XX vốn đã suy yếu thì với những chính sách của chính quyền thực dân lại càng suy yếu hơn bao giờ hết, nhu cầu vực dậy một tôn giáo lớn và có ảnh hưởng suốt hàng nghìn năm trong đời sống
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn
TS Ninh Thị Sinh
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và tri ân sâu sắc đối với các thầy cô trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện, giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em cũng xin chân thành cảm ơn TS Ninh Thị Sinh, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành nhiệm vụ học tập và nghiên cứu
Trong quá trình làm khóa luận, khó tránh khỏi sai sót, em rất mong các Thầy, Cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến chỉ dẫn của quý Thầy, Cô Đó là hành trang quý giá giúp em hoàn thiện bản thân mình sau này
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn đồng hành, tạo điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành tốt khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phạm Văn Tuấn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các dẫn chứng và kết quả trong đề tài nghiên cứu đều chính xác, trung thực
Đề tài nghiên cứu này chưa công bố trong bất kỳ một công trình khoa học
nào
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Phạm Văn Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của khóa luận 6
6 Bố cục khóa luận 6
Chương 1: BỐI CẢNH PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 7
1.1 BỐI CẢNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 7
1.1.1 Khái lược Phật giáo trong lịch sử dân tộc (từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XX) 7
1.1.2 Thực trạng Phật giáo Việt Nam thời Pháp thuộc 18
1.2 BỐI CẢNH THẾ GIỚI PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở CHÂU Á NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX 19
Chương 2: SỰ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC (1931 – 1945) 22
2.1 SỰ THÀNH LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC 22
2.2 THIỀN SƯ KHÁNH HÕA VÀ QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG THÀNH LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC 28
2.3 HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC 33
2.3.1.Thành lập Pháp Bảo Phương và Duyệt Kinh Thất 33
2.3.2 Xuất bản tạp chí Từ Bi Âm 35
2.3.3 Một số nhân vật tiêu biểu của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học 38
2.3.3.1 Sư Thiện Chiếu (1898 - 1974) 38
Trang 62.3.3.2 Hòa thượng Thích Huệ Quang (1888 – 1956) 41
2.3.3.3 Hòa thượng Bích Liên-Thích Trí Hải (1876 - 1950) 43
2.3.3.4 Hòa thượng Thích Huệ Pháp (1891-1946) 45
2.4 SỰ PHÂN HÓA TRONG HÀNG NGŨ LÃNH ĐẠO HỘI 47
2.5 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÕ CỦA HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC 49
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ những năm đầu công nguyên và
đã có lịch sử khoảng 2000 năm Qua các thời đại từ khi dân tộc Việt Nam mới lập quốc đến ngày nay, Phật giáo giữ một địa vị quan trọng trong quá trình xây dựng văn hóa Việt Nam Có thể nói một cách không quá rằng: Văn hóa Việt Nam có một phần lớn là văn hóa Phật giáo
Trong lịch sử dân tộc Phật giáo cũng đóng góp một vai trò to lớn, trong thời đầu xây dựng các nhà nước phong kiến từ Ngô – Đinh – Tiền Lê Đặc biệt dưới hai triều đại Lý – Trần, Phật giáo luôn được coi là một phần quan trọng của xã hội, có sức ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước Phật giáo phát triển thịnh đạt nhất vào triều đại Lý và Trần và đó cũng là giai đoạn nền phong kiến phát triển trong lịch sử dân tộc, có nhiều vị vua “anh minh” cũng như những người hiền tài, xã hội thời đó cũng ổn định, người dân ấm no Vua quan nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên – Mông giữ yên bờ cõi, hòa bình cho dân tộc cũng một phần nhờ thấm nhuần tư tưởng của đạo Phật
Tuy nhiên đến giai đoạn từ nhà Lê sơ trở đi Phật giáo không còn được coi trọng như trước, Phật giáo suy vi, tầng lớp tăng sĩ xuống cấp không chịu
tu hành, chỉ có số ít còn có đạo hạnh cao Từ đó cho tới triều Nguyễn Phật giáo chỉ còn là một tôn giáo thông thường không còn nhiều ảnh hưởng trong
xã hội Ở Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX, thực dân Pháp một mặt đàn áp
và bóc lột nhân dân dã man, mặt khác chúng thi hành những chính sách phản động thâm độc nhằm đầu độc nhân dân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện, thực hiện chính sách ngu dân đặc biệt chúng lợi dụng tôn giáo để gây chia rẽ, lung lạc ý chí đấu tranh của quần chúng Phật giáo Việt Nam những năm đầu thế kỉ
Trang 8XX vốn đã suy yếu thì với những chính sách của chính quyền thực dân lại càng suy yếu hơn bao giờ hết, nhu cầu vực dậy một tôn giáo lớn và có ảnh hưởng suốt hàng nghìn năm trong đời sống văn hóa người dân Việt được đặt
ra không chỉ trong giới tăng ni Phật tử, các cư sĩ mà còn cả những người mộ đạo
Trước yêu cầu của lịch sử cùng với những hoạt động tích cực của giới Phật tử phong trào Chấn hưng Phật giáo đã bùng nổ và phát triển mạnh mẽ ở
cả khắp ba miền ghi nhận sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo, Phật học trong cả nước Đặc biệt với sự ra đời và hoạt động của hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học đã cổ vũ cho phong trào Chấn hưng Phật giáo ở khắpViệt Nam
Nhận thức được phong trào Chấn hưng Phật giáo có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với lịch sử dân tộc và vai trò quan trọng của hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học đối với Phật giáo Việt Nam và phong trào chấn hưng Phật giáo nửa
đầu thế kỷ XX, tác giả đã chọn đề tài “Sự ra đời và hoạt động của Hội Nam
Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931-1945) làm đề tài khóa luận tốt nghiệp,
chuyên ngành lịch sử Việt Nam của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một tôn giáo lớn ở nước ta Phật giáo đã có ảnh hưởng sâu rộng trong
đời sống sinh hoạt văn hóa của nhân dân chính vì vậy mà đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về tôn giáo này Tuy nhiên các tác phẩm đề cập đến Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931-1945) thì có rất ít, một số tác phẩm có
chạm tới nhưng chỉ ở dưới góc độ tản mạn chưa tập trung đi sâu vào nghiên cứu trực tiếp về nội dung và ý nghĩa của nó Có thể kể đến một số công trình như sau:
Năm 1994 cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 3 của Nguyễn Lang,
Nxb văn học tại chương 29 đã trình bày về công cuộc chấn hưng Phật giáo ở
Trang 9Nam Kỳ trong đó có nói đến một số hoạt động liên quan đến Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học song nội dung trình bày còn ít chưa đi vào chiều sâu của vấn đề
