1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số vấn đề về giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

24 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 232 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 131 BLDS năm 2005 qui định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

C.Mác đã từng nói: “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Hay nóicách khác, để có thể tồn tại được, mỗi người đều phải tham gia vào các mối quan hệkhác nhau, tạo nên mối dây liên kết với thế giới xung quanh nhằm thỏa mãn nhucầu vật chất cũng như tinh thần của bản thân Một trong những hoạt động tích cực

và hiệu quả nhất của con người nhằm hướng tới mục đích đó là việc tham gia vàocác loại giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân sự

Xét dưới góc độ của môn khoa học luật dân sự mà nhìn nhận thì giao dịchdân sự là phương tiện khá hữu hiệu để thỏa mãn quyền và lợi ích hợp pháp của cácchủ thể Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy cho nên giao dịch dân sự đã đượcđưa vào BLDS nước ta nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của chủ thể phát sinh từgiao dịch bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Tính bảo đảm đó không chỉđược thực hiện trong những giao dịch dân sự hợp pháp mà còn phát sinh từ các giaodịch vi phạm vào một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự gọi làgiao dịch dân sự vô hiệu, nếu vi phạm một trong các điều kiện này thì giao dịch dân

sự đó không có hiệu lực Khi đó, tùy theo yêu cầu của các bên có quyền và lợi íchliên quan hoặc theo quy định của pháp luật mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽtuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố

đó nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia giao dịch Do

tính cấp thiết của vấn đề nên em đã chọn đề tài: “Một số vấn đề về giao dịch dân

sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể”.

Trang 2

xe máy khi vào siêu thị, ký tên vào một giấy báo nhận thư bảo đảm … Những hành

vi đó chính là những “giao dịch dân sự” Mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự

là vì lợi ích, quyền lợi mà các bên mong muốn đạt được theo ý định chủ quan củamình Như vậy, theo BLDS năm 2005, tại Điều 121 thì giao dịch dân sự được quiđịnh như sau:

“Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

b) Phân loại giao dịch dân sự:

Tất cả các giao dịch dân sự đều có điểm chung tạo thành bản chất của giaodịch: Đó là ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Căn cứ vào các bên tham gia vàogiao dịch có thể phân biệt giao dịch dân sự thành hai loại: Hợp đồng dân sự và hành

vi pháp lý đơn phương

- Hợp đồng dân sự là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên

nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự

Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến nhất trong đời sống hằngngày Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia Tronghợp đồng ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ýchí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng Do vậy, hợp đồng dân sự là

sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ dân sự

Trang 3

- Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch trong đó thể hiện ý chí của một

bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hành vipháp lý đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợpvới các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (Điều 122 BLDS năm 2005)

2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý có ý thức thể hiện ý chí của các chủ thểquan hệ pháp luật dân sự nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụdân sự Giao dịch dân sự là một trong những căn cứ quan trọng và phổ biến nhấtlàm phát sinh quan hệ pháp luật dân sự Để một giao dịch dân sự có hiệu lực phápluật thì giao dịch đó phải đáp ứng được một số các điều kiện do pháp luật quy định.Theo quy định tại Điều 122 BLDS thì một giao dịch dân sự được coi là có hiệu lựckhi có hội tụ đồng thời các điều kiện sau:

1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Như vậy, nếu thiếu đi một trong các điều kiện trên thì giao dịch dân sự không

có hiệu lực thực hiện, khi đó giao dịch được coi là vô hiệu

3 Khái niệm giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể:

Bản chất của GDDS là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên tựnguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không có tự do

ý chí và bày tỏ ý chí không thể có tự nguyện, nếu một trong hai yếu tố này không cóhoặc không thống nhất cũng không thể có tự nguyện, sự tự nguyện của một bên

Trang 4

(hành vi pháp lý đơn phương) hoặc sự tự nguyện của các bên trong một quan hệ dân

sự (hợp đồng) là một trong các nguyên tắc được qui định tại Điều 4 BLDS năm

2005 về nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Vi phạm sự tự nguyện củachủ thể là vi phạm pháp luật Vì vậy, giao dịch thiếu sự tự nguyện không làm phátsinh hậu quả pháp lý Do đó, GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể có thể đượcđịnh nghĩa như sau:

Giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là giao dịch dân sự mà ý chí của các chủ thể trong giao dịch đó không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong

và bày tỏ ý chí ra bên ngoài của một hoặc các bên tham gia Sự vi phạm đó có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là làm vô hiệu giao dịch dân sự.

II MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN CỦA CHỦ THỂ:

1 Các loại giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể căn cứ theo nguyên nhân của sự vi phạm:

1.1 Giao dịch dân sự nhầm lẫn:

Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà thamgia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia Sự nhầm lẫn xuất phát từnhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫnphải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác minhđược Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch cóthể bị tuyên bố vô hiệu

Điều 131 BLDS năm 2005 qui định: “Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên

kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch

vô hiệu.

Trang 5

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.”

Vậy, nhầm lẫn theo qui định của BLDS năm 2005 có thể được hiểu như sau:

- Thứ nhất, BLDS Việt Nam không đưa ra khái niệm về nhầm lẫn mà chỉ

đưa ra sự nhầm lẫn đơn phương là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự,điều này dẫn đến thiếu nguyên nhân gây nhầm lẫn BLDS 2005 dự liệu 2 nguyênnhân gây nhầm lẫn do lỗi vô ý hay cố ý của một bên làm cho hợp đồng vô hiệu.Song thực tế lại xảy ra trường hợp một bên nhầm lẫn mà bên kia hoàn toàn “không

có lỗi” và không thể suy luận được ai trong hai bên có lỗi Thực tế hiện nay, có rấtnhiều trong trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do sự nhầm lẫn của cả haibên tham gia mà pháp luật nước ta lại không điều chỉnh Ví dụ: Bên bán và bên muacùng nghĩ tài sản là đồ cổ của thế kỷ thứ 15 Một thời gian sau, cả 2 bên lại biếtđược đây là đồ cổ của thế kỷ thứ 12 Rõ ràng, 2 bên đều nhầm lẫn và nhẫm lẫn củabên bán không hề có lỗi của bên mua

Hơn nữa, GDDS là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng, mà nhưchúng ta đã biết, đòi hỏi mang tính cốt lõi của hợp đồng là sự thể hiện ý chí chungđích thực của các bên giao kết, không có sự thống nhất đó thì không có hợp đồng.Trong trường hợp cả hai bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thì rõ ràng không

có sự trùng khớp ý chí chung đích thực của cả hai bên với những gì họ thể hiệntrong nội dung cam kết, Vì vậy, không thể không coi sự nhầm lẫn song phương làyếu tố có thể dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự

- Thứ hai, BLDS năm 2005 không qui định mức độ nhầm lẫn như thế nào thì

sẽ dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự Vì vậy, có thể hiểu rằng: Bất kì một nhầm lẫnnào về nội dung của giao dịch (cho dù sự nhầm lẫn đó mang tính chất quyết địnhhay không mang tính quyết định đến việc giao kết hợp đồng) đều có thể dẫn đếnhợp đồng vô hiệu Ví dụ trong hợp đồng mua bán tài sản, bên bán không đưa ra chỉdẫn rõ ràng bằng Tiếng Việt về công dụng của tài sản khiến cho bên mua bị nhầmlẫn

Trang 6

BLDS năm 1995 có cách tiếp cận khác về sự nhầm lẫn trong giao dịch dân sự

tại Điều 141 như sau: “khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch

mà xác lập giao dịch…” Điều đó có nghĩa, BLDS 1995 chỉ coi các nhầm lẫn về nội

dung chủ yếu của hợp đồng là yếu tố có thể dẫn tới sự vô hiệu Như vậy, so với bộ

luật trước đó, BLDS năm 2005 đã sửa đổi lại theo hướng: giao dịch có thể bị tuyên

bố vô hiệu ngay cả khi chỉ có sự nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch.

- Thứ ba, nhầm lẫn phải tồn tại ở thời điểm “xác lập giao dịch” Điều đó có

nghĩa là “nhận thức” của bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng và “sự thật” vềnội dung này phải được xác định tại thời điểm “xác lập giao dịch” Tại thời điểmnày chúng ta phải biết cụ thể “nhận thức” của bên cho rằng đã nhầm lẫn là gì và “sựthực” về nội dung của hợp đồng tại thời điểm này như thế nào Tuy nhiên, điều đókhông có nghĩa là chúng ta không được sử dụng những thông tin nảy sinh sau thờiđiểm này Trong thực tế, chúng ta cần phải khai thác những thông tin phát hiện sau

để biết giao dịch dân sự có nhầm lẫn hay không Nhận thức của một người đối vớimột sự việc có thể thay đổi theo thời gian nên thời điểm nhận thức của họ cần đượcxác định chính xác Như đã nói ở trên, phải xác định nhận thức này vào thời điểmgiao kết hợp đồng

