1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hãy tìm hiểu 2 vụ việc có thật liên quan đến việc xâm phạm quyền bí mật đời tư của cá nhân bài này nhóm t được 8 điểm thôi nhé các bạn tham khảo đi

19 203 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 137 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài luận sau đây chúng tôi muốn đi sâu làm rõ hơn về quyền bí mật đời tư của cá nhân thông qua một số tình huống có thật trên thực tiễn đã được tòa án giải quyết để từ đó chúng ta đánh g

Trang 1

I LỜI MỞ ĐẦU

Trong điều kiện thế giới hiện nay nói chung và Việt Nam nói riêng, khi mà các giá trị về vật chất của con người càng ngày được bảo đảm và nâng cao thì vấn đề về giá trị tinh thần càng được coi trọng, trong đó có quyền về “bí mật đời tư” Đây là quyền cơ bản của công dân được ghi nhân trong Điều 73 của Hiến Pháp và Điều

38 của Bộ Luật Dân Sự năm 2005 Tuy nhiên từ lí luân đi đến thực tiễn là cả một vấn đề, quyền bí mật đời tư của cá nhân trên thực tế còn có nhiều vấn đề đáng phải bàn

Bài luận sau đây chúng tôi muốn đi sâu làm rõ hơn về quyền bí mật đời tư của cá nhân thông qua một số tình huống có thật trên thực tiễn đã được tòa án giải quyết

để từ đó chúng ta đánh giá được những quy định của pháp luật hiện hành so với nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống hiện nay

II NỘI DUNG CHÍNH

1 C ơ sở lí luận

1.1 Khái quát chung về quyền nhân thân Ví trí của quyền bí mật đời tư trong hệ thống quyền nhân thân.

- Quyền nhân thân là một bộ phận của quyền con người, quyền dân sự và không tách rời khỏi quyền con người Lịch sử phát triển của quyền nhân thân gắn liền với lịch sử của quyền con người cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người thì quyền nhân thân nói riêng, quyền con người nói chung cũng được ghi nhận và phát triển trong mối liên hệ tác động qua lại với sự phát triển của lịch sử xã hội Ở Việt Nam quyền nhân thân được thể hiện trong các bản Hiến pháp Hiến pháp năm 1992 đã mở rộng quyền nhân thân của cá nhân Bên cạnh hiến pháp năm 1992 và hiến pháp 1992 sửa đổi, một loạt văn bản pháp luật có hiệu lực sau hiến pháp được ban hành cụ thể hóa quyền nhân thân, trong đó phải kể đến Bộ Luật Dân Sự năm1995 và 2005, luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, luật Báo chí…

- Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân cơ bản của cá nhân, đây là quyền hiến định(điều 73 hiến pháp năm 1992) nhưng cũng là quyền nhân thân cơ bản được ghi nhận trong các văn bản pháp luật dân sự

Điều 38 BLDS 2005 quy định:

“1, Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ

2, Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân

Trang 2

sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ ,chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thong tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

3, Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được đảm bảo an toàn và bí mật

Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thong tin điện tử khác của cá nhân dược thực hiện trong trường hợp pháp luạt có quy định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Như vậy BLDS năm 2005 không đưa ra khái niệm “bí mật đời tư” mà chỉ đề cập đến các khía cạnh xung quanh vấn đề “quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và pháp luật bảo vệ” gồm “thông tin, tư liệu về đời tư”, “ thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác” Đây chính là một trong những khó khăn khi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến “bí mật đời tư”

Chính vì vậy bài luận của chúng tôi sẽ lấy những ví dụ cụ thể về việc bí mật đời tư của cá nhân bị xâm hại đã được tòa án giải quyết để rút ra những nhận xét về những chỗ còn thiếu sót của pháp luật

1.2 Biểu hiện cụ thể của những hành vi xâm phạm bí mật đời tư (điều 38 BLDS 2005).

-Hành vi thu thập, công bố các thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân hoặc của nhân thân cá nhân đó trong trường hợp cá nhân đó đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật

-Hành vi xâm phạm bí mật đời tư kiên quan đến thư tín, điện thoại , điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân

2 Hai vụ việ c liên quan đ ế n hà nh vi xâm phạ m quyề n bí mậ t đờ i tư củ a cá nhân.

1.

