1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Di sản dùng vào việc thờ cúng 8 điểm nhé bạn nào có nhu cầu thì ủng hộ tui nhé

19 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI QUÁT CHUNG DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG Điều 670 BLDS quy định về di sản thờ cúng như sau: 1.1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng

Trang 1

I MỞ ĐẦU

Là một trong những nét độc đáo của pháp luật thừa kế Việt Nam, Di sản dùng vào việc thờ cúng( sau đây gọi tắt là di sản thờ cúng) xứng đáng có một vị trí độc lập so với di sản thường trong trong sơ đồ nghiên cứu Sauk hi

hệ thống phông kiến sụp đổ, di sản thờ cúng càng lúc cáng được đơn giản hóa, cả trong tục lệ Tuy nhiên được thừa nhận như một giá trị đạo dức truyền thống, nó tiếp tục giữ vững vai trò nhất định trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, độc lập với sinh hoạt thế tục của họ Về mặt kỹ thuật,

di sản thờ cúng chịu sự chi phối của một chế độ pháp lý đặc biệt Cũng là một phần khối tài sản do người chết để lại, nhưng không được chia theo các quy tác áp dụng cho di sản thường, di sản thờ cúng được lập, quản lý và chuyển dịch như một khối tài sản vừa không có chủ sở hữu vừa thuộc về tất

cả những người có quyền và lợi ích liên quan đến việc thờ cúng tổ tiên

Để hiểu rõ hơn về vấn đề di sản dùng vào việc thờ cúng Sau đây tôi xin

được lựa chọn đề tài: “Di sản dùng vào việc thờ cúng” Do còn nhiều bất

cật, kiến thức trên thực tế còn nhiều hạn chế nên chắc chắn tìm hiểu và nghiên cứu đề tài này sẽ còn tồn đọng nhiều thiếu sót Tôi xin kính mong thầy cô và các bạn bổ sung ý kiến để đề tài này được hoàn thiên tốt hơn

II NỘI DUNG

A - LẬP DI SẢN THỜ CÚNG

1 KHÁI QUÁT CHUNG DI SẢN DÙNG VÀO VIỆC THỜ CÚNG

Điều 670 BLDS quy định về di sản thờ cúng như sau:

1.1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng

vào việc thờ cúng, thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ

Trang 2

cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế, thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng

Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng, thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng Trường hợp này tuy người lập di chúc không chỉ định người quản lý

di sản thờ cúng nhưng trong di chúc vẫn xác định rõ dành một phần di sản cho việc thờ cúng thì những người thừa kế vẫn phải cử một người đẻ quản lý

di sản dungf vào việc thờ cúng

Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết, thì phần di sản dùng vào việc thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật

1.2 trong trường hợp toàn bộ di sản của chết không đủ để thanh toán

nghĩa vụ tài sản của người đó, thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng

Quy định này để bảo vệ quyền lợi cho những người có quyền lợi trong quan hệ dân sự với người để lại di chúc, khi di sản còn lại chưa đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chêt để lại

Thờ cúng là một nếp sống văn hóa lâu đời của nhân dân ta, thể hiện long tôn kính đối với người đã chết Giáo dục người xung quanh kính trọng những người bậc trên đã chết và nhớ công ơn của họ vì vậy, Nhà Nước tôn trọng và bảo hộ truyền thống tốt đẹp đó, cho phép cá nhân dùng một phần tài sản của mình để dùng vào việc thờ cúng Phần tài sản này không coi là di sản thừ kế

Di sản dùng vào việc thờ cúng được để lại theo ý nguyện của người lập

di chúc, di sản này không chia mà được giao cho một người quản lý Di sản

Trang 3

này có thể là một tài sản cụ thể ( cây lâu năm, nhà ở…) Neus là tài sản hoặc cây lâu năm người quản lý có quyền thu hoa lợi,lợi tức và dùng nó để thực hiện việc thờ cúng Người quản lý không được sử dụng vào mục đichs riêng của mình Không có quyền định đoạt di sản này Trường hợp người đang quản lý mà sử dụng vào việc thờ cúng mà không có điều kiện để tiếp tục quản lý di sản đó, những người thừa kế sẽ thỏa thuận giao cho người khác quan lý