- Thứ tư, nhầm lẫn được xác định do lỗi vô ý BLDS năm 1995, tại Điều 141

qui định về nhầm lẫn đã không xác định yếu tố lỗi khi xác lập giao dịch Tuy nhiên,BLDS năm 2005 lại có sửa đổi theo hướng phân biệt trường hợp nhầm lẫn khi thamgia giao dịch dân sự do sự vô ý hoặc do sự cố ý của một bên như sau:

+) Nếu một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giaodịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thayđổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì có quyền yêu cầuTòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu Ví dụ: A bán cho B một chiếc xe máy nhưng Aquên không thông báo cho B biết rằng hệ thống đèn của chiếc xe đó đã bị hỏng Sau

đó, B yêu cầu A giảm bớt giá bán chiếc xe đó hoặc thay thế hệ thống đèn mới nhưng

Trang 7

A không chấp nhận B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch mua bán đó vôhiệu

+) Nếu một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giaodịch thì giao dịch đó được giải quyết theo qui định tại Điều 132 BLDS năm 2005,hay có thể xác định đây là một giao dịch bị lừa dối Ví dụ: làm giả hợp đồng, lừangười thuê đất dự án, …

Như vậy, khi có nhầm lẫn xảy ra trong các trường hợp trên thì dựa vào cácqui định của pháp luật hiện hành, không có đủ căn cứ để tuyện bố giao dịch đó là vôhiệu Nhầm lẫn có thể là yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu khi bên nhầm lẫn cóquyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó nhưng không được chấpnhận

1.2 Giao dịch dân sự lừa dối:

Theo qui định của pháp luật Việt Nam tại Điều 132 BLDS năm 2005 thì lừa

dối trong giao dịch dân sự là: “…hành vi có ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.”

Như vậy, rõ ràng một người có hành vi lừa dối thì không thể coi là trung thựcđược, qui định này của pháp luật là một trong những sự thể hiện của nguyên tắc tự

do, tự nguyện giao kết hợp đồng, thể hiện được sự phù hợp với pháp luật và thông

lệ quốc tế cũng như thực tiễn Theo đó, sự lừa dối chỉ là điều kiện để giao dịchkhông có hiệu lực pháp luật khi có các yếu tố sau:

- Thứ nhất, người lừa dối có thể là người thứ ba hoặc là người trực tiếp xác

lập giao dịch Có thể hiểu, hành vi lừa dối phải do một bên tham gia giao dịch dân

sự hoặc người thứ ba thực hiện Như vậy, so với qui định tương ứng tại Điều 142

BLDS năm 1995 “Lừa dối trong GDDS là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó” thì BLDS năm 2005 đã bổ sung qui định nếu

Trang 8

người thứ ba có hành vi lừa dối người khác phải tham gia giao dịch dân sự thì cũnglàm cho giao dịch dân sự vô hiệu Đây là một bước tiến hợp lý của các nhà lập phápnước ta Tuy nhiên, một bên tham gia giao dịch phải biết về sự lừa dối này hay chỉcần có hành vi gian dối của người thứ ba mà các bên tham gia không hề biết vẫnđược xác định là giao dịch dân sự bị lừa dối

- Thứ hai, người lừa dối thực hiện hành vi lừa dối một cách cố ý, có ý thức

và mong muốn có được sự chấp nhận xác lập giao kết dân sự của người bị lừa dối.Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố ý làm chobên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực

Hành vi lừa dối của chủ thể có thể mang tính chủ động (tích cực) hoặc mangtính bị động (tiêu cực) Lừa dối mang tính chủ động khi người lừa dối thực hiệnnhững hành vi như tổ chức, thực hiện hoặc đồng lõa trong việc cung cấp thông tinsai sự thật, sử dụng tài liệu giả, nói dối,…làm cho người bị lừa dối nghĩ về sự việcquá lên so với thực tế khách quan Ví dụ: một công ty đặt mua thép từ một công tynước ngoài nhưng khi hàng về kho thì phát hiện ra hàng nhập về toàn là hàng chấtlượng kém, không đạt như thỏa thuận Còn lừa dối được coi mang tính bị động haytiêu cực trong trường hợp người lừa dối im lặng không bày tỏ quan điểm của mình

về một yếu tố quan trọng của giao dịch nhằm hưởng lợi từ việc người bị lừa dốichấp nhận xác lập giao dịch dân sự Ví dụ: M bán cho K một chiếc ô tô, chiếc ô tônày đã bị thế chấp nhưng M không nói cho B biết

