1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam. Tìm một vụ việc trong thực tế hoặc xây dựng một tình huống

16 634 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 40,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦU2B. NỘI DUNG2I. Lý thuyết21. Khái niệm thừa kế trong tư pháp quốc tế.22. Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật.33. Giải quyêt xung đột pháp luật về thừa kế theo điều ước quốc tế.64. Di sản không có người thừa kế95. Thừa kế của công dân Việt Nam ở nước ngoài.106. Thuế đối với di sản.11II. Giải quyết tình huống.121. Yếu tố nước ngoài trong tình huống.122. Pháp luật giải quyết.123. Cách giải quyêt vụ việc trên.13C. KẾT LUẬN14DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO15

Trang 1

ĐỀ BÀI

Phân tích nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam Tìm một vụ việc trong thực tế hoặc xây dựng một tình huống về thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài Phân tích vụ việc đó, xác định:

- Yếu tố nước ngoài trong vụ việc đó

- Pháp luật nước nào sẽ được giải quyết

- Nêu cách giải quyết vụ việc đó…

Tình huống: Ông N quốc tịch Công hòa Liên bang Nga, lấy bà M (năm

1998) là người mang quốc tịch Việt Nam và sinh sống ở Việt Nam Hai ông bà

có con là Q(sinh tháng 7 năm 1999) và P(sinh tháng 10 năm 2003) mang quốc tịch Việt Nam Tháng 10 năm 2017 ông N cùng bà M đi du lịch và mất ở Việt Nam Tài sản để lại bao gồm một căn nhà ở Nga (của ông N trước khi kết hôn) trị giá 1 tỷ VNĐ, 1 căn nhà ở Việt Nam trị giá 800 triệu VNĐ 1 chiếc ô tô trị giá

600 triệu VNĐ và tài sản khác có giá trị 5 tỷ Việt Nam Đồng (Việt Nam và Công hòa Liên bang Nga không kí kết các điều ước quốc tế để giải quyết vấn đề thừa kế)

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Trong tiến trình hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ kéo theo nhiều quan hệ xã hội vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, trong đó phải kể đến là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Các trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài bao gồm người để lại tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Người thừa kế tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Tài sản thừa kế ở nước ngoài Như vậy, thừa kế

có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là gì? Cách giải quyết vấn đề này như thế nào? Chính những lí do đó nhóm chúng em đi vào nghiên cứu đề bài:

"Phân tích nguyên tắc giải quyết quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam "

B NỘI DUNG

I Lý thuyết

1 Khái niệm thừa kế trong tư pháp quốc tế.

Thừa kế trong tư pháp quốc tế là quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, được điều chỉnh theo các nguyên tắc và các quy phạm của tư pháp quốc tế

Định nghĩa này có một vài đặc điểm sau:

Thứ nhất, thừa kế trong tư pháp quốc tế nói chung, trước tiên phải là quan

hệ thừa kế được điều chỉnh theo pháp luật quốc gia Pháp luật quốc gia điều chỉnh vấn đề thừa kế trong nhiều trường hợp là một phần của pháp luật dân sự ( ví dụ: pháp luật các nước thuộc hệ thống Civil Law), trong trường hợp khác lại thuộc bộ phận của thực tiễn tư pháp (ví dụ: Pháp luật các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ Commom law) Còn ở Việt Nam thì quan hệ thừa kế được điều chỉnh theo Bộ luật dân sự

Thứ hai, thừa kế trong tư pháp quốc tế phải là quan hệ thừa kế có yếu tố

nước ngoài Yếu tố nước ngoài ở đây có thể nhận được thong quan một trong các dấu hiệu sau:

Trang 3

Về chủ thể: chủ thể tham gia quan hệ thừa kế phải là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài

Đối tượng: đối tượng của quan hệ thừa kế ở đây là tài sản đang hiện diện hoặc tồn tại ở nước ngoài và chịu sự chi phối, điều chỉnh chủ yếu của pháp luật nước sở tại Tuy nhiên, các tài sản này cũng đồng thời chịu sự chi phối, điều chỉnh của pháp luật nước có thẩm quyền giải quyết về vấn đề thừa kế tài sản đó

