TRẦN MẠNH HOÀNG SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI – HÓA HỌC 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN TH
Trang 1TRẦN MẠNH HOÀNG
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI – HÓA HỌC 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRẦN MẠNH HOÀNG
SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI – HÓA HỌC 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số: 8 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Thành
HÀ NỘI, 2018
Trang 3Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, khoa Hóa học, quý thầy, cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Kim Thành về sự hướng dẫn tận tình và đầy tâm huyết trong suốt quá trình xây dựng và hoàn thiện đề tài
Em chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, quý Thầy giáo, Cô giáo và các em học sinh tại các trường Trung tâm GDNN – GDTX Vũ Thư, Trung tâm GDTX thành phố Thái Bình – Tỉnh Thái Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực nghiệm
Em xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, động viên để em hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Mạnh Hoàng
Trang 4trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, tháng 8 năm 2018
Tác giả luận văn
Trần Mạnh Hoàng
Trang 61 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Câu hỏi nghiên cứu 3
6 Giả thiết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp mới của đề tài luận văn 4
9 Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay 7
1.2.1 Giáo dục định hướng năng lực 7
1.2.2 Những năng lực cần phát triển cho học học sinh trung học phổ thông 8
1.2.3 Đổi mới kiểm tra đánh giá 9
1.3 Năng lực và năng lực vận dụng kiến thức 10
1.3.1 Khái niệm về năng lực 10
1.3.2 Năng lực vận dụng kiến thức 10
1.3.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức 10
1.3.2.2 Cấu trúc của năng lực vận dụng kiến thức 11
1.3.2.3 Biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức 12
1.3.2.4 Biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức 12
1.3.2.5 Đánh giá năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học hóa học 13
Trang 71.4.1 Dạy học theo góc 14
1.4.1.1 Khái niệm 14
1.4.1.2 Quy trình thực hiện học theo góc 14
1.4.1.3.Ưu điểm và hạn chế của PPDH theo góc 15
1.4.2 Dạy học theo hợp đồng 15
1.4.2.1 Khái niệm dạy học theo hợp đồng 15
1.4.2.2 Tiến trình dạy học theo hợp đồng 15
1.4.2.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học theo hợp đồng 16
1.5 Bài tập hóa học 17
1.5.1 Khái niệm bài tập hóa học 17
1.5.2 Ý nghĩa của bài tập hóa học 17
1.5.3 Cơ sở phân loại bài tập hóa học 18
1.5.3.1 Dựa vào mức độ tư duy 18
1.5.3.2 Dựa vào hình thức 18
1.5.3.3 Dựa vào nội dung kiến thức 19
1.5.4 Vai trò của bài tập hóa học trong việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh 19
1.5.5 Xu hướng phát triển bài tập hiên nay 21
1.6 Thực trạng sử dụng BTHH nhằm phát triển NL VDKT cho HS THPT 22
1.6.1 Đặc điểm chung của trung tâm GDNN – GDTX 22
1.6.1.1 Nhiệm vụ của trung tâm GDNN – GDTX 22
1.6.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, trình độ nhận thức của học sinh 22
1.6.2 Nhiệm vụ điều tra 23
1.6.3 Đối tượng điều tra 23
1.6.4 Nội dung điều tra 23
1.6.5 Phương pháp điều tra 24
1.6.6 Kết quả điều tra 24
Trang 8Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 29
2.1 Phân tích vị trí, cấu trúc nội dung chương Đại cương về kim loại 29
2.1.1 Vị trí chương Đại cương về kim loại trong chương trình môn Hóa học trung học phổ thông 29
2.1.2 Cấu trúc nội dung chương Đại cương về kim loại (Hóa học 12) 29
2.1.3 Mục tiêu chương trình chương Đại cương về kim loại – Hóa học 12 30
2.1.3.1 Kiến thức 30
2.1.3.2 Kĩ năng 30
2.1.3.3 Thái độ 30
2.1.3.4 Phát triển năng lực 31
2.1.4 Một số điểm cần lưu ý về nội dung và phương pháp khi dạy học chương Đại cương về kim loại – Hóa học 12 31
2.1.4.1 Một số điểm cần lưu ý về nội dung 31
2.1.4.2 Một số điểm cần chú ý về phương pháp 31
2.2 Đề xuất nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập 32
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống BTHH để phát triển NLVDKT cho HS 32
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống BTHH để phát triển NLVDKT cho HS 32
2.3 Hệ thống bài tập chương Đại cương về kim loại – Hóa học 12 nhằm phát triển NLVDKT cho HS 33
2.3.1 Bài tập về tính chất vật lí và dãy điện hóa của kim loại 33
2.3.1.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận 33
2.3.1.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan 36
2.3.2 Bài tập về kim loại tác dụng với phi kim 40
Trang 92.3.3 Bài tập kim loại tác dụng với axit 44
2.3.3.1 Kim loại tác dụng với HCl, H2SO4 loãng 44
2.3.3.2 Kim loại tác dụng với HNO3, H2SO4 đặc nóng 48
2.3.4 Bài tập kim loại tác dụng với dung dịch muối 54
2.3.4.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận 54
2.3.4.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan 58
2.3.5 Bài tập điều chế kim loại bằng phương pháp nhiệt luyện 62
2.3.5.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận 62
2.3.5.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan 63
2.3.6 Bài tập điều chế kim loại bằng phương pháp điện phân 65
2.3.6.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận 65
2.3.6.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan 67
2.3.7 Bài tập về ăn mòn điện hóa và pin điện 70
2.3.7.1 Bài tập trắc nghiệm tự luận 70
2.3.7.2 Bài tập trắc nghiệm khách quan 73
2.4 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho HS trung học phổ thông 74
2.4.1 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh khi dạy bài kiến thức mới 74
2.4.2 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh khi dạy bài luyện tập 76
2.4.3 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong dạy học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh khi kiểm tra đánh giá 77
2.5 Thiết kế bảng tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển của năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trung học phổ thông 80
2.5.1 Xác định bảng tiêu chí đánh giá sự phát triển của năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trung học phổ thông 80
Trang 102.5.2.1 Đề xuất bảng kiểm đánh giá sự phát triển NLVDKT cho HS
thông qua GV 83
2.5.2.2 Đề xuất bảng tự đánh giá sự phát triển NLVDKT của HS 84
2.6 Một số bài học (giáo án) minh họa 85
2.6.1 Kế hoạch bài học nghiên cứu kiến thức mới 85
2.6.2 Kế hoạch bài học ôn tập, luyện tập 94
Tiết 34 – Bài 22 LUYỆN TẬP TÍNH CHẤT CỦA KIM LOẠI 94
Tiểu kết chương 2 102
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 103
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 103
3.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 103
3.2.2.1 Đối tượng thực nghiệm 104
3.2.2.2 Tổ chức thực nghiệm sư phạm 104
3.3 Kết quả và đánh giá thực nghiệm sư phạm 105
3.3.2.1 Bài kiểm tra số 1 (Bài kiểm tra 15 phút) 107
