A.MỞ ĐẦU1B.NỘI DUNG1I. Một số vấn đề lý luận chung11. Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án12. Đặc điểm của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án23. Ý nghĩa của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự2II. Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự31. Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự32. Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự63. Hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự74. Tiếp tục giải quyết vụ án8III. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự81. Thực trạng áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự82. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án10C.KẾT LUẬN12
Trang 1BÀI TẬP TIỂU LUẬN MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Đề tài: Những vấn đề pháp lý về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tố
tụng dân sự.
A MỞ ĐẦU
Giải quyết vụ án dân sự là một quá trình kéo dài và trả qua nhiều giai đoạn Nhằm đảm bảo việc giải quyết này được đặt trong một khuôn khổ quy định và tạo điều kiện đảm bảo hài hòa tối ưu lợi ích nhà nước cũng như lợi ích của các bên tham gia tố tụng – Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã có những quy định rất cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết một VADS Trong đó, vấn đề tạm ngừng giải quyết vụ án là một vấn đề quan trọng và được quy định rất cụ thể trong Luật tố tụng dân sự 2015, gọi là tạm đình chỉ giải quyết vụ án Trong bài tiểu luận này, em xin làm rõ một số vấn đề pháp lý liên quan đến đề tài này
B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận chung
1 Khái niệm tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Khi nói về khái niệm tạm đình chỉ VADS, hiện nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt thì “tạm” là làm việc gì chỉ trong một thời gian nào đó, khi có sự kiện sẽ thay đổi Còn theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì “tạm đình chỉ giải quyết VADS là Tòa án tạm thời ngừng giải quyết VADS đã thụ lý” Ngoài ra, các nhà luật học khác cũng có nêu lên một số quan điểm khác về tạm đình chỉ VADS Trên cơ sở kế thừa và phát triển các nghiên cứu, có thể đi đến khái niệm tổng quát được trình bày trong Giáo trình luật tố tụng dân sự trường Đại học kiểm sát Hà Nội như sau: “Tạm đình chỉ giải quyết VADS là việc Tòa án tạm ngừng việc giải quyết VADS khi có những căn
cứ làm cho việc tiếp tục các thủ tục giải quyết vụ án có thể ản hưởng tới việc tham gia của các đương sự hoặc ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự hoặc việc giải quyết vụ án có thể không toàn diện, khi lý
do tạm đình chỉ không còn nữa thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án”
Trang 22 Đặc điểm của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Từ việc nghiên cứu khái nhiệm trên, ta có thể rút ra một đặc điểm của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án như sau:
Thứ nhất, việc tạm đình chỉ giải quyết VADS phải dựa trên những căn cứ
pháp luật mà pháp luật có quy định trước, trên cơ sở đảm bảo các quyền của đương sự, tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết các VADS và việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết VADS
Thứ hai, tạm đình chỉ giải quyết VADS là việc Tòa án tạm ngừng giải
quyết VADS đã được thụ lý do xuất hiện những tình tiết, sự kiện nhất định chứ không phải cho ngừng hẳn việc giải quyết về nội dung VADS
Thứ ba, tính chất gián đoạn, tạm thời của việc đình chỉ VADS đem lại sẽ
được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa
Thứ tư, thông thường tạm đình chỉ VADS có thể được tiến hành ở cấp sơ
thẩm, phúc thẩm
3 Ý nghĩa của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Thứ nhất, việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS đúng
đắn, kịp thời sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Khi xuất hiện những căn cứ làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia tố tụng không được đảm bảo nếu quá trình giải quyết vụ việc vẫn được tiếp tục thì quyết định tạm đình chỉ là cần thiết
Thứ hai, quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa đối với Tòa
án trong quá trình xét xử VADS Vì hoạt động giải quyết vụ án tạm ngừng lại nên Tòa án có thêm thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, triệu tập đương sự để chuẩn bị tốt hơn cho phiên tòa xét xử
Trang 3Thứ ba, việc tạm đình chỉ giải quyết VADS có tác dụng thôi thúc các bên
