ĐẶT VẤN ĐỀTrung gian thương mại hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số các thương nhân xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân,
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Trung gian thương mại hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số các thương nhân xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa
và đại lý thương mại.
Với đề bài :
“Công ty A (trụ sở chính ở Hà Nội) kinh doanh đồ thủ công mỹ nghệ, muốn
có sự hiện diện trên thị trường miền Trung để dần mở rộng hoạt động kinh doanh tại đây, song không muốn mở chi nhánh hay văn phòng đại diện do băn khoăn về vấn đề kinh phí còn hạn chế
1 Tư vấn cho công ty A giải pháp tiết kiệm nhất để thực hiện được ý định trên đây.
2 Trong trường hợp tư vấn cho Công ty A lựa chọn ký kết một hợp đồng, hãy trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng đó.
3 Phân tích để thấy rõ, Công ty B, đối tác ký kết hợp đồng với Công ty
A trong quan hệ thương mại trên đây, có cần thiết phải có đăng ký kinh doanh
đồ thủ công mỹ nghệ hay không? Tại sao?
4 Phân tích phạm vi trách nhiệm của công ty B đối với công ty A và đối với khách hàng (nếu có)”.
Chúng em xin cố gắng vận dụng tối ưu những kiến thức đã được học về
“trung gian thương mại” để áp dụng vào bài làm, đưa ra những cách giải quyết
tốt nhất, hữu hiệu nhất cho công ty A Mong thầy (cô) và các bạn góp ý để bài làm của chúng em được tốt hơn
Trang 2B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Tư vấn cho công ty A giải pháp tiết kiệm nhất để thực hiện được ý định trên đây.
Giải pháp mà nhóm em muốn tư vấn cho công ty A để thực hiện ý định trên
là ông A nên kí hợp đồng đại lý tại thị trường miền Trung
Bởi những lí do sau đây:
Thứ nhất, theo quy định tại Khoản 11 Điều 3 Luật Thương mại 2005 thì:
“Trung gian thương mại hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số các thương nhân xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại” Như vậy, dịch vụ trung gian thương mại mang lại
hiệu quả rất lớn; bởi thương nhân trung gian hiểu biết, nắm rõ thị trường, tập quán của địa phương, họ có khả năng mở rộng giao lưu buôn bán hạn chế rủi ro đối với bên thuê dịch vụ; cũng như họ có điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật để có thể thực hiện những giao dịch kinh doanh chuyên nghiệp; do
đó, bên thuê dịch vụ cũng sẽ giảm được nhiều chi phí để mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, trung gian thương mại bao gồm những hoạt động như: môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa, đại diện cho thương nhân, đại lý thương mại Người sử dụng dịch vụ trung gian thương mại có thể thỏa sức lựa chọn những hoạt động trên sao cho phù hợp nhất với
mục đích và thỏa mãn được nhu cầu của mình Xét tình huống trên, thấy rằng
công ty A (Có trụ sở tại Hà Nội) muốn có sự hiện diện mặt hàng của mình trên thị trường miền Trung, song không muốn mở chi nhánh hay văn phòng đại diện
do băn khoăn về vấn đề kinh phí còn hạn chế Như vậy, với nhu cầu của mình, công ty A nên chọn dịch vụ trung gian thương mại Bởi, công ty A sẽ rất tốn kém nếu mở chi nhánh hay văn phòng đại diện tại miền Trung do khoảng cách địa lý giữa Hà Nội và Miền trung khá xa (khoảng 800km), thêm nữa là công ty
A chưa rõ thị trường (sẽ rất mất thời gian để tìm hiểu thị trường và ổn định hoạt động kinh doanh) Vì vậy, thay vào việc mở chi nhánh hay văn phòng đại diện,
Trang 3công ty A nên chọn dịch vụ trung gian thương mại vì so với chi phí để mở rộng sản xuất kinh doanh (như xây dựng trụ sở, trang thiết bị, tìm hiểu thị trường, mất thời gian để ổn định hoạt động kinh doanh…) sẽ tốn kém hơn nhiều so với khoản thù lao mà công ty A phải bỏ ra khi sử dụng dịch vụ trung gian thương mại Ngoài ra, thông qua việc sử dụng các dịch vụ trung gian thương mại, công
ty A có thể hình thành mạng lưới buôn bán, tiêu thụ, cung cấp các loại dịch vụ trên một phạm vi rộng, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Như vậy, ngoài việc sẽ tiết kiệm được chi phí đầu tư, sản xuất kinh doanh, công
ty A có thể chiếm lĩnh, mở rộng thị trường nếu công ty A lựa chọn dịch vụ trung gian thương mại
