1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài tập học kỳ dân sự giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện của chủ thể và hậu quả pháp lý của GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

23 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 173,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây: a Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; b Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 0

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1

A Khái quát về GDDS GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể và các quy định của pháp luật hiện hành về GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 1

I GDDS và GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 1

1 Khái niệm GDDS và phân loại GDDS 1

2, Khái niệm GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 3

II, Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 3

1, Các loại GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể căn cứ theo nguyên nhân của sự vi phạm 3

2 Các loại GDDS vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể căn cứ vào mức độ của sự vi phạm 6

B Hậu quả pháp lý của GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 7

I Khái quát chung về hậu quả pháp lý trong GDDS 7

II Hậu quả pháp lý đối với GDDS vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 8

1 Đối với GDDS vô hiệu do giả tạo 8

2 Đối với GDDS vô hiệu do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình 8

3 Các hậu quả phát sinh khác 9

III Cách thức – thực tiễn áp dụng pháp luật trong xử lý hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí của chủ thể 9

1 Nếu nội dung thỏa thuận trong giao dịch chưa được các bên chủ thể thực hiện thì các bên không được phép thực hiện các nội dung đó 10

2 Nếu nội dung thỏa thuận trong giao dịch đã thực hiện một phần hoặc đã thực hiện xong thì chấm dứt việc thực hiện và tiến hành xử lý tài sản 10

IV Vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình khi GDDS bị tuyên bố vô hiệu 12

1 Điều kiện xác định người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu 12

2 Giải quyết hậu quả pháp lý GDDS vô hiệu khi có người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ 12

C Thực tiễn áp dụng pháp luật về GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể và Kiến nghị hoàn thiện 13

I Thực tiến áp dụng pháp luật về GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 13

1 GDDS vô hiệu do nhầm lẫn theo quy định của pháp luật 13

2 GDDS vô hiệu do bị lừa dối theo quy định của pháp luật 14

3 GDDS vô hiệu do giả tạo theo quy định của pháp luật 16

4 GDDS vô hiệu do bị đe dọa theo quy định của pháp luật 16

II Nguyên nhân tranh chấp về GDDS do vi phạm ý chí - kiến nghị hoàn thiện vấn đề vấn đề GDDS vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể 17

1 Nguyên nhân tranh chấp về giao dịch dân sự do vi phạm ý chí của chủ thể 17

2 Một số kiến nghị - giải pháp hoàn thiện vấn đề GDDS vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể 18

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 20

Trang 3

- Ở Việt Nam , trước khi có BLDS năm 2005, chúng ta chưa có quy định riêng

về GDDS mà chỉ được đề cập dưới góc độ là Hợp đồng dân sự (pháp lệnh Hợp đồngdân sự năm 1991) hoặc ý chí đơn phương của chủ thể trong việc lập di chúc (Pháplệnh thừa kế ngày 30/08/1990) BLDS năm 1995 đã chính thức đề cập đến GDDSvới quy định cụ thể về khái niệm, điều kiện có hiệu lực của giao dịch cũng nhưGDDS vô hiệu BLDS năm 2005 ra đời đã có những sửa đổi, bổ sung nhất địnhliên quan đến GDDS

- Điều 121 BLDS năm 2005 quy định “GDDS là hợp đồng hoặc hành vi pháp

lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”, phải nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định, chính là việc “làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Để được pháp luật bảo vệ và bảo đảm

thực hiện thì các quyền và nghĩa vụ đó phải được xác lập phù hợp với quy định phápluật

1.2 Đặc điểm:

Trang 4

- GDDS là hành vi pháp lý hợp pháp, phải thể hiện được ý chí của các bêntham gia giao dịch Khi tham gia GDDS, các chủ thể đều đạt được mục đích nhấtđịnh nhằm thoả mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh họat tiêu dùng Để đạtđược mục đích đó các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình và phải có sự thỏathuận thống nhất những nội dung mà họ đã thể hiện.

- Sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong các GDDS nhằm hướng đến một hậuquả pháp lý nhất định Không phải bất kỳ hành vi pháp lý nào dưới dạng hợp đồnghoặc hành vi pháp lý đơn phương đều được coi là GDDS Chỉ khi nào hành vi đónhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự với các chủthể khác thì thì mới được coi là GDDS

- Các bên tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện Đây là nguyên tắcquan trọng trong quá trình thiết lập giao dịch GDDS là sự phản ánh tính thống nhấtgiữa ý chí và thể hiện ý chí của các chủ thể Một GDDS vi phạm sự tự nguyện củacác chủ thể có thể dẫn đến giao dịch đó bị vô hiệu

- Như thế có thể hiểu, GDDS là sự thể hiện ý chí một cách tự nguyện của cácchủ thể phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặcchấm dứt các quyền và nghĩa vụ đân sự Qua đó góp phần làm cho giao lưu dân sựphát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội

1.3 Điều kiện có hiệu lực của GDDS: quy định tại Điều 122 BLDS năm 2005.

“1 GDDS có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức GDDS là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.”

Trang 5

- Hành vi pháp lí đơn phương là giao dịch, trong đó thể hiện ý chí của một bênnhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Ví dụ: Dichúc, từ chối hưởng thừa kế, hứa thưởng

Thông thường hành vi pháp lí đơn phương được xác lập theo ý chí của mộtbên chủ thể duy nhất, có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia vào một bên của giaodịch ( hai cá nhân, tổ chức cùng tham gia, hứa thưởng )

b, Căn cứ vào hình thức của GDDS: có thể phân GDDS thành 3 loại:

- GDDS thể hiện bằng lời nói

- Sự kiện được coi là điều kiện của giao dịch do chính người xác lập giao dịchđịnh ra Nó phải là sự kiện thuộc về tương lai, k phụ thuộc vào ý chí chủ quan củacác chủ thể trong GDDS và phải hợp pháp

2, Khái niệm GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

- Trong GDDS, sự tự nguyện được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ýchí của chủ thể Khi tham gia GDDS thì sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí phải thốngnhất với nhau như 2 mặt của một vấn đề

- Pháp luật dân sự nước ta quy định, một trong các điều kiện có hiệu lực củaGDDS là người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện Vì vậy, hành vi viphạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể có thể dẫn đến giao dịch bị vô hiệu Viphạm sự tự nguyện về ý chí là sự không thống nhất giữa ý chí thực ( tự do ý chí) vàbiểu hiện của ý chí ( bày tỏ ý chí ) ra bên ngoài của chủ thể

- Như vậy, ta có thể hiểu, GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là GDDS

mà ý chí của các chủ thể trong giao dịch đó không có sự thống nhất giữa tự do ý chí

và bày tỏ ý chí của một hoặc các bên tham gia giao dịch Sự vi phạm đó có thể dẫn

đến hậu quả pháp lí là làm vô hiệu GDDS

II, Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

1, Các loại GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể căn cứ theo nguyên nhân của sự vi phạm

Trang 6

1.1, GDDS xác lập do nhầm lẫn

- Nhầm lẫn đơn phương là nhầm lẫn chỉ của một bên Hầu hết các trường hợp

mà trong đó sự nhầm lẫn đơn phương xảy ra khi các bên không thống nhất cách hiểu

về một phần hay toàn bộ nội dung của GDDS

- Nhầm lẫn chung: Các bên cùng nhầm lẫn về nội dung của GDDS Nhầm lẫntương hỗ: sự nhầm lẫn của hai bên chủ thể, mỗi bên nhầm lẫn về một vấn đề khácnhau mà dẫn đến xác lập giao dịch

- Nhầm lẫn về luật: là sự hiểu sai luật đưa đến một cam kết không đúng vớimong muốn của người cam kết

* Nhầm lẫn phải tồn tại ở thời điểm xác lập giao dịch, có nghĩa là nhận thức của bênnhầm lẫn về nội dung của giao dịch và sự thật về nội dung này phải được xác lập tạithời điểm giao kết

* Nhầm lẫn được xác định do lỗi vô ý Theo Điều 131 BLDS “ Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của GDDS mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu ”.

