1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự khóa luận tốt nghiệp

67 284 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 335,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Triều Dương cho rằng “Đương sự trong TTDS là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi ích tranh chấp hoặc cần phải xác định tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Đương sự trong tố tụng dân sự là chủ thể trọng tâm trong quá trình Tòa ángiải quyết vụ việc dân sự Thực tiễn tố tụng dân sự tại các TA cho thấy việc xácđịnh thành phần, tư cách đương sự trong TTDS có ý nghĩa vô cùng quan trọnggiúp cho quá trình giải quyết vụ án dân sự được chính xác, khách quan

Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định, hướng dẫn chitiết về đương sự và việc xác định tư cách của đương sự, trong đó phải kể đếnBLTTDS năm 2004 được Quốc hội khóa XI thông quan tháng 6 năm 2004 vớicác quy định về đương sự tại Mục 1 Chương VI (từ Điều 56 đến 62) và tạiChương XX (từ Điều 313 đến Điều 314 ; Điều 316, 317 ) đã khắc phục đượcđáng kể những hạn chế, thiếu sót của các quy định về đương sự trong các vănbản pháp luật trước đó Tuy nhiên BLTTDS 2004 vẫn còn có một số quy định vềđương sự chưa đầy đủ, thiếu cụ thể gây khó khăn cho quá trình giải quyếtVVDS của Tòa án Mới đây nhất Quốc hội đã thông qua Luật số 65/2011/QH12sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS trong đó có bổ sung thêm các quyềncủa đương sự trong VADS Tuy nhiên tính tới thời điểm khóa luận được thựchiện, Luật số 65 mới có hiệu lực thi hành trong khoảng thời gian ngắn nên việcđánh giá thực tiễn áp dụng còn nhiều khó khăn

Quá trình giải quyết các VADS thời gian qua đã cho thấy các đương sựcòn rất lúng túng, gặp nhiều khó khăn trong việc tham gia tố tụng, thực hiện cácquyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Các TA cũng mắc không ít sai lầm khi xácđịnh tư cách của đương sự, dẫn tới quyền và nghĩa vụ của đương sự không đượcxác định chính xác, không được bảo đảm khiến nhiều bản án, quyết định bị hủybỏ

Trang 2

Xuất phát từ thực tế trên, việc tìm hiểu về đương sự và việc xác định tưcách của đương sự là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Việc nghiêncứu này cho chúng ta cái nhìn tổng quan hơn về đương sự trong VADS và tầmquan trọng của việc xác định tư cách của đương sự, xây dựng lý luận cho hoạtđộng lập pháp và vận dụng lý luận để xử lý những vấn đề nảy sinh trong giải

quyết VADS Với suy nghĩ như vậy, em lựa chọn đề tài « Đương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự » làm khóa luận tốt nghiệp của

mình

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Có thể thấy nghiên cứu về đương sự và việc xác định tư cách của đương

sự trong VADS là một vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn

Số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về đề tài đương sự khálớn, tuy nhiên tài liệu đi sâu vào khía cạnh xác định tư cách của đương sự trong

tố tụng dân sự lại không nhiều Có một số tài liệu như : Bài viết “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng” của tác giả Trần Anh Tuấn trên

Tạp chí TAND, số 23 tháng 12 năm 2008; Luận văn thạc sĩ luật học năm 2011

với đề tài « Quyền khởi kiện và vấn đề xác định tư cách đương sự trong tố tụng dân sự » của tác giả Lê Nguyễn Hồng Phúc ; Khóa luận tốt nghiệp năm 2010 với

đề tài « Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách của đương sự trong tố tụng dân sự » của tác giả Đặng Anh Tuấn

Khác với các tài liệu nghiên cứu trên, hầu hết thiên về nghiên cứu quyềnkhởi kiện và tư cách của đương sự, khóa luận đã đi vào nghiên cứu đương sựtrong VADS một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống bên cạnh nghiên cứu việcxác định tư cách của đương sự và đưa ra nhận xét, đánh giá những quy định này

để từ đó kiến nghị các giải pháp phù hợp

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 3

Đương sự trong TTDS là một đề tài khá rộng và phức tạp Ở đây, khóaluận chỉ nghiên cứu đến những vấn đề pháp luật điều chỉnh đương sự trongVADS trong đó đề cập đến những vấn đề như : một số vấn đề lý luận về đương

sự và việc xác định tư cách của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại

TA, các quy định của pháp luật hiện hành về đương sự và việc xác định tư cáchđương sự trong VADS và thực tiễn thực hiện các quy định này và nghiên cứuđưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật TTDS về đương sự trong VADS

4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận, pháp luật vàthực tiễn áp dụng pháp luật về đương sự và việc xác định tư cách của đương sựtrong VADS Để đạt được mục đích này, khóa luận đã đi vào tìm hiểu kháiniệm, đặc điểm, quyền và nghĩa vụ của đương sự, ý nghĩa của việc xác định tưcách của đương sự cũng như lược sử phát triển các quy định về đương sự vàviệc xác định tư cách của đương sự, đồng thời tìm hiểu thực trạng pháp luật vàthực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề này

Từ mục đích nghiên cứu trên, phạm vi nghiên cứu đề tài được xác địnhnhư sau :

- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về đương sự cũng như việc xác định

tư cách của đương sự trong VADS;

- Nghiên cứu đánh giá các quy định của pháp luật TTDS hiện hành vềđương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong VADS, thực tiễn áp dụngtại các Tòa án ;

- Trên cơ sở thực tiễn áp dụng, khóa luận chỉ ra một số hạn chế, vướng mắccũng như những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, tạm thời tháo gỡ nhữngkhó khăn, vướng mắc hiện nay

5. Phương pháp nghiên cứu

Trang 4

Đề tài được nghiên cứu bằng các phương pháp như : phương pháp luậncủa chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng, phương pháp phântích, tổng hợp, diễn giải, phương pháp hồi cứu tài liệu Việc sử dụng cácphương pháp này giúp tác giả xem xét vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau, trên cơ

sở đó có được cách nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc, chính xác

6. Những đóng góp của đề tài :

Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện, đầy đủ và hệ thống các vấn đề lý luận vàthực tiễn về đương sự trong VADS, đề tài đã có những đóng góp như : góp phầnxây dựng hệ thống các khái niệm và làm rõ các quyền và nghĩa vụ của đương sựtrong VADS ; phân tích và chỉ ra được những căn cứ, cơ sở để xác định tư cáchcủa đương sự trong vụ án dân sự Ngoài ra đề tài đã phân tích và chỉ ra đượcnhững điểm còn bất cập của các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành vềđương sự trong vụ án dân sự cũng như những hạn chế trong thực tiễn áp dụng vàđưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnhvực trên

7. Cấu trúc của khóa luận

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung của đề tài gồm các phần sau :

Chương 1 : Một số vấn đề chung về đương sự và việc xác định tư cách củađương sự trong vụ án dân sự

Chương 2 : Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành vềđương sự và xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự

Chương 3 : Thực tiễn thực hiện các quy định về đương sự và xác định tưcách đương sự trong vụ án dân sự và kiến nghị

Trang 5

Chương 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG

VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm đương sự trong vụ án dân sự

“Tố tụng dân sự” là cụm từ đã được sử dụng từ rất lâu Dưới góc độ pháp

lý ta có thể hiểu TTDS là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước banhành điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc vềdân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại tòa án nhằmđảm bảo sự nhanh chóng, chính xác trong quá trình giải quyết và thi hành án, đặt

ra các chế tài bảo vệ quyền lợi của nhà nước và công dân

Kể từ khi BLTTDS năm 2004 ra đời đã quy định đối tượng giải quyết theo

thủ tục TTDS bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự “Vụ án dân sự” là những

việc phát sinh tại Tòa án do các đương sự khởi kiện nhằm yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, lợi ích công cộng hay lợi ích của nhà nước,quyền và lợi ích hợp pháp của người khác đang bị tranh chấp Trong khi đó đốivới VDS, TA không giải quyết các tranh chấp mà chỉ giải quyết các yêu cầucông nhận hoặc không công nhận về một sự kiện pháp lý nhằm làm căn cứ phátsinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động hoặc

TA giải quyết yêu cầu công nhận quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại, lao động

