1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH TỔNG HỢP VÀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ, NỘI DUNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG ĐỊNH KỲ CHO CÁC KHU VỰC VEN BIỂN

144 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu vực Đông Nam Á: Hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng môi trường biển và ven bờ ở các quốc gia có biển đã phát triển nhanh chóng, góp phần quan trọng ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ

Trang 1

TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN THEO CHỨC NĂNG NĂM 2018

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH TỔNG HỢP VÀ XÂY DỰNG CHẾ

ĐỘ, NỘI DUNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG ĐỊNH KỲ CHO

CÁC KHU VỰC VEN BIỂN

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ THƯỜNG XUYÊN THEO CHỨC NĂNG NĂM 2018

NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH TỔNG HỢP VÀ XÂY DỰNG CHẾ ĐỘ, NỘI DUNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG ĐỊNH KỲ CHO CÁC

KHU VỰC VEN BIỂN

TỔ CHỨC CHỦ TRÌ: VIỆN NGHIÊN CỨU BIỂN VÀ HẢ ĐẢO

CHỦ NHIỆM NHIỆM VỤ: TS PHẠM VĂN HIẾU

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN

NHỮNG NGƯỜI TRỰC TIẾP THAM GIA THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

trường, sinh thái và tài nguyên biển

NHỮNG NGƯỜI GIÁN TIẾP THAM GIA THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

I NHU CẦU TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ 1

I.1 Tính cấp thiết của nhiệm vụ 1

I.2 Căn cứ pháp lý của nhiệm vụ 3

II THÔNG TIN CHUNG CỦA NHIỆM VỤ 3

II.1 Mục tiêu chung của nhiệm vụ 3

II.2 Nội dung của nhiệm vụ 3

II.2 Kinh phí thực hiện nhiệm vụ 4

PHẦN 2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGOÀI NƯỚC 5

1.1 Tổng quan 5

1.2 Quan trắc, giám sát chất lượng môi trường biển tại Hongkong 6

1.3 Quan trắc, giám sát môi trường biển ở Hoa Kỳ 8

1.4 Quan trắc, giám sát môi trường biển tại New Zealand 9

1.4.1 Giới thiệu 9

1.4.2 Mục tiêu 14

1.4.3 Các yếu tố quan trắc, giám sát mức độ quốc gia 14

1.5 Cơ chế giám sát môi trường biển của Thụy Điển 60

1.6 Quan trắc, giám sát môi trường biển tại Malaysia 61

CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH QUAN TRẮC, GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG NƯỚC 62

2.1 Khái niệm và vai trò của quan trắc môi trường 62

2.1.1 Khái niệm 62

2.1.2 Nội dung của quan trắc môi trường 62

2.1.3 Tầm quan trọng của QTMT và QTMT biển 64

2.2 Tính cấp thiết của hoạt động quan trắc về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 66

Trang 5

2.2.1 Đặc điểm vùng ven biển Việt Nam 66

2.2.2 Tổng quan môi trường biển Việt Nam 66

2.3 Hiện trạng mạng lưới quan trắc môi trường Việt Nam 75

2.3.1 Mạng lưới QTMT quốc gia 75

2.3.2 Mạng lưới quan trắc môi trường địa phương 83

2.3.3 Mạng lưới quan trắc môi trường thuộc các Bộ, ngành khác 99

CHƯƠNG 3 NỘI DUNG CHẾ ĐỘ QUAN TRẮC 101

3.1 Nội dung và chế độ quan trắc 101

3.1.1 Nội dung quan trắc môi trường tác động 101

3.1.2 Chế độ quan trắc môi trường tác động 104

3.1.3 Phương pháp quan trắc tự động 112

3.1.4 Quan trắc môi trường nền 112

3.2 Đánh giá kết quả chất lượng nước biển khu vực Đồ Sơn - Hải Phòng 113

3.2.1 Oxy hòa tan 113

3.2.2 Độ dẫn điện 113

3.2.3 Chlorophyll-a 114

3.2.4 Nhiệt độ nước biển 114

PHẦN 3 KẾT LUẬN 116

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116

4.1 Những tồn tại, thách thức 116

4.2 Mục tiêu giải quyết vấn đề 118

4.3 Định hướng thời gian tới 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

Trang 6

MỤC LỤC HÌNH

Hình 1.1 Mạng lưới quan trắc nước biển của Hongkong 7

Hình 2.1 Các bước chủ yếu trong quan trắc và phân tích môi trường 63

Hình 2.2 Diễn biến hàm lượng TSS trung bình trong nước biển ven bờ tại một số khu vực ven biển giai đoạn 2011 - 2015 (Nguồn: Trung tâm QTMT, TCMT, 2015) 67

Hình 2.3 Diễn biến hàm lượng NH4+ trung bình trong nước biển ven bờ tại một số khu vực ven biển giai đoạn 2011 - 2015 (Trung tâm QTMT, TCMT, 2015) 68

Hình 2.4 Diễn biến hàm lượng dầu mỡ khoáng trung bình trong nước biển ven bờ tại một số khu vực ven biển giai đoạn 2011 - 2015 (Trung tâm QTMT, TCMT, 2015) 69

Hình 2.5 Diễn biến hàm lượng N-NH4+ trung bình năm trong nước vùng biển khơi giai đoạn 2010 - 2013 (Trung tâm quốc gia Quan trắc và Cảnh báo môi trường biển - Viện Nghiên cứu hải sản, 2013) 70

Hình 2.6 Diễn biến hàm lượng P-PO43- trung bình năm trong nước vùng biển khơi giai đoạn 2010 - 2013 (Trung tâm quốc gia Quan trắc và Cảnh báo môi trường biển - Viện Nghiên cứu hải sản, 2013) 70

Hình 2.7 Diễn biến hàm lượng dầu mỡ trung bình năm trong nước vùng biển khơi giai đoạn 2010-2013 (Trung tâm quốc gia Quan trắc và Cảnh báo môi trường biển - Viện nghiên cứu hải sản, 2013) 71

Hình 2.8 Sơ đồ cấu trúc hệ thống của mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia 77

Hình 2.9 Bản đồ hệ thống các điểm quan trắc môi trường quốc gia 83

Hình 2.10 Nhân lực thực hiện quan trắc các địa phương 85

Hình 2.11 Sơ đồ vị trí các điểm quan trắc chất lượng môi trường biển 91

Hình 2.12 Mạng lưới quan trắc chất lượng nước biển ven bờ thành phố Hồ Chí Minh 97

Hình 2.13 Các Báo cáo môi trường quốc gia từ năm 2005 - 2009 99

Hình 3.1 Hàm lượng Oxy hòa tan tại khu vực Đồ Sơn – Hải Phòng 113

Hình 3.2 Độ dẫn điện tại khu vực Đồ Sơn – Hải Phòng 114

Hình 3.3 Hàm lượng chất diệp lục tại khu vực Đồ Sơn – Hải Phòng 114

Hình 3.4 Nhiệt độ nước biển tại khu vực Đồ Sơn – Hải Phòng 115

Trang 7

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1.1 Mục tiêu chất lượng nước của Hongkong 8

Bảng 1.2 Danh sách các thông số được thảo luận bởi nhóm 54

Bảng 1.3 Danh sách các thông số được ưu tiên, trong ba loại (sinh học, trầm tích và nước), cùng với thứ hạng trung bình của chúng được đưa ra bởi người trả lời, trong đó 1 = ưu tiên cao nhất 58

Bảng 1.4 Cơ quan bảo vệ môi trường biển Thụy Điển 60

Bảng 2.1 Kết quả thực hiện Quy hoạch giai đoạn 2007 - 2015 trong lĩnh vực môi trường 81

Bảng 2.2 Các thông số quan trắc môi trường nước biển chủ yếu của tỉnh Bình Thuận 96

Bảng 2.3 Ký hiệu các trạm quan trắc chất lượng nước biển ven bờ 98

Bảng 3.1 Thông số quan trắc môi trường biển 102

Bảng 3.2 Phương pháp lấy mẫu nước biển tại hiện trường 105

Bảng 3.3 Phương pháp đo đạc các thông số trong môi trường nước biển tại hiện trường 105

Bảng 3.4 Phương pháp phân tích các thông số trong môi trường nước biển trong phòng thí nghiệm 106

Bảng 3.5 Phương pháp quan trắc trầm tích 109

Bảng 3.6 Phương pháp phân tích mẫu trầm tích trong phòng thí nghiệm 110

Bảng 3.7 Phương pháp lấy mẫu sinh vật tại hiện trường 111

Bảng 3.8 Phương pháp phân tích mẫu sinh vật trong phòng thí nghiệm 112

Bảng 4.1 Tổng số trạm, điểm quan trắc môi trường quốc gia được bổ sung, xây dựng giai đoạn 2007 - 2010 117

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

EPD Environmental Protection Department Cục bảo vệ môi trường

NZCPS New Zealand Coastal Policy Statement Tuyên bố chính sách ven biển

New Zealand

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU

I NHU CẦU TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ

I.1 Tính cấp thiết của nhiệm vụ

Hiện nay, trước sức ép của tốc độ gia tăng dân số ngày càng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh các nguồn tài nguyên đất liền ngày càng cạn kiệt, xu hướng tiến ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển ngày càng được đẩy mạnh, nhưng thường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững Các họat động khai thác chủ yếu tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các lợi ích tối đa Trong khi đó, công tác bảo vệ môi trường còn bị xem nhẹ, hoặc không có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, cùng với cơ chế quản lý lỏng lẻo của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất Vấn đề khai thác tài nguyên và bảo

vệ môi trường biển ở nhiều khu vực, quốc gia ngày càng đứng trước nhiều thách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị

ô nhiễm đến mức báo động

Trong những năm qua, các quốc gia trên thế giới đã nỗ lực, không ngừng nghiên cứu đưa ra các tiêu chí phân loại ô nhiễm môi trường biển ven bờ nhằm xây dựng các thông tin dữ liệu phục vụ việc phân loại, đánh giá dự báo cũng như đưa ra những phương thức quản lý nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển Năm

2000, Cơ quan bảo vệ Môi trường Thụy Điển đã công bố báo cáo Tiêu chuẩn chất lượng môi trường cho các khu vực ven bờ và các biển Báo cáo đã đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí cho các loại ô nhiễm như ô nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm hữu cơ trong các điều kiện môi trường khác nhau Ngoài ra, Canada, Mỹ là các nước có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng môi trường nước nói chung cũng như nước biển nói riêng Các tài liệu của nước này hiện được lựa chọn làm tài liệu tham khảo bởi rất nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Đối với Châu Á, các nước Nhật Bản, Hàn Quốc … cũng đã đưa ra những tiêu chí ô nhiễm cho môi trường biển ven bờ Năm 2008, các nước Đông Nam Á đã xuất bản được hướng dẫn quản lý chất lượng nước biển nhằm đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng nước biển cũng như việc thu thập, giám sát đánh giá cũng như lập báo cáo về chất lượng môi trường biển

Trang 10

Năm 2017, Viện Nghiên cứu Biển và Hải đảo đã thực hiện nhiệm vụ:

“Nghiên cứu đề xuất bộ tiêu chí phân loại ô nhiễm môi trường biển ven bờ Việt Nam”, kết quả đã giúp đánh giá được chất lượng môi trường biển cũng như có được các giải pháp hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường biển Tiêu chí đề xuất giúp phân loại ô nhiễm dựa trên các chỉ số chất lượng môi trường nước biển, trầm tích

và sinh thái biển

Ngoài các tiêu chí phân loại ô nhiễm môi trường, nội dung và chế độ quan trắc môi trường cho các khu vực biển hiện nay cũng được các quốc gia hết sức quan tâm Sự phát triển và tăng trường kinh tế mạnh mẽ của các khu vực ven biển, các nguồn thải từ khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu du lịch các tác nhân của sản xuất kinh doanh gây ra áp lực rất lớn đối với môi trường nói chung và đặc biệt là môi trường biển ven bờ nói riêng Nguy cơ xảy ra các sự cố

