1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN NIỆM TRUYỀN SINH TRONG HÔN NHÂN CỦA CÔNG GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

235 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 235
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước những tiền đề này, câu hỏi đặt ra là các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM hiện nay đã thay đổi trong nhận thức về quan niệm truyền sinh, đồng thời theo đó là n

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYỄN TƯỜNG OANH

QUAN NIỆM TRUYỀN SINH TRONG HÔN NHÂN CỦA CÔNG GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN NGUYỄN TƯỜNG OANH

QUAN NIỆM TRUYỀN SINH TRONG HÔN NHÂN

CỦA CÔNG GIÁO VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG CÔNG GIÁO HIỆN NAY

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam kết luận án tiến sĩ “Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh.” Do chính tác giả nghiên cứu và thực hiện Các dữ liệu, số liệu và thông tin được sử dụng trong luận án hoàn toàn trung thực và chính xác Tất cả những sự giúp đỡ và phối hợp cho việc thực hiện luận án này đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

Trần Nguyễn Tường Oanh

Trang 5

MỤC LỤC

Phần mở đầu 1

Chương Một: Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.1 Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân Công giáo 8

1.2 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 11

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 19

Chương hai: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 28

2.1 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án 28

2.2 Lý thuyết nghiên cứu 33

2.3 Cách tiếp cận nghiên cứu 43

2.4 Câu hỏi nghiên cứu 45

2.5 Giả thuyết nghiên cứu 46

2.6 Khung nghiên cứu 46

2.7 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 49

Chương ba: Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của giáo hội Công giáo và Thực trạng nhận thức về truyền sinh của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 54

3.1 Quan niệm truyền sinh của giáo hội Công giáo 54

3.2 Thực trạng nhận thức về truyền sinh của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 62

3.3 Thực trạng nhận thức về chương trình Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi khả sản tại thành phố Hồ Chí Minh 94

Chương bốn: Nhận thức, thái độ và hành vi sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh 101 4.1 Kiến thức kiểm soát sinh sản 101

4.2 Nhận thức kiểm soát sinh sản 103

4.3 Thái độ kiểm soát sinh sản 105

4.4 Hành vi sử dụng biện pháp tránh thai 106

4.5 Mong đợi của các cặp vợ chồng Công giáo đối với chương trình Kế hoạch hóa gia đình 145

Phần kết luận và kiến nghị 149

Phần phụ lục 172

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Phân bố phần trăm đặc điểm kinh tế - xã hội của dân số nghiên cứu 65 Bảng 3.2 Phân bố phần trăm lý do ưa thích hôn nhân hiện đại của giáo dân Công

Giáo TP.HCM 69 Bảng 3.3 Ý kiến về mục đích hôn nhân của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản phân theo mộ đạo 70 Bảng 3.4 Phân bố phần trăm tuổi kết hôn mong đợi của các thế hệ giáo dân Công

giáo TP.HCM 74 Bảng 3.5 Phân bố phần trăm ý kiến của giáo dân Công giáo TP.HCM về hôn nhân,

tình dục và sinh sản 76 Bảng 3.6 Phân bố phần trăm ý kiến về số con mong muốn phân theo nhận định lợi

ích và mất mát của con cái về mặt kinh tế của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 83 Bảng 3.7 Số con mong muốn của giáo dân Công giáo TP.HCM 84 Bảng 3.8 Phân bố phần trăm ý kiến có nghe cụm từ “Sinh sản có trách nhiệm” của

các thế hệ giáo dân Công giáo TP.HCM 86 Bảng 3.9 Nhận thức sinh sản có trách nhiệm của giáo dân Công giáo TP.HCM 88 Bảng 3.10 Nhận thức về giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự nhiên” của giáo dân

Công giáo TP.HCM 91 Bảng 3.11 Thái độ về giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự nhiên” của giáo dân

Công giáo TP.HCM (%) 92 Bảng 3.12 Phân bố phần trăm ý kiến của giáo dân Công giáo TP.HCM về tính cần

thiết của chương trình KHHGĐ 95 Bảng 3.13 Tương quan giữa đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, nhận thức cá nhân

và ý kiến về tính cần thiết của chương trình KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 97 Bảng 4.1 Kiến thức KHHGĐ và BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản 102 Bảng 4.2 Sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản phân

theo ý kiến về giáo điều và quan niệm truyền sinh truyền thống 113 Bảng 4.3 Sử dụng BPTT phân theo ý kiến giáo điều “Bắt buộc sử dụng BPTT tự

nhiên” nên thay đổi” 114

Trang 8

Bảng 4.4 Lý do sử dụng các BPTT tự nhiên và nhân tạo của các cặp vợ chồng Công

giáo trong tuổi sinh sản (Chọn 3 ưu tiên) 114 Bảng 4.5 Phân bố phần trăm tỷ lệ sử dụng BPTT (CPR) trước đây và hiện nay của

các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 116 Bảng 4.6 Thuận lợi/khó khăn khi sử dụng các biện pháp tránh thai của các cặp vợ

chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 123 Bảng 4.7 Dự định sử dụng biện pháp tránh thai trong thời gian tới của nhóm thanh

niên Công giáo độc thân và các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 126 Bảng 4.8 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản phân theo nơi cư trú 129 Bảng 4.9 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản phân theo độ tuổi 130 Bảng 4.10 Phân bố phần trăm sử dụng BPTT (CPR) hiện nay của các cặp vợ chồng

Cônggiáo trong tuổi sinh sản phân theo cấp học cao nhất 130 Bảng 4.11 Số năm đi học trung bình của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản phân theo sử dụng BPTT 131 Bảng 4.12 Trung bình thu nhập tháng bình quân đầu người của các cặp vợ chồng

Công giáo trong tuổi sinh sản sử dụng BPTT 132 Bảng 4.13 Tỷ lệ phần trăm về quyền quyết định trong gia đình của các cặp vợ

chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 134 Bảng 4.14 Mô tả các biến số độc lập và biến số phụ thuộc của hành vi sử dụng

BPTT nhân tạo, sử dụng bao cao su và sử dụng vòng tránh thai 138 Bảng 4.15 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân

sử dụngBPTT nhân tạo 141 Bảng 4.16 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân

sử dụng bao cao su 142 Bảng 4.17 Logistic regression dự báo các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cá nhân

sử dụngvòng tránh thai 143

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ yêu thích loại hình hôn nhân hiện đại của giáo dân Công giáo

