Tìm hiểu kinh tế ngoại thương dưới triều Nguyễn đặc biệt ở thời vua Gia Long và Minh Mạng giai đoạn 1802 đến 1840 để thấy được sự phát triển của kinh tế ngoại thương, có phải với chính s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
TRỊNH THỊ HÀ
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG Á
GIAI ĐOẠN 1802 - 1840
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS CHU THỊ THU THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG Á GIAI ĐOẠN 1802 – 1840” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, và không sao chép của bất cứ ai Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!
Hà Nội, ngày , tháng , năm
Người cam đoan
Trịnh Thị Hà
Trang 4Em cũng xin chân thành cảm ơn sự động viên, giúp đỡ từ gia đình và bạn
bè, để em có thể hoàn thành công việc nghiên cứu rất thú vị nhƣng cũng nhiều khó khăn này
Hôm nay, khóa luận đƣợc hoàn thành Do trình độ nghiên cứu và thời gian có hạn, khóa luận của em chắc chắn còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận đƣợc sự chỉ dẫn của Thầy Cô Em xin trân trọng cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 , năm 2018
Sinh viên
Trịnh Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích, nhiệm vụ phạm vi của đề tài 6
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của đề tài 8
6 Bố cục của đề tài 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG Á GIAI ĐOẠN 1802 – 1840 10
1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1802 - 1840 10 1.1.1 Tình hình kinh tế 10
1.1.2 Tình hình xã hội 13
1.2 Ngoại thương Việt Nam với các nước khu vực Đông Á trước năm 1802 15
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG Á (1802 - 1840) 27
1.1 Ngoại thương Việt Nam với các nước Đông Á dưới thời Gia Long (1802-1820) 27
2.1.1 Ngoại thương với Trung Quốc 27
2.1.2 Ngoại thương với Nhật Bản 33
2.2 Ngoại thương Việt Nam với các nước Đông Á dưới thời Minh Mạng (1820-1840) 35
2.2.1 Ngoại thương với Trung Quốc 35
2.2.2 Ngoại thương với Nhật Bản 42
Trang 6Tiểu kết chương 2 46
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC ĐÔNG Á (1802-1840) 49
3.1 Đặc điểm 49
3.2 Tác động 55
3.2.1 Tác động đến chính trị 55
3.2.2 Tác động đến kinh tế 57
3.2.3 Tác động đến văn hóa 62
3.2.4 Tác động đến xã hội 62
3.2.5 Giao thông vận tải 63
Tiểu kết chương 3 64
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam có vị trí quan trọng trong con đường giao thương ở khu vực Đông Á, luôn giữ vai vững vai trò là cầu nối giữa hai trung tâm văn minh lớn của thế giới, là Ấn Độ và Trung Quốc Nhờ có vị trí đặc biệt thuận lợi đó quan hệ ngoại thương của Việt Nam với cá nước khu vực Đông Á đã sớm được thiết lập và ngày càng phát triển Trong thời kỳ đầu của nhà Nguyễn Trung Quốc và Nhật Bản trở thành bạn hàng của Việt Nam thông qua những hoạt động giao thương trao đổi, buôn bán các loại hàng hóa
Đầu thế kỷ XIX vương triều Tây Sơn bị đánh bại bởi Nguyễn Ánh Nhà Nguyễn được thành lập, chế độ quân chủ chuyên chế ở Việt Nam ngày càng được củng cố Nhà Nguyễn không những ra đời trong một bối cảnh đặc biệt ở trong nước mà trên thế giới, tình hình có nhiều biến chuyển lớn Thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở Tây Âu đã kéo theo đó sự phát triển chủ nghĩa thực dân và giao lưu buôn bán quốc tế ngày càng được mở rộng Nhà nghiên cứu
Vũ Dương Ninh khi nghiên cứu, tìm hiểu về Đông Á những vấn đề trong lịch
sử và hiện tại đã khẳng định “chủ nghĩa tư bản ngày càng “bủa lưới” bao trùm
cả thế giới, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XIX khi chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa với sự thống trị tư bản độc quyền” [19; tr.85]
Thứ hai, lịch sử Việt Nam là một quá trình phát triển bền vững và lâu dài, từ giai đoạn đầu thành lập nước đến ngày nay, phải trải qua bao biến cố thăng trầm giữ nước Nền tự chủ dân tộc trong suốt hơn một nghìn năm, Việt Nam cũng giống như những nước phương Đông, theo mô hình nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền Chịu ảnh hưởng của chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt thời kì về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Đặc biệt
ở lĩnh vực kinh tế, ngoài các ngành nông nghiệp là chủ đạo, ngoại thương
Trang 8cũng được quan tâm và đóng vai trò đặc biệt quan trọng liên quan đến nhiều vấn đề sự hưng thịnh của một dân tộc
Kinh tế ngoại thương có vị trí quan trọng trong nền kinh tế dưới các triều đại phong kiến, từ thời nhà Lý đến vua chúa triều Nguyễn Ngoại thương có
sự biến đổi liên tục qua từng vương triều phong kiến, phản ánh xã hội đương thời, nổi bật nhiều yếu tố phát triển kinh tế Cơ sở để đánh giá những chính sách cai quản và tính chất của ngoại thương đối với giai đoạn đó, nền kinh tế ngoại thương luôn gắn liền với các yếu tố như sản phẩm hàng hóa, thuế khóa,
cơ quan giao dịch, thể lệ giao dịch hay phương tiện giao dịch, Nông nghiệp trong giai đoạn này khá đa dạng, được nhà nước quan tâm chú trọng phát triển Ngoại thương phát triển hay suy yếu đều phản ánh hay tác động đến nền kinh tế đất nước nói chung
Triều Nguyễn là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam Kinh tế ngoại thương có thể đưa một dân tộc phát triển xã hội hưng thịnh nhưng cũng đồng thời là mầm mống cho sự tan rã của chế độ phong kiến Tìm hiểu kinh tế ngoại thương dưới triều Nguyễn đặc biệt ở thời vua Gia Long và Minh Mạng (giai đoạn 1802 đến 1840) để thấy được sự phát triển của kinh tế ngoại thương, có phải với chính sách bế quan tỏa cảng ngoại thương Việt Nam lúc bấy giờ đã đóng cửa hoàn toàn, hay còn giao lưu buôn bán với cả các nước không những thuộc khu vực Đông Nam Á mà còn nhiều quốc gia ở khu vực Đông Á
Thứ ba, trong suốt quá trình phát triển lịch sử nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề kinh tế Việt Nam với khu vực Đông Á, trong suốt các thời kỳ thành lập mối quan hệ truyền thống thương mại từ thời
cổ đại đến khi thực dân Pháp tiến hành bắt đầu xâm lược Đặc biệt giao thương với triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam nói chung
và giai đoạn từ năm 1802 đến 1840 nói riêng thì chưa có một công trình nào
Trang 9toàn diện hay có hệ thống một cách hoàn chỉnh Do đó, khóa luận làm sáng tỏ những vấn đề xoay quanh mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Á, cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản có ý nghĩa đóng góp cho nền sử học nước nhà ngày càng được hoàn thiện
Để góp phần làm rõ vai trò và sự thăng trầm của một triều đại, yếu tố ngoại thương đóng vai trò không nhỏ quyết định đến nền kinh tế chung, khi đất nước ngày càng phát triển và hòa nhập với thế giới Đặc biệt khi nghiên cứu về giai đoạn phát triển ngoại thương trong thời kì phong kiến sẽ thấy được một quá trình du nhập từ bên ngoài, không chỉ có những quốc gia thân cận mà còn cả ở các khu vực phát triển khác, cụ thể là khu vực Đông Á
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn vấn đề “Ngoại thương Việt
Nam với các nước khu vực Đông Á giai đoạn 1802 – 1840” làm đề tài
nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kinh tế ngoại thương dưới chế độ phong kiến luôn được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm, phân tích và tổng hợp để đánh giá một cách khách quan nhất về các sử liệu thông qua đó phục dựng diện mạo một phần ngoại thương Việt Nam dưới vương triều phong kiến Một số nghiên cứu trong nước đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề liên quan đến kinh tế ngoại thương triều Nguyễn
