Ngân hàng nhà nước cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, điều tiết thị trường tiền tệ, giám sát hoạt động của các ngân hàng..
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển của thị trường tài chính cũng đặc biệt quan trọng Sự phát triển năng động với tốc độ cao của kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhu cầu thường xuyên và to lớn về nguồn tài chính để đầu tư và tạo lập vốn kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội Là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường tiền tệ rất đáng được quan tâm, với sự tham gia của nhiều chủ thể với những mục đích khác nhau : chủ thể phát hành, chủ thể đầu tư, chủ thể kiểm soát hoạt động của thị trường Trong đó ngân hàng nhà nước là chủ thể quan trọng trong thị trường tiền tệ Ngân hàng nhà nước cung cấp cho hệ thống ngân hàng khả năng thanh toán cần thiết để đáp ứng nhu cầu cho nền kinh tế, điều tiết thị trường tiền tệ, giám sát hoạt động của các ngân hàng Nắm bắt được tầm quan trọng về vai trò
của ngân hàng nhà nước, chúng em xin chọn đề tài “ Tìm hiểu cơ sở pháp lí, vai trò của ngân hàng nhà nước trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và đưa ra ý kiến pháp lí dựa trên thực trạng phát triển kinh tế xã hội năm 2013” Đây là đề tài có tính chất rộng lớn, với kiến thức hạn hẹp chắc chắn
chúng em không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý quý báu từ phía các thấy cô Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I CƠ SỞ PHÁP LÍ ĐỂ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI.
Ngân hàng Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc giúp quốc gia thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Để nhận thấy được vai trò đó chúng ta cần
Trang 2phải có cơ sở để nhận ra rằng Nhà nước đã trao quyền đó cho Ngân hàng Nhà nước
Trên cơ sở vị trí pháp lý của Ngân hàng Nhà nước ta thấy được quy định rõ tại Khoản 1; 2 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010:
“1 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, là Ngân hàng trung ương của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2 Ngân hàng Nhà nước là pháp nhân, có vốn pháp định thuộc sở hữu nhà nước,
có trụ sở chính tại Thủ đô Hà Nội.”
Với tư cách là một pháp nhân và thuộc sở hữu Nhà nước nên Ngân hàng Nhà nước cũng có vị trí trong cấu trúc tổ chức hệ thống Nhà nước cũng rất khác biệt
so với các tổ chức doanh nghiệp khác, vừa là một cơ quan quản lý hành chính nhà nước ngang Bộ vừa là Ngân hàng Trung ương quốc gia Ngân hàng nhà nước thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước thành lập theo Sắc lệnh số 15/SL ngày 6/5/1951 của Chủ tịch nước Pháp luật đã quy định cho Ngân hàng Nhà nước có những quyền hạn và nhiệm vụ để có thể thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội của đất nước, căn cứ pháp lý cụ thể tại Khoản 3 Điều 2 Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam năm 2010 “Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối (sau đây gọi là tiền tệ và ngân hàng); thực hiện chức năng của Ngân hàng trung ương về phát hành tiền, ngân hàng của các tổ chức tín dụng và cung ứng dịch vụ tiền tệ cho Chính phủ”;
và cụ thể những quyền hạn và nhiệm vụ để có thể thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tại Khoản 4 luật này:
Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan ngang Bộ của Chính phủ Dấu
hiệu này cho thấy vị trí của Ngân hàng Nhà nước có chức năng quản lý hành
Trang 3chính nhà nước về một lĩnh vực chuyên ngành giống như nhiều Bộ khác Với tư cách là cơ quan ngang Bộ, Ngân hàng Nhà nước được trao thẩm quyền riêng để thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nước riêng về lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ quốc gia:
- Tham gia xây dựng chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
- Xây dựng dự cán chính sách tiền tệ quôc gia để Chính phủ xem xét trình Quốc hội quyết định và tổ chức thực hiện chính sách này; xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng;
- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác về tiền tệ và hoạt động ngân hang; ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền;
- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng, trừ trường hợp do Chính phủ quyết định; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; quyết định giải thể, chấp thuận chia, tách hợp nhất, sáp nhập các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Kiếm tra, thanh tra hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lí các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo thẩm quyền;
- Quản lí việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ;
- Chủ trì lập và theo dõi kết quả thực hiện các cân thanh toán quốc tế;
- Quản lí hoạt động ngoại hối và quản lí hoạt động kinh doanh vàng;
Trang 4- Kí kết, tham gia điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật;
- Đại diện cho nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức tiền tệ
và ngân hàng quốc tế trong những trường hợp được Chủ tịch nước, Chính phủ ủy quyền;
- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ ngân hàng
Tuy nhiên nếu hiểu rằng vị trí pháp lí của Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn giống như các cơ quan quản lí hành chính chuyên ngành cấp Bộ khác thì cũng không chính xác Bởi lẽ, Ngân hàng Nhà nước còn có tư cách là Ngân hàng Trung ương, ta thấy không một Bộ hay cơ quan ngang Bộ nào khác có tư cách giống như vậy cả
Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước với tư cách là Ngân hàng Trung ương của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nắm trong tay quyền hạn của Ngân hàng Trung ương, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất có quyền thực hiện nghiệp vụ ngân hàng trên toàn lãnh thổ quốc gia trong từng thời kì cho phù hợp với những yêu cầu khách quan của đời sống kinh tế - xã hội:
- Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi, thay thế và tiêu hủy tiền;
- Thực hiện tái cấp vốn nhằm cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế;
- Điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở;
- Kiểm soát dự trữ quốc tế; quản lí dự trữ ngoại hối nhà nước;
Trang 5- Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng, làm dịch vụ thanh toán, quản lí các phương tiện thanh toán;
- Làm đại lí và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc nhà nước;
- Tổ chức hệ thống thông tin và làm các dịch vụ thông tin ngân hàng
Ngoài ra, ngân hàng Nhà nước còn phải thực hiện các nhiệm vụ và quyền
hạn khác khi tình hình kinh tế - xã hội có sự thay đổi để kịp thời định hướng và
ổn định kinh tế- xã hội
Như vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa có tư cách pháp lí của Ngân hàng Trung ương lại vừa có tư cách pháp lí của cơ quan quản lí hành chính chuyên ngành cấp Bộ Việc pháp luật quy định như vậy một mặt thể hiện tầm quan trọng và vị trí quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà nước trong hệ thống các Ngân hàng, mặt khác lại thể hiện cơ cấu tổ chức thuốc Chính phủ có quyền lực Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện hiệu quả các nghiệp vụ ngân hàng của mình; như vậy việc quản lý và điều tiết hoạt động ngân hàng sẽ trở nên dễ dàng hơn, đảm bảo tính thực thi hơn
II VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI
1 Ảnh hưởng cung ứng tiền đến nền kinh tế
Mọi họat động của ngân hàng đều ảnh hưởng mật thiết đến cung ứng tiền trong nền kinh tế Cung ứng tiền thay đổi làm biến động giá cả, sản lượng quốc gia, do đó một cách gián tiếp mọi họat động ngân hàng ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế
Sự khác biệt trong chính sách cung ứng tiền là khoảng cách giữa chính sách cung ứng nới lỏng và chính sách cung ứng thắt chặt
Trang 6Chính sách cung ứng tiền nới lỏng làm cho tiền tệ trở nên dồi dào hơn Điều này kích thích tiêu dùng cho cuộc sống và cho đầu tư nhiều hơn Sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư làm sản xuất liên tục được mở rộng, tuyển mộ thêm công nhân, giảm thất nghiệp và gia tăng thu nhập quốc dân Nền kinh tế tăng trưởng với giá
cả tăng cao hơn trước
Chính sách cung ứng tiền thắt chặt làm cho chi phí để có tiền cao hơn và tiền trở nên khan hiếm Sản xuất thiếu vốn, người mua thiếu tiền buộc phải cắt giảm chi tiêu và đầu tư, điều này dẫn đến tổng cầu giảm và giá cả hạ Cái giá phải trả là sản xuất bị thu hẹp, thất nghiệp tăng, thu nhập quốc dân giảm và nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái
Do đó cung ứng tiền là sức mạnh đầy quyền lực của ngân hàng nhà nước Khi ngân hàng nhà nước điều tiết cung ứng tiền tức là nó bắt đầu tiến hành điều tiết nền kinh tế
2 Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Khoản 1 điều 3 Luật NHNNVN quy định: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân”
Có thể hiểu rằng, Chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế -tài chính của Nhà nước do ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi thông qua các công cụ biện pháp của mình nhằm đặt các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền,
Trang 7tạo công ăn việc làm, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân
Tùy điều kiện các nước mà chính sách tiền tệ có thể được xác lập theo hai hướng: chínhsách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩy sản xuất kinh doanh) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tăng lãi suất làm giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh)
Ngân hàng trung ương tham gia thị trường tiền tệ với vai trò điều tiết, quản
lý thị trường, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông, đảm bảo thị trường tiền tệ hoạt động theo đúng mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia thông qua các công cụ quản lý tiền tệ như:
+ Nghiệp vụ thị trường mở
+ Lãi suất
+ Dự trữ bắt buộc
+ Tỉ giá hối đoái
+ Tái cấp vốn
3 Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
a Lãi suất
Lãi suất là tỉ lệ phần trăm giữa khoản tiền người đi vay trả cho người cho vay trên tiền vốn trong một khoảng thời gian nhất định như 1 tháng, 1 năm
Ngân hàng trung ương với vai trò của mình đưa ra một khung lãi suất hay
ấn định một trần lãi suất cho vay để hướng các ngân hàng thương mại điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới quy mô tín dụng của nền kinh tế và ngân hàng trung ương có thể đạt được quản lí mức cung tiền của mình
Trang 8Việc điều chỉnh lãi suất theo xu hướng tăng hay giảm của ngân hàng nhà nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô huy động và cho vay của các ngân hàng thương mại làm cho lượng tiền cung ứng thay đổi theo Bằng công cụ này giúp cho ngân hàng trung ương thực hiện quản lí lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời kì
b Dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền dự trữ mà các ngân hàng bắt buộc phải giữ lại do theo quy định của ngân hàng trung ương, gửi lại ngân hàng trung ương, không hưởng lãi, không được dùng để đầu tư, cho vay và thông thường được tính theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền gửi của khách hàng để đảm bảo khả năng thanh toán, sự ổn định của hệ thống ngân hàng
Dự trữ bắt buộc là công cụ mang nặng tính quản lí Nhà nước, giúp ngân hàng trung ương chủ động trong việc điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của nó cũng rất mạnh (chỉ cần thay đôi một lượng nhỏ tỉ lệ dữ trữ bắt buộc là ảnh hưởng rất lớn tới mức cung tiền)
c Nghiệp vụ thị trường mở.