Vào năm 2017 Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Viện Nghiên cứu
Tôn giáo đã thực hiện hai Hội thảo khoa học với tựa đề Hòa thượng Khánh Hòa và phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam (ngày 20 tháng 5 năm
2017, diễn ra tại Tòa Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, quận
Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh) và Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam và truyền thống Bến Tre (ngày 19 tháng 10 năm
2017, tại hội trường chính chùa Viên Minh - Văn phòng Ban trị sự Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Bến Tre) Tại hội thảo khoa học Hòa thượng Khánh Hòa và
phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam có nói đến phong trào chấn hưng
Phật giáo trong cả nước và phần còn lại đề cập đến hoạt động, vai trò của hòa thượng Khánh Hóa với công cuộc Chấn hưng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ
XX Tại hội thảo khoa học Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hung Phật giáo ở Việt Nam và truyền thống Bến Tre có đề cập đến ba vấn đề chính:
Thứ nhất Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam; Thứ 2: Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam; Thứ 3 Truyền thống lịch sử, văn hóa và Phật giáo ở Bến Tre Qua đó một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của công cuộc Chấn hưng Phật giáo nước nhà nói chung và vai trò của hòa thượng Khánh Hòa nói riêng đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam
Ngoài các tác phẩm và các bài viết trên còn có các tài liệu về Phật giáo trực tiếp hoặc gián tiếp nối về sự ra đời và hoạt động của Hội Nam Kỳ Nghiên
cứu Phật học (1931-1945): Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (Nxb khoa học xã hội 1989), Việt Nam Phật giáo sử luận tập 1,2,3 của Nguyễn Lang (Nxb Văn học, năm 2000), Phong trào chấn hưng Phật giáo tư
Trang 10liệu báo chí từ 1929-1945 của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh (Nxb chính trị quốc gia, năm 2010), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX tập I và
tập II của Thích Đồng Bổn (xuất bản năm 1995 do Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh xuất bản và xuất bản năm 2002 do Nxb Tôn giáo – Hà Nội
in ấn), Thiện Chiếu – Danh sư, trí thức cách mạng của hòa thượng Thích Như Niệm và Đinh Thu Xuân (Nxb Chính trị quốc gia sự thật), Vai trò của báo chí trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam (số 5, tr 25-29) trên tạp chí nghiên cứu Phật học, năm 2006 của Thích Gia Quang, Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến năm 1981 của Nguyễn Đại Đồng năm 2012, 50 năm (1920 – 1970) chấn hưng Phật giáo Việt Nam của Thích Thiện Hoa do Viện Hóa Đạo
ấn hành, Vai trò “tiên phong” của hòa thượng Khánh Hòa trong phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam trong những năm 1920 – 1945 qua tài liệu lưu trữ, trên Tạp chí nghiên cứu tôn giáo, số 158 của Ninh Thị Sinh,…
Tuy nhiên chưa có công trình chuyên khảo nào đi sâu tìm hiểu về hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học mà mới chỉ dừng lại ở giới thiệu một số nhân vật tiêu biểu, nêu một vài sự kiện liên quan đến sự thành lập của hội
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận làm rõ Sự ra đời và hoạt động của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931-1945), nhằm chỉ ra những đóng góp và vai trò của Hội đối với
sự phát triển của phong trào Chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam đầu thế kỉ XX
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận tập trung giải quyết ba nhiệm vụ sau:
- Một là tìm hiểu bối cảnh lịch sử của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam
- Hai là trình bày sự ra đời và những hoạt động chính của hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học
Trang 11- Ba là đánh giá được vai trò, đặc điểm của hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung tìm hiểu về sự ra đời và hoạt động của Hội Nam
Kỳ Nghiên cứu Phật học, từ năm 1920 đến 1945, trong phạm vi các tỉnh Nam
Kỳ thời Pháp thuộc
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu gồm có hai loại chính Một là bộ sưu tập tạp chí Từ
Bi Âm, cơ quan ngôn luận của Hội Thời gian tồn tại từ năm 1932 đến 1945 với tổng cộng 235 số, hiện nay được lưu trữ tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Hai là tài liệu tham khảo, gồm các tài liệu sách như: Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (Nxb khoa học xã hội 1989), Việt Nam Phật giáo
sử luận tập 1,2,3 của Nguyễn Lang (Nxb Văn học, năm 2000), Phong trào chấn hưng Phật giáo tư liệu báo chí từ 1929-1945 của Nguyễn Đại Đồng và Nguyễn Thị Minh ( Nxb chính trị quốc gia, năm 2010), Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX tập I và tập II của Thích Đồng Bổn (năm 1995 do Thành
hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh in ấn và xuất bản năm 2002 do Nxb Tôn giáo
– Hà Nội in ấn), Thiện Chiếu – Danh sư, trí thức cách mạng của hòa thượng
Thích Như Niệm và Đinh Thu Xuân (Nxb Chính trị quốc gia sự thật); các bài báo, tạp chí trên Nghiên cứu Phật học, Nghiên cứu tôn giáo, các bài viết trong
kỷ yếu hội thảo…
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận vận dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa Mác- lênin và tư tưởng của Hồ Chí Minh về lịch sử triết học tôn giáo và các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội như: phương pháp lịch sử, logic lịch sử, phân tích tổng hợp, so sánh- đối chiếu, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn
tư liệu,
Trang 125 Đóng góp của khóa luận
Đề tài Sự ra đời và hoạt động của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học (1931-1945) đi sâu vào phân tích những hoạt động của Hội cũng như đề cập
đến các nhân vật có vai trò quan trọng trong quá trình thành lập Hội Ngoài ra
đề tài còn đề cập đến các vấn đề về hoàn cảnh cũng như sự phát triển của phong trào chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam để có thể thấy rõ ràng ý nghĩa của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học đối với Phật giáo Việt Nam
Trang 13Chương 1: BỐI CẢNH PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO Ở
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1 BỐI CẢNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1.1 Khái lược Phật giáo trong lịch sử dân tộc (từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XX)
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương, giữa hai nước rộng lớn là Ấn