Có thể khẳng định đương sự là chủ thể không thể thiếu trong quá trình giảiquyết các hoạt động tố tụng Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định

nghĩa: “Đương sự là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra giải

Trang 6

quyết” [ 5, tr.357 ] Còn trong Từ điển Hán Việt đã định nghĩa: “Đương sự là người có liên quan trực tiếp đến một việc” Đó là những định nghĩa của các nhà

ngôn ngữ học, dưới góc độ luật học hiện nay còn có các quan điểm khác nhau vềđương sự trong TTDS

Cuốn Black Law Dictionary định nghĩa đương sự như sau: “Người đưa ra hoặc chống lại người đưa ra việc kiện” Tại Từ điển Luật học của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, đương sự được định nghĩa là: “Cá nhân, pháp nhân tham gia TTDS với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn, hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự là một trong các nhóm người tham gia TTDS tại TAND trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân, gia đình

và lao động Những người tham gia TTDS đó bao gồm đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, VKS, người làm chứng, người phiên dịch” [ 4, tr.278] Theo TS Nguyễn Công Bình thì “Đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự [ 3, tr.136] Trong một công trình nghiên cứu khác TS Nguyễn Triều Dương cho rằng “Đương sự trong TTDS là cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi ích tranh chấp hoặc cần phải xác định tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” [ 9, tr.14]

Từ những quan điểm trên, ta có thể thấy các nhà luật học đều có quan điểmchung về đương sự trong TTDS là những người tham gia tố tụng để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bảo vệ lợi ích của nhà nước, lợi íchcủa công cộng trong phạm vi lĩnh vực mà mình phụ trách Đương sự có thể là cánhân, là cơ quan, tổ chức Với cách phân loại đối tượng giải quyết theo thủ tụcTTDS gồm VADS và VDS thì đương sự trong TTDS của Việt Nam gồm đương

sự trong VADS và đương sự trong VDS

Như vậy, từ những lập luận trên, có thể định nghĩa đương sự trong VADS

là người tham gia tố tụng bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi,

Trang 7

nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mìnhhoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụtrách Đương sự trong VADS có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức khi họ đáp ứng

đủ các điều kiện luật định

1.1.2 Địa vị pháp lý của đương sự trong vụ án dân sự

1.1.2.1 Tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong vụ án dân sự

Có thể nhận thấy đương sự trong VADS khá phong phú và đa dạng, baogồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS(người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập; người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập) Phạm vi các chủ thể

được xác định là đương sự trong VADS bao gồm cá nhân, cơ quan, tổ chức “Cá nhân” được xác định bao gồm công dân Việt Nam, người không có quốc tịch và người nước ngoài “Cơ quan” tham gia VADS với tư cách đương sự là các cơ quan nhà nước có tư cách pháp nhân Nếu “Tổ chức” là đương sự của VADS thì

tổ chức đó phải có tư cách pháp nhân Tổ chức không có tư cách pháp nhân vẫn

có thể được xác định là đương sự khi tổ chức này nhân danh chính mình vào cácquan hệ một cách độc lập, không phụ thuộc vào cá nhân, cơ quan hay tổ chứckhác về tài sản, đồng thời hoạt động không phụ thuộc vào tổ chức có tư cáchpháp nhân khác

Nguyên đơn:

Trong VADS, nguyên đơn chính là chủ thể có vai trò khởi động tronghoạt động tố tụng và chính là chủ thể chủ động tham gia vào hoạt động tố tụng.Nhận định trên xuất phát từ chính những đặc điểm của nguyên đơn Họ tham gia

tố tụng với sự chủ động cao, thể hiện ở việc chính họ lựa chọn thời điểm khởiđầu VADS chính là thời điểm khởi kiện Nguyên đơn có hành vi khởi kiện nhằmbảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của Nhànước thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách Tuy nhiên, không phải trong mọitrường hợp thì người khởi kiện là nguyên đơn mà người được bảo vệ quyền lợi

do việc khởi kiện của chủ thể khác mới là nguyên đơn

Trang 8

Bị đơn:

Bị đơn là chủ thể bị động tham gia quan hệ pháp luật TTDS bởi họ làchủ thể bị khởi kiện Chính vì lẽ đó tư cách của bị đơn trong VADS chỉ đượcxác định khi nguyên đơn xác định tư cách của mình Bị đơn trong VADS làngười bị nguyên đơn hay cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy địnhcủa pháp luật khởi kiện, khi đó họ bị suy đoán là đã có hành vi tranh chấp hayxâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hoặc của xã hội Bịđơn vừa có thể là chủ thể bị kiện, vừa là chủ thể thực hiện quyền khởi kiệnngược lại đối với nguyên đơn trong quá trình giải quyết VADS khi họ thực hiệnquyền đưa ra yêu cầu phản tố, tuy nhiên điều đó vẫn phụ thuộc vào đơn khởikiện ban đầu của nguyên đơn

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự:

Ngoài nguyên đơn, bị đơn, đương sự trong VADS còn có người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS Khác với hai loại đương sự trên,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải là người khởi kiện, cũngkhông phải là người bị kiện, việc tham gia vào hoạt động tố tụng của VADS cóthể do họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự khác, hoặc theo yêu cầu củatòa án Họ có thể có yêu cầu độc lập hoặc không độc lập (phụ thuộc vào nguyênđơn hoặc bị đơn) để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình và yêu cầu của họ cóthể chống lại nguyên đơn hoặc bị đơn, hay thậm chí cả nguyên đơn và bị đơn

Việc nghiên cứu lý luận cho thấy trong quá trình giải quyết VADS tại

TA tư cách tham gia tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi Nguyên đơn có thểtrở thành bị đơn và ngược lại (nguyên đơn trở thành bị đơn khi nguyên đơn đãrút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố) Người cóquyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADS tham gia tố tụng độc lập có thể trởthành nguyên đơn khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, bị đơn rút toàn

bộ yêu cầu phản tố nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến VADSvẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập của mình

1.1.2.2 Năng lực chủ thể của đương sự:

Trang 9

Như chúng ta đã biết, năng lực pháp luật TTDS và năng lực hành viTTDS là hai yếu tố cấu thành năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS Dovậy, là một loại chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS, để có thể tự mình tham giavào quan hệ pháp luật TTDS thì đương sự phải có năng lực pháp luật TTDS vànăng lực hành vi TTDS [ 2, tr.110 ].

Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự:

Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần đầu tiên để một chủ thể thamgia vào quá trình TTDS Một chủ thể chỉ có quyền tham gia tố tụng khi đượcpháp luật thừa nhận có năng lực pháp luật TTDS [ 9,tr.110] Ta có thể hiểu năng

lực pháp luật TTDS của đương sự là: khả năng pháp luật quy định cho đương sự các quyền và nghĩa vụ TTDS.

Có thể thấy năng lực pháp luật dân sự và năng lực pháp luật TTDS cómối quan hệ mật thiết với nhau Năng lực pháp luật dân sự là cơ sở của năng lựcpháp luật TTDS Thông thường năng lực pháp luật dân sự của cá nhân xuất hiệnkhi cá nhân đó sinh ra và mất đi khi chết, đối với tổ chức thì năng lực pháp luậtdân sự xuất hiện khi tổ chức được thành lập và mất đi khi chấm dứt hoạt động.Điều này kéo theo việc năng lực pháp luật TTDS của cá nhân luôn gắn liền với

sự tồn tại của cá nhân từ khi người đó được sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đóchết; năng lực pháp luật TTDS của tổ chức cũng xuất hiện khi tổ chức đó đượcthành lập và chấm dứt khi tổ chức đó không còn tồn tại Tuy nhiên, năng lựcpháp luật TTDS của đương sự vẫn có tính độc lập tương đối so với năng lựcpháp luật dân sự, điều đó được thể hiện như sau:

- Năng lực pháp luật TTDS và năng lực pháp luật dân sự của đương sựđều được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Nội dung năng lực pháp luậtTTDS không hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung năng lực pháp luật dân sự củađương sự mà tùy thuộc vào các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà phápluật mỗi quốc gia có những quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sựkhác nhau Việc nhà nước quy định các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sựnhằm đảm bảo điều kiện thuận lợi để đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích

Trang 10

hợp pháp về nội dung của mình.

