Kinh tế học kinh doanhTiểu luận Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo của Đồng bằng sông Cửu Long Đề tài: Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long: thực trạng và giải pháp Chuỗi giá trị, cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985. Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động mà sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại. Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng. Xem xét dưới dạng tổng quát, chuỗi giá trị có dạng như mô tả trong Hình 1. Như ta thấy từ hình này, bản thân hoạt động sản xuất không thôi chỉ là một trong nhiều mắt xích giá trị gia tăng. Hơn nữa, có nhiều hoạt động trong từng mắt xích của chuỗi giá trị. Cho dù thường được mô tả như một chuỗi hàng dọc, các mắt xích trong nội bộ chuỗi thường có bản chất hai chiều; ví dụ, các cơ quan thiết kế chuyên ngành không chỉ ảnh hưởng đến bản chất quá trình sản xuất và tiếp thị mà tiếp đến còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện ràng buộc trong các mối liên kết hạ nguồn này trong chuỗi giá trị
Trang 1ĐẠI HỌC BÁCH KHOA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP
-O0O -
KINH TẾ HỌC KINH DOANH Giáo viên: Trần Duy Thanh Đề tài: Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long: thực trạng và giải pháp Thành viên: MSSV: 1 Huỳnh Minh Trí 71103794 2 Trương Thị Phúc 71102629
3 Nguyễn Văn Hy 71101530
4 Phan Thị Yến Nhi 71102426
5 Nguyễn Trần Song Thịnh 71103422
6 Nguyễn Hoàng Vũ 71104306
Trang 3MỤC LỤC
I SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT CHUỖI GIÁ TRỊ 4
II TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHUỖI LÚA GẠO CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 6
III PHÂN TÍCH CHI TIẾT CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO PHỤC VỤ NHU CẦU TRONG NƯỚC CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: 9
IV PHÂN TÍCH CHI TIẾT CHUỖI GIÁ TRỊ XUẤT KHẨU LÚA GẠO CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: 14
1 Tổng quan về tình hình xuất khẩu lúa gạo trên thế giới năm 2013 14
2 Tình hình xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam 15
a Sơ lược về tình hình sản xuất gạo của Việt Nam hiện nay 15
b Xuất khẩu gạo của Việt Nam 15
3 Phân tích chuỗi giá trị xuất khẩu lúa gạo ở ĐB Sông Cửu Long 16
4 Những lợi thế trong xuất khẩu và cạnh tranh sản xuất gạo ở Việt Nam 17
a Lợi thế tuyệt đối: 17
b Lợi thế tương đối: 18
c Lợi thế cạnh tranh: 18
V MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC ĐIỂM YẾU CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: 19
1 Liên kết ngang: 19
a Liên kết ngang là gì? 19
b Lý do liên kết ngang: 19
c Cách thức xây dựng liên kết ngang bền vững: 19
2 Liên kết dọc: 20
a Liên kết dọc là gì? 20
b Lý do phải liên kết dọc: 20
c Cách thức xây dựng liên kết dọc tốt: 20
VI LỜI KẾT: 20
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 “Tài liệu tập huấn về chuỗi giá trị”-VIện đào tạo Doanh nhân Việt
2 “Một số vấn đề xuất khẩu gạo Việt Nam hiện nay”-Trần Nguyễn Mỹ Linh
3 “Hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long, các vấn đề cần được giải quyết”-Mai Văn Nam
4 “Chính sách và giải pháp đối với sản xuất lúa gạo của hộ nông dân”-Phan
Sỹ Mẫn
5 “Báo cáo sơ bộ-Kết quả điều tra nông nghiệp nông thôn và thủy sản năm 2011”
6 “Cải thiện chuỗi giá trị xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam”-Võ Hùng Dũng