Độ và Trung Quốc, hai dân tộc đông đảo nhất thế giới, hai nền văn minh sáng lạn của châu Á là Ấn Ðộ và Trung Hoa Vì địa thế của nước Việt Nam nằm ở giữa con đường biển đi Ấn Ðộ đến Trung Hoa, nên đã chịu ảnh hưởng nhiều
của hai nền văn minh ấy
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam qua cả hai con đường: đường biển từ phía Nam lên và đường bộ từ phía Bắc xuống Trong số bốn nhà truyền giáo đầu tiên đặt chân lên Việt Nam, thì có tới ba nhà sư là người Ấn
Ðộ, đi đường thủy sang Trung Hoa truyền đạo và đã ghé tại Việt Nam là các Ngài: Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội và Chi Cương Lương
Nhà truyền giáo thứ tư là người Trung Hoa, Ngài Mâu Bác (hay còn gọi là Mâu Tử), đã đi đường bộ từ phía Bắc xuống Ðó là điều chứng minh rằng Phật Giáo vào Việt Nam do cả đường thủy và đường bộ cả từ phía Nam lên và phía Bắc xuống Nhưng vì nước ta bị Trung Hoa đô hộ ngót một ngàn năm và sau đó vẫn còn lệ thuộc vào văn hóa và chính trị nên về sau con đường truyền giáo từ Trung Hoa sang là con đường chính
Như vậy Phật giáo vào nước ta từ những thế kỉ đầu công nguyên, sang cuối thời Bắc thuộc Phật giáo đã lan rộng khắp mọi miền của xứ “An Nam đô
hộ phủ”, làm xuất hiện một lớp cao tăng người Việt, trong đó nhiều người đã đến Trung Quốc, xuống Nam Dương, sang Ấn Độ, hiểu rộng biết nhiều, tinh thông Hán Phạn, có thể coi là những tri thức đương thời
Trang 14Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, một thời Kỳ mới
đã mở ra cho lịch sử dân tộc, thời Kỳ phong kiến độc lập tự chủ được bắt đầu Các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê mở đầu cho thời Kỳ phong kiến độc lập của nước ta Do mới thành lập, nhà nước phong kiến còn non trẻ, lúc này nho giáo chưa có vị thế và phát triển để có thể làm chỗ dựa cho triều đình trong khi đó Phật giáo trong lại rất phát triển, có tầm ảnh hưởng lớn đối với xã hội Nhiều nhà sư trở thành những nhà cố vấn cho vua trong các lĩnh vực đối nội
và đối ngoại Các nhà sư từng là cố vấn cho nhà vua có thể kể đến như Ngô Chân Lưu (hay Khuông Việt đại sư), Trương Ma Ni, Đỗ Pháp Thuận thuộc dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi (là cố vấn của vua Lê Đại Hành), tiếp theo đó
là các nhà sư như Ma Ha, Sùng Phạm, Vạn Hạnh [27, tr.11]
Phật giáo với sự tỏa rộng về mặt không gian cũng như sự thấm sâu trong đời sống tinh thần của người Việt, bước đầu đã chiếm được vị trí vững chắc trong xã hội thế kỷ X Tất nhiên sự toàn thịnh của nó chỉ có được trong hai triều đại Lý -Trần tiếp theo Nhưng dựa vào các nguồn sử liệu hiện có, chúng ta có thể nhận ra sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo thế kỷ X và sự đóng góp của Phật giáo vào công cuộc giữ gìn, xây dựng và phát triển đất nước thời Ngô - Đinh và Tiền Lê của dân tộc Việt Nam
Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua ở kinh đô Hoa Lư, một triều đại mới được thiết lập, mở đầu cho hơn hai thế kỉ thịnh trị của dân tộc, và người
có công lớn nhất trong việc này là nhà sư Vạn Hạnh Thiền sư Vạn Hạnh chẳng những có công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua mà còn là người thuyết phục nhà vua dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long Từ đó có thể thấy nhà sư Vạn Hạnh có vai trò rất lớn và quan trọng đối với vương triều Lý nói riêng và lịch
sử dân tộc Việt Nam nói chung
Lý Công Uẩn khi mới lên ngôi đã cho xây dựng chùa Các vị vua tiếp theo cũng vậy Nhờ có sự bảo trợ của triều đình, nên Phật giáo có điều kiện để
Trang 15phát triển mạnh mẽ Năm 1010, Lý Thái Tổ lên ngôi đã cho xây dựng một số ngôi chùa sau: tám ngôi chùa ở phủ Thiên Ðức, tỉnh Bắc Ninh; chùa Hưng Thiên Ngự tại Thăng Long, chùa Vạn Tuế, chùa Thiên Quang, Thiên Ðức, Thiên Vương, Thắng Nghiêm Khắp cả nước có chừng 300 ngôi chùa được dựng mới và những chùa đã cũ thì được tu sửa lại Năm 1036, đến thời vua
Lý Thái Tông có những công trình đã được làm lễ khánh thành như: tượng Phật Ðại Nguyện, một nghìn pho tượng Phật bằng gỗ, một nghìn bức tranh Phật và một vạn cờ phướn ( năm 1040), tượng Phật Di Lặc bằng đồng tại viện Thiên Phúc (năm 1041), chùa Một Cột ( năm 1049)
Đến năm 1055, Vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng chùa Ðông Lâm
và chùa Tĩnh Lự ở Bắc Ninh Năm 1056, vua khởi công xây chùa Sùng Khánh Báo Thiên Năm 1057 vua đã cho xây dựng một ngọn tháp tên Ðại Thắng Tư Thiên, xây hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đúc hai tượng Phạm Vương và Ðế Thích bằng vàng Năm 1058, vua xây điện Linh Quang, Kiến
Lễ, Sùng Nghi, tháp núi Ðồ Sơn Năm 1070, dựng chùa Nhị Thiên Vương
Năm 1086, vua Lý Nhân Tông cho xây dựng một số công trình sau: chùa Lâm Sơn, tháp đá tại huyện Quế Dương, tháp Linh Tế, ba tháp đá tại chùa Lãm Sơn, dựng đài Ðộng Linh, khánh thành tháp Vạn Phong Thành Thiện ở núi Chương Sơn, khánh thành tháp Thất Bảo Năm 1121, vua cho dựng chùa Quảng Giáo ở núi Tiên Du và khánh thành điện Trùng Minh ở chùa Báo Thiên Năm 1129, đến vua Lý Thần Tông đã cho khánh thành 84.000 bảo tháp bằng đất, khánh thành chùa Quảng Nghiêm Tư Thánh năm
1130 Khánh thành ba tượng tam tôn bằng vàng năm 1134
Nhân dân được gia ân, miễn thuế trong những cuộc lễ lớn được tổ chức vào mỗi dịp hoàn tất xây dựng hay trùng tu một ngôi chùa Điều đáng chú ý là thời Lý, số lượng sư rất đông, Phật giáo thời Lý có tiềm lực kinh tế khá mạnh Các chùa đều có đất, hội lễ Phật giáo diễn ra thường xuyên, nhiều hội lớn đích
Trang 16thân nhà vua tổ chức Từ sự ủng hộ của các vua chúa, quý tộc quan liêu, Phật giáo thời Lý có vị trí quan trọng trong xã hội, đến với mọi miền đất nước và đông đảo mọi tầng lớp nhân dân Một số tăng sĩ đắc đạo và có học vấn uyên bác thời này được các vua Lý hết sức trọng dụng, có sư là thầy dạy của vua và được phong làm Quốc sư Nhiều nhà sư được ban hiệu Quốc sư như: Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Thông Biện, Viên Thông, Không Lộ Vai trò chủ yếu của các Quốc sư thời Lý là những cố vấn đắc lực giúp vua hiểu biết về giáo lí Phật giáo, ngoài ra còn có các vấn đề khác về chính trị, ngoại giao, quân sự, văn hóa…
Dưới thời Lý, Việt Nam xuất hiện một thiền phái mới, thiền phái Thảo Đường Năm 1069, vua Lý Thánh Tông mang quân đi đánh Chiêm Thành và bắt được vua nước ấy là Chế Củ cùng với nhiều tù binh và trong số tù binh có một thiền sư tên là Thảo Đường Khi về tới kinh đô Thăng Long, nhà vua chia