Thứ hai, xét nhu cầu của công ty A là muốn mở rộng hoạt động kinh doanh
trên thị trường miền Trung Như vậy, mục đích của công ty A là muốn xây dựng thị trường một cách lâu dài, ổn định; nhằm làm cho sản phẩm của mình có
thể hiện diện trên thị trường miền Trung Do đó, công ty A không thể chọn hình
thức môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa hay đại diện cho thương nhân Bởi:
Trường hợp công ty A lựa chọn dịch vụ môi giới thương mại thì ta
thấy, Điều 150_LTM 2005 có quy định: “Môi giới thương mại là hoạt động
thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới” Điều này có nghĩa là bên môi giới chỉ có thể
tìm kiếm và giới thiệu cho công ty A với các khách hàng mà không trực tiếp kí hợp đồng với khách hàng; bên công ty A sẽ vẫn nhân danh chính mình để kí hợp đồng Như vậy, môi giới chính là cầu nối cho hai bên công ty A và đối tác gặp nhau chứ không phải giúp công ty A kí được các hợp đồng (việc quyết định
kí kết hợp đồng là do công ty A và khách hàng thỏa thuận); do đó sự hiện diện, tham gia vào thị trường mới của công ty A sẽ kém hiệu quả Vì không phù hợp mục đích nên loại hình dịch vụ này không nên là lựa chọn của công ty A Hơn nữa, nếu chọn dịch vụ môi giới, công ty A còn mất thêm chi phí để có thể kí
Trang 4hợp đồng từ Hà Nội vào miền Trung Như vậy, bên công ty A khó có thể kinh doanh trên thị trường miền Trung ổn định và lâu dài được; nguồn khách hàng của bên công ty A sẽ phụ thuộc rất nhiều vào bên môi giới Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 3 Điều 151 Luật Thương mại thì bên môi giới chỉ chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của bên được môi giới (tức sẽ là khách hàng của A), nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ Nếu vậy, công ty
A sẽ chịu rủi ro rất lớn nếu bên khách hàng không thanh toán được tiền hàng
Trường hợp công ty A lựa chọn dịch vụ ủy thác mua bán hàng hóa
thì hiệu quả kinh doanh của công ty A cũng sẽ không cao Tuy rằng, nếu chọn
ủy thác mua bán hàng hóa thì bên nhận ủy thác sẽ tìm kiếm khách hàng và sau
đó thực hiện việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa chính mình, theo sự thỏa thuận với bên công ty A và sẽ nhận thù lao (Điều 155 Luật thương mại 2005) Nhưng dịch vụ ủy thác mang tính vụ việc đơn vụ, tức là bên nhận ủy thác có trách nhiệm tìm kiếm khách hàng và bán đúng với số lượng hàng hóa mà bên nhận ủy thác và công ty A đã thỏa thuận trên thị trường của miền Trung Nếu bán xong số hàng đó thì bên ủy thác sẽ nhận thù lao; như vậy, công ty A sẽ tốn nhiều chi phí cho từng hợp đồng ủy thác và sẽ không đúng với mục đích của công ty A là mở rộng mặt hàng thủ công mỹ nghệ thị trường miền Trung lâu dài, ổn định
Trường hợp công ty A lựa chọn dịch vụ đại diện cho thương nhân thì
Khoản 1 Điều 141 LTM 2005 có quy định: “đại diện cho thương nhân là việc
một thương nhân ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo
sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện” Theo
đó, bên đại diện cho công ty A sẽ thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa của công ty A, theo sự chỉ dẫn của chính công ty A và hưởng thù lao về việc đại diện Như vậy, nếu lựa chọn hình thức này công ty A sẽ chịu rủi ro cao khi công ty A chưa hiểu rõ thị trường miền Trung (do khoảng cách địa lý xa) nên nếu bên đại diện thực hiện theo sự chỉ dẫn của công ty A (bên đại diện chỉ thực hiện công việc trong phạm vi đại diện) và nhân danh công ty A thì mọi rủi
Trang 5ro về bán hàng hóa trên thị trường miền Trung sẽ do công ty A phải chịu và hàng hóa không tự do lưu thông, cũng như thị trường miền Trung sẽ không mở rộng Như vậy, nếu lựa chọn dịch vụ đại diện cho thương nhân thì sẽ không đúng với mục đích kinh doanh của công ty A
Có thể thấy rằng, cả 3 hình thức trên không phải là lựa chọn hợp lý với mục
đích của công ty A nếu công ty này muốn mở rộng hoạt động kinh doanh và muốn có sự hiện diện mặt hàng thủ công mỹ nghệ trên thị trường miền Trung
Do đó, giải pháp hợp lý nhất cho công ty A trong trường hợp này là công ty A chọn hình thức trung gian thương mại đó là Đại lý.