ô nhiễm và thảm họa môi trường biển ven bờ do các nguồn thải từ các hoạt động nói trên là rất lớn Thông tư số 26/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2016 đã hướng dẫn tiêu chí phân cấp vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo và hướng dẫn phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển và hải đảo Theo thông tư này các vùng có nguy cơ ô nhiễm cao được đánh giá và xác định Tuy nhiên, để

có được những thông tin làm đầu vào cho những giải pháp quản lý cũng như phương án phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm cần phải có phương án quan trắc giám sát cụ thể Trong điều kiện kinh phí và nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế, mức

độ xả thải ngày càng gia tăng cũng như chế độ động lực môi trường biển phức tạp kết hợp với tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu, việc quan trắc toàn diện phục vụ công tác này là rất tốn kém và khó khả thi Vì vậy, để kiểm soát và phòng ngừa xảy ra các sự cố ô nhiễm môi trường biển ven bờ do các hoạt động xả thải từ đất liền và những khu vực ven biển thì việc xác định và phân loại ô nhiễm cũng như đưa ra chế độ và nội dung quan trắc giám sát môi trường biển phù hợp là hết sức cần thiết nhằm đưa ra các đánh giá cảnh báo định kỳ, đồng thời sẽ giúp kiểm soát được tình trạng ô nhiễm cho những khu vực biển này, giúp tiết kiệm ngân sách cho quốc gia, đảm bảo phát triển bền vững và bảo vệ môi trường vùng ven biển Nhiệm vụ “Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và xây dựng chế độ, nội dung quan trắc môi trường định kỳ cho các khu vực ven biển” được thực hiện sẽ đưa ra được chế độ và nội dung quan trắc cho các khu vực biển, từ đó cung cấp nguồn thông tin dữ liệu rất quan trọng hỗ trợ các nhà quản lý đưa ra các quyết sách đúng đắn

và kịp thời đảm bảo phát bền vững kinh tế biển của Việt Nam

Trang 11

I.2 Căn cứ pháp lý của nhiệm vụ

- Luật Khoa học và Công nghệ ngày 18 tháng 06 năm 2013;

- Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ;

- Thông tư liên tịch số 121/2014/TTLT-BTC-BKHCN ngày 25 tháng 8 năm

2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn xây dựng dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí thực hiện nhiệm

vụ thường xuyên theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ công lập;

- Quyết định số 3540/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt nội dung, dự toán kinh phí các nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng cho các tổ chức khoa học và công nghệ năm 2018;

- Hợp đồng thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng năm 2018 số 03/NVTXTCN-NV3

II THÔNG TIN CHUNG CỦA NHIỆM VỤ

II.1 Mục tiêu chung của nhiệm vụ

Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và xây dựng chế độ, nội dung quan trắc

môi trường định kỳ cho các khu vực ven biển

II.2 Nội dung của nhiệm vụ

- Nghiên cứu, tổng hợp và đánh giá chế độ và nội dung quan trắc môi trường biển ven bờ tại Việt Nam và trên thế giới;

- Nghiên cứu, phân tích và đề xuất chế độ và nội dung quan trắc môi trường biển ven bờ tại Việt Nam;

- Quan trắc thí điểm (1 lần) môi trường biển ven bờ cho 01 khu vực biển

bờ Việt Nam theo nội dung và chế độ quan trắc đã đề xuất

- Đánh giá, kiểm định và hiệu chỉnh bộ tiêu chí phân loại ô nhiễm, chế độ

và nội dung quan trắc môi trường biển ven bờ tại Việt Nam;

- Xây dựng báo cáo tổng kết nhiệm vụ

Trang 12

nội dung và chế độ quan trắc môi trường biển ven bờ tại Viêt Nam dựa trên quan trắc thử nghiệm thực tế

II.2 Kinh phí thực hiện nhiệm vụ

Tổng kinh phí thực hiện nhiệm vụ năm 2018: 637.000.000 VNĐ (Sáu trăm

ba mươi bảy triệu đồng chẵn)

Trang 13

PHẦN 2 KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGOÀI NƯỚC

Năm 1973, tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức khí tượng thế giới (WMO)

và chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã thiết lập hệ thống giám sát môi trường toàn cầu (GEMS - Global Environment) Trong đó, môi trường biển đã được các ủy ban của LHQ giám sát trên nhiều lĩnh vực Năm 1978, Chương trình giám sát và đánh giá chất lượng nước toàn cầu của LHQ được triển khai với sự tham gia của 59 nước thành viên Đến nay, mạng lưới giám sát của chương trình đã phát triển ở 106 Quốc gia và vùng lãnh thổ, có tới 1.544 trạm quan trắc và 2.296.814 điểm thu số liệu với hơn 100 thông số (GEMS/Water Programme) Nhiệm vụ của chương trình là đánh giá và giám sát chất lượng các nguồn tài nguyên nước trên toàn thế giới

Từ đầu những năm 1980, một hệ thống giám sát chất lượng môi trường biển

đã hình thành ở châu Âu và Bắc Mỹ với hầu hết các nước có biển tham gia Đến nay, dưới sự điều hành chung của IOC (Intergovernmental Oceanographic Commission) hệ thống này đã phát triển với quy mô toàn cầu

Trong đó, nhiều quốc gia ở châu Á (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippine, Thái Lan, Malaysia…) và nhiều quốc gia Nam Mỹ đều có hệ thống

Trang 14

giám sát chất lượng môi trường, độc tố tại vùng nuôi hải sản và các khu bảo tồn biển

Khu vực Đông Nam Á: Hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng môi trường biển và ven bờ ở các quốc gia có biển đã phát triển nhanh chóng, góp phần quan trọng ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi trường và các hệ sinh thái Trong đó, mục tiêu quan trắc - cảnh báo môi trường ven biển phục vụ công tác bảo tồn nguồn lợi, các hệ sinh thái biển và phát triển sản xuất thuỷ sản được quan tâm hàng đầu Trên quy mô Biển Đông, chuyến khảo sát lớn trong khuôn khổ chương trình NAGA (1959-1960) được xem là chuyến khảo sát tổng hợp đầu tiên với nhiều khám phá về chế độ thủy văn động lực (Wyrtki, 1961; Robinson, 1974) Các công trình nghiên cứu về các đặc trưng khí tượng, thủy văn, động lực học, môi trường trên Biển Đông đã được Trung Quốc tiến hành với qui mô lớn như Dự án SCSMEX “South China Sea Monsoon Experiment (SCSMEX)” do Bộ KH&CN Trung Quốc tài trợ tiến hành từ 1996 -2001 (Yihui và cs., 2004) Dự án

đã triển khai các thực nghiệm và khảo sát về khí tượng, hải dương, tương tác biển

- khí quyển, quan trắc vệ tinh theo mạng lưới trên Biển Đông Shen & Lau (1995) cho thấy có quan hệ giữa chế độ gió mùa trên Biển Đông và hiện tượng ENSO Wang và cs (2006c) nghiên cứu hoàn lưu dưới tác động của hiện tượng El Nino; Fang và cs (2002) đã nghiên cứu cấu trúc theo mùa của hoàn lưu tầng mặt tại khu vực phía Nam Biển Đông trên cơ sở các số liệu đo đạc Cấu trúc chung của hoàn lưu ở khu vực Biển Đông cũng đã được phân tích trong những nghiên cứu về mô hình 3 chiều quy mô lớn bao gồm toàn bộ khu vực Biển Đông với độ phân giải ngang 50 km (Pohlmann, 1987; Shaw & Chao, 1994; Chao và cs., 1996) Bằng việc phân tích dữ liệu của hơn 51.392 trạm đo từ 3 cơ sở dữ liệu World Ocean Database (WOD), Array for Real-time Geostrophic Oceanography (Argo), South China Sea Institute of Oceanology (SCSIO), Zeng và cs (2016) đã cho thấy cấu trúc nhiệt - muối của theo phân bố không gian và thời gian, xác định được tầng xáo trộn và lớp nước đột biến ở các khối nước khác nhau trong Biển Đông

1.2 Quan trắc, giám sát chất lượng môi trường biển tại Hongkong

Hongkong là một thành phố cảng thịnh vượng với dân số gần 7.000.000 người Vai trò của biển rất quan trọng trong điều hướng, giải trí, sản xuất thủy sản, và cung cấp các nước xả và làm mát, và cũng là khu vực cư trú của các loài

từ vi tảo đến cá heo Do vậy, Hongkong hoàn toàn cam kết bảo vệ môi trường biển Trên cơ sở đó, Cục bảo vệ môi trường (EPD) của chính phủ Hongkong đã

Trang 15

giám sát chất lượng nước tại một số khu vực có diện tích vùng nước biển 1.700 dặm Chương trình giám sát phục vụ các mục đích sau:

- Đánh giá hiện trạng vùng biển;

- Đánh giá việc tuân thủ các mục tiêu chất lượng nước theo luật định (WQIs);

- Đánh giá những thay đổi dài hạn về chất lượng nước;

- Cung cấp cơ sở cho việc lập kế hoạch các chiến lược kiểm soát ô nhiễm Chương trình quan trắc biển của EPD bao gồm khoảng 90 trạm nước và 60

trạm lấy mẫu trầm tích trong biển hở, kèm theo vịnh và nơi tránh, trú bão

Hình 1.1 Mạng lưới quan trắc nước biển của Hongkong

Quan trắc, giám sát biển được thực hiện trên tàu một tàu khoa học, Dr Catherine lam, được trang bị Hệ thống Định vị Toàn cầu vi sai (DGPS) nhằm xác định chính xác các trạm lấy mẫu trên biển

Một loạt các thông số vật lý và hóa học, bao gồm nhiệt độ, pH, mặn, độ đục

và oxy hòa tan, được đo bằng một chỗ bởi một độ dẫn điện-chiều sâu (CTD) Thông tin và dữ liệu được chuyển tiếp đến một máy tính Ngoài ra, các mẫu nước

và trầm tích được thu thập và gửi đến các phòng thí nghiệm phân tích 40 tham số như chất dinh dưỡng, kim loại, hữu cơ và vi khuẩn Coliform Giám sát chất lượng nước nói chung là tiến hành một lần một tháng trong khi giám sát chất lượng trầm tích được thực hiện hai lần một năm

Trang 16

Mục tiêu chất lượng nước

Hongkong được chia thành 10 khu vực kiểm soát nước (WCZs) và mỗi WCZ có một tập hợp các mục tiêu chất lượng nước (WQOs) Tỷ lệ tuân thủ hàng năm với các giá trị WQIs (bao gồm oxy hòa tan, amoniac, tổng nitơ vô cơ và E coli) được đánh giá dựa trên tất cả các dữ liệu được thu thập trong năm

Bảng 1.1 Mục tiêu chất lượng nước của Hongkong

Oxy hòa tan (độ sâu trung bình) Không ít hơn 4mg/L trong 90% của các mẫu

Tổng số nitơ vô cơ Không quá 0,1 mg/L trong khu vực kiểm soát

nước miền Nam không vượt 0,7 mg/L trong khu kiểm soát nước sâu Vịnh

liên hệ thứ cấp Thông tin chi tiết về chất lượng nước biển của Hongkong được công bố trong báo cáo hàng năm chất lượng nước biển ở Hongkong Báo cáo này có sẵn trong các thư viện công cộng và các trung tâm tài nguyên môi trường, và có thể được tải về từ trang web chất lượng nước biển EPD

1.3 Quan trắc, giám sát môi trường biển ở Hoa Kỳ

Cùng với sự phát triển nhanh và mạnh của công nghệ vũ trụ, rất nhiều nước trên thế giới đã ứng dụng thành công công nghệ viễn thám trong nghiên cứu và giám sát môi trường biển Với kỹ thuật viễn thám hiện đại, đặc biệt là sự phát triển của viễn thám quang học với độ phân giải 30 m LandSat/MSS, TM và thậm chí 2,5 m như SPOT có thể cho những số liệu điều tra, phân tích và đánh giá một cách rất chi tiết và chính xác bề mặt Trái đất Ảnh đa phổ được thu nhận không chỉ trong dải phổ nhìn thấy, mà phần lớn các thông tin được thu nhận trong vùng phổ hồng ngoại, nằm ngoài khả năng phát hiện bằng mắt thường Các đầu thu quang học trên vệ tinh (Sensor) được thiết kế thu nhận các vùng phổ riêng biệt khác nhau phản xạ từ mặt đất, phụ thuộc vào loại đối tượng cần quan sát Các vệ tinh thám sát hiện nay thu nhận ảnh trên nhiều kênh phổ Các vệ tinh Terra và Aqua mang thiết bị thu ảnh MODIS (của Mỹ) có thể thu nhận tới 36 kênh ảnh phục vụ nghiên cứu chuyên đề về các đối tượng khác nhau trên mặt đất, trên đại dương và trong khí quyển Các đối tượng nghiên cứu có khả năng phản xạ khác nhau, tuỳ thuộc