- Đặc trưng cơ bản của quan hệ pháp luật TTDS là các chủ thể có quyềnbình đẳng về quyền và nghĩa vụ Trong khi đó điểm khác biệt giữa năng lựcpháp luật nội dung (năng lực pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh, thương mại, lao động) của các đương sự là các tổ chức khác nhau lạikhông bình đẳng với nhau Không phải mọi quyền và nghĩa vụ TTDS của đương

sự đều xuất phát từ quyền và nghĩa vụ mà pháp luật nội dung quy định mà chỉđơn thuần mang tính tố tụng

Tóm lại, để bảo đảm giải quyết đúng đắn các VVDS nói chung vàVADS nói riêng, Nhà nước đã quy định mọi chủ thể có năng lực pháp luậtTTDS như nhau, có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của mình

Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự:

Năng lực hành vi tố tụng dân sự của đương sự là khả năng bằng hành vi

của mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng [ 9, tr.111] Năng lực hành vi

TTDS và năng lực pháp luật TTDS cũng như năng lực hành vi dân sự của đương

sự có mối liên hệ mật thiết với nhau Điều đó được thể hiện như sau:

- Năng lực pháp luật TTDS là điều kiện cần còn năng lực hành vi TTDS

là điều kiện đủ để một chủ thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS

- Một chủ thể thông thường chỉ được xác định là có năng lực hành viTTDS khi chủ thể đó có năng lực hành vi dân sự

Tuy nhiên, khác với năng lực pháp luật TTDS của các đương sự là nhưnhau thì năng lực hành vi TTDS của đương sự lại là yếu tố luôn có sự biến động

và được xác định ở các mức độ khác nhau Ngoài ra, năng lực hành vi TTDScòn có sự độc lập tương đối so với năng lực hành vi dân sự bởi năng lực hành vidân sự chỉ là một trong các điều kiện để có năng lực hành vi TTDS Đối vớiđương sự là cá nhân, năng lực hành vi TTDS được xác định bởi khả năng nhậnthức và điều khiển hành vi của cá nhân đó trong việc tham gia quan hệ pháp luậtTTDS

Trang 11

Quá trình giải quyết VADS diễn ra phức tạp, gồm nhiều giai đoạn tố tụngkhác nhau Đương sự có thể tham gia ở tất cả các giai đoạn tố tụng để thực hiệnquyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Do đó, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp củamình thì đương sự cần có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình khitham gia các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự, cần có sự hiểu biết sâu sắc vềpháp luật Vì vậy, thông thường một cá nhân chỉ có thể được coi là có năng lựchành vi TTDS đầy đủ khi đã từ đủ mười tám tuổi trở lên và không bị mất nănglực hành vi dân sự Tuy vậy, pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn tư pháp ViệtNam thừa nhận một số trường hợp đặc biệt đương sự từ đủ 15 tuổi đến dưới 18tuổi được coi là có năng lực hành vi TTDS Đó là, trường hợp người vợ từ đủmười bảy tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi trong việc ly hôn [ 21 ] hoặc trongtrường hợp đương sự là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham gia laođộng theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình.Những quy định này xuất phát từ quy định trong Bộ luật lao động (BLLĐ) và

Bộ luật dân sự vì theo BLLĐ người đủ 15 tuổi có quyền ký kết hợp đồng laođộng, còn trong BLDS quy định trường hợp người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18tuổi có tài sản riêng đủ để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, thì có thể tự mìnhxác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không đòi hỏi phải có sự đồng ý củangười đại diện theo pháp luật

1.1.2.3 Quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự trong vụ án dân sự

Trong quá trình giải quyết VADS, để đảm bảo cho đương sự có điều kiệnbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước TA, đồng thời bảo đảm việcgiải quyết VADS nhanh chóng, chính xác, pháp luật TTDS đã quy định cụ thể

về các quyền và nghĩa vụ của đương sự Việc quy định các quyền và nghĩa vụcủa đương sự là rất cần thiết xuất phát từ những cơ sở sau:

Quyền con người đều đã được ghi nhận ở pháp luật của các quốc gia, cụ

thể tại Việt Nam Điều 50 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế,

Trang 12

văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Như vậy, trên cơ sở quy định về quyền con

người của Hiến pháp năm 1992, pháp luật TTDS đã cụ thể hóa cơ chế bảo vệquyền dân sự của con người bằng phương thức bảo vệ các quyền dân sự bằngcon đường TA

Việc ghi nhận các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự trong VADSđầu tiên phải dựa trên sự ghi nhận và bảo đảm quyền con người về dân sự Mộtkhi tranh chấp xảy ra, các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự yêu cầu TA giảiquyết vụ án và được TA thụ lý thì các chủ thể này trở thành đương sự củaVADS Khi đó họ không chỉ có các quyền và nghĩa vụ về dân sự mà còn cóthêm các quyền và nghĩa vụ TTDS để bảo vệ các quyền dân sự hợp pháp củamình Điều đó cho thấy các quyền và nghĩa vụ TTDS của đương sự có mối liên

hệ mật thiết với quyền và nghĩa vụ dân sự của đương sự Hay nói cách khác, cácquyền và nghĩa vụ dân sự của đương sự chính là nền tảng phát sinh các quyền vànghĩa vụ TTDS của đương sự Để đương sự có được các quyền và nghĩa vụTTDS thì họ phải chứng minh được mình là chủ thể của các quyền và lợi ích dân

sự đang có tranh chấp, vi phạm trong VADS Đương sự không thể có quyềnkhởi kiện hoặc các yêu cầu khác để bắt đầu VADS nếu họ không có quyền dân

sự liên quan trừ trường hợp họ khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích cho chủ thểkhác

PGS.TS Phạm Hữu Nghị đã nhận xét: “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là phản ánh của quyền tự định đoạt của chủ thể trong mối quan hệ dân sự ” Đúng như vậy, các chủ thể trong mối quan hệ dân sự mà họ

tham gia độc lập với nhau cả về tài sản và tổ chức, cũng như bình đẳng với nhautrong việc hưởng quyền và nghĩa vụ Điều đó không có nghĩa là nếu chủ thể này

có quyền nào thì chủ thể kia cũng được hưởng quyền đó mà sự bình đẳng ở đâyđược thể hiện qua việc các chủ thể có quyền tự định đoạt và thoả thuận trong cácquan hệ mà mình tham gia Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, các chủ thể hoàntoàn có quyền đưa ra TA yêu cầu giải quyết VADS hay rút đơn khởi kiện, thực

Trang 13

hiện yêu cầu phản tố đối với đương sự bên kia Bên cạnh đó, về nguyên tắc, đểđảm bảo việc giải quyết đúng đắn VADS thì các đương sự phải bình đẳng vớinhau về quyền và nghĩa vụ TTDS Sự bình đẳng này không đồng nghĩa với việccác đương sự đều có quyền và nghĩa vụ TTDS giống nhau mà ngoài nhữngquyền và nghĩa vụ cơ bản giống nhau thì tùy theo địa vị tố tụng của mình mà họlại có những quyền và nghĩa vụ khác nhau Họ bình đẳng với nhau chính là bìnhđẳng về các điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo đảm tốtnhất các quyền và lợi ích của mình trước TA Ngoài ra, việc ghi nhận các quyền

và nghĩa vụ TTDS của đương sự cũng cần bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cácchủ thể khác tham gia hoạt động TTDS (TA, VKS, người phiên dịch)

Tóm lại, việc quy định các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong TTDSnói chung và cụ thể trong VADS là hết sức cần thiết để đương sự có được đầy

đủ điều kiện thuận lợi để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũngnhư ngăn chặn sự xâm hại của các chủ thể khác

1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH

TƯ CÁCH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

1.2.1 Cơ sở xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự

Việc xác định tư cách của đương sự được dựa trên những cơ sở sau đây:quyền khởi kiện của các chủ thế; sự liên quan về quyền và nghĩa vụ vào thờiđiểm tham gia tố tụng của đương sự đó; phạm vi giải quyết VADS của tòa án.Trong đó quyền khởi kiện được xác định là cơ sở tiền đề và quan trọng nhất đểxác định tư cách của đương sự

1.2.1.1 Quyền khởi kiện – Cơ sở của việc xác định tư cách của đương sự

Quyền khởi kiện là một trong những quyền tố tụng thuộc quyền conngười Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụnglàm phát sinh VADS do cá nhân, pháp nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Tòa ánbảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nướchoặc hoặc lợi ích của người khác và quyền đưa ra các yêu cầu phản tố của bị

Trang 14

đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Việc thực hiện quyền khởi kiện của các chủ thể như đã nêu trên sẽ làmphát sinh VADS tại TA Do đó, khi chủ thể khởi kiện, TA cần xác định chínhxác các vấn đề sau: ai có quyền khởi kiện; chủ thể mang quyền này có quyềnkhởi kiện đối với ai và phạm vi mà chủ thể có thể yêu cầu TA giải quyết; ai làngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến giải quyết VADS đó?