số tù nhân bắt được cho các quan để làm người phục dịch Tình cờ vị sư ấy được chia cho một người tăng lục, chuyên coi việc tăng sự tại triều Một hôm, trong lúc viên tăng lục đi vắng, vị sư trong thân phận nô bộc kia, lật xem thử những bản ngữ lục Thiền học chép tay để trên bàn của chủ Thấy trong bản chép có nhiều chỗ sai quá, nhà sư bèn cầm bút sửa chữa Khi vị tăng lục về, khám phá ra, rất lấy làm ngạc nhiên, bèn đem chuyện tâu lên vua Vua Lý Thánh Tông cho vời tên nô bộc kỳ lạ ấy lên hỏi, thì biết đó là thiền sư tên là Thảo Ðường ở Trung Quốc, nhân đi qua Chiêm Thành truyền giáo mà bị bắt Qua trao đổi, vua Lý Thánh Tông thấy thiền sư Thảo Đường là người "có đức hạnh, lại tinh thông Phật điển, bèn bái làm thầy" và phong làm Quốc sư, mời đến trụ trì tại chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc ngày nay) tại kinh thành Thăng Long Bởi thiền học của Quốc sư có những nét mới lạ so với hai thiền phái đương thời là Tỳ ni đa lưu chi và Vô Ngôn Thông, nên một thiền phái nữa được thành lập, lấy tên là thiền phái Thảo Ðường Lý Thánh Tông
Trang 17cũng thọ giáo với ngài, sau khi Thánh Tông đắc đạo được ngài truyền tâm pháp và là đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường Trong suốt thời gian trị vì của
mình “Ngài là một ông vua sùng đạo Phật và nhân từ nhất” [27, tr.14]
Có nhiều lý do khiến các thiền sư đời Lý tham dự chính sự, bao gồm các lý do chính như sau: Lý do thứ nhất họ là những người có học, có ý thức
về quốc gia, sống gần gũi với nhân dân và biết được những khổ đau của người dân trong xã hội Lý do thứ hai, họ không có ý muốn tranh quyền đoạt vị, không quan tâm đến địa vị ngời đời nên vua tin họ Lý do thứ ba, họ không cố chấp và thuyết trung quân như các nhà Nho, nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân Lý do thứ tư, vua cần tri thức
và sự hiểu biết của họ; nhất là trong đời Ðinh, Lê, các vua đều không phải thuộc giới trí thức Các nhà sư có ý hướng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập cụ thể như sau: thứ nhất về vị trí địa lý họ đã muốn dời kinh đô tới một nơi có thể dựng nên sự nghiệp độc lập lâu dài Thứ hai về phương diện học thuật, họ có công đào tạo một lớp trí thức không cố chấp, biết dung hợp các ý thức dị biệt như Nho, Lão, Phật Thứ ba về phương diện văn hóa,
họ dựng nên được cả một triều đại thuần từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị Thứ tư về mỹ thuật, các công trình kiến trúc và điêu khắc của Phật giáo là những đóng góp mỹ thuật quan trọng nhất của thời đại
Dưới ảnh hưởng của đạo Phật, đặc biệt“Với những nhà chính trị có từ tâm và những nhà xuất gia biết lo giáo dục, thực hành đạo lý từ bi trong dân chúng, đời sống xã hội thời Lý trở thành thuần từ và đẹp đẽ Đạo đức và từ bi
đã không làm cho dân nghèo nước yếu mà trái lại những yếu tố này tạo nên phú cường Những chiến thắng Chiêm Thành và Tống Quốc, sự vắng mặt của bạo động trong nhân gian và trong cung khuyết, sự gần gũi giữa vua với dân, những điều đó nói lên được đặc tính của xã hội thời Lý”[27, tr.13]
Trang 18Sang thời Trần Phật giáo tiếp tục phát triển và được coi là “Quốc giáo” Chính sách thể hiện tư tưởng nhân đạo thời Trần giống như thời Lý, cũng có nguồn gốc sâu xa từ Phật giáo Tổ chức lại đất nước, vương triều Trần tìm cách ưu ái Phật giáo Yếu tố đưa đến thành công và những đặc sắc của Phật giáo thời Trần là không tách rời với sự nghiệp gìn giữ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phật giáo lúc này đã có sự thích nghi với phong tục, tôn giáo và con người Việt Nam, hoàn toàn phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của một dân tộc yêu hòa bình, độc lập Với tinh thần nhập thế cao cả các vị vua, các thiền sư thời Trần đã sử dụng đúng tiềm năng của Phật giáo, khiến Phật giáo có được sức mạnh yểm trợ cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước của triều đình
Trong triều đại nhà Trần có nhiều vị vua uyên thâm Phật pháp, là tác giả của nhiều tác phẩm Phật giáo tiêu biểu của Việt Nam Đầu tiên có thể kể đến là vua Trần Thái Tông, ông là người sáng lập ra triều Trần, không những
là một nhà Phật học uyên thâm mà còn là một vị vua anh hùng khi đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên lần thứ nhất năm 1258, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền quốc gia dân tộc Vua Trần Thái Tông đã tự mình học Phật và thỉnh thoảng có nhờ đến sự chỉ giáo của các bậc kì đức trong giới Phật học, cho nên các kinh điển của hệ thống giáo lý chính không kinh nào là ngài không nghiên cứu
Ngoài ra ông còn soạn các sách về Phật giáo như: Thiền tông chỉ nam, Kim Cương tam muội kinh chú giải, Lục thì sám hối khoa nghi, Bình đẳng lễ sám văn, Khoa hư lục, Thi tập Tiếp sau Trần Thái Tống đến đời vua Trần Thánh Tông với các tác phầm về Phật giáo tiểu biểu như: Văn tập, Thiền tông liễu ngộ ca, Chỉ giá minh, Phong ngưu và cơ cừu Đến vua Trần Nhân Tông lúc
này Phật giáo phát triển đến độ cực thịnh trong xã hội, quan lại, vua chúa hay
cả nhân dân người người theo Phật và sống trong Phật pháp Chính sự Từ, Bi,
Hỷ, Xả trong chính sách của các vị vua đã tạo cho xã hội một sự gắn kết chưa
Trang 19từng có, nó cũng chính là sức mạnh đã giúp Trần Nhân Tông hai lần đánh thắng quân Mông – Nguyên, giữ yên bờ cõi toàn vẹn đất nước Vua Trần Nhân Tông là một Phật tử lại là người đứng đầu dân tộc nên có vị trí hết sức quan trọng không những đối với Phật giáo nước ta mà còn đối với cả dân tộc Ngài là một nhà tư tưởng, một nhà chính trị kiệt xuất Ngoài ra Trân Nhân Tông còn là người sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền riêng của người Việt, thành lập giáo hội Phật giáo Đại Việt, và đã để lại một số tác
phẩm sau: Thiền lâm thiết chủy ngữ lục, Trúc Lâm hậu lục, Thạch thất mỵ ngữ, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sư, Cư trần lạc đao phủ, Đắc phú lâm tuyền thành đạo ca, Thượng Sĩ hành trạng Tiếp sau là vua Trân
Nhân Tông là Trần Anh Tông cũng là một vị vua sùng Phật và am hiểu Phật pháp, ngài đã dùng chính máu của mình để viết Đại tạng kinh cỡ nhỏ, gồm 20 hộp ban cho sư Pháp Loa vào tháng 12 năm 1319 [8, tr.144] Như vậy có thể thấy các vị vua đầu triều Trần đều là những người tu đạo, sống trong Phật pháp và sử dụng Phật pháp để cai trị mang lại cuộc sống ấm no và hòa bình cho nhân dân, không những vậy họ còn để lại cho thế hệ sau nhiều tác phẩm
về Phật giáo quý báu
Năm 1299 vua Trần Nhân Tông xuất gia tại chùa Yên Hoa núi Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đầu Đà, sau này đã đổi thành Trúc Lâm Đầu Đà Vua
là người truyền thừa chính thức của phái Yên Tử thế hệ thứ sáu, từ đó trở đi phái Yên Tử trở nên nổi tiếng, ảnh hưởng đến triều đình cũng như trong nhân gian Vua Trần Nhân Tông cũng đã góp phần vào việc củng cố triều đại và chế độ bằng những công tác hành đạo tích cực trong nhân gian Vào đầu thế