Ví dụ:

Sự kiện pháp lý: sự kiện pháp lý ở đây phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ thừa kế xảy ra ở nước ngoài

2 Giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật.

2.1 Khái quát về pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài

Pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài là một bộ phận của tư pháp quốc tế

Bộ phận pháp luật này được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của mỗi quốc gia khác nhau, trong các điều ước quốc tế lien quan mà quốc gia là thành viên, trong các án lệ lien quan của các nước, trong các nguồn của pháp luật khác

Ở Việt Nam, bộ phận pháp luật này được quy định ở trong Bộ luật dân sự

và các luật khác có lien quan như Luật đất đai, Luật sở hữu trí tuệ, Luật doanh nghiệp,… Ngoài ra Việt Nam cũng kí kết nhiều điều ước quốc tế song phương lien quan trực tiếp đến vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài

Trên thực tiễn tư pháp quốc tế, pháp luật thừa kế có yếu tố nước ngoài thường được xác định trên cơ sở các quy phạm tư pháp quốc tế và áp dụng đối với toàn bộ các quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài Pháp luật đó được áp dụng để xác định quy tắc cần sử dụng để giải quyết nội dung các vấn đề chung

về cơ sở pháp lý cơ bản của việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản trong lĩnh vực thừa kế (luật, di chúc, hợp đồng thừa kế,…); xác định cấu thành di sản thừa

kế (các loại tài sản có thể thừa kế); điều kiện (thời gian, địa điểm) mở thừa kế; phạm vi những người thuộc diện thừa kế, hàng thừa kế và cả những trường hợp

Trang 4

không được hưởng quyền thừa kế,… có yếu tố nước ngoài Như vậy pháp luật

đó cũng áp dụng để xác định các quy tắc giải quyết nội dung một số vấn đề chuyên biệt trong thừa kế theo các căn cứ nhất định như thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật, trình tự và thủ tục thừa kế theo hợp đồng, thỏa thuận về thừa kế… có yếu tố nước ngoài

2.2 Giải quyết xung đột pháp luật thừa kế theo pháp luật.

Thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được quy định khá phức tạp ở Việt Nam và các nước Thừa kế theo pháp luật chỉ áp dụng trong các trường hợp thừa kế không có di chúc, thừa kế không có di chúc hợp pháp hoặc thừa kế không có thỏa thuận cụ thể hợp pháp về thừa kế

Pháp luật các nước, ngoài các quy phạm thực chất quy định cụ thể về thừa

kế trong trường hợp này, còn chấp nhận nhiều quy tắc khác nhau trong giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên vấn đề thừa kế nói chung được đa số các nước xử lý theo hai dòng tư tưởng pháp lý cơ bản:

- Dòng tư tưởng ưu tiên áp dụng quy tắc “Luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch vào thời điểm chết: (Lex patriae)

- Dòng tư tưởng ưu tiên áp dụng quy tắc “Luật của nước mà người để lại di sản thường chú” (Lex domicilii)

Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định cụ thể về vấn đề thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài: Điều 680 Thừa kế

- Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa

kế có quốc tịch ngay trước khi chết

- Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó

Như vậy, việc giải quyết xung đột pháp luật thừa kế theo pháp luật có yếu

tố nước ngoài ở Việt Nam có hơi hướng của Dòng tư tưởng ưu tiên áp dụng quy tắc “Luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch vào thời điểm chết” Ngoài ra ở Việt Nam nếu để lại tài sản thừa kế là bất động sản thì việc giải quyết thừa kế lại xác định theo pháp luật của nước có nơi bất động sản vd:

Trang 5

nếu bất động sản để thừa kế ở Thái Lan thì việc áp dụng pháp luật thừa kế lại theo Luật tại Thái Lan chứ không phải theo Pháp luật Việt Nam