Tì nh huố ng th ứ nhất :

Bản án số 03/2006/DSST 5.1.2006 ngày của toà án nhân dân quận Liên

Chiểu –Đà Nẵng.Liên quan đến vụ việc quyền bí mật đời tư về điện thoại

và thông tin điện tử của chị Mai Thị Hoa bị xâm hại

-Nơi xảy ra vụ việc:Quận Liên Chiểu- Đà Nẵng

Trang 3

-Nguyên đơn:chị Mai Thị Hoa,sinh năm 1982,cư trú tại số nhà 47,phường Hiệp Hoà Bắc,Quận Liên Chiểu,thành phố Đà Nẵng

-Bị đơn:Tập đoàn viễn thông Mobifone-Chi nhánh thành phố Đà Nẵng,trụ

sở số 12 Trần Hưng Đạo,quận Liên chiểu,thành phố Đà Nẵng,do ông Trịnh Hồng Kim(Giám đốc Mobifone khu vực 3)làm đại diện

-Cơ quan giải quyết:Toà án nhân dân quận Liên Chiểu,thành phố Đà Nẵng

1.1.

Tó m t ắ t vụ vi ệ c

Chị Mai Thị Hoa đã cho biết mình đã sử dụ ng dịch vụ của Mobifone được 2 năm.Ngày 21.11.2005 chồng chị là anh nguyễn Văn Tuấn mang về những bản in chi tiết số điện thoại của chị Hoa từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2005.Trong đó có ghi rõ từng ngày chị thực hiện bao nhiêu cuộc gọi,gọi vào những số nào,ngày nào,giờ nào.Ngoài ra còn có một bản kê khai hơn

20 số điện thoại của những người đàn ông gọi đến cho chị.Và tất cả các bản kê khai này đều là mẫu giấy của hãng dịch vụ viễn thông Mobifone.Chính do những bản khai này mà chồng chị Hoa luôn truy hỏi,trì triết và yêu cầu chị li hôn.Mặc dù chị không hề muốn li hôn nhưng chị vẫn phải kí vào đơn li dị

Ngày 24.11.2005,chị Hoa có tìm đến bộ phận chăm sóc khách hàng của Mobifone,số 12 Trần Hưng Đạo,quận Liên Chiểu,thành phố Đà Nẵ ng để hỏi về những bản kê khai trên,nhưng nhận được câu trả lời của nhân viên

tư vấn: “có thể chồng chị đã biết mã pin điện thoại của chị và vào website của Mobifone để in bảng chi tiết các cuộc gọi”.Tuy nhiên chị Hoa khẳng định rằng chưa bao giờ dùng máy điện thoại của mình và lấy mã pin và càng không vao website của hãng để đăng kí mà đăng kí trực tiếp tại chi nhánh này

Trang 4

Sau đó ngày 25.11.2005 chị đến tổng công chi nhánh mobifone miền trung thắc mắc thì được ông Trịnh Hồng Kim (giám đốc mobifone khu vực 3)cho biết: “ đối với thuê bao mobicard,việc thực hiện cuộc gọi tính cước online,việc tính cước và quản lí cuộc gọi của khách hàng được tập trung tại

Hà Nội.Chúng tôi không quản lí việc bí mật các cuộc gọi của khách hàng tại Đà Nẵng bị lộ từ phía chúng tôi.”

Rất bất bình với trước câu trả lời trên ,ngày 7/12/2005 chị Hoa làm đơn khởi kiện công ty này lên toà án nhân dân quận Liên Chiểu,Đà Nẵng.Trong đơn kiện chị cho rằng tập đoàn viễn thông Mobifone đã có hành vi xâm phạm đời tư của chị khi tiết lộ bí mật các cuộc gọi của chị cho chồng chị

và yêu cầu phía Mobifone công khai xin lỗi và bồi thường cho chị

1.2.