Khi BLDS năm 2005 qui định về khái niệm lừa dối như trên, đã có ý kiếncho rằng chưa bao quát hết được các trường hợp, đó là chưa qui định rõ hành vikhông cung cấp thông tin quan trọng của giao dich dân sự là một hành vi lừa dối.Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, hành vi không cung cấp thông tin là hành vi cố ý của

một bên “”nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó” và đó được coi là

hành vi lừa dối khi tham gia giao dịch

Trang 9

- Thứ ba, sự lừa dối là yếu tố quyết định đối với việc bên bị lừa dối xác lập

giao dịch dân sự Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu dùng các mánh khóe nhưvậy thì các bên sẽ không xác lập giao dịch Ví dụ như một việc một người bán hàngnói giá quá cao (nói thách) thì không bị xem là lừa dối, vì người mua sẽ không vìthông tin này mà giao kết hợp đồng mua bán

Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí củacác bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đếnviệc trình bày một cách trực tiếp hay gián tiếp về những sự việc không đúng sự thậthay không tiết lộ một sự thật Tuy sự nhầm lẫn và lừa dối trong giao dịch dân sự đều

có một điểm chung: bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối do hiểu sai lệch về chủ thể,tính chất của đối tượng …nên đã xác lập giao dịch, nhưng giữa chúng có một điểmkhác biệt cơ bản Trong trường hợp xác lập giao dịch do bị nhầm lẫn, sự nhầm lẫn

có thể gây bởi lỗi cẩu thả, sơ suất, kém hiểu biết của chính bên bị nhầm lẫn hoặc dolỗi vô ý của bên kia hoặc do lỗi của người thứ ba; còn trong trường hợp xác lập giaodịch do bị lừa dối, sự nhầm lẫn lại chỉ có thể được gây ra bởi hành vi mang tính chất

cố ý của bên kia hoặc của người thứ ba Việc một bên tạo lập cho bên kia một sựnhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại của bên kia để xác lập giao dịch sẽ

bị coi là lừa dối Ngoài ra, sự phân biệt giữa nhầm lẫn và lừa dối còn được xác địnhbởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên

Hành vi lừa dối cũng có những điểm gần giống với lừa đảo Tuy nhiên, lừadối được phân biệt với lừa đảo: hành vi lừa đảo trước hết là hành vi lừa dối nhằmmục đích chiếm đoạt tài sản của người khác và hành vi này thường được qui địnhtrong BLHS Còn hành vi lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý làm chobên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý chí đích thực của mình Tuy nhiên,trên thực tế, rất khó khăn để xác định ranh giới giữa hai hành vi này

Như vậy, nếu không có hành vi cố ý làm cho người bị lừa dối hiểu sai lệchbản chất sự việc thì không có một giao dịch dân sự được xác lập

Trang 10

Tóm lại, để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kết

hợp đồng hay không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây: Một là, phải có sự cố

ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên Hai là, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó Ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên

đưa ra mà giao kết hợp đồng

1.3 Giao dịch dân sự đe dọa:

Đe dọa được hiểu là một người dùng hành vi hay lời nói tác động vào ý chícủa một người khác làm cho người đó phải miễn cưỡng tuân theo sự sắp xếp hay ýmuốn của mình Trong giao dịch dân sự, đe dọa là hành vi cố ý tác động vào ý chícủa một người làm cho người đó khiếp sợ mà buộc phai xác lập, thực hiện giaodịch

“Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng,

con của mình” (Điều 132 BLDS năm 2005).

Như vậy, BLDS năm 2005 xác định: đe dọa là hành vi trái pháp luật của mộtngười làm cho người khác sợ hãi, buộc người đó phải xác lập giao dịch dân sựnhằm tránh thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản của chính họ hoặc của cha,

mẹ, vợ chồng con họ

Đe dọa ở đây gồm có hai điều kiện: Về mặt khách quan, hành vi đe dọa phải

là hành vi do một bên hoặc người thứ ba gây ra (một bên trực tiếp hoặc nhờ ngườikhác đe dọa) Về mặt chủ quan, sự đe dọa có tính chất quyết định khiến bên bị đedọa buộc phải xác lập, thay đổi hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự mà không thể có cách

lựa chọn nào tốt hơn So với qui định tương ứng tại Điều 142 BLDS năm 1995 “Đe dọa trong GDDS là hành vi cố ý của một bên làm cho bên kia sợ hãi mà phải thực hiện GDDS nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người thân thích” thì qui định tại BLDS

Trang 11

năm 2005 đã bổ sung qui định người thứ ba có hành vi đe dọa người khác tham giagiao dịch thì cũng có thể làm giao dịch vô hiệu Bên cạnh đó, còn xác định rõ kháiniệm “người thân thích” để hiểu thống nhất và tránh hiểu quá rộng về khái niệmnày.