Trang 17

vào đặc tính hoá - lý của chúng, như thành phần vật chất, mầu sắc, nhiệt độ, độ ẩm Hàm lượng Chlorophyll-a thu nhận trên bề mặt mặt biển là một tham số môi trường biểu thị mức độ ô nhiễm trên một khu vực rộng lớn và đồng bộ về thời gian

Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) với chức năng quan trắc, đo đạc và dự báo các đặc trưng khí tượng, thủy văn, động lực biển, môi trường và tai biến thiên nhiên Nguồn dữ liệu khí tượng, hải dương học của NOAA được phổ biến toàn cầu với những nguồn chính sau: độ sâu biển lấy từ ETOPO-5; số liệu về khí tượng (tốc độ gió, áp suất không khí mực nước biển theo Pascal; nhiệt độ không khí theo Kevin tại độ cao 2 m trên bề mặt biển;

độ ẩm riêng theo g/kg tại độ cao 2 m trên bề mặt biển; tổng lượng mây che phủ theo %; lượng mưa theo kg/m2/s; thông lượng bức xạ sóng ngắn (hướng lên, hướng xuống) theo W/m2; thông lượng bức xạ sóng dài (hướng lên, hướng xuống) W/m2); từ cơ sở dữ liệu mô hình khí hậu toàn cầu CFSR (Climate Forecast System Reanalysis) thuộc Trung tâm Quốc gia về dự báo môi trường Mỹ NCEP (National Centers for Environmental Prediction); nhiệt độ - độ muối được lấy từ WOD 2013 (https://www.nodc.noaa.gov/OC5/WOD13/) Số liệu bão thu thập từ Bộ Khí tượng Mỹ (www.weather.unisys.com/hurricane) Số liệu gió thu thập từ nguồn: ftp://ftp.ssmi.com/qscat

1.4 Quan trắc, giám sát môi trường biển tại New Zealand

về nhiều mục tiêu và mục tiêu bao gồm bên trong là hành vi và chính sách có thể chỉ xảy ra nếu việc quan trắc giám sát diễn ra Ví dụ: Tuyên bố chính sách ven biển New Zealand 2010 “Chính sách 22 yêu cầu kiểm soát các hoạt động để ngăn chặn sự gia tăng đáng kể trong trầm tích trong vùng biển ven biển”, thành công chỉ có thể được xác định bằng cách giám sát trầm tích theo thời gian Nhiều điều ước quốc tế (ví dụ: Luật biển của Liên Hợp Quốc, Công ước về Đa dạng sinh học)

Trang 18

cũng yêu cầu cung cấp thông tin theo thời gian để cho thấy rằng các nghĩa vụ đang

và tiếp tục được thực hiện

Các chương trình quan trắc giám sát được tiến hành vì một số lý do, bao gồm việc quan trắc giám sát để xác định chính sách thành công, hiệu quả của các hành động quản lý, tác động, mức độ hoặc nồng độ các chất gây ô nhiễm, và sức khỏe môi trường Các hoạt động này thường được thiết kế để giải quyết cụ thể câu hỏi, hoặc đánh giá nguyên nhân và ảnh hưởng, và thường bị hạn chế về mặt không gian Tuy nhiên, phần lớn giám sát được thực hiện ở trên cả vùng biển New Zealand và quốc tế được tiến hành để xác định sức khỏe tổng thể hoặc trạng thái (hiện trạng) của môi trường (quan trắc giám sát hiện trạng môi trường SOE) và xác định xu thế dài hạn kết hợp các thông số sinh thái, vật lý và hóa học Việc giám sát như vậy không tập trung vào trả lời các câu hỏi cụ thể Thay vào đó nó được chấp nhận rằng nhiều yếu tố (hoạt động nhân loại và điều kiện môi trường thay đổi tự nhiên) sẽ ảnh hưởng đến những gì được theo dõi Nhận dạng thay đổi trạng thái của môi trường trên sự biến thiên tự nhiên và liệu hướng của sự thay đổi có thể chấp nhận được đối với xã hội nói chung (nghĩa là kinh tế và văn hóa)

là sự quan trọng hàng đầu

Trong khi có vẻ như việc theo dõi sẽ hữu ích hơn nếu các câu hỏi cụ thể hơn được hỏi và giám sát được gắn chặt chẽ với việc đo lường các biến số nguyên nhân và hiệu ứng, cách tiếp cận này là có vấn đề vì một số lý do Thứ nhất, chỉ có thể đánh giá ảnh hưởng của nguyên nhân cụ thể Thứ hai, mong muốn và nhu cầu của xã hội không giữ nguyên, thay vào đó liên tục thay đổi, do đó, các câu hỏi được hỏi trong hiện tại không nhất thiết là những câu hỏi yêu cầu trả lời trong tương lai Quan trắc giám sát hiện trạng môi trường, trong khi bị coi là kém hiệu quả, thường là bằng chứng hữu hiệu trong tương lai hơn các phương thức khác

Trong thực tế, sự kết hợp của các thông số môi trường cụ thể và tích hợp là cần thiết cho môi trường giám sát Nếu giám sát hiện trạng môi trường đủ rộng, xác định nguyên nhân có thể là đạt được, bằng cách phân tích các thay đổi hoặc thiếu thay đổi trong một loạt các yếu tố tiết lộ một mô hình có thể được giải thích một cách khoa học Các chương trình nghiên cứu hoặc thu thập dữ liệu cụ thể có thể được thiết kế để phân tách nguyên nhân của sự thay đổi, hoặc rất có thể, bộ các nguyên nhân

1.4.1.2 Bối cảnh quan trắc giám sát môi trường biển ở New Zealand

Trong vài năm qua đã có một số sáng kiến của chính quyền trung ương và

Trang 19

địa phương liên quan đến giám sát môi trường biển

Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản (MPI) (trước đây là Bộ Thủy sản) giám sát các cấp độ đánh bắt và sự phong phú tương đối của các nguồn lợi thủy sản thương mại theo Luật Thủy sản năm 1996 Đạo luật nghề cá 1996 cũng yêu cầu

Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản tính đến các tác động đánh bắt rộng hơn (ví dụ: “Tránh, khắc phục, hoặc giảm thiểu bất kỳ tác động bất lợi nào của việc đánh bắt cá đối với môi trường thủy sinh”, “Đa dạng sinh học của môi trường thủy sinh cần được duy trì”) Theo đó, Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản đã tài trợ cho nghiên cứu khảo sát tiềm năng của các chỉ số hệ sinh thái từ các cuộc điều tra từ hoạt động lưới kéo và chỉ số nguồn lợi thủy sản (Dunn và cs 2009, Tuck và cs 2009) Đánh giá các chỉ số hệ sinh thái có liên quan cụ thể đến nghề cá nước sâu hiện đang được tiến hành trong dự án MPI DEE2010-05A MPI cũng tổ chức hội thảo đa bên liên quan trong năm 2008 dưới sự bảo trợ của chương trình Đa dạng sinh học biển của Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản để kiểm tra các lựa chọn cho giám sát môi trường ở quy mô quốc gia Đó là nhóm này, kết hợp cùng với

Bộ Môi trường (MfE), có được dự án hiện tại đang được thực hiện

Trong thập kỷ qua, Cơ quan an toàn sinh học New Zealand (nay là Bộ phận sinh học của MPI) đã phát triển đầy đủ Chương trình quan trắc giám sát khu vực rủi ro cao và cơ sở dữ liệu đi kèm Việc giám sát các loài không phải bản địa được tiến hành sáu tháng một lần tại 11 bến cảng được nhập cảnh đầu tiên cho tàu quốc

tế Dịch vụ phân loại xâm lấn từ hàng hải cũng đã được phát triển Thông tin được thu thập về phân bố quốc gia và sự phong phú tương đối của các loài không phải bản xứ đã được tìm hiểu, cũng như phát hiện các cuộc xâm lấn mới

Cơ quan bảo tồn (DOC) đã làm việc hướng tới hai mục tiêu chính liên quan đến quan trắc giám sát môi trường biển: các phương pháp xác định giá trị và rủi

ro đối với các giá trị đó; và chuẩn hóa báo cáo trên phạm vi trách nhiệm của họ (trên cạn, vùng nước ngọt và lãnh hải) DOC đã xác định khái niệm về tính toàn vẹn sinh thái làm nền tảng để đánh giá trạng thái của môi trường Sinh thái hoặc

hệ sinh thái hoặc tính toàn vẹn sinh học là một thuật ngữ, được sử dụng trong nhiều đánh giá quốc tế, bao gồm chức năng và tự bảo trì hệ sinh thái (Burkhard

và cs 2011) Lee và cộng sự (2005), đề cập đến một báo cáo từ Học viện khoa học quốc gia Hoa Kỳ (2000), đã xác định tính toàn vẹn là: “Khả năng hỗ trợ và duy trì sự cân bằng, tích hợp, hệ thống sinh học thích nghi có đầy đủ các yếu tố (gen, loài và quần thể) và các quá trình (đột biến, số lượng loài, tương tác sinh

Trang 20

học, dinh dưỡng và năng lượng động lực học, và các quá trình biến đổi) dự kiến trong môi trường sống tự nhiên của một vùng” Ở New Zealand tính toàn vẹn sinh thái dựa trên đánh giá về bốn chủ đề: tính tự nhiên, tính nguyên sơ, đa dạng và khả năng phục hồi; các thông số có thể được bao gồm trong phép đo được đưa ra trong Thrush và cs (2012) DOC cũng đã xem xét các chương trình quan trắc giám sát được tiến hành trong khu bảo tồn biển (Tam 2013), để cải thiện tính nhất quán và khả năng so sánh của việc thiết kế và cho phép báo cáo quốc gia về trạng thái và xu hướng xảy ra trong khu bảo tồn biển của New Zealand và đang kiểm định các phương pháp giám sát hiệu quả về chi phí về tính toàn vẹn (ví dụ: Hewitt

và cs 2014)

Một loạt các diễn đàn của Bộ Môi trường năm 2009 đã dành một số cuộc thảo luận về môi trường biển và nhấn mạnh sự cần thiết cho một cách tiếp cận phối hợp hơn với môi trường biển Công việc tiếp tục với DOC liên quan đến việc phát triển các mục tiêu và giới hạn cho cửa sông là một phần của Khung Mục tiêu Quốc gia (NOF) theo Tuyên bố Chính sách Quốc gia về Quản lý nước ngọt Trong năm 2010 và 2011, Bộ Môi trường đã đưa ra các hướng dẫn về các vấn đề cần cân nhắc lựa chọn các chỉ số và đã nhấn mạnh việc sử dụng khung áp lực-hiện trạng- đáp ứng cho kiểm soát môi trường Để hỗ trợ việc sử dụng khung khổ này, cả MfE

và MPI đã hỗ trợ công việc về các yếu tố áp lực do nhân loại đã có hoặc có khả năng xảy ra trong tương lai, gây áp lực lên môi trường biển New Zealand (MacDiarmid và cs 2012a (Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản), Bộ Môi trường 2007) MacDiarmid và cs (2012a) đã xác định được 65 áp lực và dựa trên ý kiến chuyên gia tích lũy, được xếp hạng chúng theo mức độ ảnh hưởng có thể xảy ra

và số lượng môi trường sống mà chúng có thể tác động Mười mối đe dọa hàng đầu đối với môi trường biển là: sự axit hóa đại dương, biến đổi khí hậu, đánh bắt

cá, gia tăng tải lượng trầm tích và độ đục, các loài xâm lấn, nhận chìm vật chất nạo vét, tảo nở hoa, lấn biển, ô nhiễm từ các nguồn đô thị và nuôi trồng thủy sản