TP.HCM 68 Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ đồng ý nhận định mục đích hôn nhân “Có người chia sẻ trong

cuộc sống” của các thế hệ Công giáo TP.HCM 72 Biểu đồ 3.3 Tuổi kết hôn mong đợi trung bình của các cặp vợ chồng Công giáo

trong tuổi sinh sản và nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi 73 Biểu đồ 3.4 Đánh giá lợi ích và mất mát về kinh tế, tâm lý và bản thân do con cái

mang lại của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản (%) 78 Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ các thế hệ giáo dân cho rằng con trai và con gái đóng vai trò quan

trọng như nhau trong các vấn đề trong cuộc sống gia đình 80 Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ đồng ý về các nhận định liên quan đến kiểm soát sinh sản của các

cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản và nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi 104 Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh

sản trước đây và hiện nay 108 Biểu đồ 4.3 Chuyển đổi về BPTT sử dụng từ trước đây sang hiện nay của các cặp

vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 116 Biểu đồ 4.4 Sử dụng BPTT của nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi và các cặp vợ

chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 118 Biểu đồ 4.5 Các loại BPTT sử dụng của nhóm giáo dân Công giáo cao tuổi và các

cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 119 Biểu đồ 4.6 Các loại BPTT sử dụng hiện nay và trong tương lai của các cặp vợ

chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 124 Biểu đồ 4.7 Dự định sử dụng BPTT trong tương lai của nhóm thanh niên Công giáo

độc thân và các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản 127

Trang 10

DANH MỤC HỘP

Hộp 3.1 Lý do “Sinh sản” không phải là ưu tiên nhất của các cặp vợ chồng Công

giáo trong tuổi sinh sản 71 Hộp 3.2 Lý do chấp nhận quan hệ tình dục ngoài hôn nhân của các cặp vợ chồng

Công giáo trong tuổi sinh sản 77 Hộp 4.1 Lý do sử dụng phương pháp tính theo vòng kinh của các cặp vợ chồng

Công giáo trong tuổi sinh sản 109 Hộp 4.2 Lý do sử dụng bao cao su của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh

sản 111 Hộp 4.3 Lý do không sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi

sinh sản 117

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Khung nghiên cứu 47

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một phạm trù đặc biệt thuộc lĩnh vực tâm linh, có sức bao trùm sâu rộng trong nếp nghĩ, nếp cảm và những sinh hoạt đời thường của từng cá nhân, từng cộng đồng và trở thành lương tâm, thành lẽ sống xuyên suốt những dấu mốc

“lễ nghi đời người” như quan, hôn, tang, tế Thậm chí ngay cả quan hệ nam nữ,

mang thai, sinh sản cũng có tác động của tôn giáo Sinh sản đã trở thành giá trị, chuẩn mực không thể thiếu đối với mỗi cá nhân trong mỗi tôn giáo nhất định

Quan niệm sinh sản của mỗi tôn giáo được hình thành từ những bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau và mang sắc thái riêng Chẳng hạn: Nho giáo quan niệm phải sinh cho bằng được con trai để nối dõi tông đường; Ấn giáo thì buộc phụ nữ phải sinh cho được con trai để đàn ông có thể “tái sinh” ở kiếp sau [41]; Hồi giáo có quan niệm đa thê là một điều cần thiết để gia tăng sinh sản khi số nam giới Hồi giáo bị hao mòn liên tục vì chiến trận liên miên(1); còn Công giáo quan niệm đời sống hôn nhân là truyền sinh(2)

Theo Công giáo, truyền sinh là hành vi sinh sản diễn ra trong hôn nhân - có nghĩa là nam, nữ sau khi kết hôn có nhiệm vụ sinh sản

và không được tác động ngăn chặn tiến trình sinh sản bằng mọi biện pháp nhân tạo

Quan niệm truyền sinh đã từng phù hợp với thời kỳ sơ khai khi dân số còn quá ít Trải qua nhiều biến cố của thời đại, đặc biệt là sức ép của bùng nổ dân số toàn cầu, Giáo hội Công giáo đã quan tâm đến kiểm soát dân số Do đó, chuẩn mực truyền sinh đã có nhiều thay đổi theo thời gian nhưng ít nhiều vẫn còn hướng về giá trị truyền thống với ý nghĩa truyền sinh theo bản tính tự nhiên Công đồng Vaticano

II cho phép các cặp vợ chồng Công giáo khi có lý do chính đáng được điều hòa sinh sản (nghĩa là kiểm soát sinh sản) bằng cách sử dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) tự nhiên [83]

Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng, quá trình Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) cùng với sự thay đổi hình thái kinh tế và quan hệ xã hội hay những thay đổi về chuẩn mực và đời sống văn hóa tạo nên những tiền đề làm biến đổi quan niệm truyền sinh của người Công giáo Những tiền đề đó là, thứ nhất, trong bối cảnh du nhập các giá trị mới từ văn hóa

Trang 12

phương Tây, những chuẩn mực, giá trị truyền sinh của giáo dân như sinh sản, số con mong đợi, tình dục và sử dụng BPTT có thể ít nhiều cũng thay đổi Thứ hai, Việt Nam là quốc gia dân số đông nên kiểm soát sinh sản là yêu cầu cần thiết đối với mỗi người dân, trong đó có cả người Công giáo Thứ ba, với sự tiến bộ y học, nhiều công cụ tránh thai với cách sử dụng đơn giản và mang lại hiệu quả cao lần lượt ra đời Đồng thời, sự ra đời của Chương trình Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) từ đầu thập niên 60 của thế kỷ XX cũng như sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận với các BPTT Trước những tiền đề này, câu hỏi đặt ra là các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM hiện nay đã thay đổi trong nhận thức về quan niệm truyền sinh, đồng thời theo đó là những thay đổi về hành vi kiểm soát sinh sản và sử dụng BPTT của mình hay chưa

Trong 03 thập kỷ vừa qua, Việt Nam là quốc gia có mức gia tăng dân số cao

và nhiệm vụ cơ bản của chương trình dân số là kiểm soát và giảm được mức sinh Qua nhiều năm kiên trì thực hiện chương trình KHHGĐ, Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế (Tổng tỷ suất sinh - TFR bằng 2,1) vào năm 2004 Nghị quyết số 21-NQ/TW ban hành ngày 25/10/2017 về công tác dân số nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của chương trình dân số của Việt Nam thời kỳ mới là nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của kiểm soát mức sinh như duy trì vững chắc mức sinh thay thế (vì yếu tố này cũng ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng dân số), nguyên nhân do quy mô dân

số và lực lựợng sinh sản của Việt Nam vẫn còn lớn nên tiềm năng gia tăng mức sinh vẫn còn cao Để đạt được mục tiêu kiểm soát mức sinh, chương trình KHHGĐ cần

có các giải pháp giáo dục dân số và cung cấp các dịch vụ tránh thai thích hợp cho người dân, đặc biệt là các nhóm dân số đặc thù, như nhóm dân số Công giáo