kỉ XIII, ba thiền phái Phật giáo là: Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường đã dần dần sát nhập làm một Do ảnh hưởng của vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung thượng sĩ, sự sát nhập của ba thiền phái trên đã đưa tới sự
phát triển mạnh mẽ của thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm và cũng
Trang 20là thiền phái duy nhất trong đời Trần Ðời Trần được gọi là thời đại Phật Giáo Nhất Tông có nghĩa là thời đại của một phái Phật Giáo Duy Nhất Tông phái này xuất hiện từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang Các vị
tổ sư của Tông phái này có thể kể đến như: Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm là thầy của vua Trần Thái Tông (là tổ thứ hai của phái Yên Tử, được vua tôn làm quốc sư); Vị thứ ba là Ðại Ðăng quốc sư ( là đồng sư với vua Trần Thái Tông) và Nhất Tông quốc sư (cái tên tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật Giáo thống nhất đời Trần), quốc sư chính là đệ tử của thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền phái Vô Ngôn Thông Danh từ Nhất Tông mà vua Trần Thái Tông dùng để tôn xưng quốc sư có nghĩa là Phật giáo đời Trần chỉ có một tông phái duy nhất là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Thời Trần, Phật giáo thực sự đã hòa nhập vào lòng dân tộc từ hình thức đến nội dung Khi đất nước thanh bình thì Phật giáo len lỏi khắp nơi qua giáo
lí của Trúc Lâm Đầu Đà Người dân cả nước đều am hiểu về Phật giáo, cũng như thực hiện những điều hay lẽ phải mà giáo lí nhà Phật đem lại Người dân chấp nhận Phật giáo và vua cũng là một Phật tử, điều này tạo nên sự đoàn kết của Vua và dân mà chưa thời kỳ nào đạt được
Trong thời Trần nhân dân ta đã ba lần đánh thắng quân Mông Nguyên,
có nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể tới công lao của đạo Phật Từ vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông lúc này Phật giáo phát triển đến độ cực thịnh trong xã hội, quan lại, vua chúa hay cả nhân dân người người theo Phật và sống trong Phật pháp Chính sự Từ, Bi, Hỷ, Xả trong chính sách của các vị vua đã tạo cho xã hội một sự gắn kết chưa từng có, nó cũng chính là sức mạnh đã giúp Trần Thái Tông đánh thắng quân Mông – Nguyên lần thứ nhất, vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đánh thắng quân Mông – Nguyên lần thứ hai và thứ ba, giữ yên bờ cõi toàn vẹn đất nước
Để tập hợp sức mạnh của toàn dân khi quân Mông – Nguyên tiến vào xâm
Trang 21chiếm Đại Việt, vua Trần Thánh Tông đã mở hội nghị Diên Hồng để phát động tinh thần yêu nước đánh giặc của toàn dân, chính Phật giáo đã tạo ra một khối đoàn kết toàn dân từ trước cho nên khi nước nhà đang đứng trước nguy
cơ bị xâm lược nhân dân trên cả nước đã đồng lòng đứng lên chống giặc ngoại xâm bảo vệ độc lập cho dân tộc
Tăng sỹ đời Trần không trực tiếp đóng góp vào sự nghiệp chính trị nhưng Phật giáo là một yếu tố liên kết nhân tâm quan trọng Tinh thần Phật giáo đã làm cho các nhà chính trị dời Trần áp dụng những chính sách bình dị, thân dân Ta có thể công nhận rằng, các ông vua triều Trần muốn sử dụng Phật giáo để liên kết nhân tâm, nhưng không vì vậy mà họ giả danh Phật tử
Họ là Phật tử chân chính và có ý nguyện phụng sự đạo Phật song song với phụng sự quốc gia và triều đại của họ
Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly bức vua Thiếu Đế nhường ngôi, mở ra một triều đại phong kiến mới đó là nhà Hồ Dưới triều
Hồ, Phật giáo trở nên suy vi, tăng lữ lười biếng, không chịu tu học, các sư vãi, tín đồ Phật giáo lại chiếm một tỉ lệ quá cao trong dân chúng, nhân dân quá nửa là sư sãi và tăng lữ nhiều đến nỗi đã trở thành một lực lượng đe dọa đối với chính quyền phong kiến Đến năm 1414 nhà Minh sang xâm lược, Việt Nam bị nội thuộc nhà minh Năm 1419 nhà Minh tịch thu hết cả kinh sách Phật giáo trong nước và đốt phá chùa chiền
Sang thời Lê sơ, Nho học đã giữ địa vị quan trọng trong xã hội, các sĩ phu thi nhau nhau vào khoa cử, miệt mài trong tư tưởng nho học, triết lí nhà Phật không còn làm danh làm lợi cho ai cuối cùng bị rơi vào quên lãng, Phật giáo cũng vì thế mà không phát triển lên được nữa, nhất là ngày trước khi nhà Minh sang xâm lược đã tịch thu hết kinh điển, nên dù có những bậc mộ đạo đến đâu cũng không còn sách vở để nghiên cứu Vì thế đạo Phật chẳng qua cũng là một sự tín ngưỡng theo hình thức thời Việc tu đạo đối với kẻ ít học
Trang 22chỉ thành một thể quyền nghi theo hình thức, với sĩ phu thì chỉ là một chỗ để người nào lận đận công danh, chán nản cuộc thế, bất bình với thói đời, có nghĩa là chỉ những người yếm thế mới tìm đến để lánh xa xã hội bên ngoài mà thôi; chứ không phải là mến hiểu giáo lý của Phật mà tu hành, và ngộ đạo, rồi lại đem đạo lý ra ngoài giác ngộ cho kẻ khác Bởi vậy, trong đời Hậu Lê có thể gọi là thời đại Phật giáo suy vi
Trong các triều đại phong kiến sau này khi Nho giáo ngày càng phát triển và trở thành hệ tư tưởng chính thống trong nhân dân thì Phật giáo ngày càng bị mất đi vị thế của mình Nho giáo là một công cụ rất thích hợp cho một nhà nước phong kiến dùng để cai trị đất nước, vì nó giúp nâng cao vị trí của triều đình, ít chi phối và phù hợp với chế độ quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Tư tưởng cảu nho giáo chủ yếu nói về mối quan hệ trong xã hội, ví
dụ như câu “Trung quân ái quốc” có nghĩa là trung với vua mới là yêu nước Tuy mất đi vị thế của mình nhưng Phật giáo vẫn phát triển trong dân gian, nhà chùa vẫn là đến như một nơi giúp người ta thanh tịnh, tìm đến chỗ tâm linh Các nhà sư vẫn giảng dạy Phật pháp trong dân gian, có thể nói Phật giáo vẫn tồn tại và phát triển đối với lịch sử của đất nước nhưng đã qua thời kỳ cực thịnh
Cuối thế kỷ XIX khi nước ta rơi vào tay thực dân Pháp thì đạo Phật bị kìm hãm suy vi như những tôn giáo đương thời duy chỉ có Công giáo nhận được sự ưu ái của chính quyền thuộc địa nên ngày càng phát triển Phật giáo trở thành đối tượng bị phê phán và đả kích Phật giáo Việt Nam giai đoạn này gặp rất nhiều khó khăn Chính tự sự suy vi của đạo Phật nên đã đặt ra nhu cầu cần phải chấn hưng chấn chỉnh lại đội ngũ tăng lữ, những người tu Phật, bài trừ các hình thức mê tín, cúng bái, làm xấu đi hình ảnh nhà Phật
Như vậy trong lịch sử dân tộc Phật giáo đã từng giữ vai trò rất quan trọng trong xã hội và là một công cụ để các triều đại phong kiến củng cố nhân
