1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn ngô hiệp xã phúc thuận – thị xã phổ yên – tỉnh thái nguyên

80 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ

Trang 1

PHÚC THUẬN - THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014 -2018

Thái Nguyên – năm 2018

Trang 2

PHÚC THUẬN - THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN”

Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng ứng dụng Chuyên ngành : Khuyến Nông Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2014 -2018 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Thị Giang Cán bộ cơ sở hướng dẫn: Ngô Thượng Hiệp

Thái Nguyên – năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt

động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên” là công trình nghiên cứu thực sự của

bản thân, được thực hiện dựa trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức chuyên

ngành, tìm hiểu, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Nguyễn Thị Giang

Các số liệu, bảng biểu, và những kết quả trong khóa luận là trung thực, các nhận xét, phương hướng đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm hiện có

Một lần nữa tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên

Xác nhận của GVHD Người cam đoan

Th.S Nguyễn Thị Giang Hoàng Thị Thương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay tôi đã hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên với tên đề tài: “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh

doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên”

Có được kết quả này lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến

ThS Nguyễn Thị Giang - Giảng viên Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - giáo

viên hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập Cô đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho tôi những kiến thức lý thuyết và thực tế cũng như các kỹ năng trong khi viết bài, chỉ cho tôi những thiếu sót và sai lầm của mình, để tôi hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất Cô luôn động viên và theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người truyền động lực cho tôi, giúp tôi hoàn thành tốt đợt thực tập của mình

Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ UBND xã Phúc Thuận, anh Ngô Thượng Hiệp và nhân dân trong xóm Đèo Nứa đã nhiệt tình giúp

đỡ tôi, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết cho để phục vụ cho bài báo cáo Ngoài ra, các công nhân trong trang trại còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quá trình chăn nuôi, đó là những kiến thức hết sức bổ ích cho tôi sau này khi ra trường

Tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã gặp không ít những khó khăn, do vậy mà đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thị Thương

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất năm 2017 27

Bảng 3.2: Tình hình vốn chăn nuôi lợn thịt của trang trại Ngô Hiệp 42

Bảng 3.3: Cơ cấu lao động trong chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 42

Bảng 3.4: Tình hình chăn nuôi heo thịt của trang trại Ngô Hiệpqua 2 đợt năm 2017 43

Bảng 3.5: Doanh thu chăn nuôi lợn thịt của trang trại Ngô Hiệp năm 2017 44

Bảng 3.6: Chi phí đầu tư ban đầu để nuôi lợn thịt của trang trại 44

Bảng 3.7: Chi phí chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 45

Bảng 3.8: Hiệu quả kinh tế chăn nuôi lợn thịt của trang trại năm 2017 46

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

ATGT : An toàn giao thông BNN : Bộ Nông nghiệp CCB : Cựu chiến binh CPTG : (IC) Chi phí trung gian CPTG : (IC) Chi phí trung gian GTGT : (VA) Giá trị gia tăng GTSX : (GO) Giá trị sản xuất HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã

KH : Kế hoạch KTTT : Kinh tế trang trại

NVQS : Nghĩa vụ quân sự PTNT : Phát triển nông thôn QSĐP : Quân sự địa phương SXKD : Sản xuất kinh doanh TDTT : Thể dục thể thao TSCĐ : Tài sản cố định UBND : Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC HÌNH iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

MỤC LỤC vi

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.2.1 Về chuyên môn 3

1.2.2 Về thái độ 3

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc 3

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện 3

1.3.1 Nội dung thực tập 3

1.3.2 Phương pháp thực hiện 4

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 6

1.4.Thời gian và địa điểm thực tập 7

1.4.1.Thời gian thực tập 7

1.4.2.Địa điểm thực tập 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8

2.1 Cơ sở lý luận 8

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 8

2.1.2 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại 12

2.1.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại 14

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại 15

2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 20

2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 20

Trang 9

2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số địa

phương của Việt Nam 21

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP 25

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 25

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phúc Thuận 25

3.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận 29

3.1.3 Quá trình hình thành và phát tiển của trang trại Ngô Hiệp 34

3.1.4 Những thành tựu đã đạt được của trang trại Ngô Hiệp 34

3.2 Kết quả thực tập 36

3.2.1 Tìm hiểu mô hình tổ chức của trang trại 36

3.2.2 Mô tả, tóm tắt những công việc đã làm tại trang trại 37

3.2.3 Kết quả sản xuất kinh doanh lợn thịt của trang trại 42

3.2.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của trang trại 50

3.2.5 Bài học kinh nghiệm thực tiễn 51

3.2.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại 52

PHẦN 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

4.1 Kết luận 55

4.2 Kiến nghị 56

4.2.1 Đối với cơ quan quản lí 56

4.2.2 Đối với Công ty Greenfeed 57

4.2.3 Đối với chủ trang trại chăn nuôi 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

Trang 10

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sản xuất hàng hoá Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hình thức tổ chức sản xuất khác nhau Cho đến nay, một số nơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệp tư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ ra hiệu quả [3] Trong khi đó, hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nông nghiệp nên đạt hiệu quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới So với nền kinh tế hộ

nông dân thì kinh tế trang trại là một bước phát triển của kinh tế hàng hoá [11]

Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày càng lớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tất yếu khách quan Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp rất lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim nghạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại Việt Nam tham gia tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta nói chung, ngành nông nghiệp nói riêng

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu quả cao

đã được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới Kinh tế trang trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa chứ không như các hộ tiểu nông sản xuất tự cung tự cấp Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ chức kinh tế khơi dậy và phát huy những tiềm năng sẵn có, thích hợp trong việc cơ giới hóa, công nghiệp hóa và

áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp

Trang 11

Sự phát triển của trang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong dân, mở mang thêm diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất hoang hoá, nhất là ở các vùng trung du, miền núi và ven biển, tạo thêm việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn, tạo ra sự cân bằng sinh thái, bảo

vệ môi trường, nhằm phát triển một nền nông nghiệp bền vững Một số trang trại đã góp phần sản xuất và cung ứng giống tốt, làm dịch vụ, kỹ thuật tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong vùng [9]

Hiện nay, trên địa bàn Thị xã Phổ Yên có trên 90 trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và PTNT (tăng 10 trang trại so với năm 2016) Trong đó,

có 60 trang trại chăn nuôi lợn, còn lại là chăn nuôi gia cầm và chăn nuôi tổng hợp Các trang trại hiện có tổng số vốn đầu tư khoảng trên 150 tỷ đồng, thu nhập trung bình mỗi trang trại đạt từ 100-150 triệu đồng/năm