Bên cạnh đó, tại Việt Nam, nghiên cứu các khía cạnh xã hội thuộc lĩnh vực tôn giáo vẫn còn ít, đặc biệt là những nghiên cứu về mối quan hệ giữa tôn giáo với vấn đề sinh sản và KHHGĐ lại càng ít hơn Do đó, cần thiết có thêm nhiều nghiên cứu thực nghiệm về những vấn đề liên quan đến tôn giáo và sinh sản

Dựa vào những lập luận trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài “Quan

niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo và Kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng Công giáo hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tốt

Trang 13

biến đổi trong nhận thức truyền sinh) và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo tại TP.HCM qua việc sử dụng BPTT của họ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu những biến đổi nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM và thực trạng KHHGĐ (kiểm soát sinh sản) qua sử dụng BPTT của họ Các phát hiện nghiên cứu đóng góp về mặt lý luận và ứng dụng thực tiễn đối với lĩnh vực thuộc đề tài KHHGĐ nói riêng và Xã hội học nói chung, và đồng thời đưa

ra những kiến nghị hỗ trợ cho cơ quan chức năng đề ra các chính sách KHHGĐ phù hợp và hiệu quả cho cộng đồng Công giáo tại TP.HCM cũng như tại Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án này bao gồm các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

1- Tìm hiểu và khái quát những thay đổi nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân của giáo hội Công giáo

2- Khảo sát thực trạng nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM

3- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về truyền sinh trong hôn nhân và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại TP.HCM

4- Đưa ra các kiến nghị phù hợp để thực hiện có hiệu quả chính sách KHHGĐ đối với cộng đồng Công giáo tại TP.HCM cũng như tại Việt Nam

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quan niệm truyền sinh trong hôn nhân

và KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo trong độ tuổi sinh sản tại TP.HCM hiện nay

3.2 Khách thể nghiên cứu

Trang 14

Khách thể nghiên cứu là các cặp vợ chồng Công giáo tuổi sinh sản, đây là nhóm nghiên cứu chính của luận án Bên cạnh đó, các cặp vợ chồng Công giáo cao tuổi và nhóm thanh niên Công giáo độc thân được chọn làm nhóm phân tích so sánh với nhóm dân số chính Ngoài ra, để có kết luận bao quát và đầy đủ về vấn đề nghiên cứu, các linh mục quản xứ tại các giáo xứ cũng là một trong những khách thể nghiên cứu quan trọng trong việc cung cấp những thông tin liên quan đến đề tài

3.3 Phạm vi nghiên cứu

3.3.1 Phạm vi không gian

Nghiên cứu thực hiện tại TP.HCM Địa điểm khảo sát bao gồm: Quận Bình Thạnh là một trong những quận thuộc trung tâm TP.HCM - nơi đô thị hóa ổn định, quận Thủ Đức thuộc khu vực vùng ven trung tâm TP.HCM - nơi đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ và Huyện Nhà Bè ở khu vực ngoại ô TP.HCM - nơi đô thị hóa mới bắt đầu Sự lựa chọn các khu vực khảo sát này nhằm nhận dạng sự khác biệt trong nhận thức và hành vi giữa các nhóm giáo dân Công giáo cư trú tại những khu vực

đô thị hóa khác nhau Tại mỗi quận/huyện được chọn khảo sát, nghiên cứu này chọn một giáo xứ đại diện để khảo sát, bao gồm: Giáo xứ Thanh Đa thuộc quận Bình Thạnh, giáo xứ Fatima Bình Triệu thuộc quận Thủ Đức và giáo xứ Phú Xuân thuộc huyện Nhà Bè Các giáo xứ được khảo sát có đặc điểm là giáo xứ lớn nhất trong quận/huyện, có nhiều hoạt động sinh hoạt, truyền thông tôn giáo đa dạng thu hút giáo dân trong giáo xứ và các giáo xứ khác trong địa bàn quận/huyện đến tham gia

3.3.2 Phạm vi thời gian

Thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 6 - 12/2012

Thời gian thực hiện luận án bắt đầu từ năm 2012-2017

Thời gian CNH-HĐH được phân tích trong nghiên cứu này giới hạn từ năm

1990 đến nay Lý do luận án chọn năm 1990 là thời điểm bắt đầu nghiên cứu là: Vào năm 1986, Nhà nước ban hành chính sách đổi mới với đặc trưng chuyển đổi nền kinh tế tập trung và kế hoạch sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Từ năm 1990 trở đi, quá trình đổi mới diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực

Trang 15

24 về công tác tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân phù hợp với luật pháp cũng như đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo và đời

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng phương pháp luận của khoa học chuyên ngành xã hội học, dựa trên cơ sở của lý thuyết chức năng, lý thuyết thế tục hóa, lý thuyết lựa chọn hợp

lý và lý thuyết quan niệm về sinh sản

Hướng tiếp cận nghiên cứu của luận án là sự kết hợp liên ngành trong nghiên cứu (Xã hội học, Xã hội học tôn giáo, Dân số học và Tâm lý học) Cụ thể: Phân tích theo hướng tiếp cận hệ thống, tiếp cận văn hóa và tiếp cận theo quan điểm giới của

Xã hội học Tiếp cận phân tích niềm tin tôn giáo của Xã hội học tôn giáo Tiếp cận phân tích đồng hệ (Cohort) của Dân số học Đồng thời, luận án sử dụng cách tiếp cận phân tích dựa trên mô hình KAP của ngành Tâm lý học

Trang 16

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chính của toàn bộ luận án là nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính Nghiên cứu định lượng với 240 bảng hỏi, nhóm nghiên cứu chính là các cặp vợ chồng Công giáo tuổi sinh sản chiếm tỷ lệ 50% tổng bảng hỏi Hai nhóm còn lại (Giáo dân Công giáo cao tuổi và thanh niên Công giáo độc thân) là nhóm đối chiếu, mỗi nhóm chiếm tỷ lệ 25% tổng bảng hỏi Nghiên cứu định tính với 12 cuộc phỏng vấn sâu (9 cuộc phỏng vấn các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản và 3 cuộc phỏng vấn cho linh mục quản xứ) Nghiên cứu định tính nhằm minh họa cho những kết quả phân tích từ nghiên cứu định lượng

Phương pháp nghiên cứu cụ thể cho các phần của luận án bao gồm:

+ Phương pháp nghiên cứu mô tả: mô tả và phân tích đặc điểm kinh tế-văn

hóa-xã hội cùng với thực trạng nhận thức, thái độ, niềm tin về hôn nhân và sinh sản cũng như hành vi sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo

+ Phương pháp so sánh-đối chiếu: tiến hành so sánh - đối chiếu nội dung

nghiên cứu với các nhóm dân số nhằm thấy rõ hơn bản chất của vấn đề nghiên cứu

Cụ thể, (1) Đối chiếu giữa nhóm dân số nghiên cứu với nhóm dân số trên độ tuổi sinh sản và nhóm dân số chưa kết hôn và (2) Đối chiếu sự tương đồng và dị biệt giữa các nhóm dân số phân chia theo từng nhóm tuổi và lòng mộ đạo và ít mộ đạo

+ Phương pháp nghiên cứu nhân-quả: xem xét mối quan hệ giữa các biến số

đặc điểm kinh tế-văn hóa-xã hội của cá nhân, mộ đạo, nhận thức, thái độ và sử dụng BPTT Qua đó, đề tài nhận dạng được nguyên nhân của sử dụng BPTT

+ Phương pháp nghiên cứu phát triển: đề cập đến các dự định sử dụng BPTT

của các cặp vợ chồng Công giáo trong thời gian tới

5 Đóng góp mới về khoa học

Luận án có các đóng mới về khoa học như sau:

1- Luận án đóng góp những luận điểm và luận cứ về thế tục hóa trong Công giáo trong thời kỳ CNH-HĐH nhằm củng cố cho quan điểm lý thuyết thế tục hóa

2- Luận án đóng góp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu về các vấn đề xã hội liên quan đến nhận thức truyền sinh và hành vi kiểm soát sinh sản của cộng đồng

Trang 17

3- Luận án bổ sung kiến thức mới cho các nghiên cứu về hiện tượng thế tục hóa của Công giáo trong thời kỳ CNH-HĐH xung quanh vấn đề nhận thức, thái độ

và hành vi kiểm soát sinh sản của giáo dân Công giáo tại Việt Nam và trên Thế giới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

1- Luận án cung cấp các thông tin cần thiết cho các cấp thẩm quyền của chương trình DS-KHHGĐ trong hoạch định chính sách và cung cấp các dịch vụ hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm soát sinh sản của nhóm dân số Công giáo

2- Luận án hỗ trợ cho các chức sắc tại các giáo xứ các định hướng triển khai các hoạt động truyền thông KHHGĐ cho giáo dân trong thời gian tới

3- Luận án là tài liệu tham khảo cho việc sử dụng tiếp cận liên ngành (Xã hội học, Xã hội học tôn giáo, Dân số học và Tâm lý học) trong nghiên cứu các vấn đề

xã hội của tôn giáo

4- Luận án là tài liệu tham khảo cần thiết cho các nhà nghiên cứu, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên có cùng mối quan tâm

7 Cơ cấu luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm bốn chương:

+ Chương một: Tổng quan tình hình nghiên cứu

+ Chương hai: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

+ Chương ba: Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của giáo hội Công giáo

và Thực trạng nhận thức về truyền sinh của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh + Chương bốn: Nhận thức, thái độ và hành vi sử dụng biện pháp tránh thai

của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

CHƯƠNG MỘT TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương một tổng quan các tư liệu ngoài nước và trong nước liên quan đến các nội dung nghiên cứu chính của đề tài như: Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân Công giáo, sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản

và các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản

1.1 Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân Công giáo

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Trong tác phẩm “Niềm tin Công giáo ở Anh” của chuyên gia xã hội học tôn

giáo Michael Hornsby-Smith (1991), tác giả đã dành nhiều trang giấy để tổng hợp

và phân tích những nghiên cứu định tính và những nghiên cứu định lượng qua việc

sử dụng dữ liệu thứ cấp Vấn đề được tác giả đề cập đến là “sự bắt buộc phải tuân

thủ tất cả các giáo lý Công giáo không?”- bao gồm cả giáo lý về tránh thai trong việc kiểm soát sinh trong “Thông điệp Humanae vitae, 1968” Kết quả của quá trình

tổng hợp và phân tích cho thấy: Hầu hết giáo dân chấp nhận tuân thủ giáo huấn của giáo lý mà Giáo hội đề ra, đặc biệt là nhóm giáo dân cao tuổi Tuy nhiên, trong một

số lĩnh vực chẳng hạn như lĩnh vực kiểm soát sinh sản thì họ vẫn thích đưa ra quyết định riêng của mình Cả những giáo dân ngoan đạo lẫn giáo dân không ngoan đạo đều không cứng nhắc tuân theo những giáo lý về tránh thai, ly dị và thậm chí là phá

thai mà Giáo hội đề ra Giáo dân cho rằng việc kiểm soát sinh sản bằng cách nào là

tùy thuộc vào lương tâm riêng tư của mỗi cá nhân Phần lớn giáo dân có thái độ không đồng thuận với những giáo lý về tránh thai được đề cập trong Humanae vitae, họ cho rằng nếu cứng nhắc tuân theo giáo lý thì sẽ dẫn đến tệ nạn bùng nổ dân số [125]

Schenker JG, Rabenou V (1993) với bài viết “Kế hoạch hóa gia đình: Những

quan điểm văn hóa và tôn giáo” cho rằng bùng nổ dân số Thế giới làm các nhà lãnh

đạo chính trị phải xem xét các kế hoạch kiểm soát sinh sản ở góc độ quốc gia và địa phương như là một vấn đề thiết yếu Ủng hộ kiểm soát sinh sản cá nhân là hiển

Trang 19

các luật lệ xã hội và tôn giáo ưa thích con cái Trong thời hiện đại, khi thế tục hóa của xã hội phương Tây và các nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh, kiến thức về sinh sản đã gia tăng và được áp dụng để kiểm soát sự gia tăng dân số Các BPTT khác nhau đã phát triển qua nhiều năm từ thời cổ đại đến kỷ nguyên hiện đại Mỗi phương cách tiếp cận kiểm soát sinh sản đều có các thuận lợi và không thuận lợi Không có phương pháp nào là hoàn thiện cho mỗi cá nhân, mỗi hoàn cảnh và mỗi nền văn hóa Mức sinh cao thường gắn liền với “truyền thống”, các ngăn cấm tôn giáo đối với một số hình thức kiểm soát sinh sản, các giá trị truyền thống về tầm quan trọng của trẻ em và ưu tiên cho gia đình, và gia đình truyền thống và vai trò của giới được tăng cường bởi tôn giáo [143]