Trang 23tâm tạo sức mạnh đoàn kết trong nhân dân Chính những điều đó đã tạo nên sức mạnh, hào khí của cả một dân tộc chống lại giặc ngoại xâm với hai lần kháng chiến chống Tống (triều Lý), ba lần đánh thắng quân Mông – Nguyên (triều Trần) Người dân cũng được sống cuộc sống ấm no, hạnh phúc nhờ các chính sách như giảm sưu thuế, quan tâm phát triển sản xuất, quan tâm đời sống nhân dân, xuất phát từ tấm lòng Từ, Bi, Hỷ, Xả của các vị vua Các vị tăng sư cũng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong việc truyền pháp cũng như người giúp vua trong những công việc đối nội, đối ngoại Ngoài ra còn có các bộ kinh Phật quý được các vị vua cử người sang Trung Quốc thỉnh kinh và còn các hệ thống chùa chiền trên cả nước Nhìn vào những gì mà triều Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần để lại tới ngày nay thì
đủ để công nhận Phật giáo là một tôn giáo có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới xã hội và tới cả chính trị hay vận mệnh quốc gia dân tộc
Phật giáo vào Việt Nam đến nay đã hơn 2000 năm Trong thời gian ấy, Phật giáo đã trải qua nhiều biến chuyển thăng trầm: Từ ngoại lai đến bản địa,
từ ít người theo đến đa số người ngưỡng mộ, từ thô sơ đơn giản đến sâu sắc
bề thế Suốt quá trình tồn tại và phát triển Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn trong dân tộc, từ tín ngưỡng đến văn hóa, từ thế giới quan đến nhân sinh quan,
từ tư tưởng đến tình cảm Nhiều vấn đề lịch sử văn hóa dân tộc, của lịch sử tư tưởng không sáng tỏ nếu không hiểu được Lịch sử Phật giáo Việt Nam Cho
dù phát triển cực thịnh hay không cực thịnh thì Phật giáo vẫn là tôn giáo có
số tín đồ lớn nhất Việt Nam và có sức ảnh hưởng lớn nhất Ảnh hưởng của Phật giáo lớn đến mức cùng với mái đình, ngôi chùa trở thành công trình công cộng quan trọng nhất ở mỗi làng, người dân đi bất kỳ đâu lỡ đường thì có thể xin nghỉ tam qua đêm, hay chở thành nơi sinh hoạt của mọi người dân trong
làng, trong vùng
Trang 241.1.2 Thực trạng Phật giáo Việt Nam thời Pháp thuộc
Đầu thế kỉ XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp thực hiện chính sách nâng đỡ, tạo điều kiện cho Công giáo phát triển Chính quyền Pháp vì muốn loại trừ ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo, nên đã quyết tâm loại bỏ chữ Hán mà thay vào đó là chữ Pháp
Lúc bấy giờ kinh sách Phật toàn là chữ Hán, do vậy dẫn đến tình trạng kinh điển đạo Phật bằng chữ Hán ít người thông hiểu Từ đó, tín đồ không thấu hiểu giáo lý kinh Phật Đó là tiền đề để khiến người dân cách xa đạo Phật, khiến đạo Phật ngày càng suy vi Đạo Phật đã suy đến mức toàn quốc không có một ngôi trường Phật học nào cho người dân đến tham học [10, tr.20]
Bên cạnh đó quá trình đô hộ và xâm lược của thực dân Pháp đã có tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt của tăng ni, Phật tử Việt Nam Đó là thực trạng nhiều tăng ni, Phật tử sa vào con đường cờ bạc, rượi chè, đàm trước thanh sắc; là phần đông tăng già chỉ nghĩ đến danh vọng chức tước, xin bằng Tăng cang, trụ trì, sắc tứ… coi việc cúng cấp, cầu đạo, phù chú, làm bổn
phận của kẻ tu hành Báo chí đương thời từng phê phán hiện tượng này:“Có
kẻ mượn Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, sắc vọng, cũng sám hối như ai, nhưng lại thủ dị cầu kỳ, học thêm bùa ngải, luyện roi thần, làm bạn với Thiên Linh cái, khi ông lên,lúc bà xuống, ngáp ngắn ngáp dài, thu phù niệm chú, gọi là cứu nhân độ thế, nhưng thực ra là lợi dụng lòng
mê muội của thiện nam tín nữ, mở rộng túi tham quơ quyét cho sạch sành sanh Hiện trạng như thế sao bảo chẳng suy đồi…”[17, tr.24] Do vậy những
người có tâm huyết đến sự thịnh suy của đạo Phật đã đứng ra kêu gọi vận động chấn hưng nhằm tìm con đường mới cho Phật giáo Việt Nam lúc này
Mặc dù ở Việt Nam thời bấy giờ mỗi làng đều có chùa thờ Phật, thậm chí có làng đến ba ngôi chùa thế nhưng những ngôi chùa đó chỉ dành riêng
Trang 25cho phái nữ những bà cụ… mỗi tháng vào ngày rằm đều đến chùa lễ Phật Người dân tôn kính đức Phật, như một bậc thượng đến toàn năng có quyền ban phước giáng họa
Trong khi đó chính quyền thực dân đã thực hiện chính sách kiểm soát khắt khe đối với nhà chùa Những chùa nào muốn xây dựng, sửa chữa thì cần được chính quyền thực dân cấp phép mới được xây dựng Chúng còn hạn chế nhà chùa, không cho xây dựng hay mua bán đất đai, thậm chí còn không được nhận đồ cúng, của cải của khách thập phương mang đến chùa hỷ cúng Ngược lại chúng dùng chúng dùng chính sách hù hóa dân tộc ta bằng cách cho phép
tự do hoạt động mê tín dị đoan, nhưng hạn chế con đường giáo dục văn hóa truyền thống của dân tộc Mục đích của chúng là làm cho dân ta ngu dốt để dễ
bề sai khiến, không muốn dân ta lớn mạnh và đạo Phật từ đó bị đồng hóa với những tà thuyết ngoại đạo Ngoài ra, một số ngôi chùa lớn cũng bị thực dân
Pháp hủy dần Cụ thể tại Miền Nam “Pháp chiếm đóng và triệt hạ các chùa Kim Cương, chùa Phật Lớn (Ông Phúc) bị dỡ vào năm 1865 gần thành Ô Ma (đường Nguyễn Trãi ngày nay); chùa Pháp Võ (Chợ Quán) bị dỡ vào năm 1863; chùa Phước Hải trong bệnh viện Chợ Rẫy bị dỡ vào năm 1865; chùa Hưng (đường An Dương Vương ngày nay) bị dỡ vào năm 1864; chùa Kim Tiên (Chợ Quán) bị dỡ năm 1863; chùa Gia Điền (Chợ Quán) bị dỡ năm
1865 Vậy là từ năm 1861 đến 1865, Pháp triệt hạ các chùa lớn, chỉ còn lại những chùa trong ngõ hẻm và lo phát triển nhà thờ”[17, tr.43]
1.2 BỐI CẢNH THẾ GIỚI PHONG TRÀO CHẤN HƢNG PHẬT GIÁO Ở CHÂU Á NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
Nhìn rộng ra các nước khu vực Châu Á, phong trào Chấn hưng Phật Giáo cũng diễn ra tại nhiều nước như Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc nhằm khôi phục lại các giá trị của Phật giáo, chấn hưng Phật học
Trang 26Phong trào Chấn hưng Phật giáo bắt đầu từ cư sĩ David Hewavitarane, người Tích Lan sau này xuất gia thành đại đức Dharmapala Để thúc đẩy việc Chấn hưng Phật giáo ông đã thành lập Hội Đại Bồ đề Ấn Độ và xuất bản tạp chí Bồ Đề, thành lập các trung tâm Phật học và tu viện Phật giáo Dharmapala thường hun đúc tinh thần chấn hưng Phật giáo của các tín đồ Phật giáo Ấn Độ
bằng những lời kêu gọi trong mỗi thời thuyết pháp ở Ấn Độ: “Phật giáo ở Ấn
Độ đã bị truy phóng một thời gian dài 800 năm Ngày nay, họ đã và đang trở
về Tổ quốc Tất cả chúng ta hãy thức tỉnh siêu vượt chế độ, giai cấp và tín điều, với mục đích duy nhất của Hội Đại Bồ Đề là đem giáo lý của Đấng Phật
đà tặng cho mọi người dân Ấn Độ”[13, tr.16] Từ Ấn Độ phong trào lan ra các nước khác như: Trung Quốc, Nhật Bản, Mianmar, Srilanca
Tại Trung Quốc khi đại đức Dharmapala viết thư liên lạc với cư sĩ Dương Nhất Sơn để mời cộng tác vào năm 1908, phong trào càng phát triển mạnh mẽ Bên cạnh Dương Nhất Sơn còn có Âu Dương Tiệm, Mai Quan Hy, Thích Nhân Sơn cùng chung lo Phật sự Cư sĩ Dương Nhất Sơn đã thiết lập