Để chứng minh cho việc lựa chọn này là phù hợp nhất, thì ta có thể thấy
rằng: “đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và
bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng
để hưởng thù lao”(Điều 166_LTM 2005) Theo đó, công ty A và bên đại lí thỏa
thuận việc bên đại lý nhân danh công ty A bán hàng hóa cho khách hàng để hưởng thù lao Nếu sử dụng dịch vụ này thì công ty A sẽ giao kết hợp đồng đại
lý với một hoặc nhiều thương nhân khác, thông qua bên đại lý mặt hàng của công ty A sẽ đến được với khách hàng Bên đại lý của công ty A sẽ nắm trong tay hàng hóa và đưa về khắp mọi nơi để quảng bá và tiêu thụ mặt hàng thủ công
mỹ nghệ của công ty A nhưng quyền sở hữu vẫn thuộc về công ty A Khi hàng hóa được đưa về gần với khách hàng thì nó sẽ được nhiều người biết đến và phổ biến hơn, dễ dàng tiêu thụ được hàng hóa và mở rộng thị trường Bên đại lý được hưởng thù lao từ việc bán hàng (có thể theo hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá) nên cũng thúc đẩy việc các đại lý tìm kiếm khách hàng và các mặt hàng của công ty A sẽ tiêu thụ hàng nhanh hơn Như vậy, có thể thấy nếu chọn dịch vụ này thì chi phí để mở rộng thị trường của công ty A giảm đáng kể
so với các dịch vụ khác (bởi việc mở rộng thị trường sẽ do bên Đại lý thực hiện; ngoài ra, công ty A sẽ giảm chi phí để xây dựng trụ sở cũng như chuẩn bị trang thiết bị để ổn định kinh doanh)
Trang 6Trong Đại lý thương mại công ty A có thể lựa chon các hình thức như: đại lý bao tiêu, đại lý độc quyền, tổng đại lý hoặc các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận Với mục đích của mình là mở rộng thị trường hàng thủ công mỹ nghệ, công ty A nên nên sử dụng loại hình tổng đại lý – đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc, các đại lý trực thuộc hệ thống hoạt động dưới sự quản lí và danh nghĩa của tổng đại lý (Khoản 3 Điều 169 Luật thương mại) Nếu sử dụng hình thức đại lý này thì công ty A sẽ chỉ phải kiểm soát tổng đại lý, còn việc tiếp cận, mở rộng thị trường thì sẽ có một hệ thống đại lý trực thuộc làm nhiệm
vụ này Còn nếu sử dụng hình thức là Đại lý bao tiêu thì bên Đại lý sẽ nhận hàng với một số lượng do công ty A quyết định; tuy nhiên, nếu mặt hàng này không bán được thì bên đại lý cũng không được trả lại, và không được lấy thêm mặt hàng mới việc này sẽ không thu hút các thương nhân hợp tác (bởi mặt hàng của công ty A vẫn chưa hiện diện trên thị trường miền Trung nên việc tiếp cận thị trường là rất quan trọng) Còn nếu công ty A chọn hình thức là đại lý độc quyền thì công ty A sẽ gặp bất lợi vì hàng hóa của công ty chỉ bán được thông qua duy nhất một đại lý, và không có cạnh tranh thì hàng hóa không thể phát triển được