Không thể phủ nhận mối liên hệ giữa quyền khởi kiện và quyền lợi gắnvới các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, thương mại, lao động.Trong khoa học pháp lý, có thể có nhiều cách phân loại quyền khởi kiện (tốquyền) khác nhau Nếu căn cứ cứ vào bản chất quyền lợi hành xử thì tố quyềnđược phân chia thành tố quyền đối vật dùng cho một quyền lợi đối vật, tố quyềnđối nhân dùng cho một quyền lợi đối nhân và tố quyền hỗn hợp liên quan tớimột quyền đối nhân và một quyền lợi đối vật được sinh ra từ cùng một hành vipháp lý [ 15 ] Trong khuôn khổ của khoá luận này, ngoài việc phân tích đặcđiểm của các loại quyền khởi kiện, tác giả đồng thời sẽ tiến hành phân tích vềmối liên hệ giữa quyền khởi kiện và việc xác định tư cách đương sự trong một

số quan hệ pháp luật nội dung có tính điển hình

a Đối với các quan hệ pháp luật về sở hữu, quan hệ pháp luật về thừa kế.

Quyền khởi kiện trong hai quan hệ pháp luật điển hình trên thuộc nhóm tố

quyền đối vật Đối với các tố quyền đối vật, việc kiện của chủ thể có quyền

nhằm chống lại người đang chiếm giữ, sử dụng, được lợi về tài sản bất hợp pháp

để thực thi quyền của mình đối với vật, hay còn gọi là kiện vật quyền Việc kiện

có thể được thực hiện bởi chủ sở hữu hoặc người có quyền chiếm hữu hợp pháptài sản, chủ thể có quyền sử dụng đất hợp pháp

Như vậy, có thể thấy trong quan hệ pháp luật sở hữu, nguyên đơn dân sựchính là chủ sở hữu, chủ thể có quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản, chủ thể cóquyền sử dụng đất thực hiện quyền khởi kiện người đang chiếm hữu bất hợppháp để đòi lại tài sản hoặc thực hiện quyền chiếm hữu của mình, đồng thờitrong trường chủ sở hữu, chủ thể có quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản khởi kiện

Trang 15

yêu cầu ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực thiquyền của mình đối với tài sản thì tư cách của họ trong VADS cũng là nguyênđơn dân sự [ 15 ].

Trong quan hệ pháp luật thừa kế, các chủ thể tham gia tố tụng chủ yếunhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình xuất phát từ việc phân chia disản thừa kế mà người chết để lại Quyền khởi kiện trong quan hệ pháp luật thừa

kế được quy định xuất phát từ những quyền và nghĩa vụ luật định dành chonhững người thừa kế Trên cơ sở của nguyên tắc người có quyền và lợi ích hợppháp bị chủ thể khác xâm phạm có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi củamình, thì người thừa kế có quyền khởi kiện chia thừa kế hoặc kiện đòi di sảnthừa kế đang bị người khác chiếm giữ trái pháp luật, khi đó tư cách tham gia tốtụng của họ là nguyên đơn Người thừa kế cũng có thể là bị đơn nếu bị nguyênđơn khởi kiện hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu không khởikiện nhưng tham gia tố tụng do có quyền lợi trong vụ án

b Đối với các quan hệ pháp luật về hợp đồng, quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Quyền khởi kiện của chủ thể trong quan hệ pháp luật về hợp đồng, quan

hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thuộc nhóm quyền khởikiện đối nhân Tố quyền đối nhân nhằm vào một công việc phải làm, liên quanđến một người hay một trái vụ Tố quyền đối nhân chỉ có thể do trái chủ hoặcnhững người kế thừa quyền của họ thực hiện và chỉ được sử dụng đối với một sốngười hạn chế, là các chủ thể có nghĩa vụ và những người kế thừa nghĩa vụ của

họ [ 15 ] Quyền đối nhân thể hiện mối tương quan pháp lý giữa hai người,người có quyền (trái chủ) và người có nghĩa vụ (thụ trái), theo đó khi người cónghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủnghĩa vụ thì người có quyền (khởi kiện) đó được xác định là nguyên đơn vàngười có nghĩa vụ được xác định là bị đơn

Trong trường hợp chuyển giao quyền yêu cầu thì người thế quyền trởthành người có quyền yêu cầu mới và người này có quyền khởi kiện để yêu cầu

Trang 16

người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ, người thế quyền trở thành nguyênđơn Nếu người có nghĩa vụ chuyển giao nghĩa vụ cho người khác thì người thếnghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với người có quyền, trong trường hợpngười có quyền khởi kiện thì người thế nghĩa vụ trở thành bị đơn.

Như chúng ta đã biết, trong quan hệ pháp luật về hợp đồng, sự thỏa thuậncủa các bên trong hợp đồng sẽ làm phát sinh nghĩa vụ mà các bên có nghĩa vụphải thực hiện Do đó, khi chủ thể mang quyền trong quan hệ hợp đồng khởikiện họ sẽ có tư cách là nguyên đơn dân sự trong VADS, còn chủ thể có nghĩa

vụ xác định trong hợp đồng bị kiện sẽ là bị đơn dân sự

Khác với quan hệ pháp luật về hợp đồng, trong quan hệ pháp luật về bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng, cơ sở của việc thực hiện quyền khởi kiện lànghĩa vụ mà pháp luật quy định từ việc thực hiện hành vi gây thiệt hại Để có thểbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người có quyền lợi bị thiệt hại thựchiện quyền khởi kiện được xác định là nguyên đơn dân sự Trong quan hệ phápluật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người bị thiệt hại phải khởi kiện người

có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và trong trườnghợp này người bị khởi kiện tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn Việc xác định

ai là người có trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào quy định của pháp luậtdân sự đối với từng trường hợp cụ thể

c Đối với các quan hệ pháp luật về nhân thân

Quyền khởi kiện của chủ thể trong quan hệ pháp luật về nhân thân thườnggắn liền với những cá nhân nhất định Tuy tố quyền nhân thân được đồng hóavới tố quyền đối nhân nhưng việc sử dụng tố quyền nhân thân lại chỉ hạn chế vớimột số chủ thể mang quyền đã được ấn định theo quy định của pháp luật TrongVADS liên quan đến quyền nhân thân thì nguyên đơn chính là người có quyềnnhân thân đó Ngoài ra, các nhà làm luật đã mở rộng quyền khởi kiện trong quan

hệ nhân thân cho một số chủ thể xác định khác Tuy vậy, chỉ những chủ thểmang quyền trong quan hệ nhân thân thực hiện quyền khởi kiện hoặc đượcngười khác khởi kiện mới có thể trở thành đương sự với tư cách là nguyên đơn

Trang 17

dân sự trong vụ kiện dân sự Các chủ thể không phải là chủ thể của các quan hệnhân thân mà thực hiện việc khởi kiện theo quy định của pháp luật sẽ tham gia

tố tụng với tư cách người đại diện theo pháp luật hay người đại diện theo ủyquyền của đương sự

Có thể lấy một vài ví dụ về việc chủ thể mang quyền trong quan hệ nhânthân thực hiện quyền khởi kiện của mình: trong vụ kiện ly hôn thì nguyên đơn

có thể là vợ hoặc chồng – người đã khởi kiện ly hôn; nguyên đơn trong vụ kiệnxác định cha mẹ cho con là con hoặc ngược lại

1.2.1.2 Sự liên quan về quyền, nghĩa vụ và thời điểm tham gia tố tụng của đương sự - căn cứ xác định tư cách của đương sự