Điều 670 không có quy định về tính chất của di sản dùng vào việc thờ cúng, mà chỉ định lượng phần di sản dùng vào việc thờ cúng Vì vậy người lập di chúc có thể định đoạt bất kỳ tài sản nào trong khối tài sản thuộc sở hữu của mình để dùng vào việc thờ cúng

Quy định này để bảo vệ quyền lợi cho người có quyền lợi trong quan hệ dân sự với người để lại di chúc, khi di sản còn lại chưa đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết để lại

2 TỶ LỆ PHẦN DI SẢN THỜ CÚNG

Có một thời di sản thờ cúng chỉ có thể được lập đến một giới hạn nào đó Ngày nay chỉ cần tôn trọng các quyền lợi của người chủ nợ di sản, người lập

di chúc được tự do ấn định tỷ lệ phần di sản thờ cúng so với toàn khối tài sản

để lại sau khi chết

2.1 – Quyền của người lập di chúc tự do ấn định phần di sản thờ cúng về

số lượng

Sự đơn giản của luật: - theo BLDS Điều 673 khoản 1, người lập di chúc

có thể để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng Điều 673 khoản 2 nếu toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản người đó thì không dược dùng một phần di sản vào việc thờ cúng Từ các quy tác ấy ta rút ra kết

Trang 4

luận rằng di sản thờ cung về mặt lý thuyết, có thể được lập bằng hiệu số của tổng số tài sản có và tổng số các khoản nợ của di sản trừ đi một đồng tượng trưng Kết luận này, đến lượt mình, cho phép mở ra khả năng theo đó trong trường hợp người thừa kế theo pháp luật mất năng lực hành vi thanh toán , thì người có di sản có thể cứu lấy di sản ra khỏi sự kê biên của chủ nợ của người thừa kế bằng cahcs lập gần như toàn bộ khối tài sản của mình thành di sản thờ cúng Việc làm có thể hiếm nhưng hoàn toàn hợp pháp

Ngoài ra do di sản thờ cúng không thể chuyển nhượng, không bị kê biên, nếu quá nhiều người có di sản tận dụng giải pháp nêu trên của luật thực định thì sẽ có một số lượng của cải của xã hội không nằm trong lưu thông dân sự

và điều đó sẽ gây ảnh hưởng xấu cho kinh tế quốc dân

Bởi vậy, có hai vấn đề cần được tiếp tục xem xét:

Thứ nhất: Ấn định giới hạn tối đa cho giá trị di sản thờ cúng so với giá trị

toàn bộ di sản – Ngay từ thời các vua Lê, luật thời Nguyễn, các BLDS Bắc,

Trung đã đề cập đến vấn đề này Có thể thấy như: Ở thời Lê người làm luật

đã thấy sự cần thiết của việc thiết lập một mức cao nhất cho giá trị của di sản thờ cúng, nhằm trnhs tình trạng có quá nhiều ruộng đất bị đặt ra ngoài lưu thông Điều 388 Bộ Quốc Triều Hình Luật, di sản thờ cúng lập trong trường hợp người có di sản chết không để lại di chúc được ấn định là 1/20 giá trị toàn bộ khối tài sản của người chết Luật thời Nguyễn chỉ quy định mức tối

đa về giá trị di sản thờ cúng trong trường hợp di sản không có người thừa hưởng Tại lệnh năm thứ 4 đời Thiệu Trị, mức này là 3/10 di sản, đội khung

ở 3000 quan tiền hoặc 30 mẫu ruộng Các BLDS Bắc, Trung quy định: phần hương hỏa không vượt quá 1/5 di sản; nếu việc lập hương hỏa được ghi nhận trong nhiều quyết dịnh khác nhau,thì tổng trị giá tài sản được định đoạt không vượt quá 1/5 di sản