Như vậy, để hành vi đe dọa trở thành căn cứ xác định một giao dịch dân sự

vô hiệu cần có các điều kiện sau:

- Một là, việc đe dọa có thể do một bên tham gia xác lập giao dịch dân sự

thực hiện hoặc cũng có thể do người thứ ba thực hiện Tuy nhiên, qui định này cũngchưa chỉ rõ mối liên hệ giữa một bên giao dịch và người thứ ba trong trường hợpngười thứ ba có hành vi đe dọa đối với bên kia nhằm xác lập giao dịch

- Hai là, sự đe dọa đó làm cho ý chí được tuyên bố của người bị đe dọa

không phản ánh trung thực ý chí nội tâm Sự đe dọa được tạo bởi hai yếu tố: kháchquan và chủ quan

+) Yếu tố khách quan được hiểu là mối nguy cơ đe dọa người bị đe dọa hoặcngười thân của người bị đe dọa như dùng vũ lực hay dùng các biện pháp nhằm gâythiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,…hoặc nhằm đưa người bị đe dọavào tình trạng không thể nhận thức được hành vi của mình

+) Yếu tố mang tính chủ quan được hiểu là sự sợ hãi của nạn nhân về một taihọa có nguy cơ xảy ra cho mình hoặc cho người thân của mình nếu không thực hiệnnhững hành vi nhất định do người đe dọa yêu cầu

Ví dụ: A đã trả hết nợ cho B Thấy A trở nên giàu có, B thuê đầu gấu đến đòi nợ B

Do bị kề dao vào cổ, sợ hãi quá nên A viết giấy trả nợ cho B, đồng thời đưa B 50triệu đồng Ở đây, vì sợ hãi mình sắp mất mạng nên A đã viết giấy nợ mà khôngtheo ý muốn của mình nên GDDS này được coi là GDDS đe dọa

Vậy, đe dọa được xem là hành vi dẫn dắt người bị đe dọa tuân theo ý chí củangười đe dọa mặc dù người bị đe dọa không muốn nhưng không thể không dámcưỡng lại ý chí đó

Trang 12

- Ba là, sự đe dọa phải là yếu tố quyết định việc tham gia giao dịch dân sự

tức là sự đe dọa phải mang tính cấp thiết và nghiêm trọng đến mức người bị đe dọakhông còn con đường nào khác ngoài việc chấp nhận xác lập giao dịch dân sự vìngười bị đe dọa thực sự lo sợ về một tai họa có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc chomình hoặc cho người thân của mình nếu không thực hiện những hành vi nhất định

do người đe dọa yêu cầu Theo như ví dụ trên, A nhận thấy tính mạng của mìnhđang bị nguy hiểm nên đành phải chấp nhận viết giấy nợ cho B

Có điều cần phải lưu ý, không phải bất cứ sự đe dọa nào, dù có đủ uy lực vàthực sự nghiêm trọng cũng đương nhiên được coi là yếu tố ảnh hưởng đến hợpđồng Ví dụ: Nếu một người bán hàng đe dọa người mua rằng sẽ không tiếp tụccung cấp hàng hóa cho người mua nữa nếu người mua từ chối đề nghị mua hàng lầnnày của anh ta, thì sự đe dọa đó tuy có tính chất nghiêm trọng nhưng vẫn có thểđược pháp luật chấp nhận và cho phép

- Thứ tư, hành vi đe dọa được thực hiện đối với chính người xác lập giao

dịch dân sự mà đối tượng bị tác động là tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín của chính người đó hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đó

So với qui định tương ứng tại BLDS năm 1995, thì BLDS năm 2005 đã xácđịnh rõ khái niệm “người thân thích” để hiểu thống nhất và tránh hiểu quá rộng vềkhái niệm này Tuy nhiên, việc thu hẹp đến mức chỉ là đối với “cha, mẹ, vợ, chồng,con” dường như chưa thực sự hợp lý

Khi giải quyết đối với loại giao dịch này, đôi khi các nhà thực thi luật phápnhầm lẫn với hành vi đe dọa thuộc đối tượng điều chỉnh của BLHS Vì theo Điều

135 BLHS qui định: “người nào đe dọa dùng vũ lực… bị phạt tù…” Về mặt kháchquan, có điểm giống ở hành vi đe dọa được qui định trong BLDS và BLHS Tuynhiên, tính chất và mức độ của hành vi đe dọa trong BLHS cao hơn và có mục đích

là chiếm đoạt tài sản, còn hành vi đe dọa được qui định trong BLDS nhằm mục đíchbuộc một người nào đó phải xác lập giao dịch

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w