Số lượng các mối đe dọa đối với môi trường sống biển từ suy giảm theo chiều sâu, với các khu vực ven biển được che chắn và phơi lộ được xác định là đáng kể hơn tại rủi ro hơn các khu vực nước mở

Các thống kê New Zealand kết hợp của Bộ Môi trương, Bộ Các ngành Công nghiệp Cơ bản và cơ quan bảo tồn gần đây đã phát triển kế hoạch miền môi trường (EDP) để cải thiện các số liệu thống kê chính thức về môi trường được báo cáo (Thống kê New Zealand và cs 2013) Câu hỏi bao quát được xác định cho tên

Trang 21

miền biển là “Làm thế nào chất lượng và việc sử dụng môi trường biển của chúng

ta thay đổi và tác động của hoạt động của con người là gì, bao gồm cả việc sử dụng tài nguyên, trên môi trường biển?” Trong sáu câu hỏi bổ sung, ba liên quan đến việc xác định những thay đổi theo thời gian trong môi trường biển Các thuật ngữ được đề cập cụ thể trong EDP bao gồm “Dịch vụ hệ sinh thái”, “Khả năng phục hồi” và “Tác động của các hoạt động của con người” Biến đổi khí hậu cũng được nhấn mạnh bởi EDP với các tác động vật lý trên biển nhiệt độ, mực nước biển và dòng hải lưu được đề cập cụ thể Các câu hỏi khác bao gồm lâu dài câu hỏi 4 “môi trường nào có nhiều khả năng bị ảnh hưởng nhất bởi biến đổi khí hậu?”

và câu hỏi bổ sung “ở đâu và như thế nào là các hệ sinh thái bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi những thay đổi về khí hậu và thành phần khí quyển, và chúng thích ứng như thế nào?”

Một số hội đồng khu vực và các cơ quan nhà nước về các chương trình giám sát môi trường (ví dụ: Giám sát chất lượng nước của Hội đồng khu vực Northland, Chương trình giám sát cửa sông Hội đồng khu vực Otago) Những nỗ lực gần đây đã tập trung vào báo cáo và tóm tắt các kỹ thuật để giải thích và giúp công chúng hiểu đầy đủ ý nghĩa và nguyên nhân của bất kỳ thay đổi nào về hiện trạng được quan trắc giám sát Điều này bao gồm việc xây dựng các hướng dẫn

và giới hạn về áp lực (Hội đồng khu vực Greater Wellington, Green 2013), các chỉ số về sức khỏe hệ sinh thái (Hội đồng Auckland, Anderson và cs 2006) và các mô hình liên quan đến những thay đổi về sức khỏe của các bãi cát phẳng vùng triều với ô chất nhiễm và bồi lắng nước mưa (Hewitt và cs 2009, Rodil và cs 2013) Đặc biệt, Hội đồng vùng Auckland và Hội đồng khu vực Waikato, cùng với Cơ quan bảo tồn đã điều tra việc sử dụng hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái trong cả việc quy hoạch và giám sát không gian, điều này cần thiết cho cả việc đưa giá trị của con người vào các quyết định lập kế hoạch và giúp đỡ cộng đồng đánh giá tầm quan trọng của bất kỳ thay đổi nào qua những thông báo từ việc quan trắc giám sát

Viện Nghiên cứu Nước và Khí quyển Quốc gia (NIWA) đã tiến hành nghiên cứu về phương pháp đánh giá từ xa môi trường mặt biển và cho việc đo phục hồi

và sức khỏe hệ sinh thái Phương pháp lập bản đồ hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái biển dựa trên việc hợp nhất các phép đo vật lý, hóa học và sinh học có thể đạt được dễ dàng với các nguyên tắc đầu tiên về sinh thái (Townsend và cs 2011) đã được phát triển và đang được thử nghiệm ở Vịnh Hauraki Nghiên cứu tiếp theo

Trang 22

về phương pháp này được thực hiện cùng với Bộ Kinh doanh, Đổi mới và Việc làm (MBIE) được điều hành bởi Đại học Massey và Cawthron NIWA cũng đã bắt đầu phân tích các tập dữ liệu biển dài hạn của nó để xác định sự biến đổi theo thời gian và xác định liệu các nguyên nhân của biến đổi có thể được xác định

Cuối cùng, cuộc họp đầu tiên của các nhà khoa học để thảo luận về các ưu tiên cho Thách thức Khoa học có tên “Cuộc sống trong một đại dương thay đổi” (24 tháng 6 năm 2013, MBIE, Wellington) được xác định bởi sự đồng thuận chung rằng việc quan trắc giám sát môi trường biển hiện còn là một lỗ hổng kiến thức lớn và cần được xem xét để đưa vào bất kỳ chương trình được tài trợ nào dưới Thách thức

1.4.2 Mục tiêu

Mục tiêu tổng thể của dự án này là thiết kế Chương trình Quan trắc giám sát môi trường biển quốc gia (MEMP) để có thể theo dõi các thay đổi vật lý, hóa học và sinh học diễn ra trên môi trường biển của New Zealand trong dài hạn Bốn mục tiêu đã được bao gồm:

1 Để chuẩn bị một khoảng dữ liệu trực tuyến (meta-database) lặp lại (chuỗi thời gian) quan sát sinh học và sinh học / bộ dữ liệu ở New Zealand

2 Để xem xét, đánh giá sự phù hợp cho mục đích và xác định khoảng trống trong tiện ích và khả năng tương tác của các bộ dữ liệu này để đưa vào MEMP từ

cả quan điểm khoa học và chính sách

3 Để thiết kế chương trình Quan trắc giám sát môi trường biển bao gồm thu thập dữ liệu hiện có có liên quan và thời gian mới được đề xuất

4 Đề xuất cải tiến chế độ thu thập dữ liệu và quản lý dữ liệu

Định nghĩa về môi trường biển được sử dụng trong báo cáo này phù hợp với quy định của Thống kê New Zealand và cs (2013), bao gồm các khía cạnh vật lý, hóa học và sinh học của biển và đại dương, bến cảng, cửa sông, đầm lầy nước mặn và rừng ngập mặn, bờ biển và bãi biển Đối với báo cáo này, “cửa sông”

đề cập đến tất cả các loại ở cửa sông được bao phủ bởi cơ sở dữ liệu phân loại cửa sông (Hume & Herdendorf 1988, http://wrenz.niwa.co.nz/webmodel/coastal) và bao gồm các cửa sông, bến cảng

1.4.3 Các yếu tố quan trắc, giám sát mức độ quốc gia

Các hoạt động gần đây của các nhà quản lý trung ương và địa phương New Zealand tập trung vào cáo báo cáo về:

Trang 23

- Xu thế vật lý và hóa học trong môi trường đặc biệt liên quan đến biến đổi khí hậu gia tăng tải lượng bùn cát và độ đục, lưu lượng các chất, các mức độ dinh dưỡng, axit hóa đại dương; nhận chìm bùn cát từ các hoạt động nạo vét, khai thác

mỏ và nuôi trồng thủy hải sản (xem MacDiarmid và cs 2012a);

- Đặc điểm địa lý và hải dương học, đặc biệt là khối lượng nước và vĩ độ hoặc ranh giới biển;

- Tình trạng sinh thái, sức khỏe, tính toàn vẹn và khả năng phục hồi và hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái;

- Sự hiện diện hoặc sự xuất hiện của các loài không phải bản địa;

- Số loài các loài bị đe dọa, nguy cơ và được bảo vệ;

- Năng suất có thể ảnh hưởng đến sản lượng thủy sản và nuôi trồng thuỷ sản (ví dụ: cột nước và năng suất sơ cấp và thứ cấp)

Có rất nhiều thông số cần được đo đạc để có được báo cáo về các vấn đề được liệt kê ở trên, tuy nhiên không phải tất cả các thông số đều phù hợp với báo cáo quốc gia Các thông số phù hợp cho báo cáo quốc gia phải cung cấp thông tin cho nhu cầu về chính sách, tính đại diện cho một hoặc nhiều yếu tố mà chính sách hoặc các nhà quản lý yêu cầu thông tin, có các phương pháp đo đạc chuẩn, và được ghi lại với độ chính xác đủ để phát hiện những thay đổi có liên quan Tốt hơn là, các nhân tố này chỉ ra được các áp lực cần phải nắm bắt được (nguyên nhân của sự thay đổi có thể được nhận biết) và những thay đổi hàng năm phải được đưa ra và phân tích từ các xu thế liên quan đến các hoạt động của con người Cuối cùng, mục đích của báo cáo này, Bộ công nghiệp New Zealand yêu cầu các nhân tố được quan trắc giám sát cấp độ quốc tế (hoặc ở trong các chương trình của các quốc gia khác hoặc trong các trương trình quốc tế lớn) hoặc hiện tại được giám sát rộng rãi tại New Zealand

Nhằm giảm danh sách các thông số thiết yếu để xem xét ban đầu, nhưng đảm bảo rằng hầu như tất cả các thông số đã được bao gồm, các hội thảo và bảng câu hỏi được sử dụng để xây dựng một danh sách lớn các thông số và sau đó được lựa chọn tập hợp con để điều tra chi tiết (phụ lục 1 về phương pháp và danh sách hoàn thiện) Để đảm bảo rằng các yêu cầu về chính sách được nắm bắt và thực hiện một cách có hiệu quả, việc xem xét các yêu cầu về luật pháp được thực hiện,

và các cấu trúc bảo tồn để đạt được mức độ chi tiết hơn về các yêu cầu của báo cáo được thực hiện với sự hiện diện của các nhà chính sách từ MPI, MfE, DOC, LINZ , EPA, Bộ Phát triển Kinh tế -Du lịch, Bộ Ngoại giao, Hàng hải New

Trang 24

Zealand, Các hội đồng Thống kê New Zealand và các hội đồng khu vực

Ba mươi lăm thông số về môi trường được lựa chọn cho việc điều tra chi tiết, bao gồm mười một thông số về sinh học (phụ lục 6 bảng 1.2), nhưng một trong số đó được xem như hiện trạng về khung Áp lực-Hiện trạng-Phản hồi (PSR) được đề xuất áp dụng bởi Bộ Môi trường Điều đó là quan trọng để nhận ra rằng nhiều thông số về sinh học phản hồi cả một cách gián tiếp tới các áp lực (ví dụ, chúng phản hồi với sự thay đổi trong một hoặc nhiều thông số hiện trạng) và trực tiếp (ví dụ, chúng loại bỏ/phá hủy bởi việc đánh bắt cá, nhận chìm, nạo vét, gia tăng áp lực dân số) Mười hai thông số được đo đạc về trầm tích bề mặt đáy biển (một sự pha trộn áp lực và hiện trạng) được lựa chọn cho việc điều tra chi tiết Mười hai thông số được đo đạc trong nước (tiếp tục là sự pha trộn chung về các

áp lực và hiện trạng)

Các chương trình giám sát địa phương không được thiết kế cho báo cáo mức độ quốc gia nhưng thường thu thập thông tin về các thông số liên quan đến quy mô quốc gia Các phần báo cáo chi tiết này ưu tiên danh sách các thông số (thông số về sinh thái, bùn cát và các thông số về nước Đối với mỗi thông số thông tin sau đây được sử dụng để đánh giá mức độ phù hợp báo cáo hiện trạng ở cấp quốc gia:

i Sử dụng - Thông số nào đại diện, và những gì nó có thể đóng góp cho báo cáo

ii Phản hồi - Những gì gây áp lưc sẽ ảnh hưởng đến thông số và cho dù mức độ phản hồi được biết đến Lưu ý rằng phần này sẽ không được áp dụng cho hầu hết các thông số mà bản thân chúng là những yếu tố gây áp lực

iii Thông số - Cho dù thông số có biến thiên tự nhiên thấp hay liệu các xu thế liên quan đến các hoạt động của con người có thể được phân biệt với thông số

tự nhiên hay không

iv Mức độ giám sát - Cho dù việc giám sát thông số sẽ hỗ trợ sự nhất quán với dữ liệu quốc tế và mức độ các thông số hiện nay được giám sát ở New Zealand Điều này bao gồm thông tin về phạm vi và tần suất lấy mẫu

v Phương pháp - Các phương pháp được sử dụng tại New Zealand

vi Tiện ích (Phát triển chương trình giám sát môi trường biển quốc gia- MEMP)