có liên quan nhanh chóng đáp ứng đủ điều kiện cần thiết để quá trình tố tụng được tiếp tục tiến hành
Thứ tư, việc ra quyết định tạm đình chỉ đúng cho thấy Tòa án có trách
nhiệm rất cao trong việc giải quyết vụ việc dân sự Từ đó thể hiện ý thức của những người tiến hành tố tụng, tôn trọng việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, qua đó củng cố niềm tin của người dân đối với Tòa án, đối với pháp luật
Thứ năm, tạm đình chỉ VADS góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ
nghĩa, đảm bảo tính khách quan, chính xác trong hoạt động xét xử của Tòa án Chỉ khi xuất hiện các nguyên nhân làm cho việc tố tụng bị gián đoạn tạm thời và
có thể khắc phục được, pháp luật cho phép tạm đình chỉ giải quyết VADS Nó sẽ hạn chế được tư tưởng không đúng của một số thẩm phán là phải giải quyết nhanh chóng bằng mọi cách
II Quy định của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1 Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Việc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS phải tuân theo những quy định của pháp luật, nhằm tránh tùy tiện trong việc ra quyết định tạm đình chỉ, pháp luật tố tụng dân sự có những quy định rất cụ thể và chi tiết về căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS tại Điều 214 BLTTDS 2015, cụ thể:
Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó:
Theo Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác Theo quy định tại Khoản 1 Điều 74 BLTTDS 2015 quy định: “Đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền và nghĩa vụ tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố
Trang 4tụng” Chỉ trong trường hợp quyền và nghĩa vụ của đương sự đã chết là quyền
và nghĩa vụ về tài sản thì người thừa kế sẽ tham gia tố tụng, còn đối với các quan hệ về nhân thân thì không có sự kế thừa về quyền và nghĩa vụ tố tụng dân
sự
Ngoài ra, trong trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa xác định được cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó thì cũng phải tạm đình chỉ giải quyết VADS đó Việc xác định cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng được thực hiện theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều 74 BLTTDS 2015
Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên
mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật
Quy định này là phù hợp, bởi nếu Tòa án vẫn tiến hành giải quyết vụ việc
mà chưa có người đại diện thay đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự thì sẽ không bảo đảm quyền tiếp cận công lý của công dân, việc giải quyết vụ VADS khó có thể chính xác và đúng đắn
Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế
Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, trường hợp chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự nhưng chưa có người thay thế ngay, thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là hợp lý Tuy nhiên, trong trường hợp mà đương sự là cá nhân được đại diện đã thành niên hoặc đã khôi phục năng lực hành vi dân sự, thì đương sự sẽ tiếp tục tham gia tố tụng hoặc có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng Ngoài ra, khi quan hệ ủy quyền chấm dứt thì đương sự hoặc người thừa kế của đương sự sẽ tiếp tục hoặc ủy quyền cho người khác đại diện tham gia tố tụng Vì vậy, trong trường hợp quan
hệ ủy quyền đã chấm dứt, nhưng đương sự hoặc người thừa kế của đương sự lại tiếp tục tham gia tố tụng hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thì Tòa
án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án mà không ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết
Trang 5Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án
Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết VADS trong trường hợp này vì kết quả giải quyết vụ án trước hoặc kết quả do cơ quan quản lý nhà nước giải quyết
ở giai đoạn trước tố tụng có mối quan hệ trực tiếp tới nội dung của vụ án được thụ lý say này hoặc đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mặc dù đã gia hạn theo quy định của pháp luật mà vẫn phải chờ ý kiến của cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định phức tạp… Tòa án muốn giải quyết được vụ án đang thụ
lý thì phải dựa vào kết quả giải quyết các vụ việc trước đó
Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì mới giải quyết được vụ án