Để khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung, những năm gần đây, Thị xã Phổ Yên đã triển khai nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ trang trại được tiếp cận với các nguồn vốn vay ưu đãi của ngân hàng Đồng thời, tiến hành quy hoạch các vùng chăn nuôi tập trung gắn với quy hoạch nông thôn mới; đẩy mạnh xây dựng mối liên kết liên doanh giữa các hộ chăn nuôi với nhau và giữa hộ chăn nuôi với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản trên địa bàn; hỗ trợ kinh phí, tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật giúp các chủ trang trại mở rộng sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm để phát huy hiệu quả trong chăn nuôi…

Bên cạnh đó, thị xã cũng tăng cường tuyên truyền, vận động và hướng dẫn các hộ chăn nuôi, nhất là các cơ sở chăn nuôi lớn phải xây dựng hầm biôga, đệm lót sinh học và các biện pháp kỹ thuật khác nhằm bảo đảm vấn đề môi trường Phấn đấu tăng tổng đàn gia súc, gia cầm và hình thành một số trang trại kiểu mẫu về hiệu quả sản xuất, đạt tiêu chuẩn về vệ sinh môi trường [20]

Trang 12

Vì vậy tôi chọn đề tài “Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp Xã Phúc Thuận – Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu cụ thể

1.2.1 Về chuyên môn

- Tìm hiểu mô hình tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

- Tìm hiểu kết quả kinh doanh chăn nuôi lợn thịt của trang trại

- Biết cách làm một số công việc tại trang trại

- Đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu cùng những cơ hội và thách thức của trang trại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi của trang trại

1.2.2 Về thái độ

- Luôn vui vẻ, hòa đồng với mọi người

- Nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc

- Tuân thủ theo các quy định của trang trại đề ra

1.2.3 Về kỹ năng sống, kỹ năng làm việc

- Hoàn thành tốt các công việc được giao

- Linh hoạt và sáng tạo trong công việc

- Rèn luyện kỹ năng quản lý tổ chức sản xuất trong thực tế

- Tích cực học hỏi kinh nghiệm làm việc từ mọi người xung quanh

1.3 Nội dung và phương pháp thực hiện

1.3.1 Nội dung thực tập

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu mô hình tổ chức sản xuất của trang trại Ngô Hiệp trên địa bàn xã Phúc Thuận

- Tìm hiểu kết quả kinh doanh của trang trại

- Tham gia một số công việc tại trang trại

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và cơ hội, thách thức trong chăn nuôi lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp

Trang 13

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh lợn thịt tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp xã Phúc Thuận, thị xã Phổ Yên, tỉnh

Thái Nguyên

1.3.2 Phương pháp thực hiện

1.3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp là phương pháp thu thập các

thông tin, số liệu có sẵn thường có trong các báo cáo khuyến nông hoặc các tài liệu đã công bố Các thông tin này thường được thu thập từ các cơ quan, tổ

chức, văn phòng

- Trong phạm vi đề tài tôi thu thập các số liệu đã được công bố liên quan đến

vấn đề nghiên cứu tại UBND xã Phúc Thuận, xóm Đèo Nứa và trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp

+ Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận

+ Số liệu thống kê của UBND xã thu thập ở trên báo, trên internet liên quan tới phát triển mô hình kinh tế trang trại

Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

+ Quan sát trực tiếp

Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan

hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng công tác tổ chức của chủ trang trại Ngô Hiệp

+ Điều tra trực tiếp chủ trang trại

Phiếu điều tra có đủ thông tin về trang trại, những thông tin về tình hình cơ bản của trang trại như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại, trình độ văn hóa, loại hình trang trại, số nhân khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại như: Tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị Những thông tin về ý

Trang 14

kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn của trang trại Các yếu tố sản xuất như: Vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường

+ Điều tra cán bộ Công ty cổ phần Greenfeed

Phiếu điều tra có đủ những thông tin cơ bản như: Họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, số điện thoại liên hệ, trình độ văn hóa, thời gian công tác và chức vụ tại Công

ty Những thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Greenfeed như: Yếu tố đầu vào, đầu ra Công ty cung cấp, hỗ trợ cho trang trại

+ Tiếp cận có sự tham gia

Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của trang trại như: Dọn dẹp, vệ sinh chuồng nuôi, chăm sóc lợn, kiểm cám, kiểm thuốc từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà trang trại gặp phải trong công tác phòng dịch cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

+ Thảo luận

Cùng với chủ trang trại, cán bộ kỹ thuật thảo luận về những vấn đề khó khăn, tồn tại trang trại đang gặp phải như: Vốn, lao động, thị trường, chính sách của nhà nước từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển tổ chức sản xuất của trang trại trong những năm tới

1.3.2.2 Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê: Được coi là chủ đạo để nghiên cứu các mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào, đầu ra, qua đó đánh giá so sánh và rút ra những kết luận, nhằm đưa ra các giải pháp có tính khoa học cũng như thực tế trong việc phát triển kinh tế trang trại

- Phương pháp chuyên khảo: Dùng để thu thập và lựa chọn các thông tin, tài liệu, kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Thông qua việc nghiên cứu để lựa chọn, kế thừa những gì tiến bộ vận dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại

- Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh: Phương pháp này đòi hỏi người quản lý trang trại phải ghi chép tỷ mỷ, thường xuyên, liên tục suốt trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhằm biết được các yếu tố đầu vào, đầu ra từ đó biết

Trang 15

được thu nhập của trang trại trong một kỳ sản xuất kinh doanh, thông qua kết quả

đó rút ra các kết luận nhằm định hướng cho kỳ tới

1.3.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá

1.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất

+ GO giá trị sản xuất (Gross Output)

=

Trong đó: Pi là giá trị sản phẩm thứ i; Qi khối lượng sản phẩm thứ i Vậy GO là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một thời gian, hay một chu kỳ sản xuất nhất định Đối với trang trại thường người ta tính cho một năm (Vì trong một năm thì hầu hết các sản phẩm nông nghiệp

đã có đủ thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm)

+ VA giá trị gia tăng (Value Added)

Trang 16

1.3.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của trang trại

Lợi nhuận : Phản ánh hiệu quả kinh tế của trang trại, thu nhập mà trang trại nhận được trong quá trình sản xuất kinh doanh

1.4 Thời gian và địa điểm thực tập

1.4.1 Thời gian thực tập

- Từ ngày 15/1/2018 – 30/5/2018

1.4.1 Địa điểm thực tập

- Địa điểm: Tại trang trại chăn nuôi lợn Ngô Hiệp, Xã Phúc Thuận, Thị xã

Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên

Trang 17

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập

2.1.1.1 Khái niệm tổ chức sản xuất

Tổ chức sản xuất là các phương pháp, các thủ thuật kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất một cách hiệu quả Tuy nhiên, thực tế có thể nhìn nhận tổ chức sản xuất trên các góc độ khác nhau mà hình thành những nội dung tổ chức sản xuất

cụ thể [5]

Ở đây tổ chức sản xuất đơn giản chỉ là tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất

đã được lập ra, vì vậy tổ chức sản là một trong những nội dung quan trọng của quản

lý sản xuất mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ cũng phải thực hiện, nhằm trả lời các câu hỏi sau:

- Kỳ này ta sản xuất sản phẩm gì? Trả lời câu hỏi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố đặc biệt là nhu cầu ngắn hạn trên thị trường

- Sản phẩm được sản xuất ở đâu? (Bộ phận nào; công nghệ nào), điều này phụ thuộc vào quy trình công nghệ gia công sản phẩm

- Ai sẽ sản xuất chúng? (người công nhân nào thực hiện gia công các sản phẩm khác nhau), điều này phụ thuộc vào lưu lượng công việc tại các nơi làm việc

- Cần bao nhiêu thời gian để sản xuất chúng? Nó phụ thuộc vào năng suất sản xuất của máy móc thiết bị, thời gian sản xuất các sản phẩm, hỏng hóc bất thường, thời gian vận chuyển, thời gian chờ đợi

Tổ chức sản xuất cần đưa ra các quyết định của người quản đốc phân xưởng hoặc cán bộ quản lý để thực hiện tốt một dự án hay một chương trình sản xuất đã được lập ra

Trong một doanh nghiệp tổ chức quá trình sản xuất được thực hiện ở hai cấp

độ khác nhau:

Trang 18

- Tổ chức sản xuất tập trung là xây dựng tiến trình đưa các lô sản phẩm vào sản xuất trong các bộ phận sản xuất tuỳ theo quy trình công nghệ, năng lực sản xuất của máy móc thiết bị và dự báo tiêu thụ sản phẩm ngắn hạn Tổ chức sản xuất tập trung cũng chính là lập kế hoạch đưa vào sản xuất

- Tổ chức sản xuất phân tán là tổ chức sản xuất diễn ra trên các chỗ làm việc, tổ chức sản xuất phân tán là để thực hiện kế hoạch sản xuất đã được lập ra trong phương án tổ chức sản xuất tập trung [15]

2.1.1.2 Các khái niệm về kinh tế trang trại

Khái niệm trang trại

Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu như cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan tâm nghiên cứu

về kinh tế trang trại Một trong những vấn đề được đề cập nhiều là khái niệm kinh tế trang trại Về thực chất trang trại và kinh tế trang trại là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan điểm khác nhau về kinh tế trang trại như:

1. Xuất phát từ quan điểm của LêNin “Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo

diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất” Ở đây ta có

thể hiểu khái niệm trang trại thể hiện quy mô tính theo diện tích nhưng cũng có thể

đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập [2]

2. Theo GS.TS Nguyễn Thế Nhã “Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất

cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường” [8]

3. Còn theo Th.S Nguyễn Phượng Vỹ “Trang trại là một hình thức tổ chức

kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [8]

4. Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ – TW ngày 10/11/1998, đã xác định: “

trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hang hoá với quy mô lớn hơn, sử

Trang 19

dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh doanh có hiệu quả” [10].

5 Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra khái niệm về kinh tế trang trại như:

- Theo PGS.TS Lê Trọng: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ

sở, là doanh nghiệp tổ chức sản xuất trực tiếp ra nông sản phẩm hàng hoá dựa trên

cơ sở hợp tác và phân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hết sức lao động và trang thiết bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu của thị trường, được nhà nước bảo hộ theo luật định” [8]

- Theo tác giả Trần Trác: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất

và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản của một nông hộ theo cơ chế thị trường” [8]

- Theo quan điểm của Nghị Quyết 03/2000 NQ – CP về việc “khuyến khích

phát triển kinh tế trang trại” cho rằng “Bản chất của kinh tế trang trại là hình thức

tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nông thôn chủ yếu dựa vào kinh tế hộ gia đình” [10]

Khái niệm về kinh tế trang trại:

- Kinh tế trang trại là nền kinh tế sản xuất nông sản hàng hoá, phát sinh và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, thay thế cho nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc

- Kinh tế trang trại là tổng thể các quan hệ kinh tế của các tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp bao gồm: Các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại thuộc các ngành, nông, lâm, ngư nghiệp ở các vùng kinh tế khác nhau

- Kinh tế trang trại là sản phẩm thời kỳ công nghiệp hoá Quá trình hình thành

và phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao Thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá kinh tế trang trại với tỷ trọng còn thấp, quy

mô nhỏ và năng lực sản xuất hạn chế, nên chỉ đóng vai trò xung kích trong sản xuất nông sản hàng hoá phục vụ công nghiệp hoá Thời kỳ công nghiệp hoá đạt trình độ

Trang 20

kinh tế trang trại với tỷ trọng lớn, quy mô lớn và năng lực sản xuất lớn trở thành lực lượng chủ lực trong sản xuất nông sản hàng hoá nói riêng cũng như hàng nông nghiệp nói chung phục vụ công nghiệp hoá

- Kinh tế trang trại phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, phục vụ nhu cầu sản xuất hàng hoá trong công nghiệp là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế, là một tất yếu khách quan của nền kinh tế nông nghiệp trong quá trình chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá

- Kinh tế trang trại là loại hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp mới, có tính ưu việt hơn hẳn so với các loại hình sản xuất nông nghiệp khác như: Kinh tế nông nghiệp phát canh thu tô, kinh tế tư bản, tư nhân, đồn điền, kinh tế cộng đồng, nông nghiệp tập thể, kinh tế tiểu nông

- Kinh tế trang trại đến nay đã khẳng định vị trí của mình trong sản xuất hàng

hoá thời kỳ công nghiệp hoá ở các nghành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp đối

với các vùng kinh tế ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Đã thích ứng với các trình độ công nghiệp hoá khác nhau

Thời gian tới bước vào thế kỷ 21 theo dự báo của nhiều nhà kinh tế trên thế giới, kinh tế trang trại có bước phát triển mạnh mẽ, với số lượng ngày càng nhiều ở các nước đang phát triển, trên con đường công nghiệp hoá và vấn đề còn tồn tại ở các nước công nghiệp hoá cao, trên cơ sở điều chỉnh số lượng và cơ cấu trang trại cho phù hợp [18]

Khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi:

- Cũng như khái niệm về kinh tế trang trại nói chung, ta đi vào xem xét khái niệm cụ thể về kinh tế trang trại chăn nuôi

- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền sản xuất kinh tế trong nông nghiệp với nông sản hàng hoá là sản phẩm của chăn nuôi đại gia súc, gia cầm… Đúng là tổng thể các mối quan hệ kinh tế của các tổ chức sản xuất hoạt động kinh doanh nông nghiệp, xét ở phạm vi chăn nuôi Bao gồm các hoạt động trước và sau sản xuất nông sản hàng hoá xung quanh các trục trung tâm là hệ thống các trang trại chăn nuôi ở các vùng kinh tế khác nhau

Trang 21

- Kinh tế trang trại chăn nuôi cũng là sản phẩm của thời kỳ công nghiệp hoá, quá trình hình thành và phát triển các trang trại gắn liền với quá trình công nghiệp hoá từ thấp đến cao, tỷ trọng hàng hoá từ thấp đến cao cũng như trình độ sản xuất, quy mô và năng lực sản xuất đáp ứng được nhu cầu sản phẩm hàng hoá như thịt, trứng, sữa… trên thị trường, phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường hiện nay.