Tóm tắt các thông số trên được chuyển thành điểm như sau:

o Sử dụng:

Trang 25

 đóng góp vào chỉ số đơn (1) hoặc nhiều chỉ số (2);

 có thể được sử dụng để đánh giá sức khỏe hệ sinh thái (1);

 là đại diện cho các thành phần hệ sinh thái khác (1);

 được đề cập cụ thể trong các quy định (1);

 là một trình điều khiển đã biết của thành phần khác (1) hoặc nhiều thành phần (2)

o Phản hồi: được biết là Sự phản hồi với (1) hoặc nhiều (2) yếu tố gây áp lực;

o Biến thiên thời gian tự nhiên:

 được biết và không ngăn ngừa phát hiện thay đổi (1);

 là không rõ hoặc cao và có thể ngăn chặn việc phát hiện các xu hướng 1);

(-o Mức độ giám sát:

 thường xuyên theo dõi ở nước ngoài (1);

 có thể được đánh giá từ dữ liệu vệ tinh qua vùng đặc đặc quyền kinh tế

 được theo dõi ở một số vị trí trong 3 trong số 4 quadrats (2);

 được theo dõi ở nhiều hơn một vị trí (1);

 không được giám sát ở New Zealand (0)

o Phương pháp;

 có một phương pháp chuẩn (2), nhiều phương pháp tiêu chuẩn (1);

 không có phương pháp chuẩn (-1);

 khó đo chính xác (-1);

 không có định nghĩa tiêu chuẩn (-1)

Một bản tóm tắt về các thông số này có thể dễ dàng tạo thành một phần của chương trình giám sát ở cấp quốc gia được đưa ra và thảo luận về việc giám sát hoặc nghiên cứu thêm cần thiết để báo cáo mạnh về những thay đổi theo thời gian trong tình trạng của môi trường biển

1.4.3.1 Các thông số sinh học

Trang 26

a Các quần thể sinh vật không xương sống trong trầm tích mềm

Các động vật không xương sống sống trên bề mặt và trong trầm tích có kích thước hạt từ 0,5 mm đến 100 mm, thường được xác định và tính vào chi hoặc cấp loài Đây là thông số tổng hợp, tức là dữ liệu có thể được phân tích thành thành phần quần thể, là một trong số các biện pháp đa dạng sinh học (ví dụ, độ phong

phú loài, độ đều loài) hoặc thậm chí là các loài riêng lẻ

Sử dụng Các quần thể không xương sống trong trầm tích mềm (gian triều

và kế cận) được sử dụng rộng rãi trên phạm vi quốc tế và quốc gia để theo dõi như

là một thay thế cho sức khỏe hệ sinh thái (Alden và cs 2002, Borja và cs 2008, Villnäs & Norkko 2011) khi chúng tích hợp các điều kiện môi trường qua các thời đoạn là các ngày, tháng, là nguồn thức ăn cho một số loài cá, chim, và con người, tương đối cố định và nhạy cảm với các yếu tố biến đổi khí hậu và hầu hết các hoạt động của con người Chúng (hoặc ở quần thể, loài hoặc mức độ tính trạng sinh học) cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái, từ sản xuất thực phẩm và

cơ hội giải trí đến việc tạo ra chất gây ô nhiễm và lợi ích văn hóa Nhiều loài sinh vật đã được chứng minh là làm tăng các chất dinh dưỡng và trầm tích giữa trầm tích và cột nước (Lohrer và cs 2010, Lohrer và cs 2011, Needham và cs 2011, Thrush và cs 2006) và do đó thúc đẩy năng suất và chức năng hệ sinh thái hoạt động trong các khu vực nước nông Dữ liệu quần thể sinh vật không xương sống

có thể được sử dụng để tính toán chỉ số đa dạng sinh học, và cả dữ liệu quần thể

và sự phong phú của từng cá thể góp phần vào tính toàn vẹn sinh thái và hàng hóa

và dịch vụ hệ sinh thái

Phản hồi/phản ứng Các nghiên cứu ở New Zealand đã nghiên cứu phản

hồi của động vật lớn đáy đối với đầu vào là trầm tích trên cạn (Lohrer và cs 2003, Norkko và cs 2002, Thrush và cs 2003), việc nhận chìm và nạo vét (Paavo 2007, Roberts và cs 1998), đánh bắt cá (Cryer và cs 2002, Cryer và cs 1987, Thrush và

cs 1995, Thrush và cs 1998), sự phú dưỡng (Rogers 1999, Savage 2009), ô nhiễm (Hewitt và cs 2009, Thrush và cs 2008) và biến đổi khí hậu các yếu tố (ví dụ, nước biển dâng, axit hóa, nhiệt độ và phơi lộ với sóng (Cummings và cs 2013, Paavo và cs 2011)) Trên phạm vi quốc tế, chúng cũng đã được chứng minh là dễ

bị thay đổi trong dòng chảy nước ngọt và khai thác mỏ

Sự biến đổi Trong các vùng triều của New Zealand, việc tìm hiểu về biến

đổi tự nhiên đang diễn ra theo không gian và thời gian (Hewitt & Thrush 2007, Hewitt & Thrush 2009, Hewitt & Thrush 2010), cho phép biến đổi tự nhiên được

Trang 27

tách ra khỏi những thay đổi nhân tạo (ví dụ, Hewitt & Thrush 2010) Nghiên cứu gần đây ở New Zealand đã nhấn mạnh các phương pháp tiềm năng để xác định sức khỏe quần thể và chức năng của quần thể (Hewitt và cs 2009, Rodil và cs 2013)

Mức độ quan trắc giám sát Động vật lớn trong trầm tích mềm được sử

dụng trong nhiều chương trình giám sát cấp quốc gia và tạo cơ sở cho một số chỉ

số sức khỏe môi trường (ví dụ, ITI, California (Word 1978), Multivariate-Ambi,

bờ biển châu Âu (Muxika và cs 2005); BOPA, Kênh tiếng Anh (Dauvin và cs 2007) và các tài liệu tham khảo trong bảng 2.3 của Hewitt và cộng sự (2014)) Ở New Zealand, dữ liệu quần thể của các loài động vật không xương sống được thu thập từ các vùng gian triều tại các cửa sông của hầu hết các hội đồng khu vực và các cơ quan đơn nhất Các chỉ số cụ thể của New Zealand (BHM, Hewitt và cs 2005; TBI Rodil và cs 2013) đã được phát triển cho các cửa sông Auckland và đang được thử nghiệm ở các khu vực khác Tần suất lấy mẫu thay đổi từ hai lần đến năm năm một lần

Phương pháp Phương pháp phù hợp được sử dụng trên toàn quốc, tức là

kích thước lưới được sử dụng là 0,5 mm và kích thước lõi được sử dụng là đường kính 13 hoặc 12,5 cm × 15 cm Độ phân giải phân loại của các nhận dạng sinh vật không xương sống có thay đổi, mặc dù các bước đang được tiến hành để chỉnh sửa

Tiện ích (Phát triển chương trình giám sát môi trường biển quốc gia -

MEMP) Thông số tổng hợp thể hiện tốt trên tất cả năm lần đếm: nó có thể được

sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong báo cáo đa dạng sinh học, sức khỏe, hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái; đủ được biết về các phản hồi đối với các yếu tố áp lực cá nhân để cho phép các nguyên nhân thay đổi được đánh giá; ở cửa sông, sự biến thiên tự nhiên không nên loại trừ việc phát hiện các thay đổi; dữ liệu này được sử dụng ở nhiều quốc gia trong các chương trình giám sát; và các phương pháp được áp dụng một cách nhất quán và rộng rãi trên khắp New Zealand

b Môi trường sống sinh vật

Môi trường sống được tạo ra bởi thực vật và động vật sống các môi trường này Đây thường là thông số tổng hợp (ví dụ:% che phủ, mật độ, kích thước) của một môi trường sống hoặc nhiều môi trường sống Trong trường hợp của nhiều môi trường sống, một số biện pháp đánh giá đa dạng sinh học thường được tính

Trang 28

toán (ví dụ, sự phong phú môi trường sống, tính đa dạng, kết nối, phân mảnh)

Sử dụng Loại và quy mô của môi trường sống sinh học ảnh hưởng đến đa

dạng sinh học của động vật và thực vật sống trong môi trường này (Harborne và

cs 2008, Pratchett và cs 2011), năng suất (Tait & Schiel 2011) và chất dinh dưỡng / trầm tích / oxy (Eyre và cs 2011 ), và ngày càng được sử dụng nhiều trong việc đánh giá hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái (Townsend và cs 2011) Sự đa dạng của chúng trong một khu vực đã được sử dụng làm đại diện cho đa dạng sinh học của các thành phần khác (Thrush và cs 2001), và loại và quy mô của chúng được

sử dụng trong việc tính toán tính toàn vẹn hệ sinh thái (Thrush và cs 2012) Một

số hội đồng khu vực đã bắt đầu thử nghiệm việc áp dụng Hỗ trợ Quyết định Đánh giá Môi trường sống (MarHADS; MacDiarmid và cs 2012b) để đánh giá tình trạng môi trường biển ven biển có tính đến tính dễ bị tổn thương, chất lượng và

số lượng môi trường sống Những thay đổi trong một số loại môi trường sống nhất định được quan tâm, ví dụ, mức độ rừng ngập mặn, khu vực ngập mặn, cỏ biển

và vỏ sò đặc biệt là mối quan tâm của cộng đồng địa phương Những thay đổi về quy mô của môi trường sống cá thiết yếu, thông thường sinh học ở quy mô nhỏ,

là mối quan tâm đối với ngư dân

Phản hồi/phản ứng Nhiều môi trường sống sinh học nhạy cảm với các áp

lực từ con người (ví dụ, đầu vào từ trầm tích trên cạn, nhận chìm, nạo vét, khai thác mỏ, đánh bắt cá, xáo trộn vật lý, nhiệt độ, đầu vào nước ngọt, phú dưỡng, ô nhiễm, thay đổi năng suất và biến đổi khí hậu (ví dụ: mực nước biển dâng, axit hóa) Nói chung, môi trường sống cụ thể sẽ nhạy cảm với một nhóm thể của các yếu tố gây stress Do đó, những thay đổi liên quan đến với môi trường sống sinh học cụ thể có thể được sử dụng để đánh giá tình trạng tổng thể (tức là, từ các áp lực to lớn đến sức khỏe)

Biến đổi Có không nhiều sự hiểu biết về sự biến thiên tự nhiên của hầu hết

môi trường sống, ngoại trừ các phân tích gần đây về độ che phủ rừng ngập mặn (A Swales NIWA pers Comm.) hoặc quy mô thời gian mà tại đó các phản ứng với áp lực có thể xảy ra

Mức độ quan trắc giám sát Nhiều chương trình quan trắc, quốc gia giám

sát môi trường sống sinh học đã tập trung vào các môi trường sống được coi là có tầm quan trọng đặc biệt Những môi trường sống này thường được xác định ở cấp

độ quốc gia qua các hội thảo Ở New Zealand chưa có danh sách như vậy, trên thực tế thậm chí không có định nghĩa thống nhất quốc gia về những gì tạo nên

Trang 29

môi trường sống sinh học, mặc dù công việc này đã bắt đầu (Cục bảo tồn và Bộ Thủy sản 2011) Sự phân bố không gian của môi trường sống thực vật ven biển

đã được xác định trên khắp đất nước Ở giai đoạn này các bản lưu giữ đại diện cho đường cơ sở cho một thời điểm cụ thể về thời gian, cung cấp sự bắt đầu của thông tin chuỗi thời gian và chúng được lặp lại trong tương lai Việc quan trắc, giám sát các môi trường sống sinh học khác (ví dụ: sò, sâu ống ) ít được thực hiện nhất quán, ngoại trừ với các trường hợp sau đây