Theo Kissling F (1994) trong bài viết “Giới và lương tâm công lý” nhân kỷ

niệm 25 năm của sự kiện Giáo hoàng Phaolô VI ban hành thông điệp Humanae Vitae “Về điều hòa sinh sản” tái khẳng định lệnh cấm đoán đối với kiểm soát sinh sản, cho rằng dưới thời Giáo hoàng Gioan-Phaolô II tuân thủ với lệnh cấm sử dụng BPTT là sự kiểm tra lòng trung thành của giáo dân hay không tuân thủ lệnh cấm sử dụng BPTT sẽ đem lại sự xấu hổ và trừng phạt, và điều này gây nên sự bất đồng chung trong các nhà thần học và giáo sĩ Tuy nhiên, cuộc điều tra có sự cho phép các linh mục giáo xứ cho thấy 80% giáo chức Công giáo đã không khẳng định về việc chấp nhận giảng dạy hay đưa ra các lời khuyên trong nghi thức xưng tội Các yêu cầu của thông điệp Humanae Vitae về tính dục còn hà khắc hơn quan điểm của

nó về cấm sử dụng BPTT Song song việc đề cao tình dục như sự thiêng liêng thì trong đó còn đề cập tình dục là bản năng thú tính cần phải ngăn chặn, vì vậy Giáo

hội đề cao sự kiêng cữ Theo thông điệp Humanae Vitae, “Mỗi và mọi hành vi hôn

nhân vẫn phải mở lối cho sự truyền sinh” Bằng việc khẳng định tính ưu việt của

sinh sản trong hành vi tình dục, nhà thờ mất khả năng đề cập một cách hợp lý đến một loạt các vấn đề xã hội như AIDS, thai sản vị thành niên và áp lực dân số [122]

Theo Day LH (1995), trong bài viết “Các xu hướng sinh sản gần đây tại các

quốc gia công nghiệp hóa: Hướng đến mô hình bền vững hay dao động?” cho thấy

sự ổn định tỷ lệ sinh trong tương lai của các quốc gia CNH-HĐH có vẻ là triển vọng hợp lý do vấn đề công khai về tình dục được mở rộng hơn và vai trò của phụ nữ ngày càng lớn hơn Những thay đổi thái độ về quy mô gia đình theo định hướng gia đình có quy mô nhỏ hơn và chênh lệch số người giữa các gia đình được thu hẹp một

Trang 20

cách đáng kể Gia tăng dân số tiềm năng có thể xảy ra do các nguyên nhân như: Sự nhấn mạnh đến giá trị gia đình và bậc cha mẹ, tác động của ly hôn đối với nuôi dạy con cái bị suy giảm, giá trị cảm xúc dành cho trẻ em lớn hơn, việc không thỏa mãn tiềm năng của những người phụ nữ trong lực lượng lao động, mất đi sự quan tâm về việc giành được các hàng tiêu dùng và sự cảm thấy đầy đủ về nhu cầu [100]

Trong chủ đề nghiên cứu “Tôn giáo như một yếu tố quyết định đến sinh sản

của hôn nhân” của Lehrer EL (1996), các giả thuyết được phát triển để kiểm định

ảnh hưởng của lòng mộ đạo của vợ chồng về sinh sản Các giả thuyết này căn cứ vào một số ý tưởng Đầu tiên, các tôn giáo khác nhau có các chuẩn mực khác nhau

về sinh sản cũng như sự đánh đổi quan niệm giữa số lượng và chất lượng trẻ em Những khác biệt trong niềm tin tôn giáo giữa các cặp vợ chồng dẫn đến sự bất đồng

và xung đột về quyết định sinh sản Thứ hai, mức độ tương hợp thấp về tôn giáo giữa các cặp vợ chồng có thể dẫn đến tan rã hôn nhân Phân tích dữ liệu của điều tra quốc gia về gia đình và hộ gia đình tiến hành tại Mỹ vào năm 1987-1988 đề xuất cả hai tác động này là yếu tố quan trọng trong giải thích các liên kết có thể thấy được mối tương quan giữa tôn giáo đối với hôn nhân và hành vi sinh sản của họ [123]

Carolin Berghammer (2009) với công trình nghiên cứu “Xã hội hoá tôn giáo

và sinh sản: sự chuyển đổi đối với sinh con thứ ba ở Hà Lan” đã xét mối tương

quan giữa xã hội hóa tôn giáo và tình trạng mộ đạo hiện nay và tác động của chúng đến sự chuyển đổi liên quan đến sinh con thứ ba của các phụ nữ Hà Lan Các phát hiện cung cấp bằng chứng về tác động của tham gia nhà thờ hiện nay của người phụ

nữ cũng như xã hội hóa tôn giáo trong quá khứ đến hành vi sinh sản của người phụ

nữ Nền tảng tôn giáo vẫn giữ ảnh hưởng của nó ngay cả khi người phụ nữ không còn đến nhà thờ Thêm vào đó, cấu thành kết hợp tôn giáo của cha và mẹ người phụ

nữ cũng quyết định ý nghĩa đến sinh con thứ ba của họ [94]

1.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về quan niệm truyền sinh (sinh sản) trong Công giáo chỉ tồn tại trong giới giáo sĩ Công giáo tại Trung tâm đào tạo chuyên ngành thần học và chủ yếu thực hiện bằng cách tiếp cận thần học, sử dụng và phân tích tư liệu sẵn có để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu và đưa ra đường hướng phát triển mục

Trang 21

truyền sinh, những giáo luật liên quan đến sinh sản và điều hòa sinh sản của giáo hội Cụ thể như một số công trình nghiên cứu sau đây:

Nghiên cứu về “Mục đích hôn nhân Công giáo” của Vũ Minh Hoàng (2006)

thuộc phân ban thần học với phương pháp nghiên cứu tư liệu sẵn có đã nêu lên nền tảng của sinh sản và đề cao giá trị của sinh sản dựa trên quan điểm mục đích sinh sản của Cộng đồng Vatican II, bao gồm: Sinh sản để tiếp nối nhân loại, sinh sản để con người cai quản vạn vật và sinh sản để phát triển hội thánh Bên cạnh đó, luận văn trình bày nội dung sinh sản có trách nhiệm thông qua những văn kiện chính thức của giáo hội về điều hòa sinh sản như: những tiêu chuẩn để quyết định điều hòa sinh sản, phương pháp điều hòa sinh sản và phá thai [19]

Nghiên cứu về “Luật pháp và hôn nhân” của Phạm Xuân Mạ (2006) thuộc

phân ban thần học với phương pháp nghiên cứu tư liệu sẵn có đã trình bày hôn nhân Công giáo một vợ, một chồng, tuổi kết hôn quy định và mục đích quan trọng của hôn nhân là duy trì nòi giống Cốt lõi của luận văn đề cao quyền bình đẳng nam nữ

trong quan hệ vợ chồng.[28]

