢN VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NGÀNH THỦY SẢN
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về thủy sản
Thủy sản là một ngành lấy m t nước làm tư liệu sản xuất chính,
đối tượng lao động là những sinh vật thủy sinh; kết quả sản xuất của ngành là những sản phẩm sinh vật, những kết quả sinh học nhằm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội [24]
Khai thác thuỷ sản là việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên
biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác
Nuôi trồng thủy sản là việc nuôi trồng các loại thủy sản trên
các vùng nước tự nhiên trong đất liền ho c m t nước biển
Nguồn lợi thuỷ sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự
nhiên, có giá trị kinh tế, khoa học để phát triển nghề khai thác thuỷ sản, bảo tồn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về thủy sản
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân (gọi vắn tắt là quản lý nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp
quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể
có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đ t ra,
Trang 7trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Quản lý nhà nước về thủy sản là sự tác động có tổ chức và
bằng pháp quyền của Nhà nước lên các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản nhằm sử dụng hiệu quả nhất có thể các nguồn lực trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để đạt được mục tiêu phát triển về thủy sản trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế
1.1.3 Đặc điểm của ngành thủy sản ảnh hướng đến công tác quản lý nhà nước về thủy sản
- Đối tượng sản xuất thủy sản là các sinh vật sống trong nước
- Thủy vực là tư liệu sản xuất không thể thay thế
- Ngành thủy sản là ngành sản xuất có tính hỗn hợp và tính liên ngành cao
- SXKD thủy sản đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn và độ rủi ro cao
1.1.4 Vai trò của công tác quản lý nhà nước về thủy sản
QLNN về thủy sản đóng một vai trò hết sức quan trọng, cụ thể:
- QLNN có vai trò định hướng chung và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh và minh bạch cho ngành thủy sản
- QLNN có vai trò điều tiết, phân bổ nguồn lực hợp lý cho phù hợp với định hướng chiến lược phát triển thủy sản
- QLNN có vai trò hỗ trợ đối với các hoạt động thủy sản
- QLNN đóng vai trò kiểm tra, giám sát trong việc thực thi các chính sách, chiến lược, quy hoạch của địa phương về thủy sản
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỦY SẢN
1.2.1 Tổ chức thực hiện các chính sách, quy định, văn bản pháp luật về thuỷ sản
Công tác tổ chức thực hiện các chính sách, quy định, văn bản pháp luật bao gồm các nội dung:
- Xây dựng các quy trình, thủ tục hành chính cụ thể
Trang 8- Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách, quy định Các văn bản tổ chức thực hiện được ban hành bao gồm các nghị quyết, quyết định, chương trình hành động, kế hoạch
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thủy sản
1.2.2 Quản lý quy hoạch, kế hoạch phát triển thủy sản trên địa bàn
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chính quyền cấp huyện đối với công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch bao gồm các nội dung:
Kế hoạch phát triển về thủy sản hằng năm và trung hạn của huyện; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nuôi trồng thủy sản
UBND huyện tổ chức triển khai, thực hiện quy hoạch bằng việc xây dựng và thực hiện các dự án, kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương Nội dung quy hoạch, kế hoạch về lĩnh vực thủy sản bao gồm: quy hoạch về phát triển khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, quy hoạch cơ sở hạ tầng và dịch