(1) Hội đồng khu vực Waikato gần đây đã lập bản đồ môi trường sống sinh sản trong các cửa sông ở Bờ Đông với mục đích lặp lại lấy mẫu (Needham và cs 2013) (2) Hội đồng Auckland có một chương trình ven biển để lập bản đồ môi trường sống định cư và sinh cảnh ở vùng ven biển, bằng chụp ảnh và quay video trên không, dự định có chu kỳ lặp lại 15 năm

(3) Một số hội đồng khu vực và các cơ quan đơn nhất, sử dụng phương thức lấy mẫu cửa sông MfE, lập bản đồ quay của một vài kiểu sinh cảnh sinh học như

đề xuất của Robertson và cs (2002)

(4) Một số bản đồ sinh cảnh trong Khu bảo tồn biển Leigh và Công viên biển Mimiwhangata đã được tiến hành bằng các kỹ thuật được mô tả trong Grace

& Kerr (2005)

Phương pháp Môi trường sống thực vật ven biển thường được khảo sát

bằng cách sử dụng chụp ảnh trên không, với hình ảnh vệ tinh đang được thử nghiệm ở Auckland (J Walker AC pers Comm.) Đối với môi trường sống dưới nước đá ngầm rạn san hô Không có phương pháp thống nhất, hiệu quả về mặt chi phí để khảo sát các loại sinh cảnh sinh học khác

Tiện ích trong MEMP Thông số này thể hiện rõ qua ba giá trị (trong bảng

3) nó có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong báo cáo đa dạng sinh học, sức khỏe, hàng hóa và dịch vụ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái và sự đa dạng của nó có thể được sử dụng làm đại diện cho đa dạng sinh học của các thành phần khác; đủ để biết về các phản ứng đối với các yếu tố áp lực cá nhân và cho phép các nguyên nhân thay đổi được đánh giá; và các loại môi trường sống này thường xuyên được giám sát ở nước ngoài Tuy nhiên, có ít sự hiểu biết về cách biến đổi

tự nhiên theo thời gian; không có định nghĩa thống nhất quốc gia về những gì cấu thành môi trường sống sinh học hoặc các phương pháp hiệu quả về chi phí phù hợp; và ít được quan trắc giám sát hiện nay được thực hiện ở New Zealand Nó hiện nay không thích hợp để được bao gồm trong MEMP

Trang 30

c Các quần thể động vật và thực vật lớn trong rạn san hô

Tất cả rong biển và động vật không xương sống sống trên bề mặt của các khu vực đá, có kích thước trên 0,5 mm, thường được xác định là chi hoặc mức loài với số lượng được thực hiện hoặc phần trăm được ước tính Đây là thông số tổng hợp và là dữ liệu có thể được phân tích thành thành phần quần thể, là một trong số các biện pháp xác định mức độ đa dạng sinh học (ví dụ, độ phong phú loài, độ đều loài) hoặc thậm chí là các loài hoặc sinh khối riêng lẻ

Sử dụng Cả trong khu vực gian triều và lân cận, các loại quần thể này ảnh

hưởng đến hàng hóa và dịch vụ sinh thái, sinh khối cá và chất dinh dưỡng và chất oxy giữa trầm tích và cột nước Dữ liệu quần thể có thể được sử dụng để tính toán các chỉ số đa dạng sinh học và đóng góp vào việc tính toàn vẹn sinh thái và hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái Tuy nhiên, chưa có phương pháp luận nào cho việc xem xét mối liên quan đến cấu trúc quần thể đối với sức khỏe quần thể

Phản hồi/phản ứng Các quần thể rạn san hô đã được chứng minh là bị

ảnh hưởng bởi việc va đập, neo đậu, lắng đọng và nhiệt độ (Schiel và cs 2004, Schiel & Taylor 1999, Schiel và cs 2006, Walker 2007) Chúng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi sự phú dưỡng và biến đổi khí hậu (ví dụ, mực nước biển dâng, những thay đổi về thời tiết, nhiệt độ nước biển và axit hóa), mặc dù những tác động như vậy chỉ mới được nghiên cứu ở New Zealand (Cummings và cs 2013)

Biến đổi Đối với một vài khu vực triều, sự biến thiên tự nhiên theo thời

gian bắt đầu tìm hiểu (Cape Campbell, Kaikoura và Moeraki, Schiel 2011), cho thấy rằng việc tách sự biến thiên tự nhiên khỏi sự thay đổi của con người sẽ có thể xảy ra Trong các khu vực lân cận, Wing & Jack (2010) ghi lại những thay đổi tạm thời trong san hô đá Fiordland và cấu trúc quần thể cá rạn san hô theo thời gian (1985 - 2010) Những thay đổi về sự phong phú của tôm hùm, liên quan đến

sự hiện diện của mười khu bảo tồn biển, có thể được phát hiện trên sự thay đổi không gian và thời gian tự nhiên (Jack & Wing 2013)

Mức độ quan trắc giám sát Nhiều quốc gia theo dõi các quần thể rạn san

hô, đặc biệt là nơi các rạn san hô nền cứng tạo nên một phần lớn hoặc quan trọng

về mặt xã hội của hệ thống biển (ví dụ: Great Barrier Reef) Ở New Zealand, quần thể thực vật và động vật trong san hô chủ yếu được theo dõi liên tục Một số quan trắc, giám sát khu vực lân cận vùng gian triều được thực hiện tại Vùng Auckland

và các khu bảo tồn biển ở Fiordland và Đảo Stewart; gần đay chương trình đã được mở rộng đến Snares và Auckland Islands (Wing 2007, Wing & Jack 2010,

Trang 31

Wing pers comm.) Tuy nhiên, trong khi các vị trí giám sát dài hại bị hạn chế về

số lượng, có một cơ sở dữ liệu đáng kể các cuộc khảo sát một lần hoặc hai lần quanh New Zealand, cả hai cho gian triều (ít nhất 100 địa điểm, Schiel pers Comm.) và lân cận khu gian triều (ví dụ, Schiel & Hickford 2001) Các dữ liệu này không chỉ hữu ích cho việc hiểu biết các mẫu địa lý sinh học rộng mà còn có thể được sử dụng như một đường cơ sở để theo dõi trong tương lai

Phương pháp Việc quan trắc, giám sát quần thể thực vật và động vật

không xương sống lớn khu vực gian triều, sử dụng các phương pháp khác nhau, đặc biệt là đối với kích cỡ quadrat Tần suất quan trắc, giám sát cũng thay đổi từ hàng quý đến bất thường Một phương pháp quan trắc nhất quán và phân loại các quần thể rạn san hô ngầm ở độ sâu cố định và độ dốc đã được Shears phát triển (2007), nhưng việc lấy mẫu để xác định sự thay đổi tự nhiên tự nhiên theo thời gian trong phân loại này vẫn chưa được thực hiện

Tiện ích trong MEMP Thông số tổng hợp này thể hiện tốt trên một số

mặt (xem Bảng 1.2): có thể sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp báo cáo đa dạng sinh học, sức khỏe, hàng hóa và dịch vụ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái, mặc dù chưa có phương pháp đánh giá sức khỏe từ quần thể dữ liệu Nó thể hiện kém hơn

về các phản ứng đã biết đối với những áp lực từ con người Hơn nữa, ít được biết

về sự biến thiên tự nhiên; nó không phải lúc nào cũng là một phần của chương trình giám sát quốc gia và có rất ít bảo hiểm quốc gia ở New Zealand Quan trọng hơn là chưa có phương pháp chuẩn nào được chấp nhận trên toàn quốc Nó hiện nay không thích hợp để được bao gồm trong một MEMP

d Số lượng loài bị đe dọa hoặc cần được bảo vệ

Ở New Zealand, các loài được bảo vệ bao gồm tất cả các động vật biển có

vú, tất cả các loài chim biển (trừ cá mòi đen Larus dominicanus), tất cả các loài

bò sát biển, chín loài cá (cá mập y tá nước sâu Odontaspis ferox, cá mập trắng

Carcharodon carcharias, cá mập voi Rhincodon typus, cá mập baset Cetorhinus maximus, cá mập trắng đầu trắng Carcharhinus longimanus, cá mập manta ray Manta birostris, cá mập Mobula japanica, cá mú khổng lồ Epinephelus lanceolatus và cá mú đen đốm Epinephelus daemelii) và tất cả các loài của san hô Orders Antipatharia (san hô đen), Gorgonacea (nay là Alcyonacea) (gorgonians), Scleractinia (san hô đá) và họ Stylasteridae trong Anthoathecata Đạo luật Động

vật hoang dã năm 1953 và các Kế hoạch liên quan là nguồn thông tin chính xác

về các loài có đủ tư cách bảo vệ Ngoài ra, Cục Bảo tồn hoạt động tại New Zealand

Trang 32

có mục tiêu lâu dài để liệt kê tất cả các loài còn tồn tại ở New Zealand theo mối

đe dọa tuyệt chủng của chúng và có sự gia tăng phạm vi bảo vệ của quy trình Hệ thống được tạo thành từ các sổ tay và danh sách trạng thái thuế tương ứng, hiện đang mở rộng đến 23 nhóm thuế Phân loại này có khác một chút so với phân loại Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN) tùy thuộc vào quy mô dân số New Zealand liên quan đến dân số toàn cầu

Sử dụng Các loài được bảo vệ theo quy định của Luật Thủy sản 1996, Đạo

luật Bảo vệ Động vật có vú năm 1978 và Luật Động vật hoang dã năm 1953 Số lượng loài trong các loại bị đe dọa, nguy cơ hoặc được bảo vệ được báo cáo cho

cả nước Thông tin về sự xuất hiện của chúng trong các khu vực cụ thể dự kiến sẽ góp phần vào các biện pháp toàn vẹn hệ sinh thái (Thrush và cs 2012) và các khía cạnh tinh thần và văn hóa của hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái Không có thông tin về sự thay đổi về số lượng loài ở các mức độ bảo vệ khác nhau là sự thay thế hữu ích cho sự thay đổi trong các thành phần hệ sinh thái khác

Sự phản hồi/phản ứng Không có mối quan hệ lớn giữa loài được bảo vệ

và các yếu tố gây ra áp lực cụ thể Tuy nhiên, một dự án khảo sát sự phân bố không gian của một nhóm các loài được bảo vệ (chim biển, động vật có vú biển

và cá mập trắng) để xây dựng các mô hình sử dụng môi trường sống liên quan đến các mối đe dọa của con người hiện đang được tiến hành (NIWA TMMA143) Ngoài ra, còn có một số mối quan hệ đã biết giữa tình trạng nguy cơ của các loài

cụ thể và các yếu tố gây áp lực cụ thể Tuy nhiên, tổng số loài trong các danh sách loại khác nhau là đại diện cho cam kết của một quốc gia về quản lý và hiểu biết

về các loài nguy cơ hơn là số lượng và độ lớn của các yếu tố gây ra áp lực

Biến đổi Biến đổi theo thời gian về số lượng các loài bị đe doạ, có nguy

cơ hoặc các loại được bảo vệ thấp vì các loài hiếm khi bị loại bỏ khỏi các loại này

Mức độ quan trắc giám sát Hầu hết các dữ liệu quốc gia thu thập về số

lượng các loài bị đe dọa, có nguy cơ hoặc các loại được bảo vệ, mặc dù danh tính của các loài thường khác nhau giữa các quốc gia Trong phạm vi New Zealand, mục tiêu các chương trình ước tính các cuộc tấn công hàng năm về chim biển và động vật có vú tử vong do đánh bắt cá gây ra Các phương pháp mô hình hóa được

sử dụng để đánh giá tình trạng của các quần thể động vật có vú được chọn lọc và

Hệ thống phân loại mối đe dọa của DOC đưa ra các đánh giá với chu kỳ ba năm

Phương pháp MPI (đặc biệt thông qua Nhóm công tác môi trường thủy

sinh) và DOC (đặc biệt thông qua Chương trình dịch vụ bảo tồn của DOC) phát

Trang 33

triển các kế hoạch hàng năm và dài hạn nhằm xác định nhu cầu nghiên cứu cho các loài được bảo vệ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động đánh bắt cá thương mại Ví

dụ, MPI và CSP gần đây đã tiến hành đánh giá mức độ rủi ro cấp 2 cho tất cả các loài chim biển New Zealand liên quan đến đánh bắt cá, một phần, để xác định khoảng trống dữ liệu sẽ được giải quyết nhằm cải thiện các lần lặp lại đánh giá và giảm tình trạng nguy cơ của loài Công việc tương tự đang được tiến hành cho động vật có vú biển