Đây là căn cứ tạm đình chỉ giải quyết VADS mới được áp dụng đối với những vụ án mà việc giải quyết vụ án phải thực hiện bằng biện pháp ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ thì thời gian để chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ thường mất nhiều thời gian nên việc bổ sung căn cứ này là phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn
Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ
Quy định mới này phù hợp với Điều 221 BLTTDS 2015 về phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật Khoản 7 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014: “Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa
án phát hiện và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ
Trang 6sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức…”
Tạm đình chỉ theo căn cứ tại Điều 41 của Luật Phá sản năm 2014
Điều 41 Luật Phá sản năm 2014 quy định trong thời hạn 5 ngày làm việc,
kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, Tòa án nhân dân phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương
sự Vì vậy, việc bổ sung căn cứ này nhằm bảo đảm sự đồng bộ với quy định của Luật Phá sản năm 2014
Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Đây là quy định mở, mang tính dự phòng đối với những trường hợp phát sinh lý do mà Tòa án cần thiết phải ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết VADS sự mới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Trong quá trình giải quyết VADS, nếu pát sinh các sự kiện pháp lý là các căn cứ nêu trên Tòa án sẽ xem xét ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS
2 Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 214 BLTTDS 2015: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp” Và Điều 216 BLTTDS 2015 “Trong thời hạn
03 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án quy định tại Điều 214 của Bộ luật này không còn thì Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự và gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự hết hiệu lực kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự.”
Trang 7Như vậy, dù không quy định trực tieeos về thời hạn tạm đình chỉ giải quyết VADS nhưng theo quy định trên tao có thể thấy được hiệu lực thời gian đối với quyst định này So với BLTTDS 2004 SĐBS 2011, thời hạn Tòa án phải gửi quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp theo BLTTDS 2015 rút ngắn hơn, còn 3 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Quy định này là nhằm bảo đảm tốt hơn quyền kháng cáo của đương sự
và quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
3 Hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Về cơ bản, hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết VADS được giữ nguyên theo quy định của BLTTDS 2004 SĐBS 2011:
Tòa án không xóa tên vụ án trong sổ thụ lý mà chỉ ghi vào sổ thụ lý ngày, tháng, năm của quyết định tạm đình chỉ
Tiền tạm ứng án phí, lệ phí đương sự đã nộp được gửi tại kho bạc và được
xử lý khi Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án
Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm
có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Bên cạnh đó, do Điều 214 BLTTDS 2015 bổ sung thêm căn cứ tạm đình chỉ quy định tại điểm e Khoản 1, nên Điều 215 BLTTDS bổ sung thêm hậu quả pháp lý trong trường hợp này là trước khi tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án phải có văn bản đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định tại Điều 221 của
Bộ luật này Trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền phải có văn bản trả lời Hết thời hạn này mà
Trang 8cơ quan có thẩm quyền không có văn bản trả lời, thì Tòa án tiếp tục giải quyết
vụ án theo thủ tục chung
Ngoài ra, để bảo đảm giải quyết nhanh chóng vụ án dân sự, Điều 215 BLTTDS 2015 bổ sung quy định, trong thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án vẫn phải có trách nhiệm về việc giải quyết vụ án Nhằm nâng cao trách nhiệm của thẩm phán đối với vụ án
4 Tiếp tục giải quyết vụ án
So với Bộ luật BLTTDS 2004 SĐBS 2011, BLTTDS 2015 (Điều 216) đã quy định cụ thể hơn về thời hạn Tòa án phải ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ
án dân sự là trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn, đồng thời BLTTDS 2015 còn quy định Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp
Điểm mới quan trọng nữa của BLTTDS 2015 là đã quy định cụ thể ngày hết hiệu lực của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là kể từ ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự Tòa án tiếp tục giải quyết