Kỳ Hoàn Tịnh Xá, triệu tập những học giả nghiên cứu Phật học bằng Hán văn, Anh văn và Pali Nhiều cơ sở hạ tầng được xây dựng, nhiều hiệp hội ra đời, như năm 1912 hòa thượng Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương tiếp sau
đó có các hội khác ra đời như: Tăng già giáo dục, Phật giáo hợp tiến, Phật giáo tổng hội, Phật giáo liên hiệp Bên cạnh thành lập các Phật học viện, các giảng đường truyền bá Phật pháp thì nhiều tạp chí Phật giáo của các nhóm nhiên cứu Phật học cũng được xuất bản khắp Trung Quốc nhằm hoằng dương
Phật pháp như: Phật học tùng báo, Hải triều âm, Tịnh nghiệp nguyệt san, Phật giáo tân văn được phát hanh rộng rãi Hòa thượng Thái Hư không chỉ
chủ giảng tại Phật học viện Vũ Xương mà còn là chủ nhiệm của tờ báo “Hải triều âm”, một tạp chí rất có tiếng trong việc xiển dương Phật pháp có ảnh hưởng và uy tín lớn không chỉ cho Phật giáo Trung Quốc mà cả cho Phật giáo
Trang 27các nước lân bang như Nhật Bản, Việt Nam và sang tận Âu Mỹ trong việc chấn hưng Phật giáo
Tại Nhật Bản, dưới thời Duy Tân Minh Trị Thiên Hoàng (1868 – 1912), Phật giáo cũng có một số đổi mới như: Về nhân sự trong giáo đoàn quy định chỉ có hai thành phần là thanh tăng và tân tăng Thanh tăng thì không lập gia đình, còn tân tăng thì được lập gia đình Do thế, tại xứ sở mặt trời mọc lúc này, tỷ lệ thanh tăng chỉ có 10%, trong khi đó lực lượng tân tăng chiếm 90% Về tổ chức, Phật giáo Nhật Bản lúc này chỉ có hai tông phái: Thiền tông và Tịnh độ Chơn Tông Đó là hai tông phái lớn nhất của Phật giáo Nhật Bản hiện nay
“Những hoạt động tích cực để chấn hưng Phật giáo của các nhân vật Phật giáo xuất chúng từ Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc đã tác động đến các nước châu Á khác như: Miến Điện, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Việt Nam v.v Phong trào đổi mới Phật sự từ các nước này cũng được diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả Có thể nói, phong trào chấn hương Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ từ phong trào chấn hưng Phật giáo Trung Quốc, đặc biệt là những tư tưởng cải cách Phật giáo của hòa thượng Thái Hư”[13, tr.16]
Như vậy có thể thấy đầu thế kỉ XX phòng trào Chấn hưng Phật giáo diễn ra rất sôi nổi tại một số nước Châu Á và tất cả những nơi chịu ảnh hưởng của Phật giáo
Trang 28Chương 2: SỰ THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI NAM KỲ
NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC (1931 – 1945)
2.1 SỰ THÀNH LẬP HỘI NAM KỲ NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC
2.1.1 Vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí quốc ngữ những năm 20 của thế kỷ XX
Vào những năm 20 của thế kỷ XX phong trào Chấn hưng Phật giáo tại các nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Xrilanca… đã có ảnh hưởng rất lớn đến công cuộc Chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam Từ những năm 1920, công cuộc vận động Chấn hưng Phật giáo trở nên rất sôi động hơn bao giờ hết
và công cụ được các nhà sư dùng để kêu gọi phong trào chính là báo chí Ngay từ những năm 1923-1924 và nhất là từ năm 1926 trên báo chí xuất hiện khuynh hướng muốn “canh tân và chấn hưng Phật giáo” cho phù hợp với những điều kiện của xã hội, nhưng vấp phải sự cản chở của chính quyền thực dân
Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn, từ số 59 ra thứ sáu ngày 5.10.1923 đến số 62 ra ngày 12.10.1923 đăng chuyên đề “Lược khảo cách tu trong Phật giáo” có có nội dung tiến bộ của Viên Hoành gồm: 1 Bổn đạo mà
không hiểu đạo; 2 Đẳng cấp; 3 Quyền hành; 4 Trường kỳ (là chủ đề cho
thầy chùa tứ phương đến mà chịu khổ hạnh) Từ tháng 1.1924, Đông Pháp thời báo đăng tiếp loạt bài Phật giáo lược khảo Số 100 ra ngày 22.1.1924 đăng bài ảnh hưởng của bài “Ảnh hưởng của bài Phật giáo lược khảo”…
Chính những bài báo nói về Chấn hưng Phật giáo xuất hiện đầu những năm
1920 là bước đệm để mười năm sau phong trào này trở nên lớn mạnh trong cả nước, trở thành một cuộc “cách mạng” Phật giáo ở Việt Nam
Từ năm 1927, các tờ báo, tạp chí về Phật giáo liên tục đăng tải những bài viết có nội dung Chấn hưng Phật giáo cũng như cổ vũ phong trào này phát
Trang 29triển mạnh mẽ từ Bắc đến Nam, các vị cao tăng, trụ trì cùng nhau viết báo,
cùng nhau bàn luận về cái “Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà”, có thể kể đến
một số nhà sư rất tích cực viết bài như: Nam Hải, Thiện Chiếu, Tử Khiêu Biệt
Tự Lai, Thiện Tòng, Tiêm Hồng, Tâm Ứng, Tâm Hải, Mộng Hoa, Tỷ khiêu Thanh Chuyên, Thanh Quán Một số tờ báo hay đăng tải nội dung cải cách
về Phật giáo như: Khai Hóa Nhật Báo, Đông Pháp thời báo, Báo Đông Pháp, Thực Nghiệp Dân Báo, Báo Công Luận
Báo Đông Pháp xuất bản tại Hà Nội đăng tải một số bài về Phật giáo ở
Á Đông Tờ Đông Pháp thời báo do Nguyễn Kim Đính làm Chủ nhiệm, xuất bản ở Sài Gòn số 529 (5.1.1929) đăng bài “Nên chấn hưng Phật giáo ở nước nhà” của Nguyễn Mục Tiên kêu gọi Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà trước sự phát triển mạnh mẽ của đạo Cao Đài ở Nam Kỳ Đông Pháp thời báo số 533 (14.1.1927) đăng bài “Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà” của sư Thiện Chiếu
trụ trì chùa Linh Sơn, Sài Gòn ủng hộ lời kêu gọi Chấn hưng Phật giáo của Nguyễn Mục Tiên và đề ra chương trình gồm ba điểm: 1, Lập Phật học báo quán để tuyên truyền Phật lý, bài trừ mê tín; 2, Lập Phật gia công học hội để đào tạo những bậc có tư cách đúng đắn để truyền giáo; 3, Dịch kinh ra tiếng Việt
Khai hóa nhật báo (người sáng lập là nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi, chủ nhiệm kiêm chủ bút Lê Sĩ Tốt) và báo Đông Pháp (ra thứ ba, năm,
bảy do P.Mazets làm chủ nhiệm) ra ngày 16.1.1927 đăng bài “Chấn hưng Phật giáo” của Tỷ khiêu tự Lai trụ trì chùa Tiên Lữ (Chùa Hang, Thái
Nguyên) Ông đề nghị thành lập Việt Nam Phật giáo Hội cho cả ba miền và đưa ra chương trình Chấn hưng gồm ba điểm: 1, Lập giảng đàn trong các chùa
để giảng kinh, giảng sách Phật cho các nhà thiện tín; 2, Mượn các nhà văn sĩ thông Hán học dịch kinh sách Phật bằng chữ Hán ra quốc văn; 3, Mượn các nhà Pháp học dịch kinh sách Phật bằng chữ Pháp ra quốc ngữ; 4, Lập ra trong
Trang 30mỗi chùa một thư viện; 5, Lập ra ở mỗi cạnh chùa một nhà nuôi kẻ khó cho làm các công việc; 6, Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi người tàn tật và nhà phát thuốc cho kẻ đau ốm; 7, Lập ra ở cạnh mỗi chùa một nhà nuôi trẻ mồ côi
Ngày 1.2.1927, tờ Khai hóa nhật báo và Đông Pháp cùng đăng bài của
sư Tiệm Hồng với nhan đề “Phật giáo nên chấn hưng như thế nào?” Sau khi
nêu lại chương trình bảy điểm của sư Tâm Lai, Tiệm Hồng đã ca ngợi việc