3.3.2.2 Bài kiểm tra số 2 (Bài kiểm tra 45 phút) 108
3.3.5.1 Phân tích định tính kết quả thực nghiệm sư phạm 112
3.3.5.2 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm sư phạm 112
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
PHỤ LỤC
Trang 11Bảng 1.2 Những tiêu chí xây dựng hệ thống bài tập của GV 25
Bảng 1.3 Tần suất giáo viên sử dụng bài tập hóa học trong dạy học 25
Bảng 1.4 Việc sử dụng bài tập hóa học trong các dạng bài lên lớp 25
Bảng 1.5 Ý kiến của GV về mức độ phát triển năng lực VDKT của HS 25
Bảng 1.6 Nguyên nhân GV ít sử dụng bài tập trong dạy học hóa học 25
Bảng 1 7 Hứng thú của HS khi giải quyết các bài tập hóa học 26
Bảng 1.8 Những khó khăn của HS khi giải BTHH 26
Bảng 1.9 Những khó khăn của HS khi gặp bài tập khó 26
Bảng 1.10 Những yếu tố giúp HS giải bài tập tốt hơn 26
Bảng 1.11 Thời gian HS dành để làm bài tập trước khi lên lớp 26
Bảng 1.12 Việc học sinh chuẩn bị cho giờ bài tập 26
Bảng 1.13 Ý kiến HS về sự cần thiết của kiến thức và bài tập hóa học 27
Bảng 1.14 Thái độ của HS khi VDKT trong bài tập GV giao 27
Bảng 1.15 Tác dụng của bài tập có VDKT đối với HS 27
Bảng 1.16 Sự cần thiết phải rèn luyện NLVDKT hóa học cho HS 27
Bảng 2.1 Các tiêu chí và mức độ đánh giá NL VDKT 80
Bảng 2.2 Bảng kiểm quan sát đánh giá NL VDKT trong dạy học hóa học THPT 83
Bảng 2.3 Phiếu tự đánh giá NL VDKT của HS 85
Bảng 3.1 Các lớp TN và ĐC 104
Bảng 3.2 Bảng kết quả bài kiểm tra số 1 107
Bảng 3.3 Phần trăm HS đạt điểm xi trở xuống của bài kiểm tra số 1 107
Bảng 3.4 Phần trăm HS đạt khá giỏi, trung bình, yếu kém bài kiểm tra số 1 108
Bảng 3.5 Bảng bài kiểm tra số 2 108
Bảng 3.6 Phần trăm HS đạt điểm Xi trở xuống của bài kiểm tra số 2 109
Bảng 3.7 Phần trăm HS đạt khá giỏi, trung bình, yếu kém bài kiểm tra số 2 109
Bảng 3.8 Các tham số đặc trưng 110
Bảng 3.9 Kết quả đánh giá qua bảng kiểm quan sát năng lực VDKT của HS 110
Bảng 3.10 Ý kiến của GV về hệ thống bài tập nhằm phát triển NLVDKT cho HS 111
Trang 12Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 108
Hình 3.2 Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS bài kiểm tra số 1 108
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 109
Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả học tập của HS bài kiểm tra số 2 109
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
đã xác định mục tiêu “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của
giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” “Đổi mới giáo dục từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực” Trong
những năm gần đây, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực Đảng và Nhà nước ta cần phải đổi mới và cải cách giáo dục đào tạo Trong quá trình đổi mới, vấn đề đổi mới cách thức, phương pháp dạy học,
tổ chức quá trình dạy học được xem là một khâu then chốt mang tính cách mạng sâu sắc Do đó, vấn đề đổi mới phương pháp, tổ chức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo đã và đang được nhiều nhà quản lý và nhà nghiên cứu giáo dục, cán bộ và giáo viên các trường quan tâm, đặc biệt là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng chủ động, tích cực của người học, phát triển tư duy cho học sinh (HS) trong quá trình nhận thức
Môn Hóa học là môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm, có nhiều khả năng trong việc phát triển những năng lực nhận thức cho HS Nó cung cấp cho HS những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản về các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hóa học, môi trường và con người Việc vận dụng những kiến thức lý thuyết này vào cuộc sống, việc giải các bài tập có nội dung gắn với thực tiễn sẽ làm phát triển ở các em tính tích cực, tự lập, óc sáng tạo, những
Trang 14hứng thú nhận thức, tinh thần vượt khó, tức là những phẩm chất quý báu đối với cuộc sống, lao động sản xuất
Việc chiếm lĩnh tri thức không chỉ thông qua nghiên cứu lý thuyết mà còn thông qua việc giải các bài tập hóa học (BTHH) Với phương châm: “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn” Giải bài tập hóa học là lúc HS hoạt động tự lực để củng cố và trau dồi kiến thức hóa học của mình Bài tập hóa học cung cấp cho HS không chỉ kiến thức và con đường để giành lấy kiến thức mà cả niềm vui sướng của sự phát hiện ra kiến thức
Do vậy, bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học có hiệu quả cao Thực tế dạy học cho thấy, bài tập hóa học có tác dụng giúp học sinh rèn luyện và phát triển tư duy Thông qua việc giải những bài tập hóa học cũng góp phần làm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ở học sinh
Mặt khác, đối tượng HS ở các Trung tâm giáo dục nghề nghiệp (GDNN)- Giáo dục thường xuyên (GDTX) không có điều kiện về thời gian học tập và cũng còn nhiều hạn chế và lúng túng về khả năng nhận thức cũng như năng lực vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống trong học tập cũng như trong cuộc
sống Do đó, tôi đã chọn đề tài: “Sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học chương Đại cương về kim loại – Hóa học 12 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học chương Đại cương về kim loại nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức (NLVDKT) cho HS trung học phổ thông (THPT) tại các Trung tâm GDNN - GDTX, qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học ở trung tâm GDNN – GDTX
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hoá học 12 ở trung tâm GDNN -GDTX
Trang 153.2 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống BTHH chương Đại cương về kim loại (Hóa học 12) và các biện
pháp phát triển NLVDKT cho HS
3.3 Phạm vi nghiên cứu
- Các bài tập hóa học chương Đại cương về kim loại (Hóa học 12)
- Cách sử dụng hệ thống bài tập đó để phát triển NLVDKT cho HS
- Địa bàn thực nghiệm: Trung tâm GDNN - GDTX Vũ Thư và Trung tâm GDTX thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Thời gian thực nghiệm: Từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2018
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài
- Điều tra, đánh giá thực trạng việc dạy học và phát triển NLVDKT cho HS trong quá trình dạy học hóa học tại một số Trung tâm GDNN - GDTX hiện nay
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình, sách giáo khoa (SGK) hóa học
ở trường phổ thông, đặc biệt là chương Đại cương về kim loại - Hóa học 12
- Nghiên cứu cách sử dụng hệ thống BTHH trong dạy học chương Đại cương
về kim loại - Hóa học 12
- Thiết kế bảng tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển của năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh hệ GDTX
- Thực nghiệm sư phạm để bước đầu kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập, những biện pháp đề xuất của đề tài
5 Câu hỏi nghiên cứu
Sử dụng hệ thống bài tập hóa học như thế nào để phát triển năng lực vận
dụng kiến thức cho học sinh?