vụ án kể từ khi ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án dân sự
III Thực tiễn áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự
1 Thực trạng áp dụng pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự
BLTTDS 2015 ra đời, dù mới đi vào thực tiễn được một thời gian ngắn nhưng đã cho thấy những tiến bộ so với quy định trước đây Các nhà làm luật đã nhận thức được những điểm tồn đọng, vướng mắc trong quá trình thực tiễn áp dụng BLTTDS 2004, cùng với quá trình tổng kết lý luận đã có những sửa đổi bổ sung kịp thời trong BLTTDS 2015, có thể thấy rõ thông qua một số nội dung như: Bổ sung các căn cứ làm cơ sở Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự; Thay đổi thời hạn tạm đình chỉ thông qua việc thay đổi thời gian gửi quyết định đến các bên có liên quan; bổ sung một số nội dung trong hậu quả pháp lí của việc tạm đình chỉ cũng như quy định mới về tiếp tục giải quyết vụ án
Trang 9khi các căn cứ tạm đình chỉ không còn….Từ đó, đảm bảo tốt hơn quyề và lợi ích hợp pháp của các bên đường sự; bảo vệ trật tự pháp luật; đảm bảo cho các cơ quan có thẩm quyền tuân thủ đúng quy định pháp luật khi giải quyết các VADS trên thực tiễn
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng quy định của BLTTDS 2015 vào thực tiễn, còn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập như sau:
Về các căn cứ tạm đình chỉ:
Thứ nhất, cũng giống như BLTTDS 2004 SĐBS 2011, BLTTDS2015
không quy định đối với trường hợp đương sự chết khi Tòa án đang giải quyết vụ
án dân sự mà quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo pháp luật quy định là được
kế thừa nhưng không có người thừa kế Theo Điều 622 Bộ luật Dân sự năm
2015 thì trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc
có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc Nhà nước
Thứ hai, so với Điều 74 BLTTDS 2015 thì căn cứ tạm đình chỉ tại Điều
214 BLTTDS 2015 còn bỏ sót trường hợp tổ chức chuyển đổi hình thức tổ chức, thay đổi chủ sở hữu của tổ chức và có việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ cho chủ
sở hữu mới, trường hợp tổ chức không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự mà người đại diện đang tham gia tố tụng chết
Thứ ba, tại điểm đ khoản 1 Điều 214 BLTTDS 2015 quy định: “Cần đợi
kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan,
tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được
vụ án” Điều này cho phép, nếu trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án ra quyết định ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 105, Điều 106 BLTTDS 2015, thì không cần phải chờ hết thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy
Trang 10định tại Điều 203 BLTTDS 2015 Tòa án có thể ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án ngay
Như vậy, Việc áp dụng Điều 214 BLTTDS 2015 sẽ cho thấy một bất cập phát sinh, đó là, dễ dẫn đến tình trạng lạm dụng quy định tại Điều 214 BLTTDS
2015 để Tòa án ban hành quyết định tạm đình chỉ vụ án Chủ yếu các quyết định tạm đình chỉ đều có lý do chờ kết quả ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ
Về thời hạn tạm đình chỉ:
Vẫn còn hạn chế của BLTTDS 2004 SĐBS 2011 nhưng BLTTDS 2015 chưa khắc phục được đó là không quy định về thời hạn ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi xuất hiện căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Với vụ án được tạm đình chỉ, khi có căn cứ phục hồi, Tòa án ra thông báo tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết và thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 BLTTDS 2015 Điều này dẫn đến việc, nhiều vụ án sẽ bị kéo dài thời gian giải quyết một cách không cần thiết, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự
Chưa có sự thống nhất giữa các điều luật, cụ thể: Theo quy định tại khoản
18 Điều 70 BLTTDS 2015, đương sự có quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên, trong Điều 214 lại không hề nhắc đến vấn đề này
2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Qua thực trạng đã nêu ở trên, nhằm khắc phục một số vướng mắc, bất cập của pháp luật về tạm đình chỉ giải quyết VADS, trong bài này, em xin đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, về căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án: Cần hướng dẫn cụ thể,
trường hợp vụ án tranh chấp về tài sản mà đương sự là cá nhân chết không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản mà chưa xác định được cơ quan nhà nước