Ngoài quyền khởi kiện là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để xác định tưcách của đương sự thì sự liên quan về quyền, nghĩa vụ và thời điểm tham gia tốtụng của đương sự cũng đóng vai trò không kém quan trọng để xác định chínhxác tư cách của đương sự

Khi xem xét giải quyết tranh chấp về quyền, nghĩa vụ giữa nguyên đơn và

bị đơn nếu có liên quan đến quyền và lợi ích của chủ thể thứ ba thì TA cần xácđịnh chủ thể này với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trongVADS Khi xem xét yêu cầu giải quyết VADS, TA cần xác định việc giải quyết

đó sẽ liên quan đến quyền và nghĩa vụ của ai để xác định được những người cóliên quan

Thời điểm tham gia tố tụng cũng là một trong những yếu tố quyết định tưcách của đương sự Giả sử A, B, C là đồng sở hữu một mảnh đất A có hành vi

tự ý bán đi một phần mảnh đất đó mà không có sự đồng ý của cả B và C Nếu B

và C cùng đứng đơn khởi kiện A ra tòa thì TA xác định B và C là nguyên đơn vì

họ đã cùng khởi kiện và cùng tham gia vào ngay từ lúc khởi kiện, A là bị đơn.Nếu chỉ B khởi kiện A, TA sẽ xác định B là nguyên đơn, A là bị đơn, còn C làngười có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Ngoài ra, tư cách của đương sự còn có thể bị thay đổi khi phạm vi giảiquyết VADS của TA có sự thay đổi do đương sự thực hiện quyền tự định đoạt

Trang 18

của mình Nếu sau khi TA đã thụ lý vụ án mà nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầukhởi kiện nhưng bị đơn không bỏ yêu cầu phản tố thì bị đơn sẽ trở thành nguyênđơn và nguyên đơn trở thành bị đơn

1.2.2 Ý nghĩa của việc xác định tư cách của đương sự trong vụ án dân sự

Đương sự chính là chủ thể chính trong TTDS nên trong suốt quá trình giảiquyết VADS việc tham gia của họ có ý nghĩa quyết định tới sự phát sinh, tồn tạihay kết thúc VADS Như chúng ta đã biết, giải quyết tranh chấp dân sự cũngchính là giải quyết các vấn đề liên quan tới lợi ích nên tất cả các chủ thể có liênquan tới vấn đề lợi ích đều cần được đưa vào và được xác định tư cách là đương

sự Do đó, có thể khẳng định việc xác định đúng và đầy đủ thành phần, tư cáchcủa đương sự trong VADS là yêu cầu quan trọng đầu tiên trong quá trình TAgiải quyết VADS

Việc xác định tư cách của đương sự trong VADS gồm nguyên đơn, bịđơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến VADS Vụ án dân sự sẽ đượcgiải quyết một cách triệt để, khách quan, cũng như quá trình giải quyết tranhchấp của các chủ thể sẽ không bị kéo dài nếu ngay từ đầu các đương sự đã đượcxác định đúng và đủ Ngược lại, việc xác định không đúng tư cách của đương sự

sẽ dẫn tới hậu quả là quyền lợi của đương sự không được bảo vệ, bản án, quyếtđịnh của TA có thể phải huỷ bỏ Hơn nữa, việc xác định đúng tư cách đương sự

sẽ xác định đúng đắn quyền và nghĩa vụ tố tụng và giới hạn được hoạt độngchứng minh trong tố tụng Ngoài ra việc xác định đúng tư cách của đương sựtrong VADS cũng là cơ sở để xác định đúng TA có thẩm quyền giải quyết vụviệc, đồng thời xác định chính xác cơ quan thi hành án có thẩm quyền tổ chứcthi hành án dân sự

1.3 LƯỢC SỬ CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ XÁC ĐỊNH

TƯ CÁCH ĐƯƠNG SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Pháp luật TTDS Việt Nam về đương sự và xác định tư cách đương sự

Trang 19

trong VADS đã có một quá trình hình thành và phát triển đáng ghi nhận Ta cóthể khái quát sự hình thành và phát triển đó qua các giai đoạn sau:

1.3.1 Thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, pháp luật TTDS của Việt Nam

đã được hình thành nhưng mới chỉ ở mức độ sơ khai Luật pháp triều Lý và triềuTrần đã có những quy định liên quan đến đương sự Điểm đáng ghi nhận nhất là

tại triều Lê (1428 -1788) đã có một bộ luật tố tụng riêng biệt với tên gọi “ Quốc triều khám tụng điều lệ” hay “Quốc triều từ tụng điều lệ” Pháp luật nhà Lê đã

có các quy định cụ thể để bảo vệ quyền tham gia tố tụng của đương sự (ví dụ: tạicác Điều 683, Điều 685, 720, 722 Quốc triều hình luật quy định quyền làm đơnlên cấp có thẩm quyền để được xét xử lại) Đến triều Nguyễn, Cổ luật của ViệtNam đã có những quy định cơ bản về điều kiện khởi kiện và xác định tư cáchđương sự trong vụ kiện, nhưng vẫn còn những hạn chế về quyền khởi kiện củacác thành viên trong gia đình Tuy chỉ dừng lại ở mức độ sơ khai nhưng các quyđịnh về đương sự và việc xác định tư cách đương sự đã có giá trị tích cực, tạonền móng cho quá trình xây dựng pháp luật TTDS về đương sự về sau

Dưới thời kỳ Pháp thuộc thì các Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba

kỳ Ba bộ luật quan trọng được áp dụng phải kể đến là Bộ luật dân sự Nam Kỳgiản yếu ra đời năm 1883, Bộ luật dân sự Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và Bộ dânluật Trung kỳ ra đời năm 1936, ngoài ra còn có các Bộ luật Dân sự -Thương sự

tố tụng năm 1921 và 1942 Nhìn chung các bộ luật trên đều đã đề cập đến cácquyền công dân trong lĩnh vực dân sự, Bộ luật Dân sự - Thương sự tố tụng đãbước đầu có những quy định cụ thể, chi tiết về đương sự trong TTDS, đã ghinhận quyền khởi kiện của công dân nhưng việc thực hiện quyền năng này lạikhông được bảo đảm trên thực tế

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

Sau thành công rực rỡ Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa đã ra đời Liên tiếp sau đó, Nhà nước ta đã cho ban hành các Sắclệnh như Sắc lệnh 47/SL ngày 10/10/1945 cho phép thực hiện tạm thời nội dung

Trang 20

pháp luật của chế độ cũ; Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án

và ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh 51/SL ngày 17/4/1946 quy định thẩm quyền củacác Tòa án; Sắc lệnh 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh 51/SL; Sắc lệnh130/SL ngày 19/7/1946 quy định thể thức thi hành án; Sắc lệnh 85/SL ngày22/5/1950 cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày07/11/1950 quy định về vấn đề ly hôn Do điều kiện kháng chiến còn nhiều khókhăn nên từ 1945 đến 1954 các Sắc lệnh mà Nhà nước ta ban hành mới chỉ dừnglại ở các quy định chung về thủ tục TTDS mà chưa quy định cụ thể về đương sựtrong VADS cũng như việc xác định tư cách

Tới năm 1954, sau khi kháng chiến thắng lợi, Nhà nước ta đã ban hànhnhiều văn tố tụng quy định các vấn đề về đương sự như tư cách đương sự trongVADS, năng lực hành vi TTDS của đương sự hay quyền và nghĩa vụ tố tụng củađương sự Tại tất cả các văn bản pháp luật trong thời kỳ này đều quy định đương

sự trong VADS gồm nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan Đồng thời điều kiện để trở thành nguyên đơn trong VADS được quy địnhlà: cá nhân, pháp nhân có quyền lợi bị xâm phạm, đã khởi kiện hoặc được VKSkhởi tố

Tại Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 với tư cách là văn bản pháp luật

có hiệu lực cao nhất cũng đều đã ghi nhận nguyên tắc mọi công dân đều bìnhđẳng trước pháp luật, tạo điều kiện để mọi công dân thực hiện quyền khởi kiệncủa mình Để cụ thể nguyên tắc trên, TANDTC đã có các hướng dẫn về các vấn