6 Giả thuyết khoa học
Đề xuất được hệ thống bài tập có chất lượng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phù hợp và hiệu quả thì sẽ giúp học sinh phát triển năng lực VDKT, làm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển tư duy sáng tạo đồng thời nâng cao chất lượng học
tập
Trang 167 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu thu thập tổng quan các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: Năng lực chung và năng lực đặc thù, cơ sở lí luận về BTHH và các PPDH hóa học
để phát triển NLVDKT cho HS THPT
- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa, khái quát hóa,… trong nghiên cứu tổng quan các tài liệu lí luận có liên quan
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Dự giờ và điều tra về thực trạng dạy học hóa học cũng như thực trạng sử dụng BTHH trong dạy học ở một số Trung tâm GDNN – GDTX
- Điều tra thực trạng việc phát triển NLVDKT thông qua sử dụng hệ thống BTHH ở một số trung tâm GDNN – GDTX thuộc tỉnh Thái Bình
- Xin ý kiến của chuyên gia, giáo viên (GV) về tính phù hợp của hệ thống BTHH định hướng phát triển năng lực và phương pháp (PP) sử dụng chúng trong dạy học để phát triển NLVDKT cho HS
- Xây dựng bảng kiểm quan sát NLVDKT của HS THPT và đánh giá sự tiến
bộ của HS qua quá trình bồi dưỡng và phát triển NLVDKT
- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) theo kế hoạch đề ra để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài
7.3 Phương pháp xử lí thông tin
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu TNSP
8 Đóng góp mới của đề tài luận văn
- Làm phong phú thêm cơ sở lí luận về năng lực và NLVDKT trong dạy học hiện nay
- Xác định được các nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống bài tập chương Đại cương về kim loại
- Đề xuất được hệ thống bài tập có chất lượng của chương Đại cương về kim loại - Hóa học 12 theo hướng phát triển NLVDKT cho HS
Trang 17- Đề xuất được các biện pháp sử dụng hệ thống bài tập hướng phát triển năng lực trong dạy học chương Đại cương về kim loại - Hóa học 12 Từ đó không những giúp HS phát triển NLVDKT mà còn giúp HS dễ tiếp thu, dễ nhớ kiến thức, có hứng thú, say mê học tập góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trường THPT
- Xác định được các tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển NLVDKT cho HS tại một số Trung tâm GDNN – GDTX
9 Cấu trúc của đề tài
Đề tài luận văn được cấu trúc gồm 3 phần:
- Phần I: Mở đầu
- Phần II: Nội dung (gồm 3 chương)
+ Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
+ Chương 2 SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP CỦA CHƯƠNG ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
+ Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
- Phần III: Kết luận và kiến nghị
Trang 18NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã nhiều đề tài, luận văn, công trình nghiên cứu, bài viết… liên quan đến sử dụng bài tập hóa học trong quá trình dạy học như:
Dương Thị Kim Tiên (2010), Thiết kế bài toán hóa học nhiều cách giải
nhằm phát triển tư duy và nâng cao hiệu quả dạy học ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh
Trần Thị Thanh Hà (2011), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn
xuất halogen, ancol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhằm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
Vinh
Võ Thị Kiều Hương (2011), Xây dựng bài tập có sử dụng hình vẽ, sơ đồ,
biểu bảng, đồ thị - Hóa học 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHSP thành
phố Hồ Chí Minh
Phạm Trâm Anh (2012), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập để phát triển
năng lực tự học trong dạy học hóa học lớp 10 ở trường trung học phổ thông, Luận
văn thạc sĩ, Đại học Vinh
Đặng Thị Hồng Hạnh (2012), Tuyển chọn và sử dụng các bài tập hóa học có
nội dung liên quan đến thực tiễn tại Hải Phòng trong chương trình hóa vô cơ ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học giáo dục
Nguyễn Thị Long (2012), Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập có nhiều
cách giải để phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh
Phạm Lê Mai (2012), Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong
việc hình thành và phát triển về một số phản ứng hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Vinh
Trang 19Lê Danh Bình (2013), Xây dựng, tuyển chọn và sử dụng bài tập trắc nghiệm
khách quan trong dạy học hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông, Luận án
tiến sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội
Nguyễn Thị Lan Phương (2013), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống
bài tập thực nghiệm nhằm nâng cao kiến thức, kĩ năng thực hành cho học sinh lớp
11 phần phi kim, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học giáo dục
Lưu Thị Minh Thanh (2013), Phát triển năng lực vận dụng kiến thức của học
sinh trung học phổ thông bằng việc sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất hidrocacbon – hóa học 11 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học giáo dục
Nguyễn Thị Thu, (2015), Sử dụng hệ thống bài tập hóa học nhằm phát triển
năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn phần phi kim – Lớp 10, Luận văn thạc sĩ
Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục
Phạm Văn Thắng, (2016), Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học
sinh phổ thông thông qua dạy học phần este, cacbohidrat, Luận văn thạc sĩ Giáo
dục, Trường Đại học Giáo dục
…
Ngoài ra còn một số bài báo về chủ đề này được đăng trên Tạp chí Hóa học
và ứng dụng, Tạp chí Hóa học ngày nay
Tuy là phần kiến thức quan trọng của chương trình hóa học THPT nhưng chương Đại cương về kim loại (Hóa học 12) vẫn chưa được quan tâm nhiều theo hướng xây dựng và đề xuất biện pháp sử dụng bài tập để phát triển NLVDKT của
HS Vì vậy, việc chọn đề tài này có ý nghĩa thực tiễn, giúp HS VDKT đã học để có thể giải quyết được các vấn đề nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống
1.2 Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay
1.2.1 Giáo dục định hướng năng lực
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [4] đã thay đổi căn bản về quan điểm giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay Đó là đào tạo những con người
có kiến thức, có phẩm chất và NLVDKT vào giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
cuộc sống (định hướng đầu ra)
Trang 20Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [4] nêu lên năm phẩm chất chủ
yếu cần hình thành, phát triển ở HS là: Yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
Theo [4] về năng lực, chương trình hướng đến mười năng lực cốt lõi (những năng lực mà ai cũng cần có để sống và làm việc trong xã hội hiện đại) gồm:
- Những năng lực chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp
phần hình thành, phát triển: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua
một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo
dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu)
của HS
1.2.2 Những năng lực cần phát triển cho học học sinh trung học phổ thông
Theo [18] các năng lực chung cần phát triển cho HS THPT gồm:
- Nhóm các năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực tự quản lí
- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
- Nhóm năng lực công cụ: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin, năng lực
sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán
Dựa trên cơ sở mục tiêu và chuẩn chung của giáo dục phổ thông năm 2015, ngoài các năng lực chung, chương trình môn Hóa học ở trường THPT dự kiến sẽ giúp HS đạt được các năng lực chuyên biệt về môn Hóa học như:
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
- Năng lực thực hành hóa học
- Năng lực tính toán
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
Trang 21- Năng lực VDKT hóa học vào thực tiễn.