Trang 5

Nói tóm lại, ấn định một giới hạn tối đa cho giá trị của di sản thờ cúng so với giá trị của toàn bộ di sản của người đứng lập đã làm mỗi bận tâm của người làm luật Việt Nam ỏ mọi thời đại

Thứ hai: xác định người có quyền khởi kiện yêu cầu cắt giảm phần di sản

thờ cúng vượt mức – chắc chắn, chủ nợ của người thừa kế có quyền kiện cắt

giảm phần di sản thờ cúng vượt mức Theo luật phần di sản thờ cúng không được chia vì vậy mà chủ nợ của người thừa kế không thể kê biên phần tài sản này trong quá trình đòi nợ Để ngăn ngừa sự thỏa thuận gian lận giữa người có di sản và người thừa kế nhằm giảm đến mức có thể được quy mô khối tài sản bảo đảm việc trả nợ của người thừa kế, cần thừa nhận cho chủ

nợ của người sau này quyền khởi kiện trong trường hợp giá trị di sản thờ cúng được lập vượt quá giới hạn hợp lý Tuy nhiên khởi kiện chỉ có thể thực hiện trong một thời hạn chứ koong thể tồn tại vĩnh viễn

Chỉ nên công nhận quyền khởi kiện cho các chủ nợ nào có quyền đòi những món nợ phát sinh trước khi mở thừa kế và được người thừa kế giao kết không nhằm mục đích vô hiệu hóa quyết định của người lập di chúc dành một phần di sản vào việc thờ cúng

2.2 - di sản thờ cúng và quyền thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

a) Trường hợp người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc tham gia vào việc lập di sản thờ cúng.

nói riêng về người thừa kế là vợ (chồng) thông thường, vợ (chồng) chỉ

tham gia vào việc lập di sản thờ cúng khi cả vợ,chồng nhất trí về việc này,do

đó , ghi nhận ý chí của họ bằng di chúc chung Trong luật thực định, di chúc chung chỉ định đoạt tài sản chung của vợ và chồng (Điều 666 BLDS) Vậy,

di sản thờ cúng nếu đực lập bằng di chúc chung, se được trừ một nửa vào

Trang 6

tổng giá trị tài sản của di sản, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận rằng một trong hai người đản baỏ việc lập di sản thờ cúng bằng hơn một nửa giá trị khối tài sản chung dùng vào việc thờ cúng

b) Trong trường hợp người lập di chúc lập di sản thờ cúng mà người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không biết hoặc biết và

đã phản đối

khi lập di chúc cá nhân, người lập di chúc có quyền tự do định đoạt tài sản riêng với điều kiện tôn trọng quyền của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc Việc lập di sản thờ cúng không được làm hại đến lợi ích của những người này Do đó, nếu các quyết định của di chúc có tác dụng truất quyên nhận di sản hoặc làm giảm sút nghiêm trọng quyền lợi của họ về số lượng, thì quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc se được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản, không trừ di sản thờ cúng Được chuyển gia theo pháp luật

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có thể không biết việc lập di sản thờ cúng, mà cũng có thể biết và đã phản đối người phản đối

có thể bày tỏ thái độ của mình trước hoặc sau khi mở thừa kế

Di sản thờ cúng và thanh toán khối tài sản chung của vợ (chồng)- Trong trường hợp bằng chứng thư cá nhân, người lập di chúc quyết định dành một

số tài sản chung của vợ,chồng vào việc thờ cúng thì tổng cộng giá trị của các tài sản có liên quan không được vượt quá một nửa giá trị khối tài sản chung của vợ chồng

3 CHỈ ĐỊNH GƯỜI QUẢN LÝ DI SẢN

3.1 Sự tiến triển cuả luật

Trang 7

Các nguyên tác được xác lập trong luật cổ, tục lệ và luật cận đại tùy theo người lập di sản thờ cúng có hay không có con trai

a) Trường hợp người lập di sản thờ cúng có con trai.