* Ví dụ: A mua một cái tivi mới nhưng chưa sử dụng B thích nên đề nghị mualại, A đồng ý Khi B mang về sử dụng thì phát hiện không phải là tivi mới mà là tivi

cũ được sơn sửa lại Trong trường hợp này, A cũng không biết tivi đó là tivi cũ đượcsơn sửa lại nên mới mua về Trong giao dịch này, cả A và B đều cùng nhầm lẫn( hiểu sai ) về một vấn đề

1.2 Giao dịch dân sự do lừa dối

- Theo Điều 132 BLDS năm 2005 “ Khi một bên tham gia GDDS do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố GDDS là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của GDDS nên đã xác lập giao dịch đó.”

- Sự lừa dối là yếu tố quyết định đối với việc bên bị lừa dối xác lập GDDS.Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì bênkia sẽ không xác lập giao dịch

- Điều kiện để xác định hành vi có phải lừa dối trong giao kết là:

+ Phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên

Trang 7

+ Người bị xác lập giao dịch do lừa dối phải không biết đến sự sai lệch đó.

- Thực tế, không phải trường hợp nào diễn ra sự sai lệch về sự việc nhằm làmcho đối phương giao kết giao dịch cũng được coi là lừa dối Nếu trong trường hợpnói sai về sự việc mà không ảnh hưởng đến việc quyết định tham gia giao dịch nhưngười bán hàng nói nói giá quá cao hay giới thiệu không đúng sự thật về hàng hóacủa mình thì không bị xem là lừa dối

- Ví dụ: A muốn bán hết số ngô loại 2 trong kho đã có dấu hiệu bị mốc nênmang 1 bao ngô loại 1 ra giới thiệu với B khi anh này đến xem chất kượng ngô của

A Sau khi xem, B quyết định mua 1 tấn ngô với chất lượng như đã xem (ngô loại1) A đồng ý Sau khi ký hóa đơn và nhận hàng về, B phát hiện số ngô mình muakhông phải ngô loại 1, mà ngô loại 2 đã có dấu hiệu ẩm mốc Như vậy, A đã lừa dối

B để B xác lập giao dịch với mình

1.3, GDDS xác lập do bị đe dọa

Điều 132 BLDS “Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha,

mẹ, vợ, chồng, con của mình.”

- Như vậy, để hành vi đe dọa trở thành căn cứ xác định 1 GDDS vô hiệu cầncác điều kiện:

+ Việc đe dọa có thể do một bên tham gia xác lập GDDS thực hiện hoặc cũng có thể

do người thứ ba ngay tình thực hiện

+ Sự đe dọa đó làm cho ý chí được tuyên bố của người bị đe dọa không phản ánhđúng ý chí của họ mà là bị đe dọa để tuân theo ý chí của đối phương

Ví dụ: A buộc B phải bán cho mình nông phẩm với giá rẻ hơn giá thị trường

B không chịu nhưng bị A đe dọa nếu không nếu không bán, A sẽ không cho B thuê

ki ốt đang bán hàng hiện tại của B (do A là chủ sở hữu) Không muốn mất mặt bằngbán hàng vì hợp đồng thuê đã gần hết hạn nên B buộc phải bán nông phẩm cho Avới giá rẻ

1.4, GDDS xác lập giả tạo

- Điều 129 BLDS quy định “ Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của bộ luật này Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhắm trốn tránh nghĩa

vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu”.

Trang 8

- Bản chất của giao dịch giả tạo: giao dịch mang tính hình thức nhắm che giấumột hoạt động khác, nó được thiết lập không dựa trên ý chí đích thực của các bên.Thường nó được xác lập với mục đích nhắm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba(với Nhà nước) để che giấu một hành vi bất hợp pháp.

- Có 2 dạng giao dịch giả tạo: giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác (có

2 giao dịch: giao dịch giả tạo, giao dịch bị che giấu) và giao dịch giả tạo nhằm trốntránh nghĩa vụ với người thứ ba (thực tế không có giao dịch nào)

- Ví dụ: A bị kê biên tài sản nhưng trước khi bị kê biên A đã thỏa thuận với Bmột số tài sản lớn của A là thuê của B, nhưng thực tế là của A Hoặc A, B giao kếthợp đồng tặng cho tài sản nhằm che giấu hợp đồng gửi giữ một tài sản nào đó

1.5, GDDS được thiết lập do người không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

- Điều 133 BLDS năm 2005 quy định “ Người có năng lực hành vi đân sự nhưng đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố GDDS đó là vô hiệu”.