- Kinh tế trang trại chăn nuôi là một nền tảng lớn của một hệ thống kinh tế trang trại nói chung, là một bộ phận của nền sản xuất trong nông nghiệp, khác với các nghành sản xuất khác như lâm nghiệp hay thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện đất đai, khí tượng và thời tiết nhưng đối với chăn nuôi đó chỉ là những ảnh hưởng tác động đến vật nuôi, nó phụ thuộc chính vào điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng của các trang trại Sản phẩm của chăn nuôi đã phục vụ trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của đại đa số người dân trong cả nước

- Kinh tế trang trại chăn nuôi là sự phát triển tất yếu của quy luật sản xuất hàng hoá, trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường, do vậy các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, giống, khoa học công nghệ cũng như các sản phẩm đầu ra như thịt, trứng, sữa đều là hàng hoá

Vậy có thể đúc kết lại khái niệm về kinh tế trang trại chăn nuôi nó là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông nghiệp với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá như thịt, trứng, sữa Với quy mô đất đai, các yếu tố sản xuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, có tổ chức và quản lý tiến bộ, có hạch toán kinh tế như các doanh nghiệp [18]

2.1.2 Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại

Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT, ngày 13/04/2011 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc thay thế Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 13/06/2000 và Thông tư số 74/2003/TTBNN, ngày 04/07/2003 Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:

1 Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tổng hợp phải đạt:

a Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu 3,1 ha

b Có giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên

Trang 22

2 Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên, đồng thời thỏa mãn các điều kiện về quy mô đàn như sau:

a Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,…, chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 20 con trở lên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 2,5 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại

b Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, …; chăn nuôi sinh sản đối với lợn có thường xuyên từ 30 con trở lên, đối với dê, cừu từ 100 con trở lên; chăn nuôi thịt đối với lợn có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa), dê cừu thịt từ 300 con trở lên; trường hợp có cả chăn nuôi sinh sản và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo tỷ lệ 3 con thịt bằng 1 con sinh sản và ngược lại

c Chăn nuôi gia cầm: Đối với gà, vịt, … thịt: có thường xuyên từ 5.000 con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi); đối với gà, vịt, … đẻ (trứng thương phẩm, con giống, …) có thường xuyên từ 2.000 con trở lên; trường hợp có

cả chăn nuôi đẻ và lấy thịt thì việc thống kê đầu con được tính như sau: quy đổi theo

tỷ lệ 2,5 con sinh sản và ngược lại

d Đối với cơ sở chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm thì tiêu chí để xác định kinh tế trang trại là giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên

3 Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

4 Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản theo hình thức lồng bè thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa đạt từ 700 triệu đồng/năm trở lên

* Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại: UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là UBND cấp huyện) là cơ quan cấp, cấp đổi, cấp lại và thu hồi giấy chứng nhận kinh tế trang trại

* Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại gồm:

1 Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại thực hiện theo mẫu quy định

Trang 23

2 Bản sao có chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản Đối với diện tích đất cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận

2.1.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại

Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong vấn đề nông nghiệp thế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nền nông nghiệp các nước ở các nước đang phát triển trang trại gia đình có vai trò to lớn quyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở đây tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cung cấp cho xã hội được sản xuất ra từ các trang trại gia đình

Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện khá rõ nét cả

về mặt kinh tế cũng như về mặt xã hội và môi trường

– Về mặt kinh tế: Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và

sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các loại nguồn lực trong nông nghiệp nông thôn so với kinh tế nông hộ

Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn

– Về mặt xã hội: Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số

hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động Điều này rất có ý nghĩa trong giải quyết vấn đề lao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệp nông thôn nước ta hiện nay Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phần thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng trong nông thôn

và tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức và quản lý sản xuất kinh

Trang 24

doanh… Do đó, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và đổi mới bộ mặt xã hội nông thôn nước ta

– Về mặt môi trường: Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực

và lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm không gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng

Các trang trại ở trung du, miền núi đã góp phần quan trọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trồng đồi núi trọc và sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm này đã góp phần tích cực cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên các vùng đất nước [16]

2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

2.1.4.1 Nhóm những yếu tố đến từ bên ngoài

- Chính sách hỗ trợ thành lập khu trang trại

Tùy theo điều kiện của địa phương, Uỷ ban nhân dân xã quy hoạch khu phát triển kinh tế trang trại và cho thuê đất làm kinh tế trang trại theo quy định hiện hành Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng đường, hệ thống cấp thoát nước tới khu trang trại

Ủy ban nhân dân cấp xã lập dự án, báo cáo dự án lên Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt và hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương [6]

Mức hỗ trợ không quá 100 triệu/trang trại/ 02 năm đầu [6]

Trang 25

- Hỗ trợ áp dụng khoa học kỹ thuật

Ngân sách nhà nước hỗ trợ một lần, 100% chi phí cấp giấy chứng nhận và chi phí áp dụng quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) hoặc quy trình thực hành nông nghiệp tốt khác đối với từng trang trại hoặc hợp tác xã của các chủ trang trại [6]

- Hỗ trợ xúc tiến thương mại

Nhà nước khuyến khích trang trại xây dựng thương hiệu riêng hoặc tham gia xây dựng thương hiệu của hợp tác xã của các chủ trang trại

Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% chi phí tham gia hội trợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm nông nghiệp đối với các trang trại hoặc hợp tác xã trang trại [6]

- Chính sách về tín dụng

Theo quy định tại điểm e, khoản 2, Điều 9, Nghị định số: 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ thì chủ trang trại hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp được tổ chức tín dụng cho vay không có tài sản bảo đảm tối đa 1 tỷ đồng Tuy nhiên phải nộp cho tổ chức tín dụng cho vay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp do Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và chỉ được sử dụng giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp để vay vốn tại một tổ chức tín dụng

và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng giấy xác nhận trên để vay không có tài sản bảo đảm [21]

- Chính sách đất đai

Hiện nay Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiều cho phát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền, đổi thửa Điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vững chắc và lâu dài Bên cạnh đó, nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quá nghèo nàn, lạc hậu Chính vì vậy mà việc cải tạo lại những bờ vùng bờ thửa sau khi dồn điền đổi thửa là

Trang 26

vô cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trở ngại cho các chủ trang trại về vấn đề vốn và lao động

Đất đai là yếu tố sản xuất, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với nông nghiệp mà còn quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đất đai là yếu tố

cố định, lại bị giới hạn bởi quy mô, nên người ta phải đầu tư thêm vốn, lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai Do vậy, để hình thành trang trại cần có quỹ đất cần thiết để phát triển trang trại Để làm được điều này, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách về đất đai phù hợp để chủ trang trại yên tâm sản xuất trên thửa đất được giao