vụ nghề cá
1.2.3 Tổ chức quản lý hoạt động thủy sản trên địa bàn
a, Đào tạo nguồn nhân lực về thủy sản:
Nguồn nhân lực trong lĩnh vực thủy sản bao gồm các cán bộ tham gia vào công tác QLNN và người lao động tham gia vào sản xuất kinh doanh thủy sản
Đối với nguồn nhân lực làm công tác QLNN về thủy sản, trong quá trình làm việc sẽ có những phương pháp, kỹ thuật mới cần được cập nhật để đáp ứng yêu cầu quản lý
Đối với người lao động tham gia các hoạt động SXKD thủy sản, công tác đào tạo nguồn nhân lực này qua việc mở các trường, các khóa đào tạo dạy nghề thủy sản
Trang 9Công tác khuyến nông là một phương thức đào tạo nguồn nhân lực thủy sản hiệu quả và được áp dụng rộng rãi Trạm khuyến nông trực thuộc UBND huyện là nơi thực hiện các chức năng chuyển giao thông tin, kiến thức, kỹ thuật mới
b, Thực hiện việc cấp, gia hạn, thu hồi các loại giấy chứng nhận, giấy phép trong lĩnh vực thủy sản:
- Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản:
UBND huyện có quyền cấp, thu hồi Giấy chứng nhận kinh tế
trang trại trên địa bàn huyện - Đối với lĩnh vực khai thác thủy sản:
UBND huyện chỉ thực hiện cấp, gia hạn, thu hồi đối với giấy phép khai thác thủy sản và chứng nhận đăng ký tàu cá
c, Tổ chức liên kết trong các khâu khai thác, sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức liên kết trong các khâu khai thác, sản xuất và phân phối, tiêu dùng là việc tạo ra một mối liên kết lâu dài, ch t chẽ giữa ngư dân khai thác thủy sản, hay các cơ sở chế biến thủy sản với các công ty chuyên thu mua thủy sản
Hiện nay các tổ chức thực hiện việc liên kết các khâu khai thác, sản xuất, phân phối và tiêu thụ tại địa phương bao gồm: các nghiệp đoàn nghề cá, hợp tác xã nuôi trồng, hợp tác xã dịch vụ hậu cần, tổ
Trang 10Các hình thức tuyên truyền hiện nay thường được sử dụng: thông báo qua các kênh phương tiện truyền thông, tổ chức các hội nghị, hội thảo, tuyên truyền miệng
1.2.5 Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản
Quá trình QLNN về thủy sản cần thường xuyên tiến hành công tác thanh tra kiểm tra nhằm đảm bảo các cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực thủy sản hoạt động đúng pháp luật UBND cấp huyện cùng với lực lượng bộ đội biên phòng có trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, xử lý
vi phạm pháp luật đối với các trường hợp trong lĩnh vực khai thác và NTTS
Đối với các trường hợp tranh chấp của các cá nhân, tổ chức, UBND huyện cũng có trách nhiệm đứng ra làm nơi giải quyết các khiếu nại này nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ THỦY SẢN
1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
1.3.2 Tổ chức bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực QLNN
về thủy sản
1.3.3 Yếu tố nhận thức của các chủ thể tham gia SX thủy sản 1.3.4 Ứng dụng khoa học công nghệ trong QLNN về thủy sản 1.4 KINH NGHIỆM TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỦY SẢN
Trang 11CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỦY SẢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG
NGÃI 2.1 ĐẶC ĐIỂM VỂ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH SƠN
2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Địa hình, đất đai, thổ nhưỡng
- Khí hậu
2.1.2 Đặc điểm về điều kiện kinh tế
a, Tăng trưởng kinh tế
Kinh tế huyện Bình Sơn giai đoạn từ 2013-2017 có sự phát triển mạnh nhưng không ổn định Đến năm 2015, nhờ việc Khu kinh
tế Dung Quốc được xây dựng và bắt đầu đi vào hoạt động thì nền kinh tế của huyện có sự chuyển biến mạnh mẽ Từ năm 2016 đến