đề liên quan đến đương sự và việc xác định tư cách của đương sự như: Công văn

số 5/NCPL ngày 29/6/1966 về tư cách bị đơn trong vụ kiện dân sự; Nghị quyết01/NQ/HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC ngày 20/01/1988 hướng dẫnthực hiện một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; Công văn

số 439/NCLP ngày 10/4/1964 của TANDTC về thể thức chấp nhận sự thỏathuận của đôi bên đương sự khi việc đã đến cấp phúc thẩm… Khái quát và tậphợp nhất quyền của đương sự đã được quy định tại các văn bản pháp luật trongthời kỳ này có thể xem tại Thông tư số 96/NCLP ngày 08/02/1977 của

Trang 21

TANDTC với hướng dẫn: “Nguyên đơn, bị đơn, người dự sự có những quyền sau đây: được TAND cho xem hoặc sao chép đơn từ, tài liệu của các đương sự khác, nhân chứng, giám định viên…nếu nhận thấy cần thiết cho đương sự chuẩn

bị chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ những quyền lợi cho họ và việc đó không gây khó khăn cho việc điều tra, hòa giải…; được đề xuất yêu cầu, bổ sung yêu cầu hoặc thay đổi yêu cầu của việc kiện, được đề xuất chứng cứ và những yêu cầu về điều tra hoặc về biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được TAND giải quyết; được xin cáo tỵ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoặc người phiên dịch; được đề xuất những câu hỏi trong khi TAND thẩm vấn tại phiên tòa và được tham gia cuộc tranh luận…” Ngoài những quy định về quyền của đương sự, các văn bản pháp

luật tố tụng còn xác định các nghĩa vụ pháp lý của đương sự, có thể tham khảotại Thông tư số 06/TATC ngày 25/12/1974 hướng dẫn về việc điều tra trong

TTDS với quy định “Các đương sự có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo

vệ những quyền lợi hợp pháp của mình”, hay tại Thông tư số 96/NCLP ngày 08/02/1977 của TANDTC cũng quy định: “Nếu các đương sự đã có quyền thì

họ cũng có những nghĩa vụ trong TTDS…”.

Như vậy, có thể nhận xét trong giai đoạn từ 1945 đến 1989 vấn đề vềđương sự và việc xác định tư cách của đương sự trong VADS đã được quy định.Tuy không có những văn bản pháp luật về TTDS nhưng dựa vào các căn cứ củaHiến pháp, Luật tổ chức TAND, mà TANDTC và VKSNDTC đã chủ động cùngvới các cơ quan hữu quan ban hành nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thểcác thủ tục về TTDS trong đó bao gồm cả những vấn đề về đương sự

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Bước vào thời kỳ đổi mới với sự phát triển của kinh tế háng hóa nhiềuthành phần có sự quản lý của Nhà nước, do đó các quan hệ xã hội ngày một đadạng và phức tạp hơn nữa, dẫn tới nhu cầu giải quyết nhanh chóng, kịp thời,chính xác các tranh chấp dân sự Trước yêu cầu thực tế đó, cùng với sự kế thừa

và phát triển các quy định của pháp luật về TTDS của giai đoạn trước năm 1989,

Trang 22

Nhà nước ta đã cho ban hành rất nhiều văn bản pháp luật TTDS như: Pháp lệnhThủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) ngày 29/11/1989; Pháplệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 06/3/1994;Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQTCLĐ) ngày11/4/1996…đây đều là những văn bản pháp luật quan trọng về TTDS, trong đó

có những quy định liên quan đến đương sự và xác định tư cách đương sự trongVADS

Tại cả ba Pháp lệnh đã nêu trên đều đã quy định khá đầy đủ các quyền vànghĩa vụ cơ bản của đương sự Theo đó, đương sự có các quyền như: nguyênđơn có quyền thay đổi yêu cầu của mình; bị đơn có quyền phản đối yêu cầu củanguyên đơn, đồng thời có quyền đề đạt yêu cầu có liên quan đến yêu cầu củanguyên đơn; đương sự có quyền đưa ra chứng cứ, được tham gia phiên tòa vàtranh luận tại phiên tòa…Các nghĩa vụ của đương sự cũng được quy định cụ thểnhư: cung cấp đầy đủ và kịp thời các chứng cứ cần thiết liên quan đến yêu cầucủa mình, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa, thi hành các quyết địnhcủa TA…Nhìn chung các quy định này đều tạo điều kiện thuận lợi nhất chođương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

Đối với vấn đề xác định tư cách của đương sự trong VADS,PLTTGQCVADS năm 1989 ghi nhận: đương sự là công dân, cá nhân, phápnhân tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan PLTTGQTCVAKT năm 1994 và PLTTGQTCLĐ năm

1996 về cơ bản được xây dựng trên cơ sở của PLTTGQCVADS năm 1989 đãtách hai mảng kinh tế và lao động ra khỏi trình tự giải quyết các VADS nên cácquy định về xác định tư cách đương sự cũng tương tự như trongPLTTGQCVADS 1989

Ngày 15/5/2004 Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI đãthông qua Bộ luật TTDS 2004 đầu tiên tại kỳ họp thứ Năm Bộ luật này đã đượccông bố vào ngày 24/6/2004 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2005 Cùngvới đó Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị quyết

Trang 23

số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về việc thi hành Bộ luật TTDS 2004; Nghịquyết số 04/2005/NQ –HĐTP ngày 17/9/2005 hướng dẫn thi hành một số quyđịnh của Bộ luật TTDS 2004 về Chứng cứ và Chứng mình…Các văn bản phápluật trên đều có những quy định liên quan tới đương sự, trong đó Bộ luật TTDS

2004 đã dành toàn bộ Mục 1 – Chương VI quy định các vấn đề chung nhất vềđương sự

Mới đây nhất Quốc hội đã thông qua Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổsung một số điều của Bộ luật TTDS và Luật này đã có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/2012 Luật số 65 đã bổ sung thêm quyền của các đương sự trong VADSnhư quyền được trực tiếp đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến

vụ án khi được phép của Tòa án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏivới người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng (quy địnhtrước đây chỉ cho phép đương sự đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi ngườikhác; được đối chất với nhau hoặc với nhân chứng)

Tóm lại, có thể khẳng định các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam

về đương sự và xác định tư cách của đương sự trong VADS đã không ngừngđược hoàn thiện qua các thời kỳ Bộ luật TTDS 2004 đã kế thừa có chọn lọc vàphát triển các quy định của pháp luật TTDS về đương sự và việc xác định tưcách của đương sự Vấn đề này sẽ được trình bày cụ thể tại Chương 2 của khóaluận

Trang 24

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐƯƠNG SỰ VÀ XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH CỦA ĐƯƠNG

Khoản 1 Điều 57 BLTTDS quy định: “Năng lực pháp luật tố tụng dân sự

là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định” Theo đó, nội dung của năng lực pháp luật TTDS là các quyền và nghĩa vụ

TTDS mà pháp luật quy định cho đương sự Cùng với pháp luật TTDS củanhiều nước trên thế giới, pháp luật TTDS Việt Nam đã quy định mọi cá nhân, tổchức có năng lực pháp luật TTDS như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của mình

Tuy Điều 57 BLTTDS không quy định về thời điểm bắt đầu hay chấm dứtnăng lực pháp luật TTDS của đương sự nhưng như đã phân tích tại Chương 1bản khóa luận ta có thể thấy năng lực pháp luật TTDS có mối liên quan chặt chẽvới năng lực pháp luật dân sự

Để trở thành đương sự có thể tham gia độc lập trong quá trình TTDS thìngoài năng lực TTDS chủ thể đó còn cần có năng lực hành vi TTDS Theokhoản 2, Điều 57 BLTTDS thì năng lực hành vi TTDS là khả năng tự mình thựchiện quyền, nghĩa vụ TTDS hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia TTDS.Theo quy định tại khoản 3, Điều 57 BLTTDS thì đương sự từ đủ 18 tuổi trở lên

có đầy đủ năng lực hành vi TTDS, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người

bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác Đối với

Trang 25

người chưa đủ mười lăm tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự thì không cónăng lực hành vi TTDS, khi đó người đại diện hợp pháp của họ là người thaymặt họ để thực hiện những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của đương sự trước TA (khoản 4, 5 Điều 57 BLTTDS) Đối vớiđương sự là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không có người đạidiện hoặc người đại diện theo pháp luật của họ thuộc một trong các trường hợpquy định tại Điều 75 BLTTDS không được được làm người đại diện thì TA sẽphải chỉ định người đại diện để tham gia tố tụng tại TA Theo hướng dẫn tạiNghị quyết số 01/2005/NQ – HĐTP ngày 31/3/2005 thì người chưa đủ 18 tuổivẫn có thể có đầy đủ năng lực hành vi TTDS Ví dụ: người vợ chưa đủ 18 tuổi

có quyền tham gia TTDS; đương sự là người từ đủ 15 tuổi trở lên tham gia giaodịch dân sự bằng tài sản riêng của mình