người có con trai phải giao di sản thờ cúng cho con trai Vả lại, con trai

trưởng được ưu tiên nhận tài sản Luật thời Lê quy dịnh rằng nếu con trai trưởng không hội đủ các điều kiện để giữ di sản thờ cúng thì di sản ấy được giao cho con trai thứ ( Bộ Quốc Triều Hình Luật 392) và cứ như thế mà đi tiếp xuống Bộ luật Gia Long lại nói rằng nếu con trai trưởng của vợ chính chết mà để lại con,thì di sản thờ cúng phải được giao cho con trai trưởng của người con đã chết (đích tôn); con trai thứ chỉ được gọi khi nào không có đích tôn Cách chỉ định sau cùng ấy được duy trì trong tục lệ và luật cận đại Tuy nhiên luật viết cận đại nói rằng nếu người đứng lập di sản thờ cúng và người được chỉ định là người thừa tự có sự xung khắc thường xuyên, thì người lập

di sản thờ cúng có thể chọn một người thừa tự khác theo thứ tự do luật định ( BLDS Bắc Điều 417; BLDS Trung Điều 426) : nếu xung khắc với con trưởng, thì con trưởng của con trưởng; nếu xung khắc với cả hai, thì chọn con thứ,…

b)Trường hợp người lập di sản thờ cúng không có con trai.

luật nhà Lê quy định rằng nếu không có con trai thì di sản thờ cúng được giao cho con gái quản lý và cũng thứ tự ( con trưởng,con thứ) (Bộ Quốc triều hình luật, Điều 391) Bộ luật gia long chịu ảnh huongr sâu rộng

tư tưởng Trung Hoa, nói rằng trong trường hợp này, người lập di chúc phải lựa chọn, theo thủ tục lập tự,một người thân thuộc bàng hệ trai thỏa mãn các điều kiện cần thiết về quan hệ huyết thống, tuổi tác,vai vế…để giao phó việc thờ cúng,chỉ khi nào gia đình không còn con, cháu trai thì con gái mới được

Trang 8

gọi để tiếp quản di sản thờ cúng Theo ủy ban tư vấn án lệ: nếu người có di sản là con trưởng va,do đó, có traxhs nhiệm thờ cúng tổ tiên, thì di sản thờ cúng , trong điều kiện không có con trai,phải được giao cho một người thừa

tự trai lựa chọn theo thứ tự do luật định; trái lại, người có di sản là con trai thứ và lập di sản thờ cúng cho mình(và vợ) có thể giao việc quản lý di sản thờ cúng cho con gái nếu không có con trai

Các BLDS Bắc, Trung chấp nhận các giải pháp trên

3.2 Giải pháp của luật thực định.

a) Nguyên tắc tự do chỉ định người quản lý di sản thờ cúng.

Do khoản 1 Điều 673 BLDS, người quản lý di sản thờ cúng do người lập

di sản thờ cúng chỉ định trong di chúc; nếu người lập di chúc không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế làm việc đó

Quy định thể hiện quan diểm rất thoáng về việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng trong luật thực định và điều đó phù hợp với xu hướng hiện đại

về dân chủ hóa đời sống gia đìnhn Người quản lý di sản thờ cúng có thể là con gái, cho dù người lập di chúc có con trai; có thể là người thân thuộc bang hệ chú, bác trong khi người lập di chúc có con ruột; có thể là con nuôi không có quan hệ huyết thống Thực tiễn công chứng hiện đại còn ghi nhận trường hợp người lập di sản thờ cúng giao việc quan lý di sản này cùng một lúc cho nhiều con hoặc thậm chí tất cả các con

Tất nhiên vốn là một chế định lâu đời, di sản thờ cúng chịu sự chi phối của nhiều quy tắc tục lệ trong đó có các quy tắc khắt khe về thứ tự chỉ định người quản lý di sản thờ cúng mà dân gian đã thuộc long nội dung và tự đọng tuân thủ như một thói quen Thế nhưng, cung cách điều chunhr phong khoáng của luật viết hiện hành nhất định sẽ tác động vào tình trạng hiện đại của tục lệ và se làm tục lệ trở nên mền dẻo Một cách logic có thể dự đoán