1.2.3 Đổi mới kiểm tra đánh giá
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [4] vừa được thông qua nêu rõ:
Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa
trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh HS, của bản thân HS được đánh giá và của các HS khác trong tổ, trong lớp
Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức để phục vụ công tác quản
lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng ở cơ sở giáo dục và phục vụ công tác phát triển chương trình
Việc đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương do tổ chức
khảo thí cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụ công tác phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục Như vậy, nội dung việc đánh giá định kỳ không còn quy định việc giao xét tốt nghiệp THPT cho các cơ sở giáo dục
Bên cạnh đó, nội dung việc đánh giá trên diện rộng sẽ do "tổ chức khảo thí" cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức chứ không phải
Trang 221.3 Năng lực và năng lực vận dụng kiến thức
1.3.1 Khái niệm về năng lực
Theo [17] năng lực là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công các nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Theo [20] năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ, phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống
Theo [28] để hình thành và phát triển năng lực cho con người thì cần có điều kiện cần và đủ sau:
- Điều kiện cần: Kết hợp kiến thức, kĩ năng, phương pháp, thái độ, động cơ, thể lực, để đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt trong một điều kiện xác định
- Điều kiện đủ: Khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức
và hợp lí các yếu tố cần có để hoàn thành một nhiệm vụ được đặt ra, điều này làm nên sự khác biệt của mỗi con người
Như vậy, muốn hình thành và phát triển năng lực cho HS thì cần làm rõ một
số vấn đề quan trọng như: Những yếu tố nào cấu thành năng lực? Những năng lực nào cần phát triển cho HS trong đổi mới chương trình giáo dục THPT? Muốn phát triển một năng lực cụ thể nào đó thì phải tác động vào yếu tố nào trong cấu trúc của năng lực đó?
1.3.2 Năng lực vận dụng kiến thức
1.3.2.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức
Các nghiên cứu trước đây, đã có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về NLVDKT như:
Theo [18] NLVDKT hóa học vào thực tiễn là khả năng hệ thống hóa và phân loại kiến thức, hiểu rõ đặc điểm, nội dung thuộc tính của loại kiến thức đó để lựa chọn kiến thức phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
Trang 23Năng lực VDKT của HS là khả năng của người học huy động, sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó Năng lực VDKT thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức [11, tr.8]
Trong đề tài này, chúng tôi quan niệm NLVDKT là khả năng của bản thân
người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách vận dụng kiến thức, kĩ năng đã lĩnh hội vào những tình huống, những
hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó
1.3.2.2 Cấu trúc của năng lực vận dụng kiến thức
Theo [20] năng lực VDKT hóa học của HS THPT gồm các năng lực thành phần và mức độ thể hiện sau:
- Năng lực hệ thống hóa kiến thức Năng lực này có các mức độ thể hiện: Hệ thống hóa, phân loại được kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức đó VDKT là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
- Năng lực phân tích, tổng hợp các kiến thức hóa học vận dụng vào cuộc sống thực tiễn Các mức độ thể hiện của năng lực này gồm: Định hướng các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi VDKT hóa học có ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, nghành nghề gì trong cuộc sống
- Năng lực phát hiện các nội dung kiến thức hóa học ứng dụng trong các vấn
đề, lĩnh vực khác nhau Các mức độ thể hiện của năng lực này gồm: Phát hiện và hiểu rõ các ứng dụng của hóa học trong cuộc sống dựa vào các kiến thức hóa học trong các vấn đề thực phẩm, y học, sức khỏe, công nghiệp, nông nghiệp…
- Năng lực phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng kiến thức hóa học
để giải thích Các mức độ thể hiện của năng lực này gồm: Tìm mối liên hệ và giải thích được các hiên tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của hóa học vào trong cuộc sống dựa vào kiến thức hóa học và các môn học khác
Trang 24- Năng lực độc lập sáng tạo trong việc xử lí các vấn đề thực tiễn Năng lực này có các mức độ biểu hiện là: Chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải quyết vấn đề; có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan đến thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên cứu khoa học để giải quyết những vấn đề đó
1.3.2.3 Biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
Theo chúng tôi, NLVDKT của HS THPT với các biểu hiện như sau:
- Nêu đúng các kiến thức về tình huống cần giải quyết
- Phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra của tình huống
- Lập kế hoạch để giải quyết tình huống đặt ra
- Xác định được và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình huống
- Đưa ra được giải pháp giải quyết tình huống
- Đặt ra các tình huống mới, trao đổi với bạn bè, thầy cô và tiến hành giải quyết tình huống đó
- Bước đầu nghiên cứu khoa học
1.3.2.4 Biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức
Khoa học ngày càng phát triển đã chứng minh tầm quan trọng của việc VDKT trong thực tế cuộc sống
Theo Kleiloyev (Nga) “ Người ta thường nói gộp chung khoa học và kiến thức Đây là một ý kiến sai lệch Khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là ý thức, cũng chính là bản lĩnh vận dụng kiến thức ”
Mục đích chính của giáo dục không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà dạy cho trẻ biết hành động
Từ việc xác định tầm quan trọng của việc VDKT, các thành tố của NLVDKT, qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu, chúng tôi đề xuất một số biện pháp phát triển NLVDKT cho HS như sau:
- GV cần trang bị cho HS nền tảng kiến thức cơ bản một cách vững chắc
- Đưa ra các tình huống để HS vận dụng kiến thức theo các cấp độ từ dễ đến khó, tăng cường các tình huống gắn liền với bối cảnh cụ thể (thực tiễn đời sống, thí
Trang 25nghiệm thực hành), tăng cường câu hỏi mở, câu hỏi yêu cầu HS sử dụng kiến thức nhiều bài, nhiều lĩnh vực, câu hỏi tích hợp
- Tạo điều kiện cho HS tự đưa ra các tình huống cần giải quyết cho các bạn cùng nhóm, lớp
- Khuyến khích HS lập nhóm, cùng tìm hiểu, nghiên cứu một số vấn đề mang tính thực tế, cấp thiết: Lập kế hoạch, thực nghiệm, báo cáo kết quả (dù thành công hay thất bại)
1.3.2.5 Đánh giá năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học hóa học
- Đánh giá thông qua bài kiểm tra: Giáo viên có thể đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra 15 phút hay 45 phút theo hình thức trắc nghiệm tự luận hay trắc nghiệm khách quan hoặc kết hợp cả hai để đánh giá HS đang ở đâu trong quá trình dạy học, từ đó giúp đỡ, định hướng cho họ hoặc GV có thể thay đổi cách dạy để đáp ứng với trình độ lĩnh hội của HS [2], [14]
- Đánh giá thông qua quan sát: Đánh giá thông qua quan sát trong giờ học như: Quan sát thái độ trong giờ học; quan sát tinh thần xây dựng bài; quan sát thái
độ trong hoạt động nhóm, quan sát kĩ năng trình diễn của HS; giúp cho GV có cái nhìn tổng quan về thái độ, hành vi, sự tiến bộ các kĩ năng của HS trong suốt cả quá trình dạy học để từ đó có thể giúp họ có thái độ học tập tích cực và các kĩ năng học tập [2], [14]
- Đánh giá thông qua vấn đáp thảo luận nhóm: GV có thể vấn đáp về nội dung bài cũ để kiểm tra việc học bài ở nhà của HS hoặc có thể đặt ra những câu hỏi cho HS trả lời cá nhân hoặc thảo luận nhóm trong quá trình dạy bài mới nhằm đánh giá mức
độ đạt được của mục tiêu bài học hoặc chuẩn đoán những khó khăn mà họ mắc phải nhằm cải thiện quá trình dạy, giúp HS cải thiện việc học của mình [2], [14]
- Học sinh tự đánh giá: HS có thể tự đánh giá lẫn nhau trong các giờ học + Đối với các bài kiểm tra trên lớp: Cho HS tự đánh giá bài của mình hoặc đánh giá bài của bạn thông qua việc cung cấp cho HS đáp án của bài kiểm tra + Đối với đánh giá thông qua bài tập, báo cáo/dự án: GV yêu cầu HS thực hiện các bài tập, báo cáo/dự án, sau đó các em tự đánh giá bài của mình thông qua bảng điểm
Trang 26- Đánh giá dựa vào một số kĩ thuật thu nhận thông tin phản hồi khác
Yêu cầu HS thiết kế bản đồ tư duy hoặc bản đồ khái niệm về nội dung bài học trước hoặc sau khi học Qua đó GV có thể biết được HS đã có kiến thức gì và
HS đã biết cách hệ thống hóa kiến thức chưa? Yêu cầu HS tóm tắt kiến thức vừa học bằng một số câu giới hạn [2], [14]
1.4 Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
Có rất nhiều phương pháp dạy học tích cực như: Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp dạy học theo góc, phương pháp dạy học theo hợp đồng, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp hoạt động nhóm Trong khuân khổ đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu hai phương pháp dạy học tích cực là dạy học theo góc và dạy học theo hợp đồng
1.4.1 Dạy học theo góc
1.4.1.1 Khái niệm
Phương pháp dạy học theo góc: Mỗi lớp học được chia ra thành các góc nhỏ
Ở mỗi góc nhỏ người học có thể tìm hiểu nội dung kiến thức từng phần của bài học Người học phải trải qua các góc để có cái nhìn tổng thể về nội dung của bài học Nếu có vướng mắc trong quá trình tìm hiểu nội dung bài học thì HS có thể yêu cầu
GV giúp đỡ và hướng dẫn [10], [14]
1.4.1.2 Quy trình thực hiện học theo góc
* Giai đoạn chuẩn bị [10], [14]
Bước 1 Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo góc đạt hiệu quả như: Nội dung; địa điểm; đối tượng HS
Bước 2 Thiết kế kế hoạch bài học: Mục tiêu bài học; các PPDH chủ yếu; xác định tên mỗi góc và nhiệm vụ phù hợp
* Giai đoạn tổ chức cho HS học theo góc [10], [14]
- Bước 1: Bố trí không gian lớp học
- Bước 2: Giới thiệu bài học/nội dung học tập và các góc học tập
- Bước 3: Tổ chức cho HS học tập tại các góc
Trang 27- Bước 4: Tổ chức cho HS trao đổi và đánh giá kết quả học tập(nếu cần)
1.4.1.3.Ưu điểm và hạn chế của PPDH theo góc
*) Hạn chế:
- Khi tiến hành dạy học theo góc cần không gian lớp học lớn nhưng số HS lại không quá nhiều, nhiều thời gian cho hoạt động học tập
- Không phải nội dung, bài học nào cũng đều có thể áp dụng học theo góc
Để chuẩn bị và tiến hành dạy học theo góc, GV cần rất nhiều thời gian và trí tuệ/năng lực
1.4.2 Dạy học theo hợp đồng
1.4.2.1 Khái niệm dạy học theo hợp đồng
Dạy học theo hợp đồng là một cách tổ chức học tập, theo đó HS được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các nhiệm vụ/bài tập bắt buộc và tự chọn khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định [10], [14]
1.4.2.2 Tiến trình dạy học theo hợp đồng
* Giai đoạn chuẩn bị [10], [14]
Bước 1 Xem xét các yếu tố cần thiết để học theo hợp đồng hiệu quả: Lựa chọn nội dung phù hợp, xác định thời gian, tài liệu
Bước 2 Thiết kế các dạng bài tập và nhiệm vụ học theo hợp đồng
- Bài tập/nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn
Trang 28- Bài tập/nhiệm vụ mang tính học tập và nhiệm vụ có tính giải trí
- Bài tập/nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ hợp tác
- Bài tập/nhiệm vụ độc lập và nhiệm vụ được hướng dẫn
Bước 3 Thiết kế văn bản hợp đồng
Văn bản hợp đồng bao gồm nội dung mô tả bài tập/nhiệm vụ cần thực hiện, phần hướng dẫn thực hiện, phần tự đánh giá những hoạt động HS đã hoàn thành và kết quả
* Giai đoạn tổ chức cho HS học theo hợp đồng [10], [14]
- Bước 1: Giới thiệu tên chủ đề/bài học và thông báo ngắn gọn các nội dung,
PP học tập được ghi trong hợp đồng Giới thiệu và thống nhất các nguyên tắc học tập theo hợp đồng với HS cả lớp Phát hợp đồng cho cá nhân hoặc nhóm HS
- Bước 2: HS đọc và đăng ký, thời gian và thứ tự thực hiện các bài tập, nhiệm vụ học tập ghi trong hợp đồng và ký cam kết với GV