7 “Phân tích chuỗi giá trị lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long”-Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son
Trang 5I SƠ LƯỢC VỀ LÝ THUYẾT CHUỖI GIÁ TRỊ
Chuỗi giá trị, cũng được biết đến như là chuỗi giá trị phân tích, là một khái niệm
từ quản lý kinh doanh đầu tiên đã được mô tả và phổ cập bởi Michael Porter vào năm 1985 Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động mà sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm thu được một số giá trị nào đó Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại
Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng Xem xét dưới dạng tổng quát, chuỗi giá trị có dạng như mô tả trong Hình 1 Như ta thấy
từ hình này, bản thân hoạt động sản xuất không thôi chỉ là một trong nhiều mắt xích giá trị gia tăng Hơn nữa, có nhiều hoạt động trong từng mắt xích của chuỗi giá trị Cho dù thường được mô tả như một chuỗi hàng dọc, các mắt xích trong nội bộ chuỗi thường có bản chất hai chiều; ví dụ, các cơ quan thiết kế chuyên ngành không chỉ ảnh hưởng đến bản chất quá trình sản xuất và tiếp thị
mà tiếp đến còn chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện ràng buộc trong các mối liên kết hạ nguồn này trong chuỗi giá trị
Hình 1.Bốn mắt xích trong một chuỗi giá trị giản đơn
Tiêu thụ/Tái chế Tiếp thị
Thiết kế và phát
triển sản phẩm
Sản xuất:
-Logistics hướng nội -Chuyển hóa
-Đầu vào -Đóng gói -.v.v…
Trang 6II TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHUỖI LÚA GẠO CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Năm 2009, ĐBSCL sản xuất được 20,52 triệu tấn lúa, sau khi trừ đi thất thoát trong thu hoạch trên đồng trung bình là 9,8% (DARDs, 2009) thì còn lại 18,51 triệu tấn Lượng lúa này để lại làm giống 4,2% (lúa giống năm 2009 trung bình
sử dụng khoảng 150kg/ha cộng thêm 10% dự phòng, tổng cộng khoảng
165kg/ha gieo trồng) và chăn nuôi 3,13% (Bảng 2) Vì vậy, lượng lúa còn lại qua xay xát là 17,29 triệu tấn (tương đương 11,41 triệu tấn gạo) Sau khi trừ đi lượng gạo thất thoát sau xay xát và lưu thông khoảng 9,83% (MDI, 2010) thì lượng gạo còn lại trước khi phân phối là 10,29 triệu tấn Trong đó: Tiêu dùng gạo khoảng 135kg/người/năm bao gồm cả tiêu dùng tại gia đình và bên ngoài gia đình như tại các quán ăn, nhà hàng Vậy lượng gạo tiêu dùng của vùng ĐBSCL năm 2009
là 2,32 triệu tấn (chiếm 22,5%) Tiêu dùng công nghiệp 2% lượng gạo (0,24 triệu tấn) bao gồm làm hủ tiếu, bánh phở, mì tươi, bánh tráng và bột gạo (các sản phẩm này tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu tuy chưa được thống kê chính thức) kể cả nấu rượu Tuy nhiên, các sản phẩm trên chủ yếu sản xuất từ tấm chứ không phải từ gạo thành phẩm (xay xát 1 tấn lúa thu được 0,15 tấn tấm và 0,20 tấn cám, lượng tấm năm 2009 lên đến 2,6 triệu tấn, đây là một sản phẩm phụ quan trọng từ ngành hàng lúa gạo) Do vậy, số lượng gạo hàng hóa còn lại của vùng ĐBSCL là 7,74 triệu tấn Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên nếu gạo dành cho tiêu dùng công nghiệp làm từ tấm thì lượng gạo hàng hóa này lên đến gần 8 triệu tấn (7,74 + 0,24 triệu tấn)