Nghiên cứu về “Phá thai - thực trạng, các quan điểm và đường hướng mục

vụ tại Việt Nam” của Nguyễn Hữu Thập (2008) thuộc phân ban thần học với

phương pháp nghiên cứu tư liệu sẵn có đã trình bày thực trạng và các quan điểm của Giáo hội liên quan đến việc nghiêm cấm phá thai và tác giả đưa ra giải pháp cho việc mục vụ hôn nhân gia đình tại Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài nêu lên quan điểm điều hòa sinh sản của giáo hội bằng cách sinh sản có trách nhiệm [62]

1.2 Sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản

1.2.1 Nghiên cứu ngoài nước

Tập san của Murphy FX (1981) với tựa đề “Các quan điểm Công giáo về các

vấn đề dân số II” đã thảo luận về lịch sử và tình trạng hiện nay của vấn đề dân số

theo quan điểm Công giáo Roman Trong khi ủng hộ quyền con người và cho phép quyền của các cặp vợ chồng về kiểm soát quy mô gia đình của họ, Giáo hội Công giáo lại tiếp tục ngăn cấm sử dụng các BPTT nhân tạo, vốn được xem như là sự phạm tội Quan điểm này ngăn cản Giáo hội và 750 triệu giáo dân đương đầu với mối đe dọa của sự gia tăng dân số quá mức trên toàn cầu Trong Công giáo, biện

Trang 22

pháp tính vòng kinh được cho phép sử dụng từ năm 1930 Vào năm 1958, Giáo hoàng Pius 12 đã ngăn cấm thuốc tránh thai Bất chấp tinh thần tự do đem lại bởi Công đồng Vatican 2 và việc chống lại đề nghị của Ủy ban kiểm soát sinh sản của Giáo hoàng, Giáo hoàng Phaolô VI trong “Thông điệp Humanae vitae, 1968” đã tái khẳng định lệnh cấm BPTT nhân tạo, thuyết phục mọi người rằng điều này là cần thiết để đối phó với gia tăng của vấn đề đồi bại tính dục, đổ vỡ gia đình và chủ nghĩa vật chất Lập trường này được ủng hộ bởi Giáo hoàng Gioan-Phaolô II và hội

nghị các giám mục vào năm 1980 Tuy nhiên, các cuộc điều tra cho thấy các cặp vợ

chồng Công giáo ngày càng cảm thấy không thỏa mãn với các biện pháp KHHGĐ được ủng hộ bởi Giáo hội và họ đã chuyển sang các BPTT nhân tạo để kiểm soát quy mô gia đình của mình [129]

Tại các nước Châu Âu cũng như Châu Á, xu hướng các cặp vợ chồng Công giáo sử dụng các BPTT hiện đại thay thế các BPTT tự nhiên theo lời khuyên của Giáo hội ngày càng tăng Theo Mccormack (1983), đa số giáo dân Công giáo thừa nhận vấn đề gia tăng nhanh của dân số Thế giới và thúc đẩy quan niệm “cha mẹ sinh sản có trách nhiệm” Giáo huấn của Giáo hội chỉ cho phép sử dụng các BPTT tự nhiên - chủ yếu dựa vào chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ hơn là ngừa thai Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy khoảng 2% - 4% dân số Thế giới sử dụng các BPTT này [137]

“Công giáo và sinh sản ở Puerto Rico” của Herold JM1, Westoff CF,

Warren CW và Seltzer J (1989), các tác giả đã xem xét sự liên quan giữa sự sinh sản

và sự liên kết tôn giáo ở Puerto Rico Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về mức sinh giữa người Công giáo và không người Công giáo (tổng tỷ suất sinh = 2,5) Người Công giáo và người không Công giáo giống nhau ở tuổi kết hôn lần đầu (23,3 và 23,4 năm), sử dụng BPTT (71% và 69% phụ nữ có chồng đã có thai) và thực hành cho con bú (thời gian trung bình 4,4 và 4,3 tháng) Có sự khác biệt giữa những người Công giáo ít mộ đạo và mộ đạo về tổng tỷ suất sinh, tuổi kết hôn đầu tiên và sử dụng BPTT, nhưng những khác biệt này không lớn Những phát hiện này ủng hộ lý thuyết về sự hội tụ (Theory of convergence) của Khảo sát quốc gia về tăng trưởng gia đình đề cập đến sinh sản của người Công giáo và người không Công giáo tại Mỹ Ngoài ra, sự khác biệt kết quả từ Khảo sát quốc gia về tăng trưởng gia đình với kết quả nghiên cứu này chủ yếu là do sự đa dạng văn hoá

Trang 23

của người Mỹ gốc Tây Ban Nha Sự khác biệt này gợi ý tầm quan trọng của việc phân tổ theo dân tộc trong phân tích [114]

Các nhà nghiên cứu trên Thế giới đã công nhận tôn giáo liên quan mật thiết đến hành vi cá nhân không chỉ thông qua những lời dạy cụ thể của Giáo hội mà còn thông qua ảnh hưởng của nó trong tổ chức xã hội (Goldscheider và Mosher 1991) Đồng thời những công trình nghiên cứu về tôn giáo và hành vi sinh sản cho thấy sự khác biệt về số con mong muốn và khả năng kiểm soát sinh sản, được xem là hai khác biệt chính giữa các tôn giáo khác nhau (Goldscheider và Mosher 1991) [109]

Nghiên cứu của Savona-ventura C (1995) về “Kế hoạch hóa gia đình trong

cộng đồng Công giáo Roman” mô tả trong nhiều thế kỷ tại Malta, cộng đồng Công

giáo và xã hội tại đây đều kết án việc phá thai Vào năm 1650, các nhà thực hành y học nào thực hiện phá thai thì sẽ bị kết án 5 năm tù Bất chấp thông tri vào năm

1930 của Giáo hoàng Pius XI phản đối việc sử dụng các BPTT, người dân Malta ngày càng chấp nhận KHHGĐ Vào năm 1982, với áp lực của các nhóm phụ nữ, địa phương đã thiết lập các dưỡng đường KHHGĐ cung cấp miễn phí tất cả các biện pháp KHHGĐ, ngoại trừ phá thai Vào năm 1983, 37,6% dân số đồng ý với các BPTT nhân tạo, 31,9% đồng ý phá thai (trong đó, 39% cho rằng để bảo vệ sức khỏe người mẹ và 16% cho là để ngăn ngừa trẻ dị dạng) Vào thập niên 1990, các con số này là 49% và 36% (47% và 20%), tương ứng Tiến trình thế tục hóa ngày càng nhanh cũng như ngày càng gia tăng ý kiến không đồng ý với các giáo huấn nhà thờ Tuy nhiên, nhà thờ Công giáo Roman tại Malta vẫn phản đối việc sử dụng bao cao

su (bất chấp dịch bệnh AIDS), triệt sản và vòng tránh thai [142]