2.3 Các quy tắc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo di chúc.

Có rất nhiều vấn đề xung đột pháp luật liên quan đến chế định pháp luật thừa kế theo di chúc có yếu tố nước ngoài Trong những vấn đề xung đột pháp luật đó, vấn đề xung đột pháp luật về năng lực hành vi lập di chúc, thay đổi, hủy

bỏ di chúc và vấn đề xung đột pháp luật về hình thức của di chúc luôn được quan tâm chú ý giải quyết Chính vì thế trên thế giới có rất nhiều cách thức giải quyết xung đột pháp luật liên quan trực tiếp đến chế định pháp luật thưà kế theo

di chúc

Ở Việt Nam, Điều 681 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

- Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc

- Hình thức của di chúc được xác định theo pháp luật của nước nơi di chúc được lập Hình thức của di chúc cũng được công nhận tại Việt Nam nếu phù hợp với pháp luật của một trong các nước sau đây:

Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;

Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;

Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản

Qua quy định này ta có thể thấy rằng năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được xác định theo pháp luật của nước mà người lập di chú mang quốc tịch tại thời điểm người đó lập di chúc (ví dụ: Ông A người Nhật Bản lập di chúc tại Việt Nam thì việc xác định năng lực lập di chúc sẽ theo pháp luật của Nhật Bản) Ngoài ra pháp luật Việt Nam cũng quy định về hình thức của di chúc, hình thức của di chúc sẽ được xác định theo pháp luật của nước lập

Trang 6

di chúc, tuy nhiên Việt Nam cũng công nhân về hình thức của các di chúc nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

- Nước nơi người lập di chúc cư trú tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;

- Nước nơi người lập di chúc có quốc tịch tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người lập di chúc chết;

- Nước nơi có bất động sản nếu di sản thừa kế là bất động sản

3 Giải quyêt xung đột pháp luật về thừa kế theo điều ước quốc tế.

Ngoài việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế theo pháp luật của các quốc gia thì trên thực tế việc giải quyết xung đột pháp luật về thừa kế còn qua các điều ước quốc tế Cụ thể hơn là các nước giải quyết xung đột qua việc ký kết tham gia vào các điều ước quốc tế song phương, đa phương

3.1 Điều ước quốc tế đa phương

Đáng chú ý nhất trong các điều ước quốc tế đó là hệ thống các công ước quốc tế được soạn thảo và thông qua khuôn khổ Hội nghị La Haye về tư pháp quốc tế Trong số các công ước quốc tế đó phải kể đến: Công ước La Haye 1961

về xung đột pháp luật liên quan đến hình thức của di chúc; Công ước La Haye

1973 về quản lí quốc tế bất động sản của người đã chết; Công ước La Haye 1989

về pháp luật áp dụng cho vấn đề thừa kế bất động sản của người đã chết

Công ước La Haye năm 1961 về xung đột pháp luật liên quan đến hình thức của di chúc đã tổng hợp và ghi nhận tất cả các quy tắc giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến di chúc mà các nước đã và đang sử dụng trong thực tiễn pháp luật quốc tế Theo đó, tùy vào từng trường hợp cụ thề, các nước có thể áp dụng pháp luật của nước mà người lập di chúc có quốc tịch vào thời điểm lập di chúc hoặc co thể áp dụng pháp luật nước mà người lập di chúc có nơi cư trú chính Tuy vậy, công ước cũng cho phép áp dụng pháp luật của nước nơi có di sản là bất động sản của người lập di chúc hoặc áp dụng pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất nhất với người lập di chúc Điều đáng chú ý nhất ở đây

Trang 7

là cá nhân có quyền lựa chọn hệ thống pháp luật mà được suy luận là thích hợp nhất trong trường hợp cụ thể để lập di chúc