Sơ đồ dưới đây trình bày chuỗi giá trị lúa gạo vùng ĐBSCL theo lượng gạo hàng hóa của vùng này (7,74 triệu tấn) bao gồm chuỗi giá trị lúa gạo nội địa và xuất khẩu có chức năng và kênh thị trường chuỗi tương đối giống nhau Những chức năng cụ thể bao gồm khâu đầu vào (giống, phân bón, thuốc trừ sâu, rầy…), khâu sản xuất (nông dân, câu lạc bộ nông dân,…), khâu thu gom (thương lái/hàng xáo), khâu chế biến (nhà máy xay xát, lau bóng và công ty), khâu thương mại (công ty, bán sỉ/lẻ) và tiêu dùng (nội địa và xuất khẩu) Số liệu trong sơ đồ được tính toán từ kết quả điều tra cơ cấu lúa gạo bán ra của mỗi tác nhân tham gia chuỗi (chú ý: Lúa của nông dân và thu gom khi tính toán được qui đổi từ lúa ra gạo với tỷ lệ 1kg lúa bằng 0,66kg gạo)
Trang 7Lúa nông dân sản xuất ra bán cho thương lái 93,1% Tuy nhiên, giữa nông dân
và thương lái còn có lực lượng “Cò” môi giới mua bán lúa với chi phí 20đ/kg do thương lái trả nhưng nhiều trường hợp nông dân muốn bán lúa nhanh vẫn phải chi thêm cho Cò từ 20-50 đồng/kg Thương lái đem lúa bán cho nhà máy xay xát (30,3%) hoặc xay xát ra gạo lức rồi bán cho công ty (47,8%) và bán cho nhà máy lau bóng (10,7%), bán gạo trắng cho người bán sỉ/lẻ (15%) Nông dân bán lúa trực tiếp cho công ty một lượng rất ít (4,2%) và nhà máy xay xát (2,7%)
Chuỗi giá trị gạo xuất khẩu chủ yếu do công ty đảm trách Kênh thị trường bao gồm (1) Kênh trực tiếp: có một xu hướng liên kết dọc giữa công ty và nhà sản xuất mặc dù tỷ lệ này còn thấp (4,2%), đây là hình thức phân phối lúa gạo có kênh thị trường ngắn nhất và hiệu quả cao đối với người sản xuất; (2) Kênh 3 cấp: lúa gạo được bán qua 3 tác nhân trung gian là nhà máy xay xát, nhà máy lau bóng và công ty; và (3) Kênh 4 cấp: lúa gạo được bán qua 4 tác nhân trung gian đó là thương lái, nhà máy xay xát, nhà máy lau bóng và công ty Lượng gạo xuất khẩu chiếm 70,3% tổng lượng gạo hàng hóa của vùng ĐBSCL qua các thị trường chính như Châu Phi, Châu Á, Châu Âu và Trung Đông
Trang 8Chuỗi giá trị gạo đáp ứng nhu cầu nội địa chiếm 29,7% thông qua các tác nhân như chuỗi giá trị gạo xuất khẩu (trừ công ty, lúc này công ty đóng vai người bán sỉ/lẻ để bán gạo ở thị trường nội địa) nhưng thêm nhà bán sỉ/lẻ gạo nội địa được cung cấp bởi thương lái (15%), nhà máy lau bóng (7,2%), công ty (6,2%) và nhà máy xay xát (1,3%) Chuỗi gạo nội địa cũng là thị trường thứ hai trong trường hợp sản phẩm gạo xuất khẩu không đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng, khẩu vị, và an toàn thực phẩm như gạo lộn nhiều loại, suy thoái giống, sâu mọt gạo, gạo lẫn tạp chất như tóc, sạn, gạo nhiễm chất hóa học do xịt thuốc chống sâu mọt
Liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ, có nhiều tổ chức hỗ trợ chuỗi giá trị lúa gạo về
kỹ thuật, tài chính và thị trường như Viện/trường và trung tâm giống hỗ trợ về chất lượng lai tạo giống lúa; hỗ trợ tài chính từ ngân hàng nhà nước và tư nhân;
hỗ trợ kỹ thuật từ trung tâm khuyến nông, công ty cung cấp đầu vào; cung cấp thông tin thi trường, thương mại quốc tế, tiêu chuẩn chất lượng và những thủ tục xuất khẩu cũng như chính sách được hỗ trợ từ chính phủ, chính quyền địa
phương các cấp, hiệp hộiLương Thực Việt Nam (VFA), tổng công ty Lương Thực Miền Nam, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương và Hải quan (Sơ đồ 1)