Tại các nước Châu Á, theo Elma P Laguna và đồng sự (2000), ví dụ như Philipin là một quốc gia có đa số người dân theo đạo Công giáo, tỷ lệ phụ nữ Công giáo Philipin sử dụng BPTT để kiểm soát sinh sản là cao hơn so với phụ nữ không theo Công giáo (đặc biệt là vòng tránh thai và thuốc viên tránh thai) [103] Bên cạnh

đó, quá trình biến đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại làm thay đổi lối sống mới với những phong trào như: sống thử trước hôn nhân, làm mẹ đơn thân, kết hôn đồng tính, nạo phá thai… cũng được một bộ phận giáo dân đồng tình Ví dụ, kết quả thăm dò giới trẻ Công Giáo trên Mạng lưới Toàn Cầu (Internet) là trang Web của Tổng Giáo phận Seoul – Hàn Quốc, đã được 402 người trong độ tuổi 10-20 trả lời, hơn phân nửa số người này nói rằng việc phá thai có thể hợp pháp với một số

Trang 24

điều kiện nào đó, trong đó: 37,6% cho rằng có thể phá thai nếu có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ, 32,7% cho rằng có thể phá thai trong trường hợp mang thai do bị cưỡng hiếp và 8,3% nói có thể phá thai nếu bào thai bị khiếm khuyết thể lý hay tâm thần [161]

Nghiên cứu của Adsera A (2006) về “Sinh sản, hôn nhân và tôn giáo tại Tây

Ban Nha, năm 1985 và 1999” cho thấy: Tại Tây Ban Nha, từ khi chuyển đổi sang

chế độ dân chủ vào năm 1975, cả sinh suất và tỷ lệ đi nhà thờ của những người Công giáo đều suy giảm đáng kể Trong nghiên cứu này, các điều tra về sinh sản tại Tây Ban Nha vào năm 1985 và 1999 được sử dụng để làm sáng tỏ ý nghĩa của tôn giáo đến sự thay đổi hành vi sinh sản, quy mô gia đình và khoảng cách sinh sản giữa hai thời điểm điều tra Trong cuộc điều tra năm 1985, quy mô gia đình của nhóm giáo dân mộ đạo và nhóm giáo dân ít mộ đạo là như nhau Vào năm 1999, quy mô gia đình của nhóm giáo dân mộ đạo là thấp hơn so với nhóm ít mộ đạo Các phát hiện nghiên cứu này cũng tương hợp với suy giảm của hành vi đi lễ nhà thờ và sinh

sản tại Tây Ban Nha [88] Đồng thời, trong nghiên cứu về “Sinh sản có thực sự liên

quan đến lòng mộ đạo? Một lưu ý về vấn đề sinh sản thuộc hôn nhân và tôn giáo tại Tây Ban Nha, 1985 và 1999” của Neuman và Shoshana (2007) cũng sử dụng cùng

số liệu từ các cuộc điều tra sinh sản ở Tây Ban Nha năm 1985 và 1999 để phân tích xem tầm quan trọng của tôn giáo đối với hành vi sinh sản hiện tại và khoảng cách sinh sản có thay đổi hay không giữa hai cuộc điều tra Kết quả phân tích cho thấy tương tự như nghiên cứu của Adsera A (2006) [131]

Nghiên cứu “Công giáo và Kinh tế đối với sinh sản” của William Sander

(2010) đã xem xét tác động của Công giáo đối với sinh sản ở Mỹ dựa trên tiếp cận kinh tế đối với mức sinh đó là áp dụng lý thuyết kinh tế về hành vi người tiêu dùng, với giả định rằng các quyết định tối đa hóa lợi ích về trẻ em bị ảnh hưởng bởi giá cả

và thu nhập tiềm ẩn Nghiên cứu này cho thấy: (1) Điều quan trọng nhất là có nhiều nghiên cứu về Công giáo có sai sót do sự thiên vị lựa chọn mẫu vì những người Công giáo trước đây ưa thích quy mô gia đình nhỏ hơn những người không phải Công giáo (2) Hoạt động tôn giáo không ảnh hưởng đến sinh sản nếu nó được xem như là một biến nội sinh (3) Sự chuyển đổi sinh sản ở Hoa Kỳ là một phần liên quan đến sự thay đổi hiệu lực của các quy tắc Công giáo [152]

Trang 25

Nghiên cứu “Xã hội học: Tôn giáo và sinh suất có mối quan hệ thực

nghiệm?” của Christian-dorr (2011) cho thấy tổng tỷ suất sinh ở Châu Âu đã giảm

còn 1,56 con/phụ nữ, trong đó tại Đức giảm xuống 1,37 con/phụ nữ và Áo giảm xuống 1,38 con/phụ nữ Đồng thời, tác giả chỉ ra mối liên hệ giữa tôn giáo và sinh suất thông qua việc tìm hiểu tôn giáo tại Châu Âu có ảnh hưởng như thế nào đến số con của một người phụ nữ sinh ra Kết quả cho thấy, khác với gia đình với tiêu chuẩn 2 con, xu hướng những cặp vợ chồng có đạo có trung bình 3 con trở lên Những phụ nữ không theo đạo trung bình có ít hơn 0,2 con so với những phụ nữ theo đạo Những người có đạo cũng có biện pháp KHHGĐ khác nhau và dự định có nhiều con hơn trên mức trung bình, hay sinh suất của họ được lập kế hoạch cao hơn Cuối cùng, tác giả đưa ra ba lập luận chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng có thể có của mối liên hệ giữa tôn giáo và sự gia tăng số trẻ em sinh ra, đó là: (1) Sự ủng hộ sinh sản của nhiều tôn giáo, cho rằng trẻ em có giá trị cao đối với xã hội hay sự ngăn cấm của tôn giáo đối với sử dụng các BPTT, (2) Sự ủng hộ giáo huấn của nhà thờ về chăm sóc con cái và mô hình gia đình quy mô lớn và (3) Sự thay đổi ý nghĩa của lối sống sau khi sinh con được thực hiện với sự ủng hộ của luật lệ của Giáo hội [95]

1.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam nói chung cũng như TP.HCM nói riêng, mức sinh của giáo dân Công giáo cũng có xu hướng giảm theo thời gian, một phần do họ đã chủ động sử dụng BPTT nhân tạo để đối phó với những hậu quả tức thì hơn là phải tuân thủ theo chuẩn mực truyền thống của Giáo hội vì mối quan tâm về những tội lỗi và vi phạm giá trị đạo đức Theo một cuộc điều tra của Hội Khoa học Xã hội Việt Nam năm