2.2 CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA ĐƯƠNG SỰ VÀ

KẾ THỪA QUYỀN, NGHĨA VỤ TỐ TỤNG

2.2.1 Các quyền, nghĩa vụ của đương sự

Quyền và nghĩa vụ của đương sự đã được quy định cụ thể tại Điều 58BLTTDS 2004 Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều củaBLTTDS đã bổ sung thêm một số quyền cho các đương sự Ngoài quyền vànghĩa vụ chung được quy định tại Điều 58 thì BLTTDS còn có quy định vềquyền và nghĩa vụ riêng của từng đương sự tại các Điều 59, 60, 61 BLTTDS và

kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Điều 62 BLTTDS

- Quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Theo quy định tại Điều 161 BLTTDS thì “Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp của mình”

Điều 163 BLTTDS và Mục 3 Phần I Nghị quyết 02/2006/NQ –HĐTP đã cónhững quy định tương đối cụ thể về phạm vi thực hiện quyền khởi kiện củađương sự Theo đó, đương sự có thể khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết một

Trang 26

hoặc nhiều vấn đề về một hoặc nhiều QHPL có liên quan với nhau để giải quyếttrong cùng một VADS Các QHPL có liên quan với nhau có thể được giải quyếttrong cùng một VA khi: việc giải quyết QHPL này đòi hỏi phải giải quyết đồngthời QHPL khác hoặc việc giải quyết các QHPL có cùng đương sự và về cùngloại tranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng tại các Điều 25, Điều 27,Điều 29 hoặc Điều 31 BLTTDS.

Để xác định chủ thể có quyền khởi kiện hay không ta cần xét tới họ có phải

là chủ thể của các quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp hay không Đương

sự thực hiện quyền khởi kiện của mình thông qua các hình thức như: nộp đơnkhởi kiện VADS trực tiếp tại TA hay gửi đơn khởi kiện qua bưu điện kèm theocác chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp

Để đảm bảo quyền khởi kiện của đương sự, BLTTDS sửa đổi đã có nhữngquy định cụ thể về các căn cứ TA có thể dựa vào để trả đơn khởi kiện, cơ chếkiểm sát từ Viện kiểm sát và cơ chế giải quyết khiếu nại về việc trả đơn khởikiện (Điều 168, Điều 170 BLTTDS sửa đổi)

Điều 164 BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã có quy định bổ sung về đơn khởikiện đối với những cá nhân bị khuyết tật về thể chất Theo đó, trường hợp ngườikhởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểmchỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt người

có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã Người có thẩm quyềnchứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện

và người làm chứng Quy định bổ sung này sẽ góp phần đảm bảo quyền khởikiện đối với những cá nhân không may mắn trên

Trên cơ sở bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, BLTTDS không chỉ ghi nhậnquyền khởi kiện VADS của nguyên đơn mà còn quy định về quyền đưa ra yêucầu phản tố của bị đơn, quyền yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập Thực chất quyền phản tố chính là quyền kiện lại của bịđơn đối với nguyên đơn

Trang 27

- Quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự (điểm a, khoản 2 Điều

58 BLTTDS)

Đối với việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự sẽ được TA chấpnhận khi việc thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu của đương sự là hoàn toàn tựnguyện, không có mục đích trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, không vượt ngoàiphạm vi các yêu cầu mà TA có thể giải quyết trong cùng một VADS Tại phiêntòa phúc thẩm VADS, nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì theo quy định tạiĐiều 269 BLTTDS, TA cấp phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không.Nếu bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn.Nếu bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn HĐXXphúc thẩm ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết VA

- Quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ án (điểm x, khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi)

Theo BLTTDS trước đây quyền đề nghị TA tạm đình chỉ giải quyết vụ án chỉthuộc về nguyên đơn dân sự BLTTDS sửa đổi mở rộng hơn quyền này cho tất

cả các đương sự trong vụ án dân sự « theo quy định của Bộ luật này » Sửa đổi

này đã làm chấm dứt tranh luận về quyền đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết

vụ án có phải tuân thủ các căn cứ tạm đình chỉ tại Điều 189 BLTTDS haykhông

- Tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hòa giải do Tòa

án tiến hành (điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi)

Đương sự có quyền hoà giải (thoả thuận với nhau về việc giải quyết VA) ởbất kỳ thời điểm hay giai đoạn nào của quá trình tố tụng Hoà giải giữa cácđương sự trong TTDS có thể thực hiện dưới hai hình thức sau: Đương sự tự hoàgiải (đương sự tự thoả thuận) là việc đương sự tự thoả thuận với nhau về việcgiải quyết VA trong quá trình tố tụng mà không có vai trò tác động của TA đốivới sự thoả thuận này Trường hợp hoà giải do TA tiến hành là việc TA giúp đỡđương sự thoả thuận tự nguyện với nhau về việc giải quyết VA thông qua việchướng dẫn, giải thích pháp luật kết hợp với việc giải quyết các vướng mắc trong

Trang 28

tâm tư, tình cảm của các bên đương sự

Sự thỏa thuận giữa các đương sự trong việc giải quyết VA được pháp luậtTTDS tôn trọng, tuy nhiên thỏa thuận này phải được tiến hành trên cơ sở tựnguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội cũng như làm ảnhhưởng tới quyền và nghĩa vụ hợp pháp của đương sự khác

Ngoài các quyền như đã phân tích trên, đương sự còn có các quyền tố tụngkhác như quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp cho mình (điểm i khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi); Quyền yêu cầu TAquyết định áp dụng BPKCTT (Điều 99 BLTTDS); Quyền kháng cáo, khiếu nạibản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTDS (điểm s khoản 2 Điều

+ Quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý chứng

cứ cung cấp chứng cứ cho mình để giao nộp cho Toà án (điểm c khoản 2 Điều

58 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011);

+ Quyền đề nghị TA xác minh, thu thập chứng cứ của VA mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị TA triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá (điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011).

Quy định tại Điều 94 BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã khắc phụctrường hợp đương sự không có khả năng, điều kiện để thu thập chứng cứ Tuynhiên để tránh tình trạng đương sự không chịu tự thu thập chứng cứ trước khiyêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ, pháp luật TTDS đã quy định rõ các yêu cầubắt buộc mà đương sự phải thực hiện khi yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ Đó

là, “Đương sự yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập

Trang 29

được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản

lý, lưu trữ chứng cứ cần thu thập đó”

+ Quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương

sự khác xuất trình hoặc do TA thu thập

Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 thì đương sự chỉđược yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án trước khitoà mở phiên toà xét xử vụ án và họ phải làm đơn ghi rõ các tài liệu chứng cứcần ghi chép, sao chụp gửi cho Toà án Nếu đương sự là người không biết chữthì TA lập biên bản ghi rõ yêu cầu của họ và họ phải ký tên hoặc điểm chỉ vàobiên bản đó Mặt khác, để bảo vệ những bí mật về đời tư của các đương sự, cũngnhư các bí mật về kinh doanh… Toà án chỉ công bố tài liệu chứng cứ liên quanđến vụ án, không liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mậtkinh doanh, bí mật đời tư (khoản 2 Điều 97; Điều 227; Điều 228; Điều 229;Điều 272 BLTTDS)

- Các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự

Ngoài các quyền, nghĩa vụ đã nêu trên đương sự còn có chung các quyền,nghĩa vụ khác như được nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụcủa mình; đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm,tái thẩm bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật; đề nghị Tòa án đưangười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng; phải có mặt theo giấytriệu tập của TA và chấp hành các quyết định của TA trong thời gian giải quyết

vụ án

Ngoài những quyền và nghĩa vụ đã được nêu chung ở Điều 58 BLTTDS,tại khoản 2 Điều 59 BLTTDS sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2011 còn ghinhận thêm quyền rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nộidung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Để tạo điều kiện cho bị đơn có sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ với nguyênđơn, ngoài những quyền, nghĩa vụ chung thì pháp luật TTDS hiện hành đã quyđịnh những quyền và nghĩa vụ riêng biệt của bị đơn như được Tòa án thông báo

Trang 30

về việc bị khởi kiện; quyền đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu cóliên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ củanguyên đơn; chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyênđơn.