Trang 9

rằng nếu việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng do người lập di chúc thực hiện, thì tư tưởng tự do mà luật viết chịu ảnh hưởng sẽ tác động vào quá trình cân nhác để lựu chọn người sau này Trái lại, nếu những người thừa kế chỉ định người quản lý di sản thờ cúng , thì tục lệ nghiệt ngã sẽ nói tiếng nói củ nó

*) Những người thừa kế tham gia vào việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng theo luật viết hiện hành: Trong khuân khổ của luật viết, vấn đề chỉ được đặt ra trong hai giả thuyết:

+) Người quản lý di sản thờ cúng được chỉ định trong di chúc không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế +) Người lập di chúc có dành một phần di sản vào việc thờ cúng nhưng lại không chỉ định người quản lý phần di sản đó

Trong hai giả thuyết trên thì thứ hai chỉ có ý nghĩa lý thuyết Bởi vậy mà chỉcos giả thuyết thứ nhất được quan tâm Từ các dữ liệu của giả thuyết , ta thấy có hai loại người thừa kế: thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc

*) Những người tham gia vào việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng theo tục lệ và theo luật cận đại: Tục lệ và luật cận đại nói rằng khi cần có vai trò của các thành viên gia đình của người lập di sản thờ cúng trong việc quản lý d sản này thì các thành viên sẽ nhóm họp lại thành một thiết chế gọi

là đại hội đồng gia đình Thành phần của đại hội đồng đã từng rất cồng

kềnh, nhưng đã được đơn giản hóa theo thời gian

Các BLDS Bắc,Trung thừa nhận rằng thật ra nếu di sản thờ cúng do người đứng đầu một chi lập ra, thì đại hội đồng gia đinh chỉ gồm có các thành viên của chi; còn nếu di sản thờ cúng do chủ gia đình lập, thì đại hội đồng này gồm các thành viên trong gia đình

Trang 10

Ngày nay, rất hiếm thấy các đại hội đồng gai đình đồ sộ được triệu tập về các việc liên quan đến dòng họ Việc này dễ hiểu: các gia đình- hộ có cuộc sống riêng và cách sử dụng thì giờ riêng, koong ai giống ai Hơn nữa, việc thờ cúng chỉ dành cho cha, mẹ và ông nội, bà nội đã chết, ít khi đi xa hơn Trong điều kiện ấy việc triệu tập rộng rãi những người thân thuộc để bàn bạc

về việc chỉ định người quản lý di sản thờ cúng là không cần thiết

*) Sự kết hượp giữa tục lệ và pháp luật Vấn đề còn lại : Từ các phân tích trên đây,ta thấy nếu áp dụng các quy định của luật viết hiện hành vào trong thực tiễn, thì một cuộc họp giũa những người thừa kế sẽ chỉ gồm có cá đại diện của những người thừa kế theo pháp luật ở các hàng thừa kế chủ trì bởi người thừa kế có vai vế lớn nhất Trong trường hợp người thừa kế chết, thì người thừa kế của người có quyền tham gia vào việc cử người quản lý di sảm thờ cúng Và cứ tin rằng người thừa kế của người không có quyề hưởng

di sản thường hoặc của người bị truất quyền hưởng di sản thường cũng có quyền đó

Thế nhưng ngay lập tức sẽ có các vấn đề phát sinh : số người tập trung hội nghị thừa kế hợp lệ là bao nhiêu? Việc biểu quyết tuân theo nguyên tắc đa số hay nhất trí? Nếu hội nghị không chỉ định được người quản lý di sản thì tòa

án có quyền chỉ định hay không? Những vấn đề này đòi hỏi người làm luật phải ban hành những điều luật bổ sung

b) Chỉ định người quản lý di sản thờ cúng lập bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản.

Được coi là một tài sản đặc biệt trong luật hiện đại, quyền sử dụng đất được chuyển giao theo những quy định tương đối khắc khe hơn so với tài

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w