2017, GTSX của huyện có tốc độ tăng trưởng âm -28,96% M c dù GTSX của ngành nông nghiệp vẫn có sự tăng trưởng tốt vào khoảng 6,83%, nhưng do sự giảm mạnh trong GTSX ngành công nghiệp và dịch vụ đã kéo theo sự sụt giảm về GTSX của toàn huyện
- Ngành Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản:
Ngành nông lâm thủy sản huyện Bình Sơn những năm về trước năm 2016 nhìn chung không có sự tăng trưởng đáng kể, tốc độ tăng trưởng hàng năm chưa đạt 1% Đến năm 2017, ngành nông lâm thủy sản huyện thật sự có bước tăng trưởng rõ rệt, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng đạt 6,83%/năm, GTSX đạt 2.034 tỷ đồng
Về nông nghiệp: Năm 2013 GTSX nông nghiệp chỉ đạt 1.047,4
tỷ đồng thì đến năm 2017 đạt 1.297 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng trung
Trang 12bình trong 5 năm khoảng 5,5% Diện tích đất nông nghiệp năm 2017 25.177,55 ha
Về lâm nghiệp: Giá trị sản xuất lâm nghiệp ở huyện từ năm
2013 đến 2017 có xu hướng giảm từ 259,5 tỷ đồng ở năm 2013 thì đến năm 2017 chỉ còn 68,2 tỷ đồng Năm 2017, tổng diện tích đất lâm nghiệp ở Bình Sơn vào khoảng 11.180 ha
Về thủy sản: GTSX thủy sản ở năm 2012 chỉ đạt 578 tỷ đồng
thì đến 2017 đạt 668,6 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng trung bình trong
5 năm vào khoảng 3,8% Năm 2017 sản lượng thủy sản đạt 27.203,2 tấn Khai thác thủy sản đạt 26.498 tấn tăng 5,8% so với năm 2016
- Ngành Công nghiệp:
Ngành Công nghiệp huyện Bình Sơn chỉ thực sự phát triển từ năm 2015 do có Cảng Dung Quốc, Khu công nghiệp Dung Quốc bắt đầu đi vào hoạt động, ngành nghề chủ yếu là lọc hóa dầu Năm 2017, GTSX công nghiệp đạt gần 75.765 tỷ đồng, trong đó khối ngành công nghiệp sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế đạt 68.912
tỷ đồng, giảm 33,27% so với năm 2016
- Ngành Dịch vụ:
Ngành dịch vụ ở huyện Bình Sơn có tốc độ tăng trưởng không
ổn định qua các năm Năm 2016, ngành dịch vụ có tốc độ phát triển cao nhất trong giai đoạn 2013 – 2017 với 39,91% Năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đạt 2.182,3 tỷ đồng
b, Cơ cấu kinh tế
Năm 2017, GTSX ngành nông lâm thủy sản đạt 2.034 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,42%; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 75.765 tỷ đồng, chiếm 90,3% và ngành thương mại - dịch vụ đạt 6.102,5 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 7,28%
c Đặc điểm cơ sở hạ tầng
Trang 13Hệ thống giao thông: Địa bàn huyện có đường sắt Bắc Nam
chạy ngang Phía đường thủy có bờ biển dài 54km và 28 km đường sông Về đường bộ có: Quốc lộ 1A chạy ngang qua, 75 km đường tỉnh lộ, 93,12 km đường huyện và khoảng 606 km đường xã, thôn, xóm
Hệ thống thủy lợi: Hiên nay huyện đã nâng cấp được 57 công
trình thủy lợi
Hệ thống điện: Đến nay, 100% số thôn với 100% hộ dân trong
huyện được sử dụng điện thường xuyên
2.1.3 Đặc điểm về điều kiện xã hội
a Dân số
Dân số trung bình của huyện Bình Sơn năm 2017 là 179.013 người Trong đó, nữ là 91.699 người, chiếm 51,22% dân số Mật độ dân số trung bình toàn huyện có 383 người/km2, dân số phân bố không đều giữa các xã trong huyện
b Lao động
Lực lượng lao động nông thôn của huyện chiếm đa số vào khoảng 94.215 người, trong đó lao động nông lâm nghiệp thủy sản khoảng 52.085 người
Cơ cấu lao động tham gia ngành nghề nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 55,7%, công nghiệp xây dựng khoảng 14,3%, dịch vụ khoảng 18,4% và không làm việc là 11,7%
c Hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa xã hội:
Giáo dục: Bình Sơn hiện nay đã xây dựng trên 138 phòng học;
01 nhà công vụ; các cấp trường học cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em trên địa bàn huyện
Y tế: Xây dựng mới được 14 trạm Y tế cấp xã, nâng tổng số
trạm y tế có nhà 02 tầng lên 18 trạm