Trước hết về chính sách đất đai Ngoài những điểm mới quy định chung cho các chủ thể sử dụng đất như hạn mức giao đất, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất, các quyền và nghĩa vụ… Luật Đất đai 2013 đã dành một điều luật ( Điều 142) quy định về kinh tế trang trại, tại khoản 3, điều 142 cho phép “Hộ gia đình, cá nhân

sử dụng đất làm kinh tế trang trại được chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất theo quy định của pháp luật” Quy định này giúp cho chủ trang trại chủ động hơn trong sản xuất, tìm được phương án sản xuất có hiệu quả cao hơn Cũng theo điều luật này, các loại đất sử dụng để làm kinh tế trang trại được mở rộng hơn, bao gồm

cả đất nhận thừa kế; được tặng cho; đất do nhận khoán của tổ chức; đất do hộ gia đình, cá nhân góp…[21]

Chủ trang trại được cấp có thẩm quyền cho thuê đất ổn định lâu dài từ quỹ đất của địa phương, hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai hiện hành [6]

- Chính sách lao động

Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ để các chủ trang trại mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tạo được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dân không đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp,

hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trang trại được thuê lao động không hạn chế về số lượng, trả công lao động trên cơ sở thoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động Chủ trang trại phải trang bị đồ dùng bảo hộ lao động theo

Trang 27

từng loại nghề cho người lao động và có trách nhiệm với người lao động khi gặp rủi

ro, tai nạn, ốm đau trong thời gian làm việc theo hợp đồng lao động

Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, chủ trang trại được ưu tiên vay vốn thuộc chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo

để tạo việc làm cho lao động tại chỗ, thu hút lao động ở các vùng đông dân cư đến phát triển sản xuất

Nhà nước có kế hoạch hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp cho lao động làm trong trang trại bằng nhiều hình thức như tập huấn, bồi dưỡng ngắn hạn [12]

2.1.4.2 Nhóm những yếu tố từ bên trong

- Con người - chủ trang trại

+ Trình độ học vấn

Chủ trang trại là người lãnh đạo trang trại, đứng đầu trang trại nên phải

có kiến thức về chuyên môn và trình độ quản lý nhất định Đây là nhân tố thành công cốt lõi mang tính phổ biến, trang trại thành công nào cũng có nó Bên cạnh đó, chủ trang trại còn là người có trách nhiệm và hết mình trong từng sản phẩm được đưa ra thị trường

+ Thông minh, nhạy bén, sáng tạo

Ngoài trình độ học vấn, các chủ trang trại còn phải có tố chất thông minh bẩm sinh, nhạy bén trong các quan hệ thị trường Đưa những kĩ thuật mới, tiên tiến vào trong quá trình sản xuất, chăn nuôi

Điều mà phần lớn các trang trại hiện nay chưa có là trình độ quản trị kinh doanh trang trại, hầu như trong các trang trại công việc kế toán chưa thật

sự chuyên nghiệp, còn mang tính chất ghi - chép thu chi trong nông hộ

- Trang trại có 1 cấp quản lý

Thực tế cho thấy các chủ trang trại thành công hiện nay đều trực tiếp quản lý, điều hành trang trại của mình, chỉ thuê lao động kỹ thuật và những công nhân bình thường khác, nhưng con số lao động được thuê là rất ít Đây

là ưu thế vì hiện nay các trang trại hầu như có quy mô canh tác không lớn, chủ trang

Trang 28

trại có thể kiểm soát quá trình phát triển cây trồng, vật nuôi, khi có biến động giá cả thì ảnh hưởng cũng không lớn vì có thể lấy công làm lời

- Lợi thế về đất đai của trang trại và sự lựa chọn mô hình phù hợp

Lợi thế về đất đai lợi thế của vùng đất này so với vùng đất khác về mặt khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng khi trồng cùng một loại cây Điều này có nghĩa

là khi trang trại chọn đúng mô hình sản xuất, nuôi trồng cây, con phù hợp thì

đã phát huy được lợi thế địa tô

Các trang trại thành công là các trang trại đã chọn đúng mô hình sản xuất, phù hợp với thời tiết, khí hậu; năng lực quản lý, kinh nghiệm của chủ trang trại

Tóm lại, các yếu tố then chốt giúp các trang trại thành công bao gồm những yếu tố bên ngoài và những yếu tố bên trong và chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Các yếu tố bên ngoài chỉ phát huy được tác dụng thật sự của nó khi được chuyển thành yếu tố bên trong của trang trại Và để chuyển được các yếu tố bên ngoài thành các yếu tố bên trong, thì trang trại phải mạnh

và nhận thấy được tầm quan trọng của các yếu tố đó Các yếu tố bên trong lớn thì có thể biến các yếu tố bên ngoài trở thành nội lực Ngoài ra tự bản thân các yếu tố cốt lõi bên trong lẫn bên ngoài đều có mối quan hệ tương tác lẫn nhau Nếu các trang trại chọn đúng mô hình để sản xuất kinh doanh, có thể công nghiệp hóa, hiện đại hóa quá trình sản xuất kinh doanh của trang trại, thực hiện được liên kết giữa các trang trại và liên kết “4 nhà” thì trang trại sẽ dễ dàng tạo được vốn và có thể tiếp cận được với các nguồn vốn từ bên ngoài, từ

đó trang trại cũng dễ dàng tiếp nhận được những công nghệ tiên tiến của thế Như vậy, có thể nói yếu tố bên trong phát triển đến một mức độ nào đó

nó sẽ quyết định được các yếu tố bên ngoài [22]

Trang 29

2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

2.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh

tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước Do đó Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới

Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp

Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12 ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là

33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt

có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và

Trang 30

chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động

ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động

Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chính sách phát triển [4]

2.2.2 Một số kết quả và kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số địa phương của Việt Nam

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao; là đơn vị sản xuất tích cực ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, cũng như chủ động tìm kiếm,

mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa Có thể nói, kinh tế trang trại là nhân tố mới ở nông thôn; là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực của kinh tế

hộ, góp phần vào quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất, gắn liền với quá trình phân công lao động nông thôn

Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thu hút đầu tư, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, hiện đại, trong đó có những chính sách khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế trang trại

Những năm qua kinh tế trang trại đã góp phần tích cực vào việc đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; chuyển đổi phương thức sản xuất từ quy mô nhỏ, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa tập trung với quy mô lớn gắn với thị trường Trên cơ sở đó mở ra hướng làm giàu cho nông dân, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người lao động Thời gian qua còn xuất hiện các hợp tác xã (HTX) từ sự liên kết các trang trại, bước tiến mới dẫn đến phát triển kinh tế tập thể, nhằm tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất, sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao hơn