1973 (Hội nghiên cứu Khoa học xã hội, Hội nghiên cứu về chiều hướng sinh sản của phụ nữ Việt Nam tại Sài Gòn và Gia Định, Sài Gòn, 1973), người dân thành phố

có ước muốn số con mong đợi là 4 con Nhưng sau ngày thống nhất đất nước do ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế, do việc phổ biến rộng rãi các phương pháp KHHGĐ của chính quyền, gia đình quy mô nhỏ với 2 con cũng là mô hình được nhiều gia đình giáo dân thành phố ưa thích (Nguyễn Xuân Nghĩa, 1990) [37] Thay vì tuân thủ theo chuẩn mực sử dụng BPTT truyền thống của Giáo hội để tránh phải đối phó với

số con không mong đợi (Unwanted children) thì các gia đình Công giáo đã lựa chọn

BPTT nhân tạo Một khảo sát thực tế cho thấy “qua việc trao đổi với chị em phụ nữ,

Trang 26

các nhân viên y tế cộng đồng và một số các linh mục thì được biết: hơn 90% phụ nữ Công Giáo Việt Nam trong thời gian có thể sinh nở đã dùng những phương pháp ngừa thai nhân tạo đang được quảng cáo trên thị trường tiêu thụ” [63]

Theo Nguyễn Xuân Nghĩa (1990), trước ngày thống nhất đất nước, mỗi gia đình ở thành phố có trung bình là 6 con và có tỷ lệ thái độ không ủng hộ và không chấp nhận các biện pháp KHHGĐ của người giáo dân TP.HCM là khá cao: 53,6% Hay theo một cuộc điều tra của Hội Khoa học xã hội Việt Nam năm 1973 (Hội nghiên cứu Khoa học xã hội, nghiên cứu về chiều hướng sinh sản của phụ nữ Việt Nam tại Sài Gòn và Gia Định, 1973) (trích trong Nguyễn Xuân Nghĩa,1990), người thành phố có ước muốn số con mong muốn là 4 con Có thể do quan niệm về hôn nhân hay những ràng buộc về sử dụng phương pháp KHHGĐ truyền thống của giáo hội [37] Tuy nhiên, theo thời gian, quy mô gia đình, hành vi sinh sản và sử dụng BPTT của người Công giáo đã có sự thay đổi tích cực Sau ngày thống nhất đất nước do ảnh hưởng của kinh tế, do việc phổ biến rộng rãi các phương pháp KHHGĐ của chính quyền, gia đình quy mô nhỏ với 2 con là mô hình được nhiều gia đình giáo dân thành phố ưa thích Tuy nhiên, khi so sánh hai mô hình gia đình của phụ nữ Công giáo và của người phụ nữ thành phố nói chung (hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp), người phụ nữ Công giáo có xu hướng muốn một gia đình nhiều con hơn so với người phụ nữ thành phố nói chung (68,73% so với 43,04%, tương ứng) Một vài số liệu trên cho thấy gia đình Công giáo thành phố chịu tác động mạnh của môi trường xã hội, nhưng mặt khác gia đình Công giáo vẫn

có những đặc thù riêng của mình

Theo Nhật Minh (1997), tỷ lệ phát triển dân số ở huyện Tuy An-Phú Yên trước đây vượt 3% Từ năm 1992, linh mục giáo phận Tuy An kiên trì vận động giáo dân sinh đẻ có trách nhiệm, chỉ trong vòng 3 năm (1992-1995) tỷ lệ tăng dân số

đã giảm từ 3,5% xuống 1,8%… [29]

Nghiên cứu xã hội học của Phạm Văn Quyết về “Ảnh hưởng của yếu tố tôn

giáo đến mức sinh trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo - Nghiên cứu trường hợp xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định” (năm 2001) và tác phẩm “Tôn giáo và Biến đổi mức sinh - Nghiên cứu từ trường hợp Thiên Chúa giáo Xứ đạo Bùi Chu - Nam Định” (năm 2007) xem yếu tố tôn giáo như một khía cạnh của văn hóa

Trang 27

tác giả cũng đề cập đến niềm tin, giáo lý của đạo Công giáo ảnh hưởng đến việc sử dụng các BPTT Kết quả nghiên cứu cho thấy: Giáo dân ngoan đạo hơn thì đông con hơn - Tỷ lệ có từ 3 con trở lên của nhóm giáo dân đi lễ nhà thờ hàng ngày cao hơn

so với nhóm giáo dân ít đi lễ nhà thờ (60,5% so với 14,3%, tương ứng) Tương tự,

tỷ lệ về số con mong muốn của nhóm giáo dân đi lễ nhà thờ hàng ngày cao hơn so với nhóm giáo dân ít đi lễ nhà thờ (73% so với 57,1%, tương ứng) [59, 60]

Nghiên cứu về “Chất lượng công tác kế hoạch hóa gia đình tại vùng đồng

bào Công giáo tỉnh Thái Bình” của Hà Thị Lãm (2005) tiến hành từ tháng 2/2000

đến tháng 4/2001 tại 4 xã thuộc tỉnh Thái Bình với mục đích: (1) Tìm hiểu quan niệm của giáo dân và các chức sắc Công giáo về vấn đề sinh sản và các BPTT, (2)

Mô tả mối liên quan giữa các yếu tố kinh tế và văn hóa đối với nhu cầu sinh con của giáo dân Công giáo và (3) Đánh giá tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp định lượng với 2 nhóm: (1) Nhóm nghiên cứu là giáo dân Công giáo, gồm 194 nam và 202 nữ, (2) Nhóm đối chứng là không phải giáo dân Công giáo, gồm 203 nam và 200 nữ Và nghiên cứu định tính là phỏng vấn sâu đối với các chức sắc Công giáo Kết quả nghiên cứu cho thấy: 40,3% giáo dân dự kiến sinh con thứ 3; Các yếu tố ảnh hưởng chính đến quy mô gia đình của giáo dân là tuổi, trình độ học vấn và khoảng cách sinh; Tỷ lệ phụ nữ kết hôn sớm và sinh 2 con đầu cách nhau 5 năm là cao (72,8%); Phụ nữ Công giáo ít nạo phá thai hơn; Cộng tác viên dân số và chức sắc Công giáo đã tham gia tích cực vào công tác DS-KHHGĐ và được đồng bào Công giáo chấp nhận Vì vậy, cần ưu tiên

hỗ trợ trong các chính sách DS-KHHĐ ở vùng đồng bào Công giáo [25]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Quý (2007) với đề tài “Ngừa thai và phá thai

dưới cái nhìn của Giáo hội” là một nghiên cứu thuộc lĩnh vực tôn giáo với cách tiếp

cận nghiên cứu thần học Đây là một nghiên cứu định lượng sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, số lượng người được điều tra bao gồm 706 phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi sinh sản (18-50