- Việc không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình được hiểu là ngườithực hiện hành vi có những biểu hiện bất hợp lý mà bất cứ một người có khả năngnhận thức bình thường nào trong một hoàn cảnh bình thường sẽ không hành độngnhư vậy Do việc xác lập GDDS của người đó ở một thời điểm này được coi làkhông dựa trên cơ sở của sự tự nguyện nên giao dịch được xác lập cũng không cóhiệu lực

- Ví dụ: A say rượu có xác lập hợp đồng với B với nội dung cho B chiếc xe tay

ga Dylan mà mình là chủ sở hữu Hôm sau tỉnh rượu A nhận ra mình không tỉnh táotrong khi giao kết hợp đồng và những người trong bữa tiệc rượu cũng có thể chứngminh điều đó Do vạy hợp đồng mà A đã xác lập với B sẽ không có hiệu lực

2 Các loại GDDS vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể căn cứ vào mức độ của sự vi phạm

2.1 GDDS vô hiệu tuyệt đối do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

- GDDS vô hiệu tuyệt đối là những giao dịch vi phạm ý chí của một hay cả haibên chủ thể tham gia trong các trường hợp:

+ Giao dịch được xác lập giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc để trốntránh nghĩa vụ với người thứ ba

+ Giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Trang 9

+ Khi giao dịch của pháp nhân vượt ra ngoài lĩnh vực hoạt động được cho phépđăng ký.

+ Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ theo cá quy định bắt buộc của phápluật

+ Khi giao dịch được xác lập bởi người mất năng lực hành vi dân sự, người không

có năng lực hành vi dân sự

- GDDS giả tạo là GDDS vô hiệu tuyệt đối Nó bị vô hiệu ngay từ khi xác lậpgiao dịch và không bị giới hạn về thời hiệu tuyên bố GDDS vô hiệu GDDS giả tạokhông chống lại sự tự do lựa chọn của các bên nhưng giao dịch đó được xác lậpnhằm tạo ra một hậu quả pháp lý giả dối, không đúng với sự thực về mối quan hệgiữa các bên, chống lại ý chí của nhà làm luật trong việc kiểm soát GDDS nhằm bảo

vệ trật tự cộng đồng xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, trung thực trong giao lưu dânsự

- Các giao dịch thiết lập trong trường hợp này mặc nhiên bị coi là vô hiệu vàthời hạn yêu cầu Tòa án tuyên bố là vô hiệu là không hạn chế như các trường hợp vôhiệu tương đối (trừ trường hợp giao dịch thực hiện không tuân thủ hình thức bắtbuộc theo quy định vẫn có thời hiệu khởi kiện là 2 năm) GDDS vô hiệu tuyệt đốikhông cần có quyết định của Tòa án vẫn mặc nhiên bị coi là vô hiệu Quyết định củaTòa án trong trường hợp này chỉ mang tính hình thức, công nhận sự vô hiệu củagiao dịch trên cơ sở luật định, xác định rõ hơn hậu quả pháp lý của vi phạm để cácbên khắc phục

2.3 GDDS vô hiệu tương đối do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

- GDDS vô hiệu tương đối là giao dịch có sự vi phạm ý chí của một hoặcnhiều bên tham gia giao dịch trong các trường hợp sau:

+ Khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn

+ Khi một bên chủ thể tham gia xác lập giao dịch do bị lừa dối, đe dọa

+ Khi người xác lập giao dịch không nhận thức, làm chủ được hành vi

- Các giao dịch do những chủ thể trong các trường hợp nêu trên thực hiện giaodịch chỉ bị coi là vô hiệu khi hội đủ những điều kiện nhất định:

+ Khi có đơn yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan (bản thân họ hoặcngười đại diện của họ)

+ Có quyết định của Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu Theo đó, nếu không cóđơn của người bị thiệt hại hoặc người có quyền và lợi ích liên quan yêu cầu Tòa ántuyên bố vô hiệu thì 2 bên vẫn tiến hành thực hiện theo thỏa thuận của họ

Trang 10

- Các giao dịch vô hiệu tương đối quy định tại các điều luậtcó thời hiệu yêu cầuTòa án tuyên bố vô hiệu là 2 năm kể từ ngày giao dịch được xác lập (Theo Điều