Nghiệp vụ thị trường mở là nhưng hoạt động mua bán chứng khoán do ngân hàng trung ương thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua
đó điều tiết lượng tiền cung ứng
Khi ngân hàng trung ương mua (bán) chứng khoán sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng (giảm) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi) Nếu thị trường mở chỉ gồm ngân hàng trung ương và các ngân hàng thương mại thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dự trữ của các ngân hàng thương mại, nếu bao gồm cả công chúng thì nó sẽ làm thay đổi ngay lượng tiền mặt trong lưu thông
Trang 9Chính vì vận dụng tính linh hoạt của thị trường mà đây được coi là công cụ năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ (vì khối lượng chứng khoán mua (bán) tỉ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốn kém
về chi phí, dễ đảo ngược tình thế)
d Tỉ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối quan hệ về mặt giá trị giữa hai loại đồng tiền Nói cách khác, tỉ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này được biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác
Sự biến động của tỉ giá hối đoái có tác động rất lớn đến mọi mặt của hoạt động kinh tế từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dung trong nước qua biển đổi giá cả hàng hóa Do vậy, tỉ giá hối đoái là một công cụ
để NHTW thực thi chính sách tiền tệ của mình Khi vận hành tỷ giá hối đoái, NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc thả nổi tỉ giá theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối
e Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là một phương pháp mà qua đó ngân hàng trung ương sẽ cung ứng tiền cho nền kinh tế thông qua việc cấp tín dụng cho các ngân hàng thương mại trên cơ sở nhận tái chiết khấu, tái cầm cố các chứng từ có giá của các ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương điều chỉnh tăng, giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu phù hợp phù hợp với mục tiêu thắt chặt hay mở rộng tiền tệ, từ đó làm giảm hoặc tăng lượng tiền trong lưu thông Nếu chính sách của ngân hàng trung ương là muốn bành trướng khối lượng tiền tệ, ngân hàng trung ương khuyến khích các ngân hàng thương mại trong việc đi vay bằng cách hạ lãi suất
Trang 10tái chiết khấu và những điều kiện tái chiết khấu cũng dễ dãi Ngược lại, khi ngân hàng trung ương muốn giảm bớt cơ hội làm tăng khối lượng tiền tệ, sẽ thực hiện nâng lãi suất chiết khấu, thay đổi điều kiện tái chiết khấu theo hướng khó khăn hơn
Ngân hàng trung ương cũng sử dụng hạn mức tái cấp vốn để tác động trực tiếp về mặt lượng đối với dự trữ của hệ thống ngân hàng thương mại
III THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2013
QUA VAI TRÒ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC.
Với 40 Ngân hàng thương mại Việt Nam tính đến cuối năm 2012, có vốn điều lệ xấp xỉ 250 ngàn tỷ đồng tương đương 12 tỷ USD, tức là bằng quy mô trung bình của một ngân hàng khu vực châu Á Với khoảng 100 ngân hàng thương mại hoạt động phục vụ cho nền kinh tế có GDP năm 2012 là 136 tỷ USD, thì thấy rằng hệ thống ngân hàng thương mại có quá nhiều ngân hàng đang hoạt động nhưng quy mô vốn quá nhỏ, cần phải tái cấu trúc cả về số lượng và chất lượngngân hàng để phục vụ nền kinh tế
Theo khẳng định từ ngân hàng nhà nước, hiện nay thanh khoản bằng VND của hệ thống các tổ chức tín dụng được cải thiện, nguy cơ đổ vỡ hàng loạt từ cuối năm ngoái đã được đẩy lùi, các tổ chức tín dụng đã thực sự quan tâm hơn trong việc quản trị rủi ro thanh khoản, đảm bảo an toàn hệ thống Điều này được thể hiện qua số dư tiền gửi của tổ chức tín dụng tại ngân hàng nhà nước luôn cao hơn so với yêu cầu dự trữ bắt buộc; Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm 10-11%/năm so với đầu năm và ổn định ở mức thấp, không còn tình trạng căng thẳng về thanh khoản, đẩy lãi suất lên cao như trong năm 2011 Cùng với đó, các