Tiện ích trong MEMP Thông số này thể hiện khá tốt về mặt sử dụng; nó

có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong báo cáo hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái (Bảng 1.2) Nó cũng thường xuyên được bao gồm trong các chương trình giám sát quốc gia ở nước ngoài và giám sát chiến lược đang diễn ra ở New Zealand Tuy nhiên, tổng số loài trong danh sách các loại khác nhau là đại diện cho cam kết của một quốc gia về quản lý và hiểu biết

về các loài nguy cơ hơn là số lượng và độ lớn của các yếu tố gây ra áp lực

số các loài không phải là bản địa hoặc là các loài riêng biệt

Sử dụng: Các loài không phải bản địa có thể có một loạt các tác động trên

các hệ sinh thái biển, mức độ nghiêm trọng trong đó thường là các loài và phụ thuộc vào ngữ cảnh Do đó, số lượng (hoặc thay đổi theo số lượng) của các loài này không phải là một chỉ sô hữu ích đặc biệt về sức khỏe biển, mặc dù số lượng các loài này nên được đưa vào các định nghĩa về tính toàn vẹn sinh thái của New Zealand Trên quy mô địa lý, ba yếu tố sẽ có ảnh hưởng tổng thể của một loài không phải bản xứ: tổng diện tích nó chiếm, sự phong phú và một số biện pháp tác động của các cá nhân (Parker và cs 1999) Chương trình giám sát các khu vực

có nguy cơ cao (MPI) và Dịch vụ phân loại biển xâm hại (NIWA) duy trì / đóng góp dữ liệu thời gian liên quan đến hai yếu tố: phân bố phạm vi quốc gia và sự phong phú tương đối (được đo lường là tỷ lệ hiện hành) Cho đến nay ít được biết

về tác động chức năng, mặc dù nếu thông tin này được biết thì sự đóng góp của các loài không phải bản địa đối với hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái có thể được

Trang 34

đánh giá

Sự phản hồi/phản ứng và biến đổi Thông tin về biến đổi theo thời gian

và phản ứng của các loài không bản địa đối với các yếu tố gây ra áp lực cụ thể sẽ cần phải được tập hợp trên cơ sở từng cá thể và như vậy vẫn còn rất ít thông tin

Mức độ quan trắc giám sát Các loài không bản địa được nhiều quốc gia

giám sát Đối với lĩnh vực môi trường biển của New Zealand, đây là một thành quả từ chương trình giám sát khu vực biển rủi ro cao về hàng hải, thu thập dữ liệu sáu tháng một lần tại 11 bến cảng có cảng và bến du thuyền đầu tiên cho tàu quốc

tế Mục tiêu chính của nó là phát hiện sự xâm nhập của năm sinh vật biển có nguy

cơ cao được liệt kê trong Sổ đăng ký Sinh vật không mong muốn New Zealand chưa có mặt ở New Zealand Các mục tiêu thứ cấp bao gồm phát hiện các cuộc xâm nhập mới của các loài không phải bản địa và các phần mở rộng phạm vi khác của các loài không phải bản xứ đã được thiết lập Một số hội đồng đã thực hiện giám sát dịch hại biển, kết hợp với các chương trình giám sát ven biển và có thể gửi mẫu vật đến Dịch vụ Phân loại Hàng hải để xác định một khi đã báo cáo chúng thông qua đường dây nóng Hội đồng đang từng bước xây dựng chuyên môn trong lĩnh vực này và trong tương lai có thể là một nguồn thông tin hợp lý khác về sự xuất hiện của các loài không phải bản địa

Phương pháp Việc quan trắc, giám sát chủ yếu được thực hiện bởi một

chương trình đơn lẻ sử dụng phương pháp tiêu chuẩn

Tiện ích trong MEMP Thông số này thể hiện tốt trên khía cạnh (xem

Bảng 1.2): có thể sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong báo cáo dịch vụ hệ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái, kết hợp với thông tin về các loài bản địa trong quần thể xung quanh và nó là một yếu tố gây ra áp lực; thông số này được sử dụng trong các chương trình giám sát của nhiều quốc gia; và các phương pháp được áp dụng một cách nhất quán và rộng rãi trên khắp New Zealand Tuy nhiên, ít được biết về sự thay đổi theo thời gian của các loài đơn lẻ hoặc phản hồi của chúng đối với những yếu tố gây ra áp lực cá nhân

e Quần thể sinh vật trong trầm tích mềm

Động vật không xương sống và động vật sống trên hoặc nhô ra khỏi bề mặt của đáy biển, thường có kích thước lớn hơn 50 mm Đây là thông số tổng hợp, tức

là dữ liệu có thể được phân tích thành thành phần quần thể, là một trong số các phương pháp xác định tính đa dạng sinh học (ví dụ, độ phong phú loài, độ đều loài) hoặc thậm chí là các loài riêng lẻ

Trang 35

Sử dụng Khu vực cận gian triều, các quần thể này đã được đề xuất sử dụng

làm đại diện cho đa dạng sinh học của cá, động vật nhỏ và vi sinh (Thrush và cs

2001, 2002) và là một liên kết quan trọng trong nhiều hệ sinh thái với mức dinh dưỡng cao hơn (Pinkerton 2013) Tương tự như quần thể động vật không xương sống trầm tích mềm, chúng được sử dụng rộng rãi trên phạm vi quốc tế để đánh giá điều kiện sinh thái khi chúng tích hợp phản ứng với điều kiện tự nhiên và áp lực con người theo thời gian (từ ngày này sang năm khác), là nguồn thực phẩm, tương đối cố định và nhạy cảm với hầu hết hoạt động nhân loại Chúng cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái (từ sản xuất thực phẩm và cơ hội lặn giải trí đến khả năng tạo ra chất gây ô nhiễm và lợi ích văn hóa) Dữ liệu quần thể có thể được sử dụng để tính toán các chỉ số đa dạng sinh học và đóng góp vào việc tính toàn vẹn sinh thái và hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái

Phản hồi/phản ứng Có một số nghiên cứu ở New Zealand xác định độ

nhạy tương đối của các quần thể sinh học trầm tích mềm khác nhau với đầu vào trầm tích trên lục địa (Lohrer và cs 2003, Norkko và cs 2002, Thrush và cs 2003), nhận chìm và nạo vét (Paavo 2007) ), đánh bắt cá (Cryer và cs 2002, Cryer

và cs 1987, Thrush và cs 1995, Thrush và cs 1998) và các yếu tố biến đổi khí hậu như axit hóa và nhiệt độ (Tracey và cs 2013) Trên phạm vi quốc tế, chúng

đã được chứng minh là dễ bị phú dưỡng, biến đổi trong dòng nước ngọt và khai thác mỏ

Biến đổi Có rất ít thông tin sẵn có về động thái tự nhiên, nhưng bản chất

tương đối ít vận động của hầu hết các sinh vật cho thấy rằng có thể xảy ra những thay đổi liên quan đến con người với động lực thời gian tự nhiên

Mức độ quan trắc giám sát Các chương trình giám sát, quan trắc cấp

quốc gia ở các quốc gia sử dụng thông số này thường tập trung vào các khu vực nhỏ ở những nơi cụ thể Ở New Zealand, có rất ít sự quan trắc giám sát liên tục các quần thể sinh vật trầm tích mềm và hầu hết các dữ liệu hiện có đã được thu thập bởi các đợt khảo sát đơn lẻ, ví dụ: Khảo sát đại dương năm 2020, khảo sát ban đầu về trữ lượng biển Chương trình ven biển của Hội đồng Auckland về lập bản đồ môi trường sống gần bờ vùng ven biển, dự định có chu kỳ lặp lại 15 năm, cũng thu thập dữ liệu quần thể sinh vật

Phương pháp Hiện không có phương pháp tiêu chuẩn nào, các phương

pháp từ thợ lặn ngắn hoặc khung vuông chuẩn (quadrats) tới quay video và ảnh viễn thám Đối với tất cả các phương pháp, độ phân giải phụ thuộc nhiều vào khả

Trang 36

năng hiển thị và tốc độ kéo Tuy nhiên, đã có nghiên cứu được thực hiện để hiểu tác động của độ phân giải đối với các phép đo (NIWA Coasts và Oceans core fund)

Tiện ích trong MEMP Thông số tổng hợp này thể hiện tốt trên tất cả các

mặt (xem Bảng 1.2), ngoại trừ các phương pháp và mức độ quan trắc, giám sát hiện đang được thực hiện tại New Zealand Thông số này hiện nay không thích hợp để được bao gồm trong một MEMP

g Các loài chính

Các loài quan trọng là những loài có vai trò quan trọng trong hoạt động của

hệ sinh thái hoặc đặc biệt giá trị với con người

Sử dụng Các loài quan trọng là quan trọng trong việc đánh giá hàng hóa

và dịch vụ hệ sinh thái và cũng có thể quan trọng trong việc tính toán tính toàn vẹn và hoạt động sinh thái

Sự phản hồi, biến đổi và phương pháp Không có hướng dẫn về loài nào

được coi là quan trọng ở New Zealand (xem mức độ giám sát dưới đây), không thể thảo luận về tính nhạy cảm của chúng với các áp lực, biến đổi tự nhiên theo thời gian của chúng, và cũng không có vấn đề về phương pháp

Mức độ quan trắc giám sát Hầu hết các chương trình giám sát của các

quốc gia đều có một số loài quan trọng giám sát, giám sát một số sinh cảnh sinh học, mặc dù loài là khác nhau giữa các quốc gia Các loài quan trọng để theo dõi thường được chọn là một sự thỏa hiệp giữa đánh giá khoa học về tầm quan trọng của chúng đối với phần còn lại của hệ sinh thái, giá trị xã hội Một thành phần thiết yếu để quan trắc, giám sát các loài quan trọng là sự đồng thuận về loài nào

là chìa khóa và xây dựng một danh sách quốc gia về các loài quan trọng mà New Zealand hiện chưa có Hiện nay, việc quan trắc giám sát (không bao gồm đánh giá trữ lượng thủy sản) của một số loài cụ thể được tiến hành, mặc dù không có tuyên

bố rằng chúng là những loài quan trọng Sự phong phú và kích cỡ của các loài động vật có vỏ được lựa chọn được tiến hành xen kẽ tại một số bãi biển với các khoảng thường không đều nhau (cơ sở dữ liệu bãi biển MPI) Cơ sở dữ liệu tương

tự cũng chứa thông tin về mật độ rau biển (như trọng lượng khô) Thông tin về

Eklonia (mật độ), kích cỡ và kích cỡ tôm hùm, sự phong phú và kích cỡ của cá

tuyết được thu thập ngẫu nhiên trong một số trữ lượng biển (ví dụ, đối với các trang Fiordland thấy Jack & Wing 2013)