Bên cạnh các quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 58BLTTDS, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặctham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn Điều 177 BLTTDSghi nhận quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi

họ không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc bên bị đơn với các điềukiện sau:

- Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

- Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

- Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm choviệc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

2.2.2 Việc kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự

Khi TA đã thụ lý VADS mà có đương sự là cá nhân chết hoặc đương sự là

cơ quan, tổ chức bị giải thể, bị tuyên bố phá sản hoặc hợp nhất, sáp nhập, chia,tách, chuyển đổi hình thức tổ chức mà quyền và nghĩa vụ của đương sự được dịchchuyển cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác thì các cá nhân, cơ quan, tổ chứctiếp nhận quyền và nghĩa vụ tố tụng tiếp tục tham gia tố tụng

Điều 62 BLTTDS 2004 đã quy định về vấn đề kế thừa quyền, nghĩa vụ tốtụng Trong trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết màquyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.Nếu đương sự đã chết có nhiều người thừa kế thì về nguyên tắc, tất cả nhữngngười thừa kế tham gia tố tụng hoặc họ phải thoả thuận với nhau bằng văn bản

để cử người đại diện tham gia hoặc cùng ủy quyền cho người khác đại diện thamgia tố tụng Nếu tất cả người thừa kế đều từ chối nhận di sản hoặc không cóngười thừa kế hoặc có người thừa kế nhưng người thừa kế không được hưởng di

Trang 31

sản thì tài sản thuộc về Nhà nước, sau khi thực hiện việc thanh toán các nghĩa vụtheo thứ tự ưu tiên được quy định tại Điều 683 BLDS 2005

Nếu đương sự là cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng phải chấm dứthoạt động, bị giải thể, sáp nhập, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì việc

kế thừa quyền, nghĩa vụ TTDS đó được xác định như sau:

- Trường hợp tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì cá nhân, tổ chức làthành viên của tổ chức đó hoặc đại diện của họ tham gia tố tụng

Ta cũng cần lưu ý để phân biệt khi xác định việc kế thừa quyền, nghĩa vụ

tố tụng trong hai trường hợp sau:

- Trường hợp thứ nhất: Tổ chức phải chấm dứt hoạt động là loại hình tổ

chức trong đó, thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn như công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn (điểm a khoản 1 Điều 26; điểm b khoản 1Điều 51 Luật Doanh nghiệp), doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốnđầu tư nước ngoài (Điều 6, Điều 15 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam) thì cánhân, tổ chức là thành viên tổ chức đó khi tham gia tố tụng chỉ phải chịu tráchnhiệm tài sản tối đa bằng phần tài sản còn lại của các tổ chức đó khi phải chấmdứt hoạt động hoặc bị giải thể nếu các cá nhân và tổ chức thành viên này đãhoàn thành nghĩa vụ đóng góp vốn theo quy định trong điều lệ của doanhnghiệp Nếu có thành viên chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn thì người đó phảithực hiện nghĩa vụ này bao gồm cả gốc và lãi theo quy định tại khoản 1 Điều 37Luật Doanh nghiệp và khoản 2 Điều 11a Nghị định số 03/2000/NĐ-CP củaChính phủ ngày 03 tháng 02 năm 2000 (đã được sửa đổi bổ sung một số điềubằng Nghị định số 125/2004/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2004 của Chính phủ).Nếu tài sản còn lại của tổ chức bị chấm dứt hoạt động hoặc bị giải thể chưa bịchia cho các thành viên, thì nghĩa vụ tài sản được thực hiện từ toàn bộ số tài sảncòn lại Nếu tài sản còn lại đã được chia cho các thành viên thì mỗi thành viêntham gia tố tụng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của tổ chức bị chấm dứt hoạtđộng hoặc bị giải thể tương ứng với phần tài sản mà mình đã nhận [ 9, tr.141]

Trang 32

- Trường hợp thứ hai: tổ chức phải chấm dứt hoạt động là công ty hợp danh

thì cá nhân, tổ chức là thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm tài sản về cácnghĩa vụ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, còn các cá nhân

là thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm tài sản về các nghĩa vụ tài sản củacông ty bằng toàn bộ tài sản của mình (điểm b, c khoản 1 Điều 95, Luật Doanhnghiệp)

- Trường hợp cơ quan, tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị giải thể là cơquan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thì đạidiện hợp pháp của cơ quan, tổ chức được giao tiếp nhận các quyền, nghĩa vụ của

cơ quan, tổ chức đó tham gia tố tụng Nếu trong trường hợp cơ quan, tổ chức đã

bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, tổ chức, cơ quan kếthừa quyền, nghĩa vụ của cơ quan tổ chức đó thì vấn đề kế thừa quyền, nghĩa vụ

sẽ không thể được đặt ra mà thay vào đó TA sẽ ra quyết định đình chỉ việc giảiquyết VADS (điểm b khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2004)

- Trường hợp tổ chức được tổ chức lại bằng cách hợp nhất, sáp nhập, chia,tách, chuyển đổi hình thức tổ chức thì cá nhân, tổ chức nào tiếp nhận quyền,nghĩa vụ của tổ chức đó sẽ tham gia tố tụng

- Trường hợp đương sự là tổ chức không phải là pháp nhân mà người đạidiện hoặc người quản lý đang tham gia tố tụng chết thì tổ chức đó phải cử ngườikhác làm đại diện để tham gia tố tụng Nếu tổ chức đó phải chấm dứt hoạt động,

bị giải thể thì cá nhân là thành viên của tổ chức đó tham gia tố tụng

2.3 VỀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TƯ CÁCH CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ

2.3.1 Quy định về xác định tư cách nguyên đơn trong vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì nguyên đơn trong VADS

là “người khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng

Trang 33

quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn”.

Như vậy, có thể thấy nguyên đơn trong VADS không những chỉ là ngườikhởi kiện hay người được cá nhân, cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định khởikiện yêu cầu TA giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của

họ bị xâm phạm mà nguyên đơn trong VADS còn là cơ quan, tổ chức khởi kiện

để yêu cầu TA bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực màmình phụ trách

Từ nhận định trên ta thấy, cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định lànguyên đơn cần có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất: Nguyên đơn được giả thiết có quyền lợi bị xâm hại hay có tranh

chấp

Mặc dù nguyên đơn có quyền, lợi ích giả thiết bị xâm phạm nhưng vẫn cóthể khởi kiện và được TA thụ lý vì họ đã cung cấp các chứng cứ ban đầu cầnthiết để chứng minh họ có quyền khởi kiện để yêu cầu TA giải quyết cácQHPL nội dung Về nguyên tắc thì nguyên đơn phải là chủ thể của QHPL nộidung có tranh chấp, có quyền, lợi ích liên quan quan hệ pháp luật nội dung đó

- Trong quan hệ nhân thân thì chỉ những chủ thể tham gia quan hệ mới có

quyền và nghĩa vụ với nhau Về nguyên tắc, trong các quan hệ nhân thân,ngoài chủ thể có quyền nhân thân ra thì không một chủ thể nào khác có quyềnkhởi kiện Nhưng trong một số trường hợp quyền khởi kiện này có thể được

mở rộng đối với một số chủ thể nhất định đã được pháp luật quy định [ 12,tr.34 ]

- Trong quan hệ nghĩa vụ thì quyền của chủ thể này chính là nghĩa vụ của

chủ thể kia và ngược lại Chủ thể có quyền lợi sẽ có có quyền khởi kiệnVADS Khi các chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ khởi kiện nhằm yêu cầu TAbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì họ sẽ trở thành nguyên đơn trong

VADS Ví dụ, nguyên đơn trong VA về thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w