- Bước 3: HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm để thực hiện các bài tập/nhiệm vụ trong hợp đồng
- Bước 4: Nghiệm thu và đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng
1.4.2.3 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học theo hợp đồng
*) Ưu điểm:
- Cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của HS
- Rèn luyện khả năng làm việc độc lập của HS
- Tạo điều kiện cho HS được hỗ trợ cá nhân
- Hoạt động học tập của HS đa dạng, phong phú hơn
*) Hạn chế:
- Các nhiệm vụ và tài liệu học tập phải được chuẩn bị trước
- Các tài liệu học tập phải đa dạng hóa cho phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng HS
- Cả thầy và trò đều cần một khoảng thời gian thích hợp để làm quen với phương pháp dạy và học mới
Trang 291.5 Bài tập hóa học
1.5.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: “ Bài tập là bài ra cho HS làm để tập vận dụng những điều đã học”
Theo [14], [28] BTHH là một yêu cầu mà HS nhận được và cần giải quyết bằng những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
Bài tập hóa học là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giải quyết nhờ những suy luận logic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ
sở các khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học
Bài tập hóa học là phương tiện chính và hết sức quan trọng dùng để rèn luyện khả năng VDKT cho HS Là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho người học, buộc người học vận dụng các kiến thức, năng lực của mình để giải quyết các nhiệm
vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo
Bài tập hóa học là một dạng bài làm gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả bài toán và câu hỏi thuộc về hóa học mà trong khi hoàn thành chúng,
HS nắm được một tri thức hay kĩ năng nhất định
1.5.2 Ý nghĩa của bài tập hóa học
Bài tập hóa học được sử dụng thường xuyên trong quá trình dạy học, bởi nó
có vai trò và ý nghĩa rất to lớn, cụ thể như [15], [28] :
Ý nghĩa trí dục
- Giúp làm chính xác hóa khái niệm, củng cố, khắc sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động Chỉ khi vận dụng kiến thức vào việc giải quyết bài tập mới giúp HS nắm vững kiến thức một cách sâu sắc
- Giúp HS ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tự nhiên, hấp dẫn thay vì phải thống kê kiến thức một cách gò ép, dễ nhàm chán
- Rèn các kĩ năng cho HS như: Sử dụng ngôn ngữ hóa học, thực hành thí nghiệm, phân tích hiện tượng, tính toán, viết phương trình và cân bằng phương trình hóa học…
Trang 30- Phát huy tính sáng tạo của người học, thể hiện trong cách tiếp cận, xử lý vấn đề gặp phải
- Là một phương tiện hữu ích, tích cực giúp kiểm tra, đánh giá NL HS
1.5.3 Cơ sở phân loại bài tập hóa học
Hiện nay có rất nhiều cơ sở để phân loại BTHH Trong đề tài này chúng tôi xin được lựa chọn những cơ sở phân loại BTHH sau:
1.5.3.1 Dựa vào mức độ tư duy
- Bài tập mức độ biết: Nhắc lại hoặc mô tả đúng kiến thức, kĩ năng đã học
- Bài tập mức độ thông hiểu: Diễn đạt đúng kiến thức hoặc mô tả đúng kĩ năng
- Bài tập mức độ vận dụng: Kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã
học để giải quyết thành công tình huống/vấn đề tương tự, vấn đề đã học (HS vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng, xử lý các khái niệm của chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tình huống đã gặp trên lớp)
- Bài tập mức độ vận dụng cao: Tổng hợp các kiến thức, kĩ năng để giải
quyết các tình huống/vấn đề mới, không giống những tình huống/vấn đề đã được hướng dẫn; có thể trước đây HS chưa từng được học hoặc trải nghiệm, nhưng có thể giải quyết bằng các kỹ năng và kiến thức đã được dạy ở mức độ tương đương; đưa
ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống/vấn đề mới trong học tập hoặc trong cuộc sống
1.5.3.2 Dựa vào hình thức
- Bài tập trắc nghiệm tự luận: Là dạng bài tập yêu cầu HS phải kết hợp cả
kiến thức hoá học, ngôn ngữ hoá học và công cụ toán học để trình bày nội dung của bài toán hoá học
Trang 31- Bài tập trắc nghiệm khách quan: Là loại bài tập hay câu hỏi có kèm theo
câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ rồi dùng một ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời
1.5.3.3 Dựa vào nội dung kiến thức
Dựa vào nội dung kiến thức của cả chương mà chúng ta chia nhỏ các nội dung kiến thức theo dạng hoặc theo chuyên đề
Mỗi dạng/chuyên đề ta cần có một hệ thống bài tập bảo đảm các yêu cầu sau:
- Phủ kín kiến thức của chương hay của một vấn đề
- Số lượng cần đủ để hình thành các kỹ năng cần thiết
- Mở rộng và đào sâu thêm kiến thức của chương
- Có một số bài tập hay để phát triển NL tư duy, rèn trí thông minh cho HS
1.5.4 Vai trò của bài tập hóa học trong việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
Theo [14], [19], [20] trong dạy học hoá học, bản thân BTHH đã được coi là phương pháp dạy học có hiệu quả cao trong việc rèn luyện kỹ năng hoá học Nó giữ vai trò quan trọng trong mọi khâu, mọi loại bài dạy hoá học, là phương pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng dạy học hoá học
Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung của việc dạy và học hoá học Bài tập cung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và mang lại niềm vui sướng của sự phát hiện, của sự tìm ra đáp số
Bài tập hóa học có chức năng dạy học, chức năng giáo dục, chức năng kiểm tra, chức năng phát triển Những chức năng này đều hướng tới việc thực hiện các mục đích dạy học Tuy nhiên trong thực tế các chức năng này không tách rời với nhau
Đối với HS, BTHH là phương pháp học tập tích cực, hiệu quả và không có gì thay thế được, giúp HS nắm vững kiến thức hoá học, phát triển tư duy, hình thành
kĩ năng, VDKT hoá học vào thực tế đời sống, sản xuất và nghiên cứu khoa học Từ
đó làm giảm nhẹ sự nặng nề, căng thẳng của khối lượng kiến thức lý thuyết và gây hứng thú say mê học tập cho HS
Trang 32Đối với GV, BTHH là phương tiện, là nguồn kiến thức để hình thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong quá trình dạy học Cụ thể là:
+ Bài tập hóa học được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát triển kiến thức, kỹ năng
+ Bài tập hóa học dùng để mô phỏng một số tình huống thực tế đời sống để
HS vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề của thực tế đặt ra
+ Sử dụng bài tập để tạo tình huống có vấn đề kích thích hoạt động tư duy tìm tòi sáng tạo và rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề học tập, nâng cao hứng thú học tập bộ môn cho HS
Như vậy, BTHH được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp
HS tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức hoá học một cách sáng tạo Từ đó giúp HS có năng lực phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề học tập hoặc thực tiễn đặt ra có liên quan đến hoá học, giúp HS biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình
Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành"
a) Về kiến thức
Thông qua giải BTHH, HS hiểu kĩ hơn các khái niệm, tính chất hoá học; củng cố kiến thức một cách thường xuyên và hệ thống hoá kiến thức; mở rộng sự hiểu biết một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của HS
Bên cạnh đó, BTHH giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, ngành sản xuất hoá học, những vấn đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế
Bài tập hóa học còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
b) Về kĩ năng
Việc giải BTHH giúp HS:
Trang 33- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống
- Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức
để giải quyết tình huống có vấn đề của thực tế một cách linh hoạt, sáng tạo
c) Về giáo dục tư tưởng
- Ngoài ra, các BTHH thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương nên càng góp phần tăng động cơ học tập của HS: Học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kết quả ban đầu của việc VDKT hoá học phổ thông để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS thêm tự tin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, phấn đấu và phát triển
1.5.5 Xu hướng phát triển bài tập hiện nay
Theo [22] các BTHH hiện nay được xây dựng theo những xu hướng sau:
- Loại bỏ những bài tập nghèo nàn về kiến thức hóa học, nặng về thuật toán
- Nội dung hóa học phải thiết thực, gắn liền với thực tiễn đời sống, cộng đồng
Trang 34- Tăng cường sử dụng bài tập thực nghiệm, thí nghiệm hóa học trong học tập Nội dung kiến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học
- Cần sử dụng kết hợp các dạng bài tập: Bài tập trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận; bài tập đóng, bài tập mở…
` - Xây dựng bài tập mới để rèn luyện cho học sinh năng lực phát hiện vấn đề
và giải quyết vấn đề có liên quan đến hoá học, thực tiễn cuộc sống
- Đa dạng hoá các loại hình bài tập như: Bài tập bằng hình vẽ, bài tập vẽ đồ thị, sơ đồ, lắp dụng cụ thí nghiệm…
Như vậy xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng VDK, phát triển khả năng tư duy hóa học cho HS ở các mặt: Lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi
1.6 Thực trạng sử dụng BTHH nhằm phát triển NL VDKT cho HS THPT
1.6.1 Đặc điểm chung của trung tâm GDNN – GDTX
1.6.1.1 Nhiệm vụ của trung tâm GDNN – GDTX
- Đào tạo học sinh THPT hệ GDTX
- Dạy hướng nghiệp nghề cho HS trung học cơ sở
- Đào tạo nghề ngắn hạn cho nông dân
- Phối hợp với trung tâm học tập cộng đồng các xã, phường xóa mù chữ và phổ cập giáo dục
1.6.1.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, trình độ nhận thức của học sinh
Hiện nay, HS hệ GDTX có độ tuổi từ 15–18 tuổi giống như HS các trường THPT Nhưng đối tượng HS hệ GDTX có những khó khăn nhất định so với HS THPT khi tiếp nhận kiến thức và VDKT vào việc giải quyết BTHH cụ thể như sau:
+ Về trình độ nhận thức: HS đầu vào của các Trung tâm GDNN – GDTX là những HS không thi hoặc không thi đỗ vào các trường THPT công lập nên trình độ nhận thức của các em còn hạn chế Khả năng tư duy toán học và sử dụng ngôn ngữ hóa học của các em rất yếu nên GV rất khó khăn truyền thụ kiến thức cho các em
Trang 35+ Về tâm lí: Các em HS hệ GDTX luôn có tư tưởng mất gốc kiến thức từ cấp
hai nên các em thường thụ động lĩnh hội kiến thức, thiếu khả năng độc lập tư duy,
sáng tạo Mặt khác các em thường chú trọng trong việc học nghề hơn là việc học
văn hóa Những năm gần đây hình thức thi tốt nghiệp THPT Quốc gia thay đổi, các
em được lựa chọn tổ hợp môn thi để xét tốt nghiệp Ngoài hai môn Ngữ văn và
Toán học là bắt buộc thì các em chủ yếu chọn tổ hợp khoa học xã hội (Lịch sử và
Địa lí) để lấy điểm xét tốt nghiệp Nên ngay từ khi vào nhập học các em coi môn
Hóa học là môn phụ, học để đủ điều kiện lên lớp và thi tốt nghiệp Các em thấy sợ
khi phải viết và cân bằng PTHH, giải những bài tập hóa học phải tính toán
+ Về cơ sở vật chất: Trong các Trung tâm GDNN – GDTX các em HS chủ
yếu học lí thuyết trên lớp mà không được thực hành do nhà trường thiếu phòng thí
nghiệm và các hóa chất phục vụ cho việc dạy và học môn Hóa học Các thí nghiệm
trong bài giảng của GV là những thí nghiệm ảo không tạo cho HS được sự say mê,
yêu thích bộ môn Hóa học
Với những khó khăn trên, trong đề tài này chúng tôi lựa chọn những bài tập
cơ bản nhất, ở mức độ vừa phải để giúp các em HS VDKT đã được học một cách
tốt nhất, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Hóa học của hệ GDTX
1.6.2 Nhiệm vụ điều tra
- Tìm hiểu thực trạng dạy và học hóa học ở các Trung tâm GDNN – GDTX
- Tìm hiểu hứng thú của HS với môn Hóa học
- Tình hình sử dụng kiến thức và BTHH
- Tìm hiểu quan điểm về việc phát triển NLVDKT cho HS bằng hệ thống
kiến thức và BTHH
1.6.3 Đối tượng điều tra
Phỏng vấn, trao đổi và xin ý kiến của 10 giáo viên và 170 HS ở Trung tâm
GDNN – GDTX Vũ Thư và Trung tâm GDTX thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
1.6.4 Nội dung điều tra
- Mục đích GV sử dụng bài tập trong dạy học hóa học