Như vậy, để mở rộng kinh doanh mà tốn ít chi phí nhất mà công ty A nên
chọn đó là Tổng Đại lý
2 Trong trường hợp tư vấn cho Công ty A lựa chọn ký kết một hợp đồng, hãy trình bày đặc điểm pháp lý của hợp đồng đó.
Luật Thương Mại 2005 không đưa ra khái niệm Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá mà chỉ đưa ra khái niệm đại lý thương mại tại Điều 166 Luật Thương Mại 2005
Căn cứ vào Điều 166 Luật Thương Mại 2005 và Điều 388 BLDS 2005, có
thể đưa ra khái niệm Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá như sau: “Hợp đồng
đại lý mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên đại lý nhân danh chính mình thực hiện việc mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý để hưởng thù lao”.
Trang 7* Đặc điểm pháp lí của Hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá
- Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá phải là thương
nhân
Quan hệ đại lý mua bán hang hoá phát sinh giữa bên giao đại lý và bên đại
lý Bên giao đại lý là bên giao hàng hoá cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua Bên đại lý là bên nhận hàng hoá để làm đại lý bán hàng hoặc nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua Theo quy định tại Điều 167 Luật Thương mại 2005 thì bên giao đại lý và bên đại lý đều phải là thương nhân Như vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005, bên giao đại lý và bên đại lý phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng kí kinh doanh
- Thứ hai, hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản
hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương
Điều 168 Luật Thương mại 2005 quy định: “Hợp đồng đại lý phải được lập
thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”
Hợp đồng đại lý bao gồm hợp đồng đại lý mua bán h à ng hoá và hợp đồng đại lý cung ứng dịch vụ Như vậy, căn cứ vào Điều 168 Luật Thương mại 2005 thì pháp luật bắt buộc các bên phải thiết lập hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá bằng hình thức văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu (khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại 2005)
- Thứ ba, đối tượng của hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá là công việc mua
bán hàng hoá
Xét về bản chất, hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá là một hợp đồng dịch
vụ, theo quy định tại Điều 519 BLDS 2005 thì đối tượng của hợp đồng dịch vụ
là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức
xã hội nên đối tượng của hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá là công việc mua
Trang 8bán hàng hoá và việc mua bán hàng hoá này không trái với pháp luật và đạo đức xã hội
- Thứ tư, bên đại lý nhân danh chính mình để thực hiện việc mua, bán hàng
hoá cho bên giao đại lý
Trong quan hệ hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá, do bên giao đại lý thực hiện việc mua, bán hàng hoá cho mình thông qua bên đại lý nên bắt buộc bên đại lý phải có quyền kinh doanh hàng hoá đó, hay nói cách khác là phải có ngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hoá đại lý Do bên đại lý thực hiện việc mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý bằng danh nghĩa của chính mình nên ngoài việc bên đại lý và bên giao đại lý phải có đăng kí kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hoá ghi trong hợp đồng thì bên đại lý phải chịu trách nhiệm trong trường hợp có lỗi do mình gây ra
- Thứ năm, trong quan hệ hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá, bên đại lý
không phải là chủ sở hữu đối với hàng hoá mà chủ là người được bên giao đại
lý uỷ thác việc định đoạt hàng hoá Bên giao đại lý hoàn toàn không chuyển quyền sở hữu hàng hoá (trong trường hợ đại lý bán) hoặc tiền (trong trường hợp đại lý mua)
Cơ sở để bên đại lý bán hoặc mua hàng hoá cho bên giao đại lý là sự uỷ quyền mua, bán hàng hoá của bên giao đại lý Đặc điểm này là cho hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá hoàn toàn khác hợp đồng mua bán hang hoá Hợp đồng mua bán hàng hoá có sự chuyển quyền sở hữu hàng hoá Nhưng trong quan hệ đại lý mua bán hàng hoá, bên giao đại lý chỉ giao hàng hoá cho bên đại
lý mà khong chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên đại lý Khi bên đai lý giao kết, thực hiện hợp đồng với khách hàng, thì quyền sở hữu hang hoá sẽ được chuyển từ bên giao đại lý sang cho khách hàng Bên đại lý chỉ có vai trò của một người làm dịch vụ trung gian Với tư cách là chủ sở hữu hàng hoá bên đại
lý có toàn quyền định đoạt đối với hàng hoá cũng như phải chịu rủi ro đối với hang hoá
Trang 9- Thứ sáu, để thực hiện hoạt động đại lý, bên đại lý phải thực hiện hành vi
thực tế
Bên đại lý nhân hàng hoá từ bên giao đại lý để giao cho người mua trong trường hợp đại ý bán, hoặc nhận tiền từ bên giao đại lý để thanh toán cho khách hàng, nhận hàng từ khách hàng để giao cho bên giao đại lý trong trường hợp đại
lý mua Trong quan hệ đại lý mua bán hàng hoá, bên đại lý được tự do tìm kiếm, giao kết hợp đồng với bên thứ ba mà không chịu sự tác động của bên giao đại lý Đặc điểm này giúp phân biệt hợp đồng đại lý mua bán hàng hoá với hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá
3 Phân tích để thấy rõ, công ty B, đối tác ký kết hợp đồng với công ty A trong quan hệ thương mại trên đây, cần phải có ĐKKD đồ thủ công mỹ nghệ hay không? Tại sao?