Trang 31

Việc phát triển kinh tế trang trại đang có sự chuyển biến rõ nét, phù hợp với yêu cầu thị trường Nhiều trang trại chủ động cung cấp giống cho bà con trong vùng, cũng như cung cấp số lượng lớn sản phẩm nông nghiệp cho thị trường trong

Tại diễn đàn kinh tế trang trại mới đây do Hiệp hội Trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam (VFAEA) tổ chức, nhiều đại biểu nhìn nhận, sau thời gian phát triển mạnh kinh tế trang trại vào đầu những năm 2000, tốc độ phát triển thời gian qua chậm lại Ở các địa phương, trang trại nhỏ chiếm tỷ lệ lớn, chủ yếu tập trung mở rộng diện tích, sản phẩm thô là chủ yếu; việc quan tâm đến tiến bộ kỹ thuật, cơ giới hóa, đầu tư hạ tầng sơ chế biến và bảo quản, định hướng thị trường và liên kết tiêu thụ hàng hóa vẫn còn có bộ phận chưa quan tâm nhiều, nên sản phẩm làm ra chất lượng chưa cao

Một số trang trại, nhất là trang trại chăn nuôi hình thành tự phát, không nằm trong vùng quy hoạch Như các trang trại ở tỉnh Đồng Nai, thiếu định hướng, manh mún chưa gắn với quy hoạch vùng sản xuất và công nghiệp chế biến Trình độ quản

lý, chuyên môn các chủ trang trại còn hạn chế Việc tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế chủ yếu theo kinh nghiệm, thiếu hiểu biết về thị trường Khó khăn lớn nhất là tiêu thụ sản phẩm [17]

Thời gian qua, kinh tế trang trại trên phạm vi cả nước có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được giá trị sản lượng cao trên một đơn vị diện tích; tạo ra các mô hình sản xuất hàng hóa lớn, hỗ trợ việc làm cho lao động ở nông thôn Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay cả nước có gần 150.000 trang trại với diện tích đất sử dụng khoảng 900.000 ha Trong đó, các trang trại chuyên

Trang 32

trồng cây nông nghiệp chiếm 55,3%; chăn nuôi gia súc, gia cầm chiếm 10,3%; lâm nghiệp chiếm 2,2%; nuôi trồng thủy sản chiếm 27,3% và sản xuất kinh doanh tổng hợp chiếm 4,9%

Trong đó, các tỉnh miền Bắc tuy có số lượng trang trại không nhiều, song đã xuất hiện những mô hình phát triển mang lại hiệu quả kinh tế cao Tại các tỉnh Sơn

La, Ðiện Biên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Nam, Nam Ðịnh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh… đã xuất hiện các mô hình kinh tế trang trại cho thu nhập cao Hay thành phố Hà Nội là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế trang trại Hiện toàn thành phố có hàng nghìn trang trại, tập trung nhiều nhất ở các huyện Thạch Thất, Hoài Ðức, Sóc Sơn, Ðông Anh, Thường Tín, Gia Lâm, Thanh Trì… Tại Ðồng Nai, những năm gần đây số lượng trang trại có xu hướng tăng nhanh Từ năm 2012, cả tỉnh chỉ mới có khoảng 1.700 trang trại, nhưng đến hết năm 2016, số lượng trong toàn tỉnh đã lên tới hơn 3.800 trang trại, với giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 3,3 tỷ đồng/trang trại/năm [19]

Khu vực nông nghiệp ở nước ta hiện nay có gần 11 triệu hộ nông dân, chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán, giá trị sản xuất thấp và có nhiều rủi ro Tuy nhiên trong số đó có số hộ nông dân tổ chức phát triển sản xuất với quy mô lớn hơn theo hướng sản xuất tập trung, áp dụng khoa học công nghệ và mang lại giá trị kinh

tế cao, ít rủi ro hơn Đây chính là các hộ gia đình, cá nhân phát triển theo hướng kinh tế trang trại Trong thực tiễn sản xuất, các mô hình kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả, đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển nền kinh tế nông nghiệp của đất nước Do đó, Đảng và Nhà nước có chủ trương khuyến khích, thúc đẩy phát triển mạnh kinh tế trang trại trong trong thời gian tới

Theo báo cáo của các địa phương, trên địa bàn cả nước hiện có khoảng 29.500 trang trại Trong đó, có 8.800 trang trại trồng trọt (chiếm 29,83%), 10.974 trang trại chăn nuôi (chiếm 37,20%), 430 trang trại lâm nghiệp (chiếm 1,46%), 5.268 trang trại thủy sản (chiếm 17,86%) và 4.028 trang trại tổng hợp (chiếm 13,66%) Số lượng trang trại đã tăng 9.433 trang trại so với năm 2011 Tuy nhiên các địa phương mới chỉ cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại cho 6.247 trang trại

Trang 33

Các trang trại phân bố nhiều ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (6.911 trang trại, chiếm 30%) chủ yếu sản xuất thủy sản và trái cây; Đông Nam Bộ (6.115 trang trại, chiếm 21%) chủ yếu là chăn nuôi; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (5.693 trang trại, chiếm 20%) chủ yếu kinh doanh tổng hợp; Đồng bằng Sông Hồng (5.775 trang trại, chiếm 19,5%) chủ yếu là chăn nuôi; Trung du và miền núi phía Bắc (2.063 trang trại, chiếm 7%) chủ yếu là chăn nuôi và lâm nghiệp

Quy mô diện tích đất bình quân của các trang trại hiện nay về trồng trọt là 12 ha/trang trại; chăn nuôi là 2 ha/trang trại; tổng hợp là 8 ha/trang trại; lâm nghiệp là

33 ha/trang trại; thủy sản là 6 ha/trang trại Trong quá trình tổ chức sản xuất cho thấy một số trang trại thực hiện tích tụ ruộng đất nên quy mô diện tích lớn, đặc biệt

có trang trại có tới trên 100 ha Nhiều trang trại đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như sản xuất an toàn, sản xuất sạch, công nghệ cao, nên tạo ra năng suất và chất lượng cao và hiệu quả kinh tế Theo báo cáo của các địa phương, thu nhập bình quân của trang trại đạt 02 tỷ đồng/năm, đã tạo thêm công ăn việc làm cho lao động

ở địa phương, mỗi trang trại bình quân giải quyết được khoảng 8 lao động, có nhiều trang trại thu hút được hàng trăm lao động

Có thể khẳng định kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến của kinh tế hộ, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp do đó cần có chính sách phát triển [4]

Trang 34

Phần 3 KẾT QUẢ THỰC TẬP

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phúc Thuận

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Phúc Thuận là một xã thuộc thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam Tuyến tỉnh lộ 261 kết nối thị xã Phổ Yên và huyện Đại Từ đi qua địa bàn xã Phúc Thuận cách trung tâm thị xã 13 km về phía tây và giáp với xã Phúc Tân cùng thị xã

và xã Bình Sơn thuộc thành phố Sông Công ở phía bắc, phía đông giáp xã Minh Đức và phường Bắc Sơn thuộc thị xã Phổ Yên, phía nam giáp với xã Thành Công thuộc thị xã Phổ Yên, phía tây nam giáp với xã Trung Mỹ thuộc huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc qua dãy núi Tam Đảo Phía tây giáp với xã Cát Nê, Quân Chu và thị trấn Quân Chu thuộc huyện Đại Từ