Trang 36- Tần suất sử dụng kiến thức và bài tập hóa học đối với GV trong dạy học hóa học ở các Trung tâm GDNN - GDTX
- Việc sử dụng BTHH trong các dạng bài lên lớp
- Ý kiến của GV về mức độ phát triển NLVDKT của HS khi dạy học bằng hệ thống kiến thức và bài tập hóa học
- Những khó khăn của việc đƣa kiến thức và bài tập vào trong dạy học hóa học đối với giáo viên hệ GDTX
- Hứng thú của HS khi giải quyết các bài tập hóa học
- Ý kiến HS về sự cần thiết của kiến thức và BTHH
- Sự cần thiết phải rèn luyện NLVDKT hóa học cho HS
1.6.5 Phương pháp điều tra
- Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp GV và HS học ở Trung tâm GDNN – GDTX Vũ Thƣ, Trung tâm GDTX thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
- Gửi và thu phiếu điều tra đối với GV, HS; thống kê và nhận xét kết quả điều tra
1.6.6 Kết quả điều tra
1.6.6.1 Với giáo viên
Thông qua việc dự giờ của một số GV, gửi phiếu điều tra tới 10 GV dạy bộ môn Hóa học tại: Trung tâm GDNN – GDTX Vũ Thƣ, Trung tâm GDTX thành phố
Thái Bình, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
Bảng 1.1 Mục đích GV sử dụng bài tập trong dạy học hóa học
Kết quả Tỉ lệ %
Củng cố kiến thức cho HS 10/10 100% Rèn luyện các kỹ năng học tập (sử dụng ngôn ngữ hóa học, viết
phương trình, giải bài toán hóa học, thí nghiệm hóa học) 9/10 90,0% Rèn luyện các NL (nhận thức, sáng tạo, VDKT…) 10/10 100% Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS 8/10 80,0% Giúp HS hứng thú, có thái độ tích cực chủ động trong học tập 6/10 60,0%
Sử dụng BTHH như nguồn kiến thức để HS nghiên cứu kiến thức
Trang 37Bảng 1.2 Những tiêu chí xây dựng hệ thống bài tập của GV
Kết quả Tỉ lệ %
Theo nội dung từng bài trong sách giáo khoa 4/10 40,0% Theo từng dạng bài 9/10 90,0%
Theo trình độ của HS, sắp xếp theo mức độ từ dễ đến khó 10/10 100%
Phát triển NL cá nhân của HS (NL nhận thức, NL tự học, NL vận
dụng kiến thức hóa học…) 8/10 80,0%
Bảng 1.3 Tần suất giáo viên sử dụng bài tập hóa học trong dạy học
Bảng 1.4 Việc sử dụng bài tập hóa học trong các dạng bài lên lớp
Nghiên cứu bài mới
Ôn tập,
Bảng 1.5 Ý kiến của GV về mức độ phát triển năng lực VDKT của HS
Hiệu quả cao Có hiệu quả Chưa thật hiệu quả Không hiệu quả
Bảng 1.6 Nguyên nhân GV ít sử dụng bài tập trong dạy học hóa học
Không có nhiều tài liệu 5/10 50,0%
Mất nhiều thời gian tìm kiếm, biên soạn 8/10 80,0%
Thời gian tiết học hạn chế 7/10 70,0%
1.6.6.2 Với học sinh
Khảo sát 170 HS của Trung tâm GDNN – GDTX Vũ Thƣ, Trung tâm GDTX
thành phố Thái Bình, kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
Trang 38Bảng 1 7 Hứng thú của HS khi giải quyết các bài tập hóa học
Thiếu bài tập tương tự 122/170 71,76%
Không có bài giải mẫu 130/170 76,47%
Không có đáp số cho các bài tương tự 97/170 57,05%
Các bài tập không được sắp xếp từ dễ đến khó 115/170 67,64%
Bảng 1.9 Những khó khăn của HS khi gặp bài tập khó
Tự tìm cách giải 33/170 19,41% Xem bài mẫu GV đã hướng dẫn 70/170 41,17% Tham khảo cách giải trong sách bài tập 65/170 38,23% Chán nản, không làm 130/170 76,47%
Bảng 1.10 Những yếu tố giúp HS giải bài tập tốt hơn
Thầy/cô giải chi tiết bài tập mẫu 122/170 71,76%
Em xem lại bài tập đã giải 97/170 57,05%
Em tự giải lại bài tập đã giải 87/170 51,17%
Em làm các bài tập tương tự 112/170 65,88%
Bảng 1.11 Thời gian HS dành để làm bài tập trước khi lên lớp
Khoảng 30 phút 30 phút đến 60 phút Trên 60 phút Không cố định
Trang 39Bảng 1.13 Ý kiến HS về sự cần thiết của kiến thức và bài tập hóa học
Bảng 1.15 Tác dụng của bài tập có VDKT đối với HS
Giúp hiểu bài sâu sắc hơn 143/170 84,11% Giúp nhớ bài lâu hơn 140/170 82,35% Hình thành thói quen xem xét vấn đề ở nhiều phương
diện khác nhau 98/170 57,64% Rèn luyện các thao tác tư duy 103/170 60,58% Tạo hứng thú cho việc học tập, tìm tòi nâng cao, mở
rộng kiến thức 136/170 80,0%
Bảng 1.16 Sự cần thiết phải rèn luyện NLVDKT hóa học cho HS
Rất cần thiết 81/170 47,65% Cần thiết 56/170 32,95% Bình thường 25170 14,70% Không cần thiết 8/170 4,70%
1.6.7 Đánh giá kết quả điều tra
Qua số liệu ở các bảng thu đƣợc, chúng tôi nhận thấy:
- Về phía giáo viên, hầu hết các thầy cô đều đánh giá cao về hiệu quả của việc sử dụng kiến thức và BTHH để phát triển NLVDKT cho HS (90,0%) Tuy nhiên, mức độ sử dụng những bài tập này trong giảng dạy chƣa cao (40,0%) Việc
Trang 40sử dụng chúng còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế bởi tốn nhiều thời gian để tìm hiểu và biên soạn hệ thống kiến thức và bài tập Các bài tập đó chưa có nhiều trong các câu hỏi ở mức độ phân hóa HS trong các kì kiểm tra, thi cử
- Về phía học sinh, qua tổng hợp ý kiến của 170 HS chúng tôi thấy đa phần các em học sinh nhận ra vai trò của BTHH Tuy nhiên, thời gian các em dành thời gian chuẩn bị bài tập trước khi lên lớp là chưa cao: Trong khoảng thời gian từ 1 đến
60 phút chỉ có 98/170 HS (chiếm 57,64%) Các em vẫn gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình giải BTHH, do thiếu phương pháp giải, thiếu thời gian được làm bài tập trên lớp và khả năng nhận thức, lĩnh hội kiến thức của các em còn hạn chế
- Hầu hết các ý kiến của GV và HS cho rằng cần thiết phải có hệ thống lý thuyết và BTHH trong dạy và học hóa học cho hệ GDTX
- Kết quả trên cho thấy việc sử dụng hệ thống kiến thức và BTHH rất có ý nghĩa, sẽ góp phần nâng cao năng lực VDKT của HS, chất lượng dạy và học môn Hóa học cho hệ GDTX
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã nghiên cứu và hệ thống hóa các quan điểm của một số nhà nghiên cứu về NL, NLVDKT, kiến thức và BTHH Phân tích và làm sáng tỏ NLVDKT, cấu trúc và các biện pháp để phát triển năng lực VDKT cho HS
Ngoài ra, luận văn đã điều tra, phân tích và đánh giá tình trạng dạy học VDKT theo hướng khai thác hệ thống kiến thức và bài tập ở Trung tâm GDNN –
GDTX Vũ Thư, Trung tâm GDTX thành phố Thái Bình còn hạn chế Đây chính là
cơ sở lí luận và thực tiễn để chúng tôi nghiên cứu hướng phát triển NLVDKT cho
HS thông qua việc sử dụng BTHH được thể hiện trong chương 2