Để có sự hiện diện của mình trên thị trường miền trung, công ti A nên lựa chọn giải pháp là thông qua trung gian thương mại, cụ thể ở đây là hình thức đại lý thương mại Nếu đối tác của công ti A là công ti B, giả sử công ti này có đầy đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ đại lý thương mại Nhưng liệu trong mọi trường hợp công ti B đều có thể tham gia ký kết hợp đồng đại lý thương mại hay không? Cụ thể trong tình huống nêu trên thì để trở thành đại lý của công ti A thì công ti B có cần phải có giấy phép kinh doanh mặt hàng thủ công
mỹ nghệ- mặt hàng mà công ti A đang kinh doanh không?
Quan hệ đại lý mua bán hàng hóa được xây dựng trên cơ sở hợp đồng, giữa bên giao đại lý và bên đại lý Theo điều 167 Luật thương mại 2005, chủ thể hợp đồng đại lý, tức là bên giao đại lý và bên đại lý phải là thương nhân Có nghĩa,
họ phải là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
Bên giao đại lý là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài giao hàng hóa cho đại lý bán hoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua Đối với hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được Bộ công thương cho phép Luật quy định
Trang 10chủ thể của hợp đồng đại lý là thương nhân nhưng không quy định cụ thể các thương nhân trên có đăng ký kinh doanh ngành nghề như thế nào Để hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa có hiệu lực pháp luật thì các bên phải có năng lực chủ thể thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hóa để làm đại lý bán, nhận tiền mua hàng để làm đại lý mua, cũng giống như bên giao đại lý, Luật thương mại 2005 chỉ quy định bên đại lý phải là thương nhân mà không đề cập đến việc thương nhân có đăng ký kinh doanh ra sao
Xuất phát từ đặc điểm của hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa, bên đại lý phải dùng chính danh nghĩa của mình để thực hiện việc mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý, pháp luật về doanh nghiệp hiện nay vẫn đang quy định nghĩa vụ
của doanh nghiệp là: hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, bảo đảm điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện(khoản
1 điều 9 Luật doanh nghiệp 2005) Khoản 1 điều 86 Bộ luật dân sự 2005 quy
định: “năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có
các quyền, nghĩa vụ dân sự phù hợp với mục đích của mình”, còn theo điểm a
khoản 1 điều 122 Bộ luật dân sự 2004 thì một trong các điều kiện bắt buộc để
giao dịch dân sự có hiệu lực là: “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi
dân sự” Từ các quy định nêu trên có thể đi đến nhận định: trong quan hệ hợp
đồng đại lý, do bên giao đại lý thực hiện việc mua, bán hàng hóa cho mình thông qua bên đại lý nên bắt buộc phải có quyền kinh doanh những hàng hóa
đó, hay nói cách khác là phải có ngành, nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý Do bên đại lý thực hiện việc mua bán hàng hóa cho bên giao đại lý bằng chính danh nghĩa của mình nên phải có ngành nghề kinh doanh phù hợp với hàng hóa đại lý mua, đại lý bán Từ nghĩa vụ cụ thể của bên đại lý là nhân danh chính mình để thực hiện việc mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa nhất định cho bên giao đại lý nên bên giao đại lý phải có đăng ký kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa ghi trong hợp đồng