Công ước La Haye 1973 về quản lí bất động sản của người đã chết quy định về chứng thực quốc tế trong việc xác lập những người được uản lí quốc tế bất động sản của người đã chết Giấy chứng thực này phải do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền của nước nơi người chết thường trú trước khi chết lập theo quy định của pháp luật nước này Tuy vậy, công ước cũng cho phép áp dụng pháp luật của nước mà người đã chết có quốc tịch vào thời điểm chết Để áp dụng pháp luật như vậy, cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đã chết có quốc tịch vào thời điểm chết và cơ quan có thẩm quyền của nước mà có người đã chết thường trú trước khi chết phải có thỏa thuận chung về vấn đề này

Công ước La Haye 1989 về pháp luật áp dunhj cho vấn đề thừa kế bất động sản của người đã chết cho phép khả năng lựa chọn pháp luật có quan hệ gắn bó nhất để điều chỉnh vấn đề thừa kế bất động sản Hình thức của tuyên bố thừa kế cũng như nội dung của tuyên bố đó được xác định theo pháp luật của nước nơi lập tuyên bố đó Công ước cho phép các beeb liên quan lập thỏa thuận

về việc thừa kế, về thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế, về cách thức thay đổi và chấm dứt quan hệ thừa kế đối với di sản là bất động sản Công ước La haye

1989 khẳng định mối quan hệ qua lại rõ ràng giữa pháp luật của nước mà người

để lại di chúc muốn di sản của mình được tuân theo và phạm vi di sản thừa kế Công ước cũng có các quy định để phòng ngừa những hậu quả có thể phát sinh

từ các động cơ kinh tế, xã hội, chính trị liên quan đến khu vực đó

3.2 Điều ước quốc tế song phương

Vấn đề thừa kế luôn được quan tâm giải quyết trong nhiều hiệp định, đặc biệt là trong các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp và hiệp định lãnh

sự mà Việt Nam là thành viên

Các hiệp định lãnh sự thường quy định việc thông báo cho nước kí kết liên quan về trường hợp công dân của nước liên quan chết tại nước kí kết sở tại và

Trang 8

cách thức xử lý lãnh sự, quy tắc bảo quản đối với tài sản của người đã chết phù hợp với các quy định của công ước Vienna 1963 về quan hệ lãnh sự và thực tiễn của các nước tham gia kí kết

Các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp thường dành riêng một chương hoặc một số điều cụ thể để quy định những vấn đề xung đột pháp luật và xung đột quyền tài phán dân sự trong lĩnh vực thừa kế của công dân các nước kí kết hiệp định

Ví dụ: Việt Nam đã kí kết một số HĐTTTP với các nước như Bungary, Cuba, Lào, Hungary,…

Theo các quy định của các HĐTTTP mà Việt Nam kí kết thì Nguyên tắc bình đẳng trong lĩnh vực thừa kế thường được khẳng định trong các quy định đầu tiên của các chương, mục, nhóm điều khoản cụ thể về vấn đề thừa kế trong các HĐTTTP này Theo đó “Công dân của nước ký kết này cư trú trên lãnh thổ nước ký kết kia, được hưởng các quyền bình đẳng như công dân của nước đó về thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc những tài sản và quyền lợi trên lãnh thổ nước ký kết kia hoặc trong việc lập di chúc về tài sản có trên lãnh thổ nước ký kết kia” tức là các nước kí kết hiệp định thừa nhận nguyên tắc không phân biệt đối xử

Vấn đề thừa kế tài sản theo pháp luật trong các HĐTTTP: Pháp luật áp dụng

để giải quyết vấn đề thừa kế động sản là pháp luật các nước kí kết mà người để lại động sản thừa kế là công dân vào thời điểm người đó chết; pháp luật áp dụng

để giải quyết vấn đề thừa kế bất động sản là pháp luật của nước kí kết nơi có bất động sản thừa kế việc phân chia di sản là động sản hoặc bất động sản được nhiều hiệp định nêu trên quy định rõ là phải tuân theo pháp luật của nước kí kết nơi có di sản

Vấn đề thừa kế theo di chúc trong các HĐTTTP: thừa kế theo di chúc cũng được thừa nhận, xung đột pháp luật trong lĩnh vực thừa kế theo di chúc được