Quyế t đị nh củ a toà á n nhân dân quậ n Liên Chiể u- Đà Nẵ ng

Sau khi thu thập chứng cứ,lời khai của các bên.Ngày 5.1.1.2006 toà án quận Liên Chiểu Mở phiên xét xử và đưa ra quyết định:

1.Căn cứ vào khoản 1 điều 38 BLDS năm 200 và điều 9 pháp lệnh bưu chính viễn thông năm 2002.Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị Hoa.Xét thấy hành vi tiết lộ bản kê khai danh sách các cuộc gọi của chị Hoa của mạng viễn thông Mobifone là hành vi xâm phạm đến quyền bí mật đời tư của chị,nên buộc mạng viễn thông Mobifone,do ông Trịnh Hồng Kim làm đại diện bồi thường cho chị Hoa số tiền là 3.850.000 đồng

2.Hội đồng xét xử cũng đưa ra lời cản báo với mạng di động mobifone không được tiết lộ bí mật của khách hàng khi không được sự cho phép của khách hành và yêu cấu công ti này phải công khai xin lỗi chị Mai Thị Hoa

Trang 5

1.3.Phân tí ch cá ch giả i quyế t vụ việ c củ a toà á n quậ n Liên Chiể u, Đà Nẵ ng giả

i quy ế t vụ việ c nó i trên

-Những quyết định của toà án quận Liên Chiểu theo đánh giá của nhóm là

có căn cứ pháp lí bởi:

+Theo khoản 3 điều 38 BLDS năm 2005 đã quy định “thư tín,điện thoại,điện tín và các hình thức thông tin điện tử khác được đảm bảo an toàn

và bí mật”.Theo đó thì bản kê khai chi tiết danh sách cuộc gọi chính là một trong những hình thức “thông tin điện tử khác” nên cũng được pháp luật bảo vệ và coi đó là quyền đời tư của các nhân và nghiêm cấm các hành vi xâm phạm ,tiết lộ những thông tin đó nếu không được sự đồng ý của công dân đó.Theo đó thì hành vi của nhân viên Mobifone cung cấp bản kê khai danh sách các cuộc gọi của khách hàng(chị Hoa) là hành vi xâm phạm,tiết

lộ quyền bí mật đời tư về điện thoại và thông tin điện tử của công dân Vì vậy mà hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện và yêu cầu của chị hoa là đúng

2.Mặt khác,theo quy định tại điều 9 pháp lệnh bưu chính viễn thông 2002

về đảm bảo thông tin quy định tại khoản 1:”bí mật đối với thông tin riêng chuyển qua mạng bưu chính viễn thông của mọi tổ chức,với mọi cá nhân được đảm bảo theo quy định của pháp luật”.Tại điểm c khoản 2 điều 42 của pháp lệnh cũng quy định người sử dụng viễn thông “được đảm bảo bí mật thông tin theo quy định của pháp luật”.Vậy thông tin về “ Chi tiết cuộc gọi gốc” và các bản kê khai cuộc gọi được liệt vào danh sách “thông tin bí mật “theo quy định của pháp luật”.Các thông tin này không được cung cấp cho bất kì ai ngoài chủ thuê bao ,kể cả những người thân thích của chủ thuê bao như:vợ ,chồng,cha mẹ…trừ những trường hợp khác theo quy định của pháp luật hay quyết định của cơ quan có thẩm quyền.Vì đó hành vi mạng mobifone tiết lộ danh sách cuộc gọi của chị Hoa cho chồng chị là trái

Trang 6

pháp luật bởi không có sự đồng ý hoặc uỷ quyền của chị hay do quy định khác của pháp luật hoặc quyết định của toà án.Từ đó cho thấy quyết định của hội đồng xét xử quận Liên Chiểu quyết định cảnh báo mạng mobifone không được tiết lộ thông tin của khách hàng và buộc đơn vị náy phải ông khai xin lỗi chị Hoa là phù hợp theo quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 2 điều 25 BLDS “yêu cầu người vi phạm hoặc cơ quan,tổ chức

có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm,xin lỗi,cải chính công khai”

-Việc mạng mobifone tiết lộ bí mật đời tư về điện thoại và thông tin điện

tử của chị Hoa không chỉ xâm hại đến tới quyền về bí mật đời tư theo quy định của pháp luật như đã nêu trên mà còn dẫn đến hậu quả nhân phẩm của người bị xâm phạm(Chị Hoa)bị chồng hiểu sai do đó vợ chồng chị phải li dị,gia đình đổ vỡ,li tán.Về mặt pháp lí,hành vi làm lộ bí mật đời tư của cá nhân là hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng và trách nhiện dân sự của những người có hành vi làm lộ bí mật đời tư của người khác là trách nhiệm ngoài hợp đồng.Vì vậy hội đông xét xử yêu cầu mạng mobifone bồi thường thiệt hại đối với chị Mai với số tiền là 3.850.000 đồng để bù đắp thiệt hại là có căn cứ pháp luật theo khoản 3 điều 25 BLDS 2005 “ yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cấu cơ quan.tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”

2.