Đối với công trình nghiên cứu thế giới có Taboulet.G (1955) “La geste
Francaise en Indochine Histoire pav les textes de la France en Indochine des origines a 1914” phân tích những phương thức trao đổi và buôn bán hàng hóa
ở Đàng Trong với các nước quanh khu vực Đông Á
Và theo Borri, Christophoro (1998) “Xứ Đàng Trong năm 1921” cũng
nghiên cứu về cách giao thương với lái thương các nước hội tụ ở Hội An, nơi buôn bán sầm uất nhất lúc bấy giờ
Trang 10Ở trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu về kinh tế của triều Nguyễn Điển hình như nột số tác giả sau: Với tác phẩm“Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn” (1997) của tác giả Đỗ Bang khái quát phần nào về quá trình phát triển kinh tế dưới triều Nguyễn, các lái buôn cùng với những mặt hàng được trao đổi phong phú, đa dạng
Cũng như tác giả Vũ Dương Ninh (2004), “Đông Á- Đông Nam Á những
vấn đề lịch sử và hiện tại” tìm hiểu về sự chuyển biến về kinh tế, văn hóa ở
khu vực Đông Á trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX, mối quan hệ giao lưu trao đổi buôn bán từ thế kỷ X đến XV của Đại Việt với Trung Hoa, làm sáng tỏ sự suy vong trong ngoại thương của nước ta ở một thời gian dài
Cũng theo như tác giả Trần Nam Tiến (2006) “Ngoại giao giữa Việt
Nam và các nước phương Tây dưới triều Nguyễn (1802 – 1858)” nói về hoạt
động ngoại giao của triều Nguyễn với các nước phương Tây từ đó đánh giá thỏa đáng hơn về những đóng góp và hạn chế của triều Nguyễn trong chính sách đối ngoại, cụ thể là quan hệ với các nước phương Tây Một yếu tố quan trọng trong vấn đề ngoại giao đó là ngoại thương, tác giả đề cập đến tình hình kinh tế ngoại thương qua con đường ngoại giao không chỉ với các nước phương Tây mà còn có một số nước phía Đông Á
Theo nhà sử học Dương Trung Quốc (2007) “Những vấn đề lịch sử triều
Nguyễn” đã tổng hợp lại quá trình gây dựng lại vương triều Nguyễn từ thời
Chúa Nguyễn, đặc biệt tác giả khái quát quá trình lịch sử phát triển đất nước của các vua chúa Nguyễn qua các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội Trong
đó, có nhắc đến giai thoại các vị vua làm cơ sở xây dựng lên một triều đại
Còn tác phẩm “Việt Nam trong thế giới Đông Á một cách tiếp cận liên
ngành và khu vực học” (2011) của tác giả Nguyễn Văn Kim, lại đi sâu nghiên
cứu tình hình kinh tế ngoại thương của các nền văn minh xưa trong khu vực, đáng lưu ý là sự đi sâu phân tích về sự giao lưu, phát triển kinh tế ở giai đoạn
Trang 11thế kỷ XVI, XVII và thế kỷ XVIII, đây là thời kỳ hưng thịnh nhất của kinh tế thương mại của nước ta
Ngoài ra có những luận án tiêu biểu nghiên cứu về đề tài kinh tế ngoại thương, tiêu biểu như luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Tùng
(2014) với đề tài “Giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia và vùng lãnh
thổ thuộc khu vực Đông Bắc Á (1897-1945); Tác giả đã tổng hợp và phân tích
những vấn đề về ngoại thương giữa Việt Nam và các nước thuộc khu vực Đông Bắc Á, nhận xét về đặc điểm cùng những tác động của ngoại thương trong thời kỳ với sự phát triển chung của đất nước
Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Dũng (2011) với đề tài “Quá trình
xâm nhập của Pháp vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ nguyên nhân và hệ quả” đi sâu nghiên cứu về những hoạt động giao thương,
XIX-trao đổi kinh tế hàng hóa ở khu vực Đàng Trong và Đàng Ngoài với thương nhân nước ngoài, điển hình là sự xâm nhập của Pháp qua con đường ngoại thương, hay đặc biệt với Trung Quốc và Nhật Bản ở khu vực Đông Á
Kinh tế ngoại thương Việt Nam trong thời kì phong kiến được nhiều tác giả nghiên cứu qua các công trình và nhìn chung đều đi sâu vào tìm hiểu tình hình ngoại thương thông qua các phương diện như chính sách ngoại giao, hình thức buôn bán, sản phẩm lưu thông, điều kiện địa lí và vai trò của ngoại thương đối với nền kinh tế Đặc biệt trong việc nghiên cứu về ngoại thương dưới triều Nguyễn với các nước Đông Á, trong đó có hoạt động giao lưu buôn bán cùng với Nhật Bản và Trung Hoa Đi sâu vào khai thác mối giao thương dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng với các nước trong khu vực Đông Á,
cụ thể là Nhật Bản và Triều Tiên trên phương diện mới, dựa trên cơ sở các nguồn nghiên cứu khác để có cái nhìn rõ nét hơn về hình ảnh Việt Nam trong thời kì triều Nguyễn có thực sự đóng hẳn cánh cửa giao lưu ra bên ngoài hay chỉ giao thương với các nước phương Tây
Trang 123 Mục đích, nhiệm vụ phạm vi của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Bằng việc nghiên cứu về giao thương giữa Việt Nam với các nước khu vực Đông Á giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1840, luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn về bức tranh tổng quan của ngoại thương Việt Nam trong triều đại phong kiến cuối cùng của dân tộc Trên cơ sở đó, khóa luận đánh giá một cách khách quan về mốt số đặc điểm và tác động của giao thương Việt Nam với Đông Á, cụ thể là tình hình ngoại thương với Nhật Bản và Trung Quốc, từ
đó đúc kết những bài học kinh nghiệm cho việc phát triển nền ngoại thương bền vững cho công cuộc đổi mới, cùng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trên nhiều bình diện
Xét những lý do nêu trên, người viết chọn vấn đề “Ngoại thương Việt Nam với các nước khu vực Đông Á giai đoạn 1802 – 1840” làm đối tượng nghiên cứu của khóa luận
3.2 Nhiệm vụ đề tài
Thứ nhất, khóa luận làm rõ hơn những yếu tố, cơ sở tác động đến quan
hệ giao thương giữa Việt Nam với các nước Đông Á từ năm 1802 đến năm 1840;
Thứ hai, khóa luận làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giao lưu, buôn bán
giữa Việt Nam dưới thời phong kiến với một các nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản và Trung Quốc;
Thứ ba, khóa luận làm sáng tỏ đặc điểm và tác động của quan hệ thương
mại Việt Nam – Đông Á (1802–1840)
Trên cơ sở những tài liệu trên nghiên cứu các vấn đề liên quan đến yếu
tố thương mại Việt Nam và khu vực Đông Á với Trung Quốc và Nhật Bản, khóa luận sẽ rút ra những đặc điểm trong mối quan hệ ngoại thương giữa ba nước trong giai đoạn từ năm 1802 đến 1840
Trang 133.3 Phạm vi đề tài
*Về thời gian: Đề tài nghiên cứu vấn đề quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản và Trung Quốc thuộc khu vực Đông Á trong thời gian 38 năm, tính từ khi vua Gia Long thành lập vương triều Nguyễn đến đời vua Minh Mạng (năm 1840)
*Về không gian: Trước hết là chủ thể giao thương là Việt Nam trong những năm 1802 đến 1840 với các nước khu vực Đông Á
Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề trong phạm vi của khóa luận
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Khóa luận được triển khai dựa trên việc khai thác và xử lý ở các mức độ khác nhau của các nguồn tài liệu sau đây:
- Nguồn tài liệu khai thác từ tác phẩm của lãnh tụ V.I.Lênin bàn về ngoại thương, trong các tác phẩm, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sự kết hợp ngoại giao với các nước ở khu vực Đông Á, vừa cung cấp các cứ liệu lịch sử chân thực, chính xác và vừa giúp tác giả củng cố nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và chủ nghĩa duy vật lịch sử khi thực hiện
đề tài nghiên cứu
- Nguồn tài liệu lưu trữ tại Thư viện quốc gia Việt Nam bao gồm các luận văn, các sách nghiên cứu về vấn đề giao thương của Việt Nam với các nước khu vực Đông Á nói chung và Trung Quốc với Nhật Bản nói riêng Đây
là nguồn tư liệu có giá trị quan trọng nhất được tác giả khai thác, xử lí và vận dụng triệt để trong việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho khóa luận
Các tài liệu này đã giúp cho tác giả có một cái nhìn tổng thể về hướng nghiên cứu trong mối liên hệ và tương quan với các vấn đề chính trị, xã hội trong những năm 1802 – 1840
Trang 144.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài có sử dụng phương pháp nghiên cứu của ngành học là phương pháp tổng hợp kết hợp với phương pháp lịch sử và logic để giải quyết những vấn đề cơ bản đặt ra
Khi sưu tầm và xử lý tài liệu, tác giả đã tiến hành giám định, phê phán và xác minh độ tin cậy của nguồn tư liệu nghiên cứu
Bằng nguồn tư liệu có được, tác giả đã vận dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tư liệu và kết hợp với hai phương pháp chủ đạo là phương pháp logic và phương pháp lịch sử nhằm tổng quát toàn cảnh về ngoại thương Việt Nam với các nước khu vực Đông Á giai đoạn 1802 – 1840
5 Đóng góp của đề tài
Nội dung của khóa luận nhằm đóng góp một phần nhỏ vào trong kho tàng nguồn nghiên cứu lịch sử nói chung và nghiên cứu về kinh tế ngoại thương dưới triều Nguyễn nói riêng Hoàn thiện một góc nhìn mới khi nền ngoại thương dưới thời vua Gia Long và vua Minh Mạng trước đây chỉ biết đến các nước phương Tây, đề tài tập trung làm rõ hơn quan hệ ngoại thương với những nước thuộc khu vực Đông Á, cụ thể là Nhật Bản và Trung Quốc
- Đề tài góp phần làm rõ những tác động đến tình hình chung trong giai đoạn 1802 đến 1840 qua quan hệ ngoại thương với các nước khu vực Đông Á,
cụ thể là Trung Quốc và Nhật Bản Đưa ra những nhận xét về đặc điểm và tác động tích cực, tiêu cực về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, trong hoạt động kinh tế giao lưu trao đổi hàng hóa của Việt Nam với các nước khu vực Đông Á
- Với sự phát triển kinh tế và đổi mới không ngừng trong nước như hiện nay, việc nghiên cứu lịch sử dân tộc về kinh tế ngoại thương có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
Trang 15- Đồng thời, phát hiện những nguồn tài liệu và quan điểm mới khi nghiên cứu về ngoại thương Việt Nam nói chung, trong giai đoạn 1802 đến
Trang 16Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC KHU VỰC
ĐÔNG Á GIAI ĐOẠN 1802 – 1840
1.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 1802 - 1840
1.1.1 Tình hình kinh tế
* Nông nghiệp
Việt Nam trong thời kì phong kiến, nền kinh tế chủ chốt luôn là nông nghiệp, từ triều đại Lý, Trần đến nhà Nguyễn đều chú trọng phát triển những vấn đề như ruộng đất, nông cụ, cây trồng Trong giai đoạn từ năm 1802 đến
1840 là thời gian trị vì của vua Gia Long và vua Minh Mạng tình hình kinh tế nước ta có những chuyển biến rõ rệt, đặc biệt trong bối cảnh chính trị dưới thời vua Gia Long còn chưa ổn định khi mới thống nhất lãnh thổ đất nước Nền kinh tế nông nghiệp mới dần đi vào ổn định và chưa có sự phát triển hoàn chỉnh hơn dưới thời vua Minh Mạng
Nhìn chung trong thời kì này kinh tế nông nghiệp vẫn theo phương thức quen thuộc đó là lập đồn điền khẩn hoang và khuyến khích nhân dân khai hoang, phục hóa mở rộng diện tích canh tác
“Ngoài ra, triều Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự động tổ chức khai hoang theo nhiều phương thức khác nhau, kết hợp với việc tích cực phục hóa Có lẽ nhờ đó mà tổng diện tích ruộng đất thực trưng ngày càng tăng lên: năm 1847 đã là 4.273.013 mẫu” [23; tr.448]
Gia Long đã ban hành phép quân điền vào năm 1804, theo đó tất cả mọi người đều được chia ruộng công ở xã, trừ các quý tộc vương tôn được cấp 18 phần, quan lại nhất phẩm được cấp 15 phần và cứ tuần tự hạ mức cho đến dân nghèo được 3 phần Không những vậy, theo lệ ruộng đất được chia trước cho các quan chức có phẩm hàn, sau đến lính và cuối cùng mới đến xã dân
Trang 17Đến đời Minh Mạng “chế độ quân điền cũng được đưa vào Nam Kì nhưng không được bao nhiêu” [23; tr.447]
Cùng với đó là vấn đề trị thủy và thủy lợi được làm xuyên suốt thời Nguyễn, khi nước ta hằng năm phải gánh chịu nhiều trận lũ làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và cuộc sống của nhân dân Dưới thời vua Gia Long đã phải chứng kiến một nạn lụt do vỡ đê Bắc Thành gây ra, thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề trị thủy nhà nước đã cấp kinh phí cho địa phương để làm việc này nhưng tình trạng vỡ đê, lụt lội vẫn diễn ra
“Năm 1833, Minh Mạng lại hiểu dụ các quan lại kiến nghị về phương pháp trị thủy, thế nào cho nước lớn thuận dòng chảy xuôi, đê sông được bền vững mãi mãi” [23; tr.449]
Vấn đề trị thủy dưới triều Nguyễn luôn được đưa ra bàn bạc nhưng nhìn chung chỉ giải quyết được tạm thời mà chưa có biện pháp triệt để Để bù đắp lại người dân chỉ biết sử dụng kinh nghiệm trồng trọt của mình để cải thiện cây trồng, tận dụng sự vận động của đất đai và thời tiết đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm vận dụng sau này
“Nhiều loại cây lương thực như khoai các loại, sắn, ngô, kê, bo bo, đậu, Kinh tế vườn phát triển, đặc biệt ở Nam Kì Hàng loạt loại rau, củ, bầu bí, hoa quả được trồng, trong đó có một số giống nhập khẩu như nho, cà phê, hồ tiêu, đậu Hà Lan, rau xà lách, Các loại cây công nghiệp như dâu, bông, đay, thuốc lá, mía, cói, được trồng rộng khắp” [23; tr.450]
Nông nghiệp nước ta trong thời kì này có sự chuyển biến, năng suất được cải thiện hơn trước, đa dạng về chủng loại giống cây trồng được nhà nước quan tâm và mở rộng diện tích canh tác bằng hình thức khai hoang cùng với đó là công tác trị thủy hằng năm mặc dù còn nhiều bất cập, tuy nhiên cũng
đã giải quyết phần nào về vấn đề cấp nước hay thiên tai
*Công thương nghiệp
Trang 18Nhà Nguyễn vẫn chú trọng phát triển thủ công nghiệp, chịu trách nhiệm chế tạo mọi thứ cần dùng cho bộ máy vua quan, hoàng gia, đóng thuyền, Đây là một bộ phận đặc biệt quan trọng, chịu trách nhiệm nhiều cho nhà nước Ngoài ra vua Gia Long chú trọng đến việc đóng tàu thuyền, ti thuyền chính chịu trách nhiệm đóng các loại thuyền chiến, thuyền công Du nhập các phương thức chế tạo của nước ngoài phổ biến do thợ nước ta học hỏi và làm theo một cách chính xác về kĩ thuật
“Việc tiếp xúc với công nghiệp cơ khí phương Tây đã kích thích tinh thần sáng tạo của người thợ thủ công Việt Nam trong các công xưởng Năm
1834, được sự đồng ý của Minh Mạng, Nguyễn Viết Túy đã chế tạo thành công xe “Thủy hỏa kí tế”, dùng sức nước nghiền thuốc súng” [23; tr.460]
Bộ phận công nghiệp quan trọng do nhà nước quản lí là khai mỏ, đây là một lĩnh vực liên quan đến sự phát triển kinh tế về sau, mang lại lợi nhuận cho thực dân Pháp trong hai cuộc khai thác thuộc địa ở nước ta Việc khai thác mỏ được nhà nước quản lí với 139 mỏ và phân thành 4 lực lượng Các nghề thủ công ở nông thôn và thành thị tiếp tục phát triển, tỷ lệ số người làm nghề thủ công ngày càng tăng lên, những nghề làm đồ gốm, sành sứ, dệt vải, lụa, làm đồ vàng bạc, làm giấy, làm đường phát triển khắp nơi.Các hình thức làm thủ công cũ dường như không còn nữa mà thay vào đó gắn liền với nông nghiệp Bên cạnh đó, nhà nước còn thiếu khuyến khích, giữ độc quyền nhiều sản phẩm, người thợ thủ công vừa phải nộp thuế sản phẩm lại vừa phải đóng thuế thân, do đó thủ công nghiệp có phần bị kìm hãm
Về thương nghiệp nhà Nguyễn với chủ trương đóng cửa, buôn bán với thương nhân có phần suy giảm, tuy nhiên dưới thời vua Gia Long vẫn duy trì thương mại với một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước phương Tây và đến đời vua Minh Mạng việc buôn bán được kiểm soát chặt chẽ hơn Nội thương có phát triển nhưng bị nhà nước kìm hãm
Trang 19“Chính sách ức thương của nhà nước đã hạn chế sự phát triển của thương nghiệp Chính sách thuế khóa và thể lệ kiểm soát nghiêm ngặt và phức tạp Gạo từ Nam Định chở vào Nghệ An phải nộp thuế 9 lần Nhà nước đặt lệ trưng dụng thuyền buôn tư nhân, theo quy định năm 1807 “phàm thuyền vận tải, cứ một năm chở của công thì một năm đi buôn” Năm 1816 quy định lại:
“thuyền đi buôn thì phải chịu thuế, chở cho nhà nước thì được miễn” Có năm như năm 1834, do sợ phong trào nông dân lan rộng, Minh Mạng ra lệnh cấm nhân dân họp chợ” [23; tr.453]
Nhà nước đặt ra nhiều thứ thuế theo các mặt hàng
Thương nghiệp trong giai đoạn này không có bước tiến vượt trội, các lái buôn của Nhật Bản và Trung Quốc đã tìm cách tiêp cận thị trường Việt Nam
để trao đổi buôn bán hàng hóa Sự phát triển hạn chế của công thương nghiệp
ở nửa đầu thế kỷ XIX dã không tạo nên được những điều kiện cần thiết cho sự chuyển biến xã hội của Việt Nam
1.1.2 Tình hình xã hội
Xã hội phong kiến luôn chia thành hai giai cấp lớn là thống trị và bị trị, dưới thời nhà Nguyễn vẫn duy trì theo hình thức cũ Gia cấp thống trị luôn bao gồm vua, quan, thơ lại trong hệ thống chính quyền và giai cấp địa chủ Số lượng trong hoàng tộc ngày càng đông đảo, có đặc quyền, các dinh thự, ruộng vườn rộng rãi và được một hệ thống cơ quan, đứng đầu là phủ Tôn nhân, chăm lo, bảo vệ
Giai cấp bị trị bao gồm toàn bộ nông dân, thợ thủ công, thương nhân và một số dân nghèo thành thị Họ hầu như được hưởng ít quyền lợi và phải phục tùng tầng lớp quý tộc, phải đóng nhiều thứ thuế, nông dân thì dựa vào ruộng nhưng cũng phụ thuộc thời tiết, do thiên tai và mất mùa thường xuyên đã đe dọa cuộc sống của người dân nghèo Ngoài ra còn xảy ra nhiều bệnh dịch, đặc biệt là dịch tả phát sinh gây cho nhiều người chết
Trang 20“Đời sống nhân dân: Tuyệt đại đa số cư dân là nông dân, dân bản mường, plây ở vùng dân tộc ít người Họ có ít nhiều ruộng đất để cày cấy, sinh sống Thêm vào đó là khẩu phần ruộng công nhỏ nhoi vừa xa, vừa xấu Nhiều người phải chạy vạy buôn bán ở các chợ làng, chợ huyện hoặc làm thủ công, gánh vác thuê cho các nhà buôn bán Họ là lớp người gánh chịu mọi tai họa của tự nhiên, mọi thiệt thòi, bất công của xã hội” [23; tr.454]
Và khổ hơn nhân dân phải gánh chịu thêm những nạn dịch bệnh, cướp đi hàng nghìn sinh mạng
“Năm 1840 dịch tả lại phát sinh ở Bắc Kì làm chết 21.000 người, riêng Hải Dương chết 23.000 người, Bắc Ninh chết 21.000 người Trong hai năm 1849-1850, dịch tả lại hoành hành từ Bắc chí Nam, số người chết lên đến 589.460 người” [23; tr.456]
Nhiều phong trào đấu tranh của nhân dân nổ ra, những cuộc nổi dậy chống triều Nguyễn đã bùng lên từ rất sớm, từ vùng đồng bằng đến các cuộc khởi nghĩa của những dân tộc ít người ở miền núi Phong trào đấu tranh của nhân dân chống chính quyền và giai cấp thống trị ở nửa đầu thế kỷ XIX đã diễn ra suốt từ đầu thời Nguyễn cho đến những năm 50 chứ không mang tính giai đoạn như các thế kỷ trước Các phong trào đã lôi cuốn toàn bộ những người
bị trị, từ nông dân, thợ thủ công, nho sĩ, quan lại cấp dưới, miền xuôi đến binh lính, các dân tộc ít người và ở mỗi vùng mức độ diễn ra cũng khác nhau
Nhà Nguyễn cũng tìm mọi cách để cứu đói bằng cách mở các kho thóc phát chẩn, khai hoang mở rộng diện tích canh tác, thay đổi cây trồng, rất nhiều người đã tham gia vào các cuộc khẩn hoang lớn để giúp cuộc sống ổn định hơn Xét chung tầng lớp bị trị vẫn nằm dưới sự kiểm soát của tầng lớp thống trị, mọi quyền lợi đều nằm trong tay vua quan và địa chủ, nông dân và
và thương nhân cùng thợ thủ công đều chịu vất vả, khó khăn trong mưu sống Như vậy xã hội Việt Nam đến trước năm 1840 hầu như không có sự biến
Trang 21chuyển mạnh, vẫn giữ theo hình thức cai trị cũ, tình hình chưa có sự rối ren hay phức tạp Các chính sách kinh tế - xã hội của nhà Nguyễn không làm dịu bớt những mâu thuẫn sâu sắc trong xã hội kể cả ở nửa sau của thế kỷ XIX, sự chuyển biến hầu như chỉ mờ nhạt, không có bước tiến rõ rệt hay đà phát triển như ở thế kỷ XVII Điều đó cho thấy sự bất ổn trong chính trị có thể dẫn đến nhiều hệ lụy khác của đất nước hay nói cách khác kìm hãm sự phát triển của một quốc gia
1.2 Ngoại thương Việt Nam với các nước khu vực Đông Á trước năm 1802
* Ngoại thương với Trung Quốc từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
Trong suốt thế kỉ từ XVI đến cuối thế kỉ XVII kinh tế ngoại thương của Đại Việt hết sức phát triển và đặc biệt thời kì này việc giao thương với các nước phương Tây và một số quốc gia ở Đông Á diễn ra nhộn nhịp
“Trong sự chuyển biến chung của đất nước, vào thế kỷ XVI – XVIII kinh tế cũng diễn ra nhiều sự phát triển đột biến về kinh tế, xã hội Chính vì thế, Thăng Long không những là trung tâm chính của Đàng Ngoài mà còn là một trung tâm kinh tế lớn với tên gọi “Kẻ chợ” nổi tiếng” [12; tr.216]
Sau khi thiết lập chính quyền mới ở phương Nam và vị trí giới tuyến sông Gianh được xác lập thì sự ứng đối với các thế lực khu vực, quốc tế dần
có sự chuyển hóa “Với các nước châu Âu, đó không phải chỉ là mối quan hệ với các đối tác thương mại mà còn là ứng đối Đông – Tây, với các nền văn hóa, thể chế chính trị-xã hội, công nghệ, tâm lý, tôn giáo mới Trong thời đại thương mại tự do cạnh tranh, việc ứng đối, xử lý thành công các mối quan hệ
và áp lực kinh tế, chính trị đã thể hiện bản lĩnh, sức mạnh của chính quyền Đàng Trong” [12; tr.509]
Nằm giữa con đường trung chuyển ở hai tuyến giao thương, Đại Việt có một vị trí địa lí rất quan trọng trong việc là đầu mối cho các nước phương Tây
và các nước khu vực châu Á giao lưu Chính quyền Đàng Ngoài và Đàng
Trang 22Trong tự tiếp nhận vào làn sóng thương mại lúc bấy giờ, để lại những dấu ấn khó phai lên đời sống kinh tế - xã hội, tạo cho Đại Việt thời kì này có những
sự phát triển riêng, mang bản sắc dân tộc
“Với tầm nhìn của một chính thể mạnh, luôn giữ được sự chủ động và quyền tự chủ, tư duy của giới cầm quyền Đàng Trong luôn thoáng mở để nắm bắt thông tin và có khả năng phân tích thông tin chính xác Tuy nhiên, để đảm bảo cho đặc khu kinh tế Hội An, chúa Nguyễn đã cho bố trí một lực lượng hải quân mạnh ngay phía hữu ngạn cửa sông Thu Bồn” [12; tr.473]
Thế kỉ XVI sự xuất hiện hàng loạt của các thương nhân châu Âu tạo cơ
sở thương mại ở nước ta và những quốc gia thuộc phương Đông, con đường thương mại trực tiếp sang thị trường Viễn Đông được khai mở, hoạt động giao thương trở nên sầm uất
Sự giao lưu thương mại trong thời kì này không chỉ tiếp xúc về mặt kinh
tế mà còn là những nền văn hóa, văn minh đan xen nhau, và hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng, cách thức trao đổi, buôn bán cũng được đặt ra nhiều qui luật riêng trong giới thương lái, một phần vẫn chịu sự quản lí của nhà nước phong kiến
“Trên bình diện khu vực Đông Á, cuối thế kỉ XVI, các quốc gia phương Đông cổ truyền bắt đầu có những thay đổi mạnh mẽ Đây là thời kì các quốc gia phong kiến Đông Á có những biến động chính trị lớn Chế độ phong kiến với những dạng thức khác nhau vẫn tồn tại ở các quốc gia này” [31; tr.30] Tình hình chính trị có tác động không nhỏ đến nền kinh tế nói chung và thương mại nói riêng tuy nhiên dưới thế kỉ XVII ngoài buôn bán với Trung Hoa còn có các khách buôn phương Tây
Sang đến thế kỷ XVII kinh tế thương mại bước sang giai đoạn hưng thịnh, việc buôn bán trao đổi diễn ra tấp nập, thu hút rất nhiều thương nhân không chỉ trong khu vực Đông Á mà còn có nhiều thương buôn phương Tây
Trang 23“Đến những năm đầu thế kỷ XVII, hầu hết các cường quốc thương mại phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh đều đến buôn bán với Đàng Trong Đối với các thương nhân châu Á, giới thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản luôn gặp được nhiều điều kiện thuận lợi trong các hoạt động thương mại với Đàng Trong và đã góp phần quan trọng vào sự phát triển hưng thịnh của Hội An và hệ thống thương mại khu vực” [12; tr.464]
“Người Hoa đã mang kẽm tới thị trường Đàng Trong để phục vụ nhu cầu đúc tiền của chúa Hàng hóa mà Hoa thương mang đến thường được bán rất chạy tại Đàng Trong” [33; tr.227]
Trung Hoa có mối quan hệ mật thiết với Đại Việt từ rất lâu đời trong việc giao thương phát triển buôn bán, do vị trí địa lí giữa hai nước cho nên việc ảnh hưởng văn hóa và sự trao đổi thương mại liên tục diễn ra qua nhiều triều đại là một điều hiển nhiên
“Quế xứ Nam Hà mặc dù hơi thô và hương vị cay nồng, nhưng người Trung Hoa vẫn thích nó hơn quế Tích Lan, ngày nay là Srilanka” [16; tr.113] Tuy nhiên, ngoài Trung Hoa thì trong khu vực, đặc biệt những quốc gia thuộc Đông Á như Nhật Bản đã chú ý đến thị trường tiềm năng ở Đông Dương
Một số thương buôn nước ngoài đã đến Đàng Trong như J Barrow đã nhận thấy rằng tiềm năng phát triển của xứ Quảng về nguồn gỗ khai thác từ núi “Đất nước này sẽ cung cấp nhiều mặt hàng có giá trị thích hợp với thị trường Trung Quốc Chẳng hạn như những khu rừng Nam Hà sẽ cung cấp nhiều loại gỗ hương liệu khác nhau như hồng đào, trầm hương, kỳ nam, tất cả đều rất được tán thưởng ở thị trường Trung Quốc, được trả với giá cực cao” [5; tr.115]
Ngoài ra có nhiều mục đích khác mà các thương nhân Trung Hoa đi đến các khu vực, thay vì chọn con đường chinh phục thì đã mở rộng ảnh hưởng
Trang 24phía biển “Các sứ thuyền, chiếc thuyền và thương thuyền Trung Hoa đã đến Đông Nam Á, Tây Nam Á, bờ Đông của lục địa châu Phi để thăm dò, thể hiện
uy lực, xác lập các mối quan hệ bang giao, quan hệ thần thuộc, đồng thời mở rộng mạng lưới kinh tế đối ngoại” [12; tr.307]
Từ thế kỷ XVI – XVII là thời hưng thịnh của thương mại trong khu vực châu Á, tại Việt Nam chưa bao giờ nền kinh tế hải thương lại có sự phát triển
và mở rộng đến vậy Chúa Nguyễn nhận thấy những vai trò to lớn của mạng lưới thương cảng, do đó hàng loạt các cảng thị trung tâm được mở ra và khai thác một cách triệt để đồng thời tạo điều kiện cho sự giao lưu buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa thương nhân của các nước “Sự khai mở, trong đó có cả phần phục hưng của hệ thống cảng Nam Trung Bộ thế kỷ XVI – XVII như Thanh Hà, Hội An, Nước Mặn và sau đó là các cảng vùng sông Đồng Nai, Sài Gòn, Hà Tiên cho thấy Đàng trong luôn cố gắng duy trì vị thế và phát huy những tiềm năng vốn có của một vương quốc biển” [2; tr.91]
Sang thế kỷ XVIII hoạt động ngoại thương với Trung Hoa phát triển mạnh mẽ, được biểu hiện qua sự du nhập của thương Hoa đến các cảng biển nước ta tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm đến đất nước trong quá trình phát triển kinh tế
“Vào thế kỷ XVIII, ở Hội An có tới 6000 người Hoa mà phần lớn là các lái buôn, vừa mua bán hàng hóa, vừa làm môi giới cho khách phương Tây Dấu vết của các con phố người Hoa ở phố Hiến, Hội An, vẫn còn khá đậm nết đến tận ngày nay” [29; tr.49]
Ngoại thương với Nhật Bản từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII
Dưới thời Chúa Nguyễn thương mại được quan tâm và cho phép giao lưu hàng hóa giữa các quốc gia bên ngoài đến trong nước Một số nơi trở thành trung tâm thương mại và đô thị trong đầu thế kỉ XVII, đặc biệt chúa Nguyễn Hoàng còn đầu tư phát triển những hàng hóa nông sản để phục vụ
Trang 25nhu cầu cho người dân và trong việc buôn bán Thương nhân Nhật Bản lúc này đã có mặt có một số trung tâm thương mại phát triển ở nước ta với sự ưu tiên, tạo điều kiện cho kinh tế ngoại thương của chúa Nguyễn Hoàng dành cho các thương lái Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia có nhiều biến động trong lịch sử phong kiến, chính quyền Mạc phủ rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế theo hướng thương mại và điều đó được thể hiện rất rõ từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII Các tàu thuyền đến Việt Nam với số lượng lớn, điều đó khẳng định thị trường nước ta đã thu hút được các thương buôn của Nhật Bản “Việc buôn bán với bên ngoài đến đầu thế kỉ XVII càng được mạc phủ Tô-cư-ga-oa khuyến khích” [28; tr.314]
“Cùng với việc đầu tư nông sản hàng hóa, Chúa Nguyễn Hoàng còn phát triển ngoại thương mà sự kiện thương nhân Nhật Bản có mặt buôn bán tại vùng trấn dinh của chúa tại Quảng Trị vào năm 1585 và các năm tiếp theo như đã nêu là một minh chứng về sự tiên phong của Chúa Tiên – Nguyễn Hoàng nơi vùng đất mới trong việc phát triển kinh tế hàng hóa” [4; tr.18]
Mở rộng thị trường được Mạc phủ hướng tới để đem về những sản vật phục vụ trong nước, ngoài ra để mở mang tầm hiểu biết về các nước trong khu vực, trong đó có tìm đến thị trường Việt Nam để buôn bán, trao đổi hàng hóa
“Riêng đối với nước ta, chỉ trong vòng 10 năm từ 1606 đến 1616, Nhật Bản có 11 thuyền đến buôn bán với Đàng Trong Ở Hội An, người Nhật Bản còn được thành lập một khu cư trú riêng và có nhiều người Nhật Bản lưu trú trên đất nước ta rất lâu Còn số thuyền buôn Việt Nam sang Nhật Bản thì tài liệu tình báo của viên Tuần phủ Phúc Kiến (Trung Quốc) cho biết: năm 1592
ở cửa biển tỉnh Xa-xư-ma có rất nhiều thuyền buôn của các nước Đông Nam
Ấ, trong đó có 3 thuyền của Việt Nam” [28; tr.315]
Trang 26Đến đời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên kế tục cũng chú trọng phát triển kinh tế ngoại thương, tiếp tục mở cửa thu hút thành lập nhiều khu phố cho thương nhân nước ngoài Trung tâm thương mại vẫn tập trung phát triển ở Hội An, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên dùng chính sách mở cửa để việc giao lưu hàng hóa diễn ra tấp nập
“Trước khi kế tục sự nghiệp làm chúa, Nguyễn Phúc Nguyên từng làm trấn thủ Quảng Nam, trực tiếp thực hiện chính sách mở cửa Hội An để đón thương nhân nhiều nước đến buôn bán và lập phố cư trú, trong đó có phố Nhật và phố khách (người Hoa)” [4; tr.20]
Như vậy, các thương lái Nhật Bản đã tiếp cận một cách dễ dàng nhờ chính sách mở cửa của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên tạo cơ hội cho thị trường thương mại phát triển Để thúc đẩy mối quan hệ giao thương Chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã thiết lập thông gia bằng cách gả công nương cho đại thương gia của Nhật Bản
“Năm 1618, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả công nương Ngọc Hoa cho đại thương gia Nhật Bản là Araki Sutaro, tiếp nối trang sử giao hảo thân thiện với Nhật Bản từ thời Chúa Nguyễn Hoàng Đàng Trong không những hơn Đàng Ngoài về kinh tế và quân sự mà còn trội vượt hơn nhiều vương quốc trong khu vực và trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều cường quốc thương mại hồi bấy giờ” [4; tr.21]
Hàng hóa mà người Nhật rất coi trọng đó là tơ lụa và hàng hóa của Đại Việt rất phong phú do tập trung từ nhiều đầu mối ở các quốc gia khác nhau, trong đó có lụa mịn của Trung Hoa thu hút được các thương nhân của Nhật Bản rất mạnh
“Đó thường là các mặt hàng thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, nhất là tầng lớp giàu có nên lưu thông nhanh Hàng mang đến thì sa,
Trang 27đoạn, gấm, vóc, vải, các vị thuốc, giấy vàng bạc, hương vòng, các thứ đồ giây, kim tuyến, ngân tuyến, các thứ phẩm, y phục, giầy tốt, ” [8; tr.213]
Và còn có những giáo sĩ khác đến đặc biệt là giáo sĩ Ý C Borri cho biết:
“Tại một phiên chợ họp hàng năm ở một hải cảng và kéo dài tới chừng bốn tháng Người Nhật chở trên thuyền của họ giá trị bằng bốn hay năm triệu bạc” [6; tr.82]
Nhờ có sự phát triển của ngoại thương mà nội thương nước ta thời kì này cũng có bước phát triển nhất định Hàng loạt các tổ buôn lái ra đời, các phiên chợ diễn ra liên tục hết sức sôi động, các thương cảng ngày càng phát triển để đón nhận các tàu lái thương nhân đến từ nhiều nơi, trong đó có các tàu của phương Tây và lái buôn Nhật Bản Một hình thức mới được hình thành hay gọi là “Thị tứ” tạo nên một đặc điểm khá rõ nét trong quá trình đô thị hóa ở nước ta nhưng vẫn chưa đủ sức để tạo ra thành thị do thiếu nhiều điều kiện và chịu sự tác động từ yếu tố bên ngoài Nhìn chung giai đoạn này thương nghiệp có sự phát triển, thương nhân Nhật Bản đã chú ý đến Đại Việt bằng cách thu mua hàng hóa qua con đường hải cảng
Việc giao thương của Đại Việt và Nhật Bản tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài trong thương mại, nhu cầu hàng hóa giữa hai nước được đáp ứng, trao đổi với nhau, Nhật Bản thu mua những sản vật, nguyên liệu, lụa, ở nước ta
và ngược lại Đại Việt cũng tiếp nhận hàng hóa của Nhật Bản
“Hàng hóa chủ yếu của xứ Đàng Trong là hồ tiêu, lụa, gỗ Calamba (trầm hương) và gỗ mun, tổ chim, vàng phấn hay vàng đúc mà giá bán chỉ bằng mười quả cân bạc và cuối cùng là đồng và đồ sứ mang từ Trung Quốc và Nhật Bản tới” [25; tr.86]
Một trong những trung tâm thương mại phát triển sầm uất thu hút được nhiều thương nhân các nước đến, trong đó có Nhật Bản đó là Hội An, nơi hội
tụ đông đảo các tàu buôn từ khắp nơi đổ về đây
Trang 28“Buôn bán của người Nhật Bản tập trung ở phía cảng Hội An (Đà Nẵng), phố Hiến (Hưng Yên) Vào đầu thế kỷ XVII, nhu cầu về tơ lụa của thị trường Nhật Bản là rất lớn Do những trở ngại trong quan hệ với Trung Quốc, Nhật Bản phải tìm kiếm những thị trường khác để nhập về tơ lụa” [29; tr.43] Ngoài ra còn mặt hàng được nhiều nước quan tâm trong đó có thương lái Nhật Bản, đó là gốm sứ “Và cũng như việc tìm thấy tơ lụa Đàng Ngoài làm nguồn hàng thay thế cho tơ lụa Trung Quốc ở thị trường Nhật Bản đầu thế kỷ XVII, gốm sứ Đàng Ngoài cũng được sử dụng làm nguồn cung thay thế đúng lúc cho thị trường liên đảo Đông Nam Á, trong khi gốm sứ Nhật Bản với chất lượng cao hơn được VOC đưa sang châu Âu” [19; tr.351]
Chính quyền Nhật Bản cũng không phải ngoại lệ, họ nhận thấy được tiềm năng của đô thị của Đại Việt
“Ở khu vực xa trấn dinh của chúa tại Quảng Trị trong phạm vi đất Thuận Quảng dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng như Hội An (Quảng Nam), Nước Mặn (Bình Định) đã trở thành trung tâm thương mại và đô thị từ những năm đầu thế kỉ XVII Số thương thuyền Nhật Bản buôn bán tại Hội An được chính phủ cấp giấy phép (Shuinjo) từ 1604 – 1634 là 86 chiếc, chiếm 2/3 số thuyền được Mạc Phủ cấp giấy phép đến buôn bán ở Việt Nam” [4; tr.19]
Rõ ràng có thể thấy dưới thời chúa Nguyễn việc ưu tiên và mở rộng phát triển thương nghiệp được thể hiện qua các hành động như việc thiết lập thêm nhiều thương cảng “chúa Nguyễn cũng muốn thiết lập thêm những thương cảng mới, tạo nên một mạng lưới thương cảng, thúc đẩy mối quan hệ tương
hỗ và triệt để khai thác năng lực của Hội An với vị trí là cảng thị trung tâm”[2; tr.91]
Có thể thấy ngoại thương khi kết hợp với nền chính trị trong nước đã tạo nên sức mạnh cho một thương cảng ở vùng biên viễn mà người Việt mới đến định cư đồng thời hình thành tiềm lực phát triển ngoại thương lâu dài ở phương Nam
Trang 29“Nhờ đó, đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, nền kinh tế Thuận Quảng có những bước phát triển mạnh mẽ Chính sự phát triển kinh tế đó, trực tiếp là sự phát triển kinh tế hàng hóa cùng với chính sách khai mở của chính quyền chúa Nguyễn là cơ sở và tác nhân dẫn đến sự xuât hiện của một loạt đô thị và cảng thị, trong đó Hội An, trung tâm kinh tế đối ngoại trọng yếu nhất” [12; tr.492]
Những thương nhân phương Tây cũng tiếp cận đến các vùng trung tâm thương mại ở nước ta trong giai đoạn này cũng khá phong phú Thậm chí một
số lái buôn còn thành lập những khu phố của riêng họ, tạo nên nét văn hóa riêng biệt hòa trộn cùng văn hóa bản địa
“Một điểm cầ lưu ý là người Châu Âu bắt đầu tiếp xúc với người Việt tại vùng đất thuộc xứ Đàng Trong trước tiên rồi sau đó mới có những liên hệ ở Đàng Ngoài Đặc điểm là người Âu đến giao thương và có những cơ sở ban đầu là địa phận Hội An, nơi đó đã có sự hiện diện của người Hoa và Nhật một phố người Tàu và một phố người Nhật Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai riêng, và sống theo tập tục riêng, người Tàu có luật lệ và phong tục người Tàu và người Nhật cũng vậy” [6; tr.89,92]
Do vậy, nền kinh tế ngoại thương thời kì này có những bước phát triển nhất định mặc dù có nhiều biến động của chính trị, nhờ có nhiều yếu tố tác động nhất là sự cởi mở trong chính sách của Chúa Nguyễn
“Ở các thế kỉ XVI – XVIII, trong khi Đại Việt bị chia cắt thành Nam – Bắc triều rồi Đàng Ngoài – Đàng Trong thì trên thế giới có nhiều biến động mới Sự phát triển của công thương nghiệp ở Tây Âu dẫn đến sự kiện phát kiến lớn về địa lí, thương nhân châu Âu bắt đầu mở rộng buôn bán với các nước phương Đông Đồng thời, thương nhân các nước Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia cũng hoạt động rầm rộ, vì vậy hình thành sự giao lưu buôn bán quốc tế giữa Đại Việt và các nước xung quanh” [23; tr.366]
Trang 30Chứng kiến các thương nhân Nhật Bản ngày càng nhiều tuy không ồ ạt hay liên tục tục nhưng đây là tín hiệu cho thấy sự phát triển về thương nghiệp của nước ta trong thời kì này khá rầm rộ và đặc biệt là do tự thân của nó, nhu cầu thoát khỏi sự gò bó của nông nghiệp cũng góp phần tạo nên bước vượt bậc thương mại Ngoài ra những yếu tố bên ngoài cũng góp phần không nhỏ đến kinh tế ngoại thương thời kì này đó là điều kiện giao thông, việc đi lại thuận lợi hơn trước, do nhu cầu của cuộc sống ngày càng gia tăng kéo theo hàng hóa cũng cần thiết Mặt khác luồng giao lưu buôn bán quốc tế tác động đến những vùng lâu nay xa cách, đóng kín, cho nên khi tiếp cận được thì đặc sản hàng hóa địa phương là món hàng trao đổi giá trị Bên cạnh đó, có một thời điểm nhà Thanh bên Trung Hoa đóng cửa, thị trường Việt Nam trở thành trung tâm của các thương nhân nước ngoài dồn sang Việc này không những thúc đẩy ngoại thương phát triển mà còn làm cho nội thương trở nên nhộn nhịp Đồng thời nhà nước đã “nhận thấy những lợi thế và vai trò của Hoa thương, khác với chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, luôn có thái độ nghi
kỵ đối với thương nhân châu Âu và giới hạn ngoại kiều, chính quyền Đàng Trong nhìn chung đã thực hiện một chính sách cởi mở, trọng thị với các thương nhân ngoại quốc, đặc biệt là Trung Hoa, Nhật Bản trong việc trao đổi hàng hóa và xây dựng tiềm lực kinh tế cho chính thể Cùng với việc nhập tơ lụa, gốm sứ, tiền đồng từ Trung Quốc, Đàng Trong còn nhập đồng và tiền đồng từ Nhật Bản để đúc súng và tiêu dụng” [12; tr.466]
Khẳng định được sự phát triển và ra đời đúng thời điểm của Đàng Trong, coi trọng thương nghiệp là một điểm vượt trội của chúa Nguyễn, mang lại sự bứt phá của nhà nước trong chính sách kinh tế “Xứ Đàng Trong ra đời đúng thời, đúng buổi, trong một thời đại thương nghiệp Chúng ta có thể nói một cách hoàn toàn đảm bảo rằng chính thương nghiệp đã làm cho vương quốc mới của Việt Nam chỉ trong vòng ít thập niên đã trở nên giàu có và đủ mạnh
Trang 31để duy trỉ nền độc lập của mình đối với phía Bắc và mở rộng về phía Nam” [15; tr.85]
Một số nơi đã trở thành trung tâm để hàng hóa trao đổi buôn bán giữa các nước trong khu vực và phương Tây do đó có sự phát triển chênh lệch rõ ràng giữa hai đàng lúc bấy giờ
“Đàng Trong không những hơn Đàng Ngoài về kinh tế và quân sự mà còn trội vượt hơn nhiều vương quốc trong khu vực và trở thành điểm đến hấp dẫn cho nhiều cường quốc thương mại hồi bấy giờ” [4; tr.21]
Mặc dù, chính quyền Đàng Trong dành sự ưu đãi đặc biệt cho Hoa thương, với tài năng và kinh nghiệm của mình khiến cho hoạt động ngoại thương ở trong nước hầu như bị thương nhân Trung Hoa chiếm thị trường
“Sự ưu đãi đặc biệt của chính quyền Đàng Trong đối với Hoa thương và những phẩm chất nghề nghiệp của họ đã khiến cho hoạt động thương mại tại các thị tứ, chợ phần lớn đều nằm trong tay thương lái Trung Hoa Vì thế, phần nào cũng hạn chế tác dụng của nó đến nền kinh tế và đời sống nhân dân ta” [8; tr.254]
Như vậy ngoại thương Việt Nam với các nước Đông Á đặc biệt với hai nước Nhật Bản và Trung Quốc đến trước năm 1802 có một bước tiến đáng kể trong việc phát triển buôn bán và mở rộng quan hệ ngoại giao ra bên ngoài
Tiểu kết chương 1
Những bất ổn trong tình hình chính trị - xã hội buổi đầu thời Nguyễn đã khiến kinh tế có phần bị trì trệ, các vua Nguyễn lúng túng trong việc kiểm soát và điều hành hệ thống đất nước Tuy nhiên, kinh tế vẫn được chú trọng phát triển nhưng theo chính sách trọng nông ức thương, nông nghiệp được quan tâm nhiều hơn là ngoại thương, điều đó cho thấy nông nghiệp vẫn chi phối hàng đầu trong việc phát triển kinh tế xã hội phong kiến lúc bấy giờ
Trang 32Trong suốt thế kỷ XVII do thương nhân Trung Quốc tận dụng truyền thống buôn bán lâu đời nên thương Hoa hầu như làm chủ thị trường Đại Việt Ngoại thương Việt Nam đã có bước phát triển hơn trước rất nhiều trong khoảng thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII, thu hút được nhiều tàu thuyền của các nước trong khu vực Đông Á và các nước phương Tây sang giao thương ở các cảng biển nước ta Tuy nhiên do đặc thù của hai chính quyền ở Đàng Trong
và Đàng Ngoài có sự khác nhau cho nên việc tình hình thương mại cũng đặc điểm riêng Sự phát triển ngoại thương không duy trì được ổn định khi cuối thế kỉ XVIII Đàng Trong diễn ra bất ổn, thương nghiệp suy dần Phải đến khi đất nước được thống nhất, yên bình thì việc buôn bán, trao đổi trở nên thuận lợi Thương nhân Trung Hoa và Nhật Bản luôn gặp được nhiều điều kiện thuận lợi trong các hoạt động trao đổi buôn bán với Đàng Trong, thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, góp phần quan trọng vào sự phát triển hưng thịnh của hệ thống thương mại khu vực
Trang 33Chương 2 NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC
KHU VỰC ĐÔNG Á (1802 - 1840)
1.1 Ngoại thương Việt Nam với các nước Đông Á dưới thời Gia Long (1802-1820)
2.1.1 Ngoại thương với Trung Quốc
Vua Gia Long sinh ngày 15/1 Nhâm Ngọ (1792) tên húy là Nguyễn Phúc Ánh, vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn Nguyễn Ánh có công lớn trong việc khôi phục lại được vương triều Nguyễn, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ
“Hai năm sau, năm Bính Dần (1806) Gia Long chính thức làm lễ xưng
đế tại điện Thái Hòa, đổi quốc hiệu là Việt Nam Cả nước đã thống nhất về một mối sau hơn ba trăm năm chia cắt” [31; tr.85]
Khác với thời chúa Nguyễn, mở cửa buôn bán với phương Tây thì Gia Long lại thận trọng thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” Và kinh tế ngoại thương Việt Nam dường như chỉ giao thương với khu vực châu Á
Việt Nam từ lâu đã được coi là trung tâm giao thương giữa các quốc gia trên thế giới đến những nước quanh khu vực Đông Á để trao đổi buôn bán Lịch sử giao thương của Việt Nam với các nước trong khu vực có từ rất lâu đời “Là một trong những khu vực hải thương được đánh giá là năng động nhất thế giới thời Cổ, Trung và Cận đại sơ kì Ngay từ thời cổ đại Việt Nam
đã trở thành điểm đến và dừng chân của nhiều thương nhân và thương thuyền ngoại quốc trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Tây Á
Và các thương thuyền ngoại quốc khi dừng chân ở nước ta phải cần đến các thương cảng nước sâu và kín gió để có thể neo đậu thực hiện việc trao đổi, buôn bán và mua hàng” [10; tr.37]
Dưới thời Gia Long tình hình nước ta có những biến chuyển nhất định, khi diện tích lãnh thổ rộng lớn chưa từng có đòi hỏi nhà nước phải đưa ra
Trang 34những chính sách phù hợp để phát triển kinh tế và các lĩnh vực khác, đặc biệt trong thương mại luôn luôn thay đổi Vua Gia Long sau khi lên ngôi đã thấy
rõ tầm quan trọng của ngoại giao cho nên đã nhanh chóng tìm cách tạo dựng lại các mối quan hệ bang giao với các nước láng giềng, tiêu điểm là Trung Hoa
“Gia Long đã theo dõi mối quan hệ không mấy tiến triển tốt đẹp của Thanh triều với Quang Toản, và ông nhanh chóng xúc tiến các hoạt động liên
hệ với chính quyền Trung Quốc, để khôi phục lại mối quan hệ Việt – Trung sau khi Tây Sơn sụp đổ” [22; tr.60]
Gia Long thi hành “chính sách bế quan tỏa cảng” đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt Thuế cửa quan trước có 60 sở đến năm 1851 chỉ còn 21 sở Một số cảng trước kia buôn bán rất phồn thịnh, nay cũng trở nên tiêu điều vắng vẻ, trong đó có Hội An
“Faifo là một đô thị tương tự 1 bazar lớn ở Ấn Độ; tỉnh thành này chỉ có một con phố duy nhất, nhưng rất dài: nhà cửa được xây bằng gạch và chỉ cao
1 tầng; chúng được thiết trí để các thương gia sử dụng, với những cửa hàng ở đằng trước để bày bán tất cả mọi loại hàng; phía sau, chúng còn có những kho hàng kín đáo Người ta cho rằng dân số Faifo lên tới 60.000 người, mà một phần ba là Hoa kiều Nhiều kênh đào cho phép chuyên chở hàng hóa tới tỉnh một cách rất dễ dàng, con sông của tỉnh có thể tiếp những tàu bè lớn như con sông của Huế Hàng năm, có những thuyền buồm Trung Hoa lường đến 600 tấn tới đậu trước tỉnh để cất hàng ”[7; tr.71]
Khác với những triều đại trước, nhà Nguyễn nắm độc quyền về ngoại thương và trên cơ sở đó để tổ chức các chuyến buôn, công cán ở nước ngoài Tuy vậy, Trung Quốc vẫn là nước được ưu ái trong việc trao đổi buôn bán với nước ta, các mặt hàng phục vụ cho quan lại, quý tộc được nhập thường xuyên
và những nguyên liệu của nước ta cũng được thương lái mua mang về nước Đây vẫn là một quốc gia có sự phát triển kinh tế mạnh trong khu vực Đông Á
Trang 35lúc bấy giờ quan trọng hơn là nằm sát biên giới với nước ta cho nên trong trao đổi buôn bán thuận lợi
Dưới sự cai trị của vua Gia Long nước ta hầu như chỉ giao lưu buôn bán với các nước trong khu vực Đông Á và một số ít nước phương Tây đặc biệt với Pháp Phần lớn mặt hàng trao đổi của nước ta thời kì bấy giờ là gạo, cho nên hàng hóa được đem từ bên ngoài về đa phần đều được trao đổi bằng gạo để lấy vũ khí và nhiều mặt hàng quan trọng phục vụ cho nhà nước, việc trao đổi này trước kia ở thời các chúa Nguyễn đã có nhưng sau khi cai quản, tiếp nhận và thống nhất lãnh thổ được Nguyễn Vương quan tâm, phát triển hơn nữa
“Nguyễn Ánh thường sai người đi bán hàng hóa (phần lớn là gạo) để mua khí giới và đôi khi cả tàu, thuyền Việc giao thương này đã có từ thời các chúa Nguyễn trong chừng mực giới hạn và tiếp tục thời Nguyễn Ánh khởi nghiệp” [13; tr.493]
Nhà nước nắm độc quyền nguyên liệu công nghiệp như đồng, chì, kẽm, thiếc, sắt nhất là lưu hoàng và diêm tiêu vì sợ nhân dân làm vũ khí Vua Gia Long cũng quan tâm đến việc thu hút những thương buôn nước ngoài, bằng chứng cho thấy qua các cách trao đổi hàng hóa với người Tây, sự trao đổi có lợi cho hai bên đã khiến những khách buôn đến nước ta đều vui vẻ
“Nguyễn Vương lập lệ: phàm những thuyền của khách mà có chở những
đồ gang, sắt, kẽm và lưu hoàng, thì quan mua để làm binh khí, và cho cứ theo
số hàng nhiều ít, được chở thóc gạo về nước Bởi vậy những khách buôn bán cũng vui lòng đem đồ hàng đến bán Vương lại sai quan ở doanh trấn biên cứ theo giá chợ mà mua lấy đường cát để đổi cho những người Tây dương mà lấy đồ binh khí: [11; tr.433]
Nhà nước đã đưa ra nhiều chính sách về thương mại, thuế khóa cũng được đưa ra rõ ràng cho từng mặt hàng nhập khẩu, các quan ở những địa
Trang 36phương có nhiệm vụ phụ trách việc mua bán hàng hóa với người nước ngoài, nhất là các mặt hàng về sản phẩm mà thương lái tìm kiếm
Vua Gia Long rất quan tâm đến ngành đóng thuyền, ban hành những sắc lệnh liên quan đến việc thuế, đăng ký thuyền buôn và đồng thời lập trật tự giao thông đường thủy
“Dưới thời Gia Long, ngành đóng thuyền đã có những tiến bộ về kỹ thuật trong việc sử dụng những thành tựu kỹ thuật bên ngoài, đã có những tiến
bộ về quản lý tổ chức với những quy định của Nhà nước Đấy là một nền tảng thật sự của sự phát triển mà tỏng đó vua Gia Long, dù là với động cơ nào và
kể cả khi còn là chúa Nguyễn Ánh ở đất Gia Định, đã có sự đóng góp nhất định” [22; tr.148]
Nhà nước còn tìm cách để khuyến khích những thương nhân người Hoa mang hàng hóa đến nước ta với nhiều hình thức trong đó có lấy nguồn lương thực quan trọng bậc nhất nước ta là lúa gạo để thực hiện việc trao đổi “và chính Nguyễn Ánh đã dùng gạo để khuyến khích các thương gia người Hoa đem sắt, thép, chì và lưu huỳnh tới Gia Định để đổi lấy thóc gạo” [12; tr.479] Việc buôn bán với Trung Quốc bằng hình thức trao đổi lấy gạo để thay tiền qua đó có thể thấy sự phát triển trong nông nghiệp đạt mức độ cao, cùng việc nhập sắt, thép phục vụ cho sản xuất vũ khí và các đồ dùng thiết yếu khác Nhà nước cũng kiểm soát chặt chẽ số lượng nhập những mặt hàng hàng kim loại, chủ yếu phục vụ cho tầng lớp quan lại
Năm “1803, nhà nước quy định cấm tư nhân mua bán các loại trầm hương kỳ nam cho thuyền buôn nước ngoài Nếu mua cột buồm, bánh lái phải được phép của quan địa phương” [3; tr.96]
Còn đối với phương Tây mặc dù gượng ép trong mối quan hệ ngoại giao nhưng vì món nợ trả ơn với người Pháp mà không thể cấm việc du nhập sang nước ta, do đó trong thời gian Gia Long trị vì việc buôn bán, trao đổi với phương Tây được diễn ra khá nhộn nhịp
Trang 37“Trên thực tế, Gia Long không có ý định thiết lập quan hệ chính thức với phương Tây, nhưng với những liên hệ đã có với nước Pháp, Gia Long không thể cự tuyệt thẳng thừng quan hệ với nước này Ông đã cố gắng thể hiện một sách lược ngoại giao mang tính “lưỡng xứ”, dung hòa và cố gắng rút khoảng cách giữa Việt Nam và những người Pháp hiện diện trên đất nước ta” [27; tr.54]
Trước diện tích lãnh thổ rộng lớn, Gia Long cũng đã rất vất vả trong việc quản lý về kinh tế Việc tiến hành khai khẩn cũng được chú trọng cả vấn đề thủy lợi, nhân dân được phát trâu bò và điền khí cho quân dân, đi khai khẩn những nơi rừng núi để làm ruộng gọi là đồn điền và đến mùa lấy thóc để vào kho gọi là điền khố Cho thành lập nhiều xưởng đóng tiền
“Năm 1803, Gia Long cho lập xưởng đúc tiền ở Thăng Long gọi là “Bắc Thành tiền cục” Và từ năm 1812, nhà Nguyễn cho đúc thêm tiền kẽm, giao cho thương nhân Trung Quốc quản lĩnh theo quy thức nhà nước, cứ 130 quan tiền mới đúc thì đổi lấy 100 quan tiền đồng trong kho” [23; tr.450]
Ngoài ra Gia Long còn quan tâm đến hàng hải, cửa biển do nước ta có đường bờ biển trải dài, các tàu buôn của thương lái Trung Hoa đến các cửa biển để trao đổi hàng hóa về nhiều mặt hàng và ngược lại nhập sang một số vật phẩm Do đó, việc đóng thuyền để đi buôn ra bên ngoài cũng rất cần thiết, các ti thuyền chịu trách nhiệm đóng các loại thuyền Đường thủy có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giao lưu, đưa hàng hóa ra bên ngoài
“Vào thế kỉ XIX đường thủy đóng vai trò chủ lực trong việc vận tải dân dụng ở nước ta, bao gồm vận tải đường sông và giao thông đường biển, trong
đó có một bộ phận đảm đương được các cuộc hải hành viễn dương buôn bán với nước ngoài” [3; tr.9]
Việc trao đổi buôn bán với Trung Hoa được diễn ra liên tục, do vị trí địa
lí và có nhiều nét văn hóa tương đồng cho nên đã có sự hiểu nhau trong giao
Trang 38thương, tuy nhiên vẫn nằm trong sự kiểm soát của nhà nước khi đặt ra các thứ thuế để kiểm soát nội thương và ngoại thương
“Theo tư liệu về thuế cảng trong “Hội điển” thì ngay thời Gia Long tại các bến đã có thuyền buôn của Quảng Đông, Phúc Châu, Hải Nam, Quảng Châu (Trung Quốc), Xiêm, Mã Lai, Nam Dương, Chà Và, Ma Cao và tàu của các thương nhân phương Tây như Pháp, Bồ Đào Nha Tất cả những dấu hiệu
đó đã báo hiệu cho một tương lai buôn bán phát đạt của đất nước” [29; tr.45] Hơn thế, vua Gia Long đã nhận thấy được ý nghĩa quan trọng của những con đường thông thương với địa hình được chia cắt bởi núi và sông nhiều nhánh nối với nhau qua các tỉnh Để mở rộng nội thương thì việc mở rộng sông ngòi trở nên cấp thiết “Từ vua Gia Long đã có ý thức đào sông Năm
1814 nhà vua vét sông An Cựu từ nam sông Hương đến Thần Phù huy động 13.000 quân dân đào đắp” [3; tr.9]
Về cơ bản cư dân bản địa có tính khéo léo tạo ra nhiều sản phẩm đặc sắc thu hút sự quan tâm của thương nhân Trung Quốc, nhất là qua đường biển Khi bên ngoài đang có sự phát triển một cách nhanh chóng thì dù muốn hay không nhà Nguyễn vẫn đâu thể đứng một chỗ nhìn, do vậy việc tổ chức đóng thuyền cho việc xuất khẩu đã được thực hiện dù số lượng không quá nhiều
“Theo số liệu thì năm 1822, nhà Nguyễn cho 30 chiếc thuyền Việt Nam xuất phát từ Sài Gòn, 16 từ Hội An, 12 từ Huế và 30 thuyền từ Bắc Kì sang Trung Quốc buôn bán với tổng trọng lượng là trên 17.000 tấn Luồng hàng trao đổi này tuy còn hơi ít ỏi nhưng sự phát triển ấy đã bắt buộc các vua nhà Nguyễn phải cho quan thuyền ra nước ngoài nhiều lên công cán” [29; tr.45] Như vậy, dựa vào số liệu và các hoạt động buôn bán dưới triều đại vua Gia Long ta thấy được rằng trao đổi thương mại với Trung Quốc vẫn là một mũi nhọn quan trọng có cơ sở từ các thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII, tạo ra một
xu hướng hướng ngoại mới trong cái nhìn còn hạn chế của kinh tế trong nước