Trang 9

giải quyết thống nhất theo các quy tắc xung đột pháp luật nhất định được các nước kí kết đưa vào hiệp định cụ thể

Vấn đề thừa kế đối với di sản của công dân nước kí kết này chết tại nước kí kết kia mà không có người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc hợp pháp cũng được các HĐTTTP quy định khá rõ ràng Theo đó, động sản không người thừa kế sẽ chuyển giao cho nước kí kết mà người để lại di sản đó là công dân vào thời điểm chết, bất động sản không người thừa kế sẽ thuộc nước kí kết nơi

có bất động sản đó

Vấn đề thẩm quyền giải quyết các vấn đề thừa kế và một số vấn đề khác cũng được quy định các HĐTTTP Về cơ bản, thẩm quyền giải quyết các vấn đề thừa kế phải do các nước thỏa thuận cụ thể và phải ghi rõ trong các HĐTTTP liên quan

4 Di sản không có người thừa kế

Di sản không có người thừa kế ở đây là tài sản của một người đã chết để lại mà không có bất kỳ người thừa kế nào Di sản không có người thừa kế xảy ra trong các trường hợp người để lại di sản mà không có ai có đủ điều kiện hưởng

di sản hay trong trường hợp người được thừa kế từ chối nhận di sản và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận

Vấn đề di sản không có người thừa kế luôn được quan tâm giải quyết trong thực tiễn chính vì thế pháp luật các nước quy định khá phức tạp về vấn đề này Tài sản không có người thừa kế sẽ là tài sản thuộc về nhà nước tuy nhiên trên thế giới có những quan điểm khác nhau về quốc gia được nhận phần di sản đó:

- Tài sản thừa kế thuộc về nhà nước mà nhà nước đó có thể là quốc gia

mà người để lại di sản có quốc tịch vào thời điểm chết

- Tài sản thừa kế thuộc về nhà nước nơi có di sản thừa kế

Ở Việt Nam, vấn đề tài sản không có người thừa kế được quy định cụ thể tại Điều 622 Bộ Luật dân sự 2015: “Phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Trang 10

1 Trường hợp đã phân chia di sản mà xuất hiện người thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

2 Trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì người đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị di sản được hưởng tại thời điểm chia thừa kế cho những người thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Tuy nhiên, Việt Nam chưa có quy định cụ thể cho trường hợp tài sản không

có người thừa kế mang yếu tố nước ngoài, chính vì thế để giải quyết các tranh chấp về thừa kế giữa các nước có quan điểm khác nhau thì Việt Nam đã ký kết những hiệp định tương trợ tư pháp với các nước có quan điểm giải quyết khác nhau

5 Thừa kế của công dân Việt Nam ở nước ngoài.

Thừa kế có yếu tố nước ngoài của công dân Việt Nam ở nước ngoài có thể

chia dưới hai góc độ: thứ nhất, đó là thừa kế của công dân Việt Nam cư trú ở

nước ngoài đối với tài sản ở Việt Nam và thừa kế của công dân Việt Nam cư trú

ở nước ngoài đối với tài sản ở nước mà công dân Việt nam hiện diện Thứ hai,

thừa kế của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước đối với tài sản ở nước ngoài

- Vấn đề thừa kế của công dân Việt Nam ở nước ngoài tại Việt Nam.

Vấn đề này được giải quyết theo Hiến pháp và Pháp luật Việt nam cụ thể là

ở trong Hiến pháp 2013 và các luật liên quan đến vấn đề thừa kế đó là Bộ luật dân sự 2015, Luật đất đai,…

- Vấn đề thừa kế của công dân Việt nam cư trú ở nước ngoài đối với tài sản

ở nước mà công dân Việt Nam hiện diện.

Vấn đề thừa kế của công dân Việt nam ở nước ngoài tại nước mà công dân Việt nam hiện diện được giải quyết chủ yếu trên cơ sở các quy định của pháp luật nước mà công dân Việt Nam hiện diện Ngoài ra, vấn đề này còn được giải

Ngày đăng: 29/03/2019, 20:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w