136 BLDS năm 2005)

B Hậu quả pháp lý của GDDS vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

I Khái quát chung về hậu quả pháp lý trong GDDS

- Khi GDDS vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể thì giao dịch đókhông làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên.GDDS vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể chính là vi phạm một trong nhữngđiều kiện có hiệu lực của GDDS do pháp luật quy định Chính vì thế, khi GDDSkhông đáp ứng được điều kiện về ý chí của chủ thể có thể dẫn tới bị vô hiệu Khi đó,pháp luật sẽ không thừa nhận hiệu lực pháp lý của giao dịch và nó sẽ không làmphát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các chủ thể giao kết giaodịch

- Trong khoa học pháp lý, hậu quả pháp lý là sự bất lợi cho các cá nhân, tổchức khi hành vi của họ bị pháp luật xác định là hành vi vi phạm pháp luật Khi cácchủ thể tham gia vào một quan hệ nhất định mà hành vi của họ là trái pháp luật thì,trong từng quan hệ cụ thể phải chịu những hậu quả pháp lý được điều chỉnh bởinhững ngành luật khác nhau Trong lĩnh vực dân sự thì hậu quả pháp lý xuất phát từhành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khác hoặc khi GDDS bị vô hiệu

- Khi một GDDS bị vô hiệu các chủ thể tham gia vào giao dịch phải gánh chịunhững hậu quả nhất định do pháp luật quy định Hậu quả pháp lý trong GDDSthường dẫn đến sự bất lợi về tài sản (lợi ích vật chất) nằm ngoài ý chí và sự mongmuốn của chủ thể

GDDS vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập 2 Khi GDDS vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”

II Hậu quả pháp lý đối với GDDS vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện của chủ thể

1 Đối với GDDS vô hiệu do giả tạo

Giao dịch này đương nhiên bị vô hiệu kể từ thời điểm giao kết Do đó, giaodịch này sẽ không phát sinh hiệu lực pháp lý Nếu giao dịch chưa được thực hiện thì

Trang 11

các bên không được thực hiện giao dịch nữa Trong trường hợp, giao dịch đang thựchiện thì các bên phải dừng ngay việc thực hiện, không tiếp tục thực hiện giao dịch

từ thời điểm các bên giao kết Do đó, sẽ không làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứtquyền và nghĩa vụ dân sự của các bên

- Trong trường hợp người xác lập giao dịch không nhận thức và làm chủ đượchành vi của mình nên đã xác lập giao dịch nhưng họ không khởi kiện yêu cầu Tòa

án tuyên bố giao dịch vô hiệu thì giao dịch đã ký vẫn được pháp luật thừa nhận hiệulực pháp lý và các bên chủ thể tham gia giao kết giao dịch vẫn tiếp tục phải thựchiện các điều khoản đã được thỏa thuận trong hợp đồng Hay nói cách khác, giaodịch mà các bên đã tham gia vẫn làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,nghĩa vụ dân sự giữa các chủ thể

3 Các hậu quả phát sinh khác

- Các bên chủ thể sẽ phải khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhaunhững gì đã nhận, nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằngtiền

- Nhà nước sẽ tiến hành tịch thu tài sản trong một số trường hợp quy định củapháp luật:

- Nếu các bên chủ thể lợi dụng tính tự do quá mức xâm phạm tới lợi ích Nhànước, lợi ích công cộng và lợi ích của người thứ ba thì họ sẽ phải chịu những chế tài

mà pháp luật đã quy định dự liệu trước, và tịch thu tài sản là một chế tài nghiêmkhắc nhất mà pháp luật dân sự quy định đối với GDDS vô hiệu Tài sản bị tịch thu làtài sản trong hợp đồng và có thể là hoa lợi, lợi tức thu được từ hợp đồng

- Trong các trường hợp GDDS vô hiệu do vi phạm ý chí chủ thể, ta thấy hậuquả pháp lý này chỉ có thể được áp dụng đối với các trường hợp GDDS vô hiệu do

bị lừa dối (đe dọa) Bởi lẽ, Trong các trường hợp này đều có lỗi cố ý của một (cả haibên) chả thể tham gia và nó xâm phạm tới lợi ích của người thứ ba

- Bên nào có lỗi gây thiệt hại sẽ phải bồi thường:

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w