Mặc dù ĐBSCL là nơi có sản lượng lúa gạo lớn nhất nước nhưng ảnh hưởng lớn của hạn hán và lũ lụt liên tiếp xảy ra, những thay đổi về thời tiết, khí hậu, lượng nước và chất lượng nước, hệ thống tiếp thị gạo thì manh múng, yếu trong liên kết dọc, liên kết ngang thì thiếu nguồn lực tài chính và yếu năng lực quản lý, thất thoát sau thu hoạch lớn và quản lý chất lượng kém Nhiều vấn đề cần được nghiên cứu và quan tâm liên quan đến sản xuất và tiêu thụ chuỗi ngành hàng lúa gạo nhằm quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả từ đầu vào đến đầu ra, quản lý chất lượng từ đầu ra trở về đầu vào, quản lý rủi ro, nâng cao hiệu quả và phát triển các chính sách hỗ trợ có liên quan để tăng giá trị gia tăng, nâng cao thu nhập và sinh kế người trồng lúa cũng như phát triển bền vững chuỗi ngành hàng lúa gạo của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung
Trang 9III PHÂN TÍCH CHI TIẾT CHUỖI GIÁ TRỊ LÚA GẠO PHỤC VỤ NHU CẦU TRONG NƯỚC CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG:
Qua nghiên cứu, tìm hiểu, chuỗi giá trị lúa gạo nội địa của vùng đồng bằng Sông Cửu Long có thể được mô tả như sơ đồ sau:
Sơ đồ chuỗi giá trị lúa gạo nội địa của vùng đông bằng sông Cửu Long
Đầu vào Nông dân
Ngành CN khác
Nhà máy xay xát
Cơ sở lau bóng
Phụ phẩm
Bán sỉ
Bán lẻ Thương lái
Nhà máy phân bón,
thuốc BVTV
Nhà cung cấp máy móc thiết bị: xay xát, lau bong, kho hàng
Nhà cung cấp dịch vụ: bảo hiểm, vận chuyển, bốc xếp, đóng gói,…
NHÀ HỖ TRỢ
VFA, Hội Nông Dân, Trung tâm
nghiên cứu phát triển nông nghiệp,…
NHÀ HỖ TRỢ Các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương,…
NHÀ HỖ TRỢ Các cơ quan nhà nước,…
Trang 10Mỗi cấp bậc trong sơ đồ trên là một bước góp phần hình thành nên giá trị của lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long Và để thống nhất, trong bài này chúng tôi sẽ sử dụng giá qui đổi về thành giá 1kg gạo thành phẩm (giá 1kg gạo bằng 1,28 lần giá 1 kg lúa)
Đầu vào, mở đầu cho chuỗi bao gồm giống, phân bón thuốc bảo vệ thực vật,… những vật chất ban đầu giúp hình thành nên sản phẩm cuối cùng Giống lúa rất
đa dạng về chủng loại như giống lúa thường IR50404 có chất lượng thấp hay các giống lúa thơm chất lượng cao như OM1490, OM2718,… Tùy vào yêu cầu
về thời gian của thời vụ, chất lượng, giá cả thị trường chấp nhận, thời tiết của thời vụ … người nông dân sẽ chọn loại giống thích hợp và chi phí cho giống lúa trung bình khoảng 8000-9000 đồng/kg lúa giống(năm 2009-2011 và trung bình nguồn giống này lấy từ 4,2% sản lượng lúa tạo thành trước đó) Bởi lẽ Việt Nam
là quốc gia nông nghiệp nên phần giống được nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và phát triển rất nhiều Năng suất các giống lúa ngày càng tăng và vào năm 2010, năng suất lúa trung bình của vùng khoảng 54 tạ gạo/ha (Tổng cục Thống Kê-2010) và dùng khoảng 150-165 kg lúa giống/ha thì chi phí này tương đương 600-00 đồng /kg gạo
Trong quá trình sản xuất, để tạo điều kiện tốt nhất cho cây lúa phát triển, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là yếu tố không thể thiếu Nhu cầu về phân bón và thuốc BVTV của cây lúa khác nhau với những giai đoạn phát triển, và trung bình cho khoảng chi phí về phân bón và thuốc BVTV này là 5-6 triệu
đồng/ha Và với năng suất lúa trung bình của vùng khoảng 54 tạ/ha (Tổng cục Thống Kê-2010) thì chi phí này tương đương 1000-1200 đồng/kg gạo
Ngoài ra, nông dân còn phải chịu một số chi phí khác như chi phí nhân công (đặc biệt là vào mùa thu hoạch), chi phí lãi vay (nếu có) để trang trải trong quá trình sản xuất, chi phí đi lại, chi phí thủy lợi,… và tổng cho chi phí phát sinh này khoảng 2700 đồng/kg gạo Chi phí phát sinh này càng cao khi qui mô sản xuất càng nhỏ lẻ Ta có thể đánh giá vấn đề này qua 2 bảng số liệu sau:
Trang 11Phần lớn diện tích đất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long được dùng vào trồng lúa và so với cả nước thì vùng này có qui mô sử dụng đất lớn nhất và tập trung nhất Do đó ta có thể suy ra rằng khoản chi phí phát sinh mà vùng này phải chịu là nhỏ nhất so với cả nước nhưng nhìn chung với mức diện tích trồng lúa mỗi hộ trên 1ha chỉ chiếm khoảng 35% là chưa cao và đây có lẽ là một trong những thách thức trong việc giảm chi phí trồng lúa nói riêng và nâng cao chuỗi giá trị lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung
Trang 12Như vậy tổng chi phí mà người nông dân phải bỏ ra để thu được 1 kg gạo vào
cỡ 4700 đồng Tuy nhiên do đặc điểm khác nhau giữa các thời vụ (về thời tiết, dịch bệnh, giá cả,…) chi phí này không đều Chẳng hạn vụ đông xuân thì do thời tiết phù hợp, dịch bệnh ít nên chi phí cho phân bón và thuốc BVTV thấp hẳn so với vụ thu đông do khí hậu biến đổi, dịch bệnh dễ phát triển Ngoài ra năng suất lúa giảm dần theo thứ tự các vụ đông xuân, hè thu, và thu đông, cũng ảnh
hưởng đến chi phí tính trên 1 kg gạo tạo thành Và hoàn tất khâu sản xuất của người nông dân đó là bước bán lúa sau thu hoạch Thông thường, lúa được tạo
ra sẽ đi vào 3 trường hợp chính là: tự tiêu thụ, bán cho thương lái và bán cho công ty thu mua nông sản Lấy trung bình ta được giá bán lúa của người nông dân là khoảng 5200 đồng/kg gạo
Trong sơ đồ chuỗi ở trên, sự xuất hiện của Thương lái không được xếp vào bất
kì một khâu chính nào trong chuỗi nhưng không thể thiếu đối với thực trạng chuỗi lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long, đây là bộ phận đóng vai trò trung gian giúp đưa sản phẩm lúa của nông dân đến các bộ phận khác của khâu chế biến Đặc điểm của bộ phận này là: nguồn vốn phần lớn do chính họ huy động từ gia đình hoặc vay mượn Do vậy qui mô và khả năng hoạt động của hầu hết thương lái còn khá hạn chế Họ vận chuyển lúa thu mua từ nông dân chủ yếu bằng đường sông với ghe thuyền cỡ trung và nhỏ (do đặc điểm sông nước của vùng) và không chú trọng khâu bảo quản, lưu trữ Họ được xem là “mua lúa bán lúa”
Kế tiếp chuỗi là khâu chế biến với sự tham gia chính của 3 bộ phận: nhà máy xay xát, nhà máy làm bóng và các công ty chế biến dùng nguyên liệu từ lúa gạo Những bộ phận này có thể thu mua trực tiếp từ nông dân nhưng nhìn chung phần lớn là lấy đầu vào từ thương lái Nhà máy xay xát có nhiệm vụ chính là bóc tách vỏ trấu, nghĩa là biến đổi lúa thành gạo Người chủ nhà máy xay xát thu lợi nhuận từ hoạt động bóc tách này Nhà máy làm bóng giúp gạo nâng thêm giá trị thẩm mĩ cũng như chất lượng gạo thông qua việc làm trắng gạo và chọn lọc, sản phẩm tạo ra có chất lượng tương đối cao do đó chỉ một phần nhỏ sản phẩm từ nhà máy làm bong được tiêu thụ trong nước Các sản phẩm phụ trong quá trình chế biến này như vỏ trấu, cám gạo,…(trung bình 1 tấn lúa xay xát ra thu được 0,15 tấn tấm và 0,2 tấn cám) cũng được tận dụng và tạo thêm một phần đáng kể thu nhập cho các tác nhân trong khâu chế biến này
Cuối cùng, ta xét đến khâu phân phối,bao gồm các nhà bán sỉ và lẻ Các nhà nhà máy chế biến cũng có thể đóng vai trò là 1 nhà bán sỉ, tuy nhiên thông
thường chức năng này do 1 tổ chức, cá nhân tự đứng ra với phần vốn tự có