Tiện ích trong MEMP Hiện tại, New Zealand không có bất kỳ sự đồng

Trang 37

thuận nào về những loài được coi là “quan trọng” Các thông số không gian tự nhiên phân bố loài quan trọng sẽ dẫn đến các loài khác nhau phải được theo dõi ở những nơi khác nhau, được tổng hộp trong phân tích quốc gia và báo cáo về sự thay đổi Điều này là do hai yếu tố: (1) các loài khác nhau có thể có sự nhạy cảm khác nhau đối với các áp lực; và (2) cùng một loài có thể biểu hiện độ nhạy khác nhau tùy thuộc vào việc nó có gần phạm vi tối ưu của nó hay gần ranh giới của nó (Brown và cs 1995, Gilman 2006, Findlay và cs 2010) Vì vậy, việc giám sát các loài quan trọng chưa được khuyến cáo cho MEMP (xem Bảng 1.2)

h Động vật rạn san hô

Cá và các động vật không xương sống lớn hơn (như tôm hùm và nhím) sống trên rạn san hô hoặc chủ yếu sử dụng rạn san hô để làm thức ăn và trú ẩn Đây là thông số tổng hợp, tức là dữ liệu có thể được phân tích thành thành phần quần thể, là một trong số các biện pháp xác định tính đa dạng sinh học (ví dụ, độ phong phú loài, độ đều loài) hoặc thậm chí là các loài riêng lẻ

Sử dụng Dữ liệu quần thể về các loài này có thể được sử dụng để tính toán

các chỉ số đa dạng sinh học và góp phần tính toán tính toàn vẹn sinh thái và hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái Sự thay đổi theo thời gian sẽ là mối quan tâm rõ ràng đối với ngư dân, MPI và DOC Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào cung cấp hướng dẫn đánh giá sức khỏe quần thể cá rạn san hô Một khởi đầu về điều này

đã được thực hiện bằng cách chia tách quần thể thành các loài “được khai thác”

và “không có mục tiêu” và đo lường một số thông số phản ứng nhạy cảm với sự

ổn định và cấu trúc quần thể (Wing & Jack 2013)

Phản hồi/phản ứng Hệ động vật rạn san hô tương đối nhạy cảm với nhiều

áp lực, đặc biệt là đánh bắt cá và thay đổi nhiệt độ nước, ngoại trừ đánh bắt theo mùa vụ, phản ứng với hầu hết áp lực đều chưa được hiểu rõ Một vấn đề lớn với việc đánh giá độ nhạy là tính di động của các loài này; không phải tất cả các quan sát đều là việc cư trú của cá

Biến đổi Trong quá khứ có một số nghiên cứu về sự biến đổi theo thời

gian,những nghiên cứu này thường liên quan đến thay đổi môi trường sống và điều kiện hải dương học, chủ yếu ở Bắc New Zealand (Jones 1988, Denny & Schiel 2001) Theo dõi gần đây về tôm càng, nhím biển và quần thể cá rạn san hô

ở Fiordland đã giải quyết các thay đổi theo thời gian và hiệu ứng dự trữ biển trên khung thời gian mười năm (Wing 2009, Jack & Wing 2013, Wing & Jack 2013)

Mức độ quan trắc giám sát Nhiều chương trình quan trắc, giám sát cấp

Trang 38

quốc gia bao gồm các quần thể rạn san hô, đặc biệt là nơi các rạn san hô hình thành một phần lớn hoặc phần quan trọng về mặt xã hội của hệ thống biển (ví dụ: Great Barrier Reef) Ở New Zealand, sự đa dạng tương đối của các loài cá rạn san

hô và các động vật khác như tôm hùm đã được khảo sát ở nhiều nơi trong nước nhưng chỉ có một vài địa điểm bên ngoài khu bảo tồn biển vẫn đang được theo dõi Ngay cả các trang khu vực bên trong khu bảo tồn biển thường có quan trắc, giám sát ngẫu nhiên

Phương pháp Phương pháp khác nhau từ các cuộc khảo sát lặn của các

tuyến đến các video dưới nước, mỗi loại có vấn đề riêng Các cuộc khảo sát của

từ việc lặn giới hạn phạm vi và chiều sâu của các khu vực có thể được khảo sát và thường ưu tiên đối với các loài hiếm gặp Các đoạn video từ xa được ưu tiên đối với các loài hiếm gặp và các loài di động bị sợ hãi bởi thiết bị chuyển động, trong khi các đoạn video lại thu thập các loài nhặt rác tỉ mỉ hơn Trong mọi trường hợp, tính di động gây khó khăn cho việc thu thập dữ liệu định lượng mạnh mẽ, nhấn mạnh sự cần thiết phải sao chép và dữ liệu chuỗi thời gian dài

Tiện ích trong MEMP Thông số tổng hợp này thể hiện tốt trên hai khía

cạnh (xem Bảng 1.2): có thể sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp báo cáo đa dạng sinh học, sức khỏe, hàng hóa và dịch vụ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái, mặc dù chưa có phương pháp đánh giá sức khỏe từ dữ liệu cộng đồng; và các nghiên cứu cho đến nay cho thấy xu thế tạm thời có thể được phát hiện qua và trên sự biến thiên tự nhiên Nó thể hiện kém hơn về các phản hồi được biết đến với các yếu tố gây áp lực; thông số này không phải lúc nào cũng là một phần của chương trình quan trắc và giám sát quốc gia và có rất ít bảo hiểm quốc gia ở New Zealand Quan trọng hơn là chưa có phương pháp chuẩn nào được chấp nhận trên toàn quốc, vì vậy hiện tại nó không phù hợp để được đưa vào MEMP

i Quần thể cá đáy

Cá đáy là những loài được tìm thấy gần đáy biển trong toàn bộ hoặc một phần vòng đời của chúng Đây là thông số tổng hợp, tức là dữ liệu có thể được phân tích thành thành phần quần thể, là một trong số các biện pháp xác định tính

đa dạng sinh học (ví dụ: độ phong phú loài, độ đều loài) hoặc thậm chí là các loài riêng lẻ

Sử dụng Dữ liệu từ các cuộc điều tra phong phú về các loài cá đáy đóng

góp vào các chỉ số đa dạng sinh học và các biện pháp toàn vẹn hệ sinh thái, và các khía cạnh kinh tế và văn hóa của hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái Dữ liệu cũng

Trang 39

có thể được phân tích để đưa ra điều kiện của một số nghề cá và một số thông tin

về các liên kết dinh dưỡng Tuy nhiên, chỉ có một nghiên cứu chứng minh mối quan hệ giữa đa dạng sinh học cá đáy và đa dạng sinh học của bất kỳ thành phần nào khác của hệ sinh thái (không phải là ở New Zealand nghiên cứu các loài cá đáy có liên quan đến đa dạng sinh học (Reiss và cs 2010)), gợi ý rằng những dữ liệu này không thể được sử dụng làm đại diện cho đa dạng sinh học hệ sinh thái Một nghiên cứu quy mô rộng trên ba lĩnh vực của New Zealand (Chatham Rise, Challenger Plateau và đông bắc Northland) phát hiện không có mối quan hệ giữa

đa dạng sinh học đáy và sinh vật đáy (Hewitt pers comm.) Cũng không có phương pháp luận liên quan đến cấu trúc cộng đồng ngư dân có liên quan đến sức khỏe cộng đồng

Sự phản hồi/phản ứng Tương tự như quần thể cá ở rạn san hô đã đề cập

ở trên, cá ở đáy có khả năng nhạy cảm với nhiều áp lực, đặc biệt là việc đánh bắt

và thay đổi nhiệt độ nước, nhưng những sự nhạy cảm này thường chưa được hiểu

Biến đổi Biến đổi theo thời gian trong các loài đã được phân tích tốt Một

số phân tích đã được thực hiện trên các loài khác và ước tính đa dạng sinh học được phát triển như một phần của các chương trình điều tra tính hữu dụng của dữ liệu để theo dõi đa dạng sinh học và các chỉ số về sức khỏe sinh học (I Tuck pers Comm.)

Mức độ quan trắc giám sát Nhiều quốc gia thu thập dữ liệu về các quần

thể cá đáy như một phần của các chương trình đánh giá thị trường của họ Rodríguez và cs 2011 và các tài liệu tham khảo trong đó) Các cuộc điều tra Trawl thường được coi là một cách tiếp cận thích hợp để lấy mẫu các quần thể cá ở nhiều môi trường sống (Cotter và cs 2009) và một loạt các chỉ số dựa trên cá tiềm năng (Rice 2003), thường được phân loại thành các loài, nhóm dựa trên kích thước và nhóm năng động Ở New Zealand, cũng tương tự như vậy, trong khi thông tin về một số loài cá cụ thể có sẵn từ DOC và từ quan trắc giám sát của đại học, dữ liệu

(García-về cá đáy xuất phát chủ yếu từ cơ sở dữ liệu tổng hợp (García-về các cuộc điều tra lưới do MPI tổ chức Mặc dù dữ liệu ban đầu được thu thập bởi các tàu khác nhau, mỗi ngư cụ khác nhau; tàu và loại thiết bị đã được tiêu chuẩn hóa trong từng khu vực / ngư nghiệp trong nhiều năm nay (mặc dù loại thiết bị đặc biệt khác nhau giữa ngư dân) Trên tất cả các cuộc khảo sát, lượng cá đánh bắt của tất cả các loài được ghi nhận ở mức phân loại thấp nhất có thể và chiều dài phân bố được thu thập cho

Trang 40

một số loài nhất định (với số loài này tăng lên trong những năm gần đây) Khảo sát được tiến hành như là một phần của quá trình quan trắc, giám sát và đánh giá thị trường, với các chi phí thu hồi từ ngành đánh cá Điều này có nghĩa là một số loạt khảo sát lưới rà đã được xem xét (Beentjes & Stevenson 2000, 2001,Morrison

và cs 2001a, 2001b, O'Driscoll & Bagley 2001, O’Driscoll và cs 2011, Stevenson

& Hanchet 2000, Bagley và cs 2013) và khi các ưu tiên đã thay đổi, một số cuộc khảo sát theo thời gian đã bị ngừng Hiện tại, các cuộc khảo sát thường xuyên chỉ được thực hiện cho các khu vực trung lưu của Chatham Rise (hàng năm cho đến nay, nhưng di chuyển ít hơn) và Southland và Sub-Nam Cực (hàng năm cho đến nay, di chuyển đến hai năm một lần) và các khu vực bờ biển của East Coast South Island và West Coast South Island (ba năm một lần) Ngoài ra, một chương trình

ba năm một lần của các cuộc điều tra được thực hiện cho bốn nghề đánh bắt cá scampi chính, mặc dù lưới rà chỉ tạo thành một thành phần của công việc này Các cuộc điều tra lưới nước sâu được coi là đã được tiến hành một cách không nhất quán, hoặc thường xuyên đủ để cung cấp các chỉ số được tiêu chuẩn hóa để theo dõi (Tuck và cs 2009) Các cuộc điều tra ở đảo Bắc Bộ đã được tiến hành thường xuyên trong quá khứ (17 cuộc điều tra ở Vịnh Hauraki từ năm 1964), nhưng không

có cuộc điều tra nào diễn ra từ năm 2000

Phương pháp Loại lưới và kích thước khác nhau tùy thuộc vào nghề đánh

bắt, khoảng cách và tốc độ lưới rà biến đổi ít được đo đạc trên cơ sở lưới rà cá nhân Leathwick và cs (2006a) đã tìm thấy khoảng cách lưới, kích thước và tốc

độ để trở thành những yếu tố dự báo quan trọng về sự phong phú của các loài

Tiện ích trong MEMP Dữ liệu này thực hiện tương đối tốt trên ba khía

cạnh (Bảng 1.2) Thứ nhất, nó có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp trong báo cáo về đa dạng sinh học của cá đáy, cấu trúc dinh dưỡng, hàng hóa và dịch

vụ sinh thái và tính toàn vẹn sinh thái, mặc dù nó không thể được sử dụng làm đại diện cho các thành phần hệ sinh thái khác và không đủ khả năng liên kết trực tiếp thành phần cộng đồng dân chủ với sức khỏe tổng thể về tình trạng của các quần thể cá đáy Thứ hai, các phương pháp nhất quán trong một khu vực (mặc dù chúng khác nhau giữa các khu vực) Thứ ba, thông số này được thu thập theo cách tương

tự bởi nhiều quốc gia khác và trên một khu vực rộng lớn của các đại dương của New Zealand Tuy nhiên, rất ít người biết về phản ứng của các quần thể cá đáy biển đối với áp lực của cá nhân tạo ra nguyên nhân thay đổi được đánh giá; cũng không có biến đổi theo thời gian nào được đánh giá.Tuy nhiên, sự mở rộng của

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w