Chấn hưng Phật giáo do Tâm Lai khởi xướng: “Thật là một công việc tối tân phát hiện ra tự một vi tu hành xưa nay người vẫn chê là chỉ biết tụng kinh niệm Phật Ngờ đâu một vị pháp tăng mà còn có cái ngưỡng vọng cải cách Phật giáo, rồi đem nhà chùa giúp vào việc công ích xã hội, huống chi là ta nay có người khởi xướng, ta lại nỡ thờ ơ một việc có ảnh hưởng to cho hậu vận quốc ư?” [6, tr.40]
Ngày 3.2.1927, báo Đông Pháp đăng bài trả lời của sư ông Lai “Phật giáo có nên chấn hưng không?” Từ ngày 10.2.1927 đến 20.2.1927, Khai hóa nhật báo đăng chín bài của sư ông Lai nói về vấn đề Chấn hưng Phật giáo
Trong các bài viết của mình sư ông Lai lần lượt đề xuất chương trình chấn hưng 3 điểm, 7 điểm và 10 điểm1 Sư ông có nhấn mạnh rằng trong 10 điểm
mà sư ông đề xuất chỉ cần thực hiện được 5 điểm “cũng đủ yên ủy” , và sư ông cũng bày tỏ nỗi thất vọng khi không có ai “họa” lại chương trình mà ông
về việc lập ra cuộc y tế trong các chùa; 8 Nói về lập nhà bảo cô; 9 Nói về lập ra nhà nuôi
kẻ khó;10 Nói về dạy nữ công cho con gái thiện tín
Trang 31Sau đó, suốt từ tháng 2 cho đến tháng 9.1927 các báo Khai Hóa, Đông Pháp, Thực nghiệp đăng các bài cổ súy cho công cuộc Chấn hưng Phật giáo
của các sư Tâm Lai (Thái Nguyên); Tâm Ứng, Tâm Thái (Dư Hàng, Hải Phòng), Nguyên Ân (Phương Lăng, Thủy Nguyên, Kiến An), Thanh Quán (Thường Tín, Hà Nội), Thanh Chuyên (Đông Dư, Bắc Ninh), Thanh Quang (Thái Bình) và các cư sĩ Tiệm Hồng, Mộng Hoa, Bất Tài Tử, Phục Hạ (người Nhật Bản ở Việt Nam 15 năm)
Hưởng ứng lời kêu gọi của sư ông Lai, sự cụ Nguyên Ân trụ trì chùa Phương Lăng để khởi làm nhà phúc đường cho xã Vĩnh Bảo ngay tại chùa và
đem chương trình ấy đăng trên báo Khai Hóa và Đông Pháp “Dịch xong kinh Báo Ân, sự tích Phật Thích Ca, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp Hoa, cụ phàn nàn: Ngỡ rằng việc Chấn hưng Phật giáo sẽ được nhiều người tán thành nhưng lời tuyên ngôn nói đi nói lại mà nào tăng giới, nào tín đồ thật chẳng có lấy một người đồng chí”[5, tr.18]
Năm 1927, nhân lễ khánh thành việc tu tạo chùa Tiên Lữ sư ông Lai đã mời thập phương tín hữu đến dự Tại lễ hội sư ông Lai đã tuyên truyền cổ động cho việc Chấn hưng Phật giáo
Theo bài “Câu chuyện nhà sư” của tờ Khai hóa nhật báo thì sư Thanh
Quán lúc đó đang trụ trì chùa Thường Tín cũng là một nhân vật tích cực cổ động chấn hưng Ông giỏi tiếng Hán và tiếng Pháp, biết tiếng Phạn, tháng
8/1927 ông đã dịch xong bộ kinh “Hiền Ngu” và đưa đến báo Khai Hóa đề nghị đăng Nói về cuộc đàm đạo giữa ông và Ban Biên tập, báo Khai Hóa viết: “Nói đến chuyện Chấn hưng Phật giáo thì Thanh Quán Thượng nhân rất lấy làm khâm phục chương trình của Tỷ khiêu tự Lai người đã bày giãi Thượng nhân nói rằng: Nay mai người muốn xuất bản xong mấy bộ kinh sẽ khởi sự cổ động vào báo cùng sư ông Tâm Nhạ ở chùa Phương Lăng (Thủy Nguyên, Kiến An) và sư ông Lai ở Thái Nguyên hợp tác lại cho nên công quả,
Trang 32rồi sẽ vào Sài Gòn cùng tìm ông Thiện Chiếu Song còn phải in kinh in sách
để cho thập phương tăng chúng tín đồ biết đến tấm lòng cao cả của Thượng nhân đã Ý kiến ấy khả ái thay!” [5, tr.18]
Trên các tờ Khai hóa, Đông Pháp, đăng nhiều bài Chấn hưng Phật giáo
của nhà văn Nguyễn Mạnh Bổng, cư sĩ Mộng Hoa, Nam Hải, các sư Thanh Trọng, Thanh Chuyên… Sau khi có những bài nghị luận của sư ông Lai đăng
trên các tờ Khai hóa, Đông Pháp, Thực nghiệp, một số thiện tín ở Hà Nội gom tiền thành một quyển “Chấn hưng Phật giáo”, dày 86 trang do Long
Quang ở phố Hàng Bông, Hà Nội in ấn phát hành Tháng 5.1927, được tin phong trào Chấn hưng Phật giáo ngoài Bắc có người khởi xướng và một số sơn môn ủng hộ thực hiện, được báo chí cổ động, hòa thượng Khánh Hòa cử
sư Thiện Chiếu ra Bắc liên lạc với các tổ đình ngoài Bắc để xúc tiến thành lập Tổng hội Phật giáo (tức thông nhất Phật giáo ba miền) Sư Thiện Chiếu ra Hà Nội đến chùa Bà Đá (Linh Quang tự) yết kiến hòa thượng Đỗ Văn Hỷ rồi xin phép lên động Tiên Lữ để gặp sư Tâm Lai Theo pháp tăng Tâm Nhạ, trụ trì chùa Phương Lăng, Thủy Nguyên, Kiến An chuyến đi của sư Thiện Chiếu không thành công vì những lý do như: Lên Thái Nguyên họp mặt với sư ông Lai một đêm, sáng ra lúc lâm biệt viết sẵn đâu một cái thư mắng nhiếc sư ông Lai thậm từ rằng “đội lốt người” đến hôm sau về đến Hà Nội đem đăng ngay lên tờ báo để công kích sư ông Lai và sư Tâm Nhạ cho rằng “ấy là phá hòa hợp tăng” Lý do thứ hai là sư Thiện Chiếu “sao không thảo sẵn chương trình điều lệ đem ra công bố trên các báo Bắc Kỳ”, và khi về Nam lại “gửi thư ra lại vô lễ đem lòng nghi kỵ” về việc dịch được bốn bộ kinh Theo sư Tâm Nhạ
sư Thiện Chiếu đã chỉ lo giáo dục cho tăng đồ thôi mà bỏ không làm việc công ích Sau khi sư Thiện Chiếu trở về Nam có mang theo tạp chí Hải Triều
Âm của phong trào Chấn hưng Phật giáo Trung Quốc và cùng với các Hòa
Trang 33thượng Khánh Hòa, Huệ Quang… tiếp tục cuộc Vận động chấn hưng Phật giáo
Tháng 4.1928, trên tờ Khai Hóa, sư Thanh Quán viết một loạt bài về Chấn hưng Phật giáo như: Bàn về việc lập tùng lâm và việc dịch kinh điển; Bàn về việc lập tinh xá đề thờ Phật; Bàn về việc tô tượng và bài trí tượng Phật trong chùa; Khảo cứu về phiên dịch kinh, luât, luận Không chỉ viết báo
ủng hộ cho Phong trào Chấn hưng Phật giáo do sư ông Lai ở chùa Hang, Thái Nguyên khởi xướng mà Thanh Quán còn thực hành ngay tại chùa Trường Tín bằng những việc thiết thực như dịch kinh Địa Tạng, kinh Hiền Ngu…ra tiếng Việt, mở lớp triệu tập tăng sinh để thuyết trình về Chấn hưng Phật giáo được các nơi khâm phục Sư Thanh Trọng ở Hưng Yên viết: “Sư ông Thanh Quán chùa Tràng Tín ở Hà thành, lại đứng lên tập tăng đê Yết ma về việc “Chấn hưng” đàm luận đạo lý thật là chính đáng bởi vì người Nho học uẩn súc, Thuyền học cũng thủy áo, lại lịch duyệt các sách tân trào đương thời cũng là tái lai Bồ tát; vì đó mới phát quảng đại Bồ đề tâm như vậy” [5, tr.18-19] Tới cuối năm 1928 trên báo chí Bắc Kỳ không thấy có bài nào viết về Chấn hưng Phật giáo nữa Hơn một năm sau kể từ ngày khởi xướng, phong trào Chấn hưng Phật giáo xứ Bắc dần dần lắng xuống rồi tắt hẳn vào cuối năm 1928
Như vậy vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX phong trào vận động Chấn hưng Phật giáo trên báo chí diễn ra hết sức sôi nổi nhưng chỉ kéo dài trong thời gian ngắn, không có sự liên kết đề Chấn hưng Phật giáo giữa các vùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam Giai đoạn này có thể gọi là giai đoạn “Tiền Chấn hưng” của Phật giáo, là bước đệm để sang những năm 30 của thế kỉ XX phong trào này lan rộng từ Nam Kỳ đến Trung Kỳ rồi tới Bắc Kỳ và sau đó trở thành một cuộc “cách mạng” về Phật giáo tại Việt Nam