Tì nh huố ng th ứ 2 :

Bản án số 25/2006/DSST ngày 14.12.2006 của toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm – thành phố Hà Nội Yêu cầu cải chính và bồi thường thiệt hại do bí mật đời tư,nhân phẩm,danh dự của bà Nguyễn Thị Kim Oanh bị xâm phạm

Trang 7

-Nguyên đơn:Bà Nguyễn Thị Kim Oanh,sinh năm 1957,trú tại số 80,tổ 25,phường Tân Quang,thị xã Tuyên Quang

- Bị đơn :

+Báo Công Lí:trụ sở 48 phố Lý Thường Kiệt,quận Hoàn Kiếm,thành phố

Hà Nội ,do ông Nguyễn Gia Cương(tổng biên tập) đại diện

+Phóng viên báo Công Lí:Lê Huy Hoàng,năm sinh 1987 ,trú tạị số 339

ấp Hưng Lộc,xã Hưng Định,huyện Thuận An,tỉnh Bình Dương

-Cơ quan giải quyết vụ việc:Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố

Hà Nội

2.1.

Tó m t ắ t vụ vi ệ c

Trên báo Công Lí số 02 ra từ ngày 09 đến ngày 16.01.2003 có bài “ chân dung và những trò lừa bịp”do phóng viên Lê Huy Hoàng viết,nội dung bài báo có nội dung liên quan đến những quyền bí mật đời tư của bà Nguyễn Thị Kim Oanh :

1.Bài báo có viết bà Oanh lừa tình,lừa tiền,sống già nhân ngãi,non vợ chồng với ông H.A.T để lấy 17 triệu đồng xây nhà,lừa ông Đ.T.T vay 16 triệu đồng

2.Bài báo còn nêu những chi tiết đời tư của bà Oanh không đúng sự thật,phản ánh việc bà tranh chấp tài sản khi li hôn với chồng

3.Bài báo còn viết về chuyện nội bộ gia đình bà trang chấp tiền mai táng của bố

Sau khi đọc xong bài báo này,vào ngày 25.4.2003 bà Oanh đã gọi điện đến văn phòng báo Công Lí yêu cầu cải chính nội dung bài viết “ chân dung và

Trang 8

những trò lừa bịp”thì nhận được câu trả lời của ông Nguyễn Gia Cương

“Bài báo chúng tôi viết hoàn toàn dựa trên những tư liệu có thật và chuyện này là chuyện công khai mà phóng viên ghi chép được,chúng tôi không sai nên không cải chính,có gì thắc mắc xin bà hỏi phóng viên Lê Hoàng ,người

đã viết bài báo này”.Sau đó bà Oanh đã xin số của phóng viên Lê Hoàng

và liên lục gọi nhưng không nhận được hồi âm.Và bài báo đó vẫn tiếp tục được xuất bản và bán ra thị trường

Do đó ngày 9.3.2004 bà Oanh đã có đơn khởi kiện lên toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm- Hà Nội yêu cầu:

+Báo Công Lí và phóng viên Lê Hoàng phải công khai xin lỗi và đăng cải chính nội dung của bài báo: “chân dung và nhưng kẻ lừa bịp ”

+Phóng viên Lê Hoàng và bá o Công Lí phả i bồi thường thiệt hại là 24.100.000 đồng bao gồm tiền bồi thường 10 tháng lương tối thiểu x 450.000 đồng = 4.500.000 đồng;tiền thuê nhà tính từ tháng 3 năm 2004 đến khi sơ thẩm là 33 tháng x 500.000 đồng =16.500.000 đồng và các chi phí hợp lí khác như:tiền thuê luật sư,tiền thuê xe ôm,tiền đánh máy … là 3.100.000 đồng

2.2.

Quyế t đị nh củ a toà á n Quậ n Hoà n Ki ế m, Hà Nộ i về vụ việ c trên.