3.1.1.2 Đặc điểm địa hình, khí hậu

* Địa hình

Năm 2017, xã Phúc Thuận có diện tích 5192,6093 ha (51,9 km²) và dân số là 14.390 người, mật độ dân số đạt 277,26 người/km²² Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp, tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 30 đến 50 m, độ dốc thường dưới

10 độ

Xã được chia thành 28 xóm: Khe Lánh, Khe Đù, Quan Xóm, Ấp Lơn, Nông Trường, Đồng Đèo, Tân Ấp 1, Tân Ấp 2, Trung, Hang Rơi, Đầm Ban, Phúc Tài, Chãng, Bãi Hu, Đức Phú, Phúc Long, Làng Luông, Bãi Chạc, Hồng Cóc, Quân Cay, Coong Lẹng, Đèo Nứa, Xim Lồng 283, Hạ, Thượng 1, Thượng 2, Trại Thèn

Trang 35

địa phương đã cải tạo thành các ruộng bậc thang có độ cao thấp tùy thuộc vào kiểu địa hình từng nơi Theo thổ nhưỡng, trên địa bàn xã có 5 loại đất chính: Đất phù sa ngòi suối, đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng

biến đổi do trồng lúa và đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

* Khí hậu

Do nằm sát chí tuyến Bắc trong vành đai Bắc bán cầu, nên khí hậu của xã Phúc Thuận mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trên địa bàn xã Phúc Thuận vào mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình khoảng 23-280C và lượng mưa trong mùa này chiếm tới 90% lượng mưa cả năm Mùa đông khí hậu lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

3.1.1.3 Thủy văn

Đông gồm 2 nhánh sông Đất và suối Than hợp thành tại thôn Tân Ấp (bờ đập) chảy suốt chiều dài của xã, qua xã Minh Đức, đổ ra sông Công phía thượng lưu Cầu Đẫm; phía Tây bắt nguồn từ nước hai dãy núi Tam Đảo chảy qua thôn Quân Cay (gọi là suối Quân Cay) chảy về dọc địa bàn của xã, qua xã Minh Đức ra hạ lưu Cầu Đẫm, cùng với lượng nước mưa trung bình năm cao đổ vào các sông, suối, kênh mương, hồ ao và trữ lượng nước ngầm của xã khá dồi dào là nguồn nước chủ yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã

3.1.1.4 Tài nguyên rừng

Diện tích đất lâm nghiệp là 2852,6544 ha: Trong đó rừng sản xuất 1788,27085ha; toàn bộ diện tích đất rừng đã được giao khoán và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình; cây trồng chủ yếu keo lai, bạch đàn

và mỡ

Trang 37

Qua bảng 3.1 ta có thể thấy hiện trạng sử dụng đất của xã Phúc Thuận năm

2017 cụ thể như sau:

- Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 5192,6093 ha

- Đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất là 4446,60952 ha chiếm 85,63% tổng diện tích đất tự nhiên

Đất sản xuất nông nghiệp là 1552,32075 ha chiếm 34,91% tổng diện tích đất nông nghiệp Trong đó đất trồng lúa có diện tích lớn nhất (501,87376 ha chiếm 32,33% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp), đất trồng cây hàng năm khác là đất chuyên rau, màu (104,52525 ha chiếm 6,73% diện tích đất sản xuất nông nghiệp) Đất trồng cây lâu năm chủ yếu là đất trồng chè có diện tích 945,92174 ha chiếm 60,69% diện tích đất sản xuất nông nghiệp

Đất nuôi trồng thủy sản có diện tích 18,58789 ha, chiếm 0,42% diện tích đất nông nghiệp Chủ yếu là các ao, hồ nhỏ cung cấp nước cho sản xuất đồng thời kết hợp nuôi thủy sản nước ngọt

Đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất với 2852,6544 ha tương đương với 64,15% diện tích đất nông nghiệp Trong đó diện tích đất rừng sản xuất và đất rừng phòng hộ lần lượt là 1788,27085 ha và 1064,38355 ha chiếm 62,69% và 37,31% tổng diện tích đất lâm nghiệp

Đất nông nghiệp khác là 23,04648 ha chiếm 0,52% tổng diện tích đất nông nghiệp

- Đất phi nông nghiệp là 737,58601 ha chiếm 14,2% tổng diện tích đất tự nhiên

Trong đó đất ở là 201,83682 ha chiếm 27,36% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất chuyên dùng là 320,17329 ha chiếm 43,41% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất cơ sở tôn giáo là 4,01397 ha chiếm 0,54% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất cơ sở tín ngưỡng là 0,87014 ha chiếm 0,12% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng là 11,7879 ha chiếm 1,6% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối là

Trang 38

151,55172 ha chiếm 20,55% tổng diện tích đất phi nông nghiệp Đất có mặt nước

chuyên dùng là 47,35217 ha chiếm 6,42% tổng diện tích đất phi nông nghiệp

- Đất chưa sử dụng chiếm diện tích nhỏ nhất là 8,41377 ha chiếm 0,16% tổng diện tích đất tự nhiên

3.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội xã Phúc Thuận

* Tình hình nhân khẩu và lao động

- Theo số liệu thống kê năm 2017, dân số toàn xã là 14.390 người, với 3553 hộ

- Trên địa bàn xã đã từng bước thực hiện công tác tuyên truyền về vận động

kế hoạch hóa gia đình để ổn định dân số và giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

- Các khu dân cư phân bố tập trung các trục đường giao thông, đông nhất

là dọc tuyến đường trục 261

- Tính đến ngày 31/12/2017 toàn xã có tổng số dân là 14 390 nhân khẩu, số

người trong độ tuổi lao động là 9787 người, trong đó:

+ Lao động nông nghiệp: 7597 người, chiếm 77,62% tổng số lao động + Lao động công nghiệp : 1164 người, chiếm 11,89% tổng số lao động + Lao động dịch vụ: 1026 người, chiếm 10,49% tổng số lao động

+ Lao động của xã chủ yếu là thuần nông, có tính cần cù, chịu khó, có ý chí vươn lên song số lượng lao động qua đào tạo còn thấp, phần lớn là lao động phổ thông

+ Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 của xã đạt 34,91 triệu đồng/người/năm [1]

Tiềm năng phát triển kinh tế

- Phúc Thuận là xã điều kiện tự nhiên địa lý thuận lợi cho việc giao thông đi lại, có tuyến đường giao thông tỉnh lộ 261 kết nối hai huyện Đại Từ và thị xã Phổ Yên đi qua địa bàn xã thuận lợi cho giao thương, buôn bán, phát triển kinh tế, thương mại Hơn nữa, Phúc Thuận nằm gần tuyến đường cao tốc Thái Nguyên – Hà Nội và nằm cạnh khu công nghiệp lớn rất thuận tiện cho việc vận chuyển cũng như tiêu thụ hàng hóa