Sau khi xét hỏi,tranh luận và nghị án hội đồng xét xử toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã tuyên :theo nội dung bản án hội đồng xét xử đã nhận định :Báo Công Lí và phóng viên Lê Hoàng đã có hành vi xâm phạm bí mật đời tư,từ đó gây hậu quả là m ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự,nhân phẩm,uy tín của bà Oanh Do đó hội đồng xét xử chấp nhận mức yêu cầu của bà Oanh và đưa ra quyết định:

Trang 9

1.Buộc phóng viên Lê Hoàng và báo Công Lí công khai xin lỗi và cải chính 3 nội dung của bài báo như đã nói trên trong bài báo “chân dung và những trò bịp”liên quan đến đời tư của bà Oanh.Thời gian đăng cải chính

là 10 ngày kể từ phóng viên Lê Hoàng và báo Công Lí nhận được bản án

có hiệu lực pháp lí

2.chấp nhận yêu cấu đòi bồi thường thiệt hại của bà Oanh do việc bị xâm phạm dênd bí mật đời tư,danh dự,nhân phẩm,uy tín do báo Công Lí và phóng viên Lê Hoàng gây ra.Đó là buộ c phóng viên Lê Hoàng và báo Công Lí (do ông Nguyễn Gia Cương- tổng đại diện theo pháp luật liên đới) phait bồi thường cho bà Oanh tổng số tiền thiệt hại là 11.500.000 đồng bao gồm:

-Bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng 7 tháng lương tối thiểu x 450.000 đồng/tháng = 3.150.000 đồng

-Bồi thường những chi phí khác:

+Tiền thuê luật sư:2.400.000 đồng

+Tiền thuê xe ôm :1.000.000 đồng

+Tiền thuê đánh máy,tiền photo tài liệu,tiền tem thư là :1.000.000 đồng +Tiền thuê nhà 7 tháng x 500.000 đồng/tháng =3.500.000 đồng

2.3

Nhậ n xé t củ a nhó m về cá c giả i quyế t củ a toà á n quậ n Hoà n Kiế m đố i vớ

i vụ vi ệ c trên:

Về vấn đề giải quyết vụ việc trên có rất nhiều luồng ý kiến khác nhau:có ý kiến đồng tình với quan điểm và kết luận của hội đồng xét xử và có cả những ý kiến không đồng tình với ý kiến của hội đồng xét xử Còn theo quan điểm của nhóm chúng tôi không hoàn toàn đồng ý với quyết định của

Trang 10

hội đồng xét xử quận Hoàn Kiếm,Hà Nội.Bởi quyết định đó có những điểm đúng tuy nhiên còn một số điểm chưa hợp lí:

a Đồ ng tì nh vớ i nhữ ng k ế t luậ n củ a hộ i đồ ng xé t xử :

Trong nội dung của bài báo “ chân dung và những trò bịp”,có 3 nội dung liên quan đến quyết định của hội đồng xét xử:

- Thứ nhất:bài báo có viết bà Oanh đã lừa tinh,lừa tiền ông H.A.T lấy 17.000.000 đồng và ông Đ.T.T lấy 16.000.000 đồng Nội dung này cho thấy bài báo này đã phản ánh các mối quan hệ của bà Oanh ,đây được coi

là các quan hệ cá nhân riêng tư của công dân và cũng được coi là bí mật đời tư của cá nhân đó.Do đó vịêc phóng viên Lê Hoàng phản ánh mối quan hệ riêng của bà Oanh với ông H.A.T và ông Đ.T.T phải được sự đồng ý của bà Oanh(theo căn cứ pháp lí tại khoản 2 điều 38 BLDS 2005) :”việc thu thập,công bố thông tin ,tư liệu đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý”.Vậy hành vi của phóng viên Lê Hoàng là trái pháp luật

- Thứ hai nội dung của bài báo còn viết về việc tranh chấp tài sản với vợ chồng khi li hôn.Mà theo phóng viên Lê Hoàng thì được coi là thông tin công khai vì được xử tại toà.Tuy nhiên cần hiểu chính xác rằng việc công khai thông tin tại toà của một vụ án hôn nhân gia đình hoàn toàn khác với một vụ án hình sự và đồng thời cũng nên hiểu công khai thông tin tại toà không đồng nghĩa với việc mất tính bí mật của thông tin đó.Nên việc công khai thông tin tại toà án khi các đương sự li hôn là căn cứ để oà án xem xét

và có quyết định co li hôn,tuy nhiên việc các thông tin này nế được công khai ra dư luận sẽ có thể tạo bất lợi trong cuộc sống của các bên sau khi li hôn.Bên cạnh đó trong quá trình tiến hành trình tự tố tụng không đồng nghĩa với việc công bố bí mật đời tư của những người liên quan.Cho nên

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w