Trang 39

- Có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, phát triển du lịch sinh thái; có lực lượng lao động dồi dào, người dân có truyền thống lao động cần cù, tỷ lệ lao động qua đào tạo cao là lợi thế để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh trong sản xuất và phát triển

- Hệ thống các công trình hạ tầng như giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên

xã, liên xóm; trụ sở làm việc của Đảng ủy – HĐND – UBND, trường học, trạm y tế,… đã được xây dựng khá đồng bộ và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới

- 100% các tuyến đường liên xã, trục xã, trục xóm được bê tông hóa, cứng hóa đáp ứng nhu cầu đi lại và trao đổi hàng hóa, phục vụ nhu cầu của người dân

Tiềm năng phát triển tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại

Là một xã cách trung tâm của huyện không xa, có tuyến đường liên tỉnh chạy qua địa bàn xã và phát triển rất nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn nên có điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh doanh thương mại dịch vụ đa ngành, đa lĩnh vực như: Kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh hàng tạp hóa, kinh doanh sản phẩm chăn nuôi, kinh doanh chế biến các mặt hàng nông sản (thu gom, vận chuyển và chế biến chè khô, hoa quả, các sản phẩm lâm nghiệp…), kinh doanh vận tải, gia công cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói, cống bi,…), khai thác vận chuyển cát,

đá xỏi… ngành tiểu thủ công nghiệp và các dịch vụ thương mại đã và đang phát triển tại địa phương phục vụ cho công nghiệp đồng thời giải quyết việc làm cho nhân dân Là tiền đề cho phát triển công nghiệp gắn với phát triển theo hướng hiện đại hóa

Tiềm năng phát triển nông - lâm nghiệp

Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, nguồn nước Phúc Thuận có điều kiện

để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp cao, phục vụ cho các khu công nghiệp trên địa bàn

- Đối với cây lúa: Diện tích gieo trồng cây lúa 501,87 ha, Diện tích lúa cả

năm là 501,87/ 501,87 ha, đạt 100% KH Năng suất bình quân 58 tạ/ha Tổng sản lượng đạt 2 910,85 tấn [1]

Trang 40

- Đối với rau màu: Phúc Thuận có điều kiện phát triển cây rau màu khá tốt,

cụ thể: Cây lạc trồng được: 57,65/57,65 ha bằng 100% KH cả năm; đỗ tương: 20/20

ha bằng 100% KH cả năm; đỗ các loại: 42,7/ 42,7 ha bằng 100% KH; sắn: 44,5/44,5

ha bằng 100% KH; khoai lang: 257/257 ha bằng 100% KH; ngô: 46,5/46,5 ha bằng 100% KH cả năm [1]

- Đối với cây chè: Xã Phúc Thuận là vùng trồng chè lớn nhất của thị xã Phổ

Yên Những năm gần đây, người dân Phúc Thuận ngoài việc mở rộng diện tích, chuyển đổi giống chè còn áp dụng kỹ thuật trồng và chăm sóc, chế biến theo tiêu chuẩn VietGap nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm ngành chè tại địa phương Toàn xã Phúc Thuận hiện có 28 xóm trồng chè, trong đó có 10 xóm đã được công nhận là làng nghề sản xuất chè truyền thống Với hơn 620 ha, trong đó

có 157 ha là các giống chè trồng mới, có năng suất và chất lượng cao như: LDP1, TRI 777, Kim Tuyên, Bát Tuyên… Sản lượng cho thu hoạch mỗi năm gần 1500 tấn chè khô Diện tích đất trồng chè có nằm ở phía Tây, Nam và Bắc của xã Vài năm gần đây do nhu cầu về sản phẩm chè lớn, cây chè cho hiệu quả kinh tế cao nên cây chè được chú trọng đầu tư Tuy vậy, chè chính vụ cho năng suất cao nhưng giá bán thấp, trung bình giao động từ 70 – 120 nghìn đồng/kg chè búp khô Nhiều hộ gia đình có diện tích trồng mới đã đầu tư hệ thống tưới phun mưa cho vườn chè, mức đầu tư dao động từ 35-38 triệu đồng/ ha

- Đối với cây ăn quả: Phúc Thuận đang đẩy mạnh việc chuyển đổi cơ cấu cây

trồng Tích cực đẩy mạnh phát triển cây ăn quả đặc biệt là cây ổi và cây táo Từng bước đem lại hiệu quả tích cực cho sản xuất nông nghiệp Trên địa bàn xã hiện có tổng diện tích cây ăn quả là gần 400 ha Trồng mới 20 ha cây ăn quả

- Đối với phát triển lâm nghiệp: Với diện tích 2852.6544 ha rừng, Phúc Thuận có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế đồi rừng

- Đối với ngành chăn nuôi: Cách trung tâm thị xã không xa, Phúc Thuận có

nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển các khu chăn nuôi tập trung, các khu chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn Hiện tại xã đã có nhiều hộ chăn nuôi trâu bò với

Ngày đăng: 27/03/2019, 21:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ giáo dục đào tạo (2010), Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Báo cáo tổng kết chăn nuôi trang trại, tập trung giai đoạn 2001-2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2007-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết chăn nuôi trang trại, tập trung giai đoạn 2001-2006, định hướng và giải pháp phát triển giai đoạn 2007-2015
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2006
5. Ngô Thượng Chính, Giáo trình “Tổ chức sản xuất” – Nhà xuất bản Hà Nội - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội - 2006
6. Dự thảo quyết định về chính sách phát triển kinh tế trang trại – 2015/QĐ-TTg 7. Đinh Phi Hổ (2011), “Kinh tế trang trại - lực lượng đột phá thúc đẩy phát triểnnông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững”, “Tạp chí Cộng sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại - lực lượng đột phá thúc đẩy phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững”, “"Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Dự thảo quyết định về chính sách phát triển kinh tế trang trại – 2015/QĐ-TTg 7. Đinh Phi Hổ
Năm: 2011
8. Nguyễn Đình Hương (2000), Thực Trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực Trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
9. Sally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng (2007), Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam, Đại học Sydney, Đại học Nông nghiệp I Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam
Tác giả: Sally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng
Năm: 2007
1. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch nhà nước năm 2017 và những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2018-UBND xã Phúc Thuận Khác
4. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn , tờ trình về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại năm 2015 Khác
10. Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP, của Chính phủ ngày 02/02/2000, về kinh tế trang trại, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội Khác
11. Nghị định số 51/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ, Thuế thu nhập của trang trại Khác
14. Thông tư liên tịch hướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại, Tổng cục thống kê, số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, tháng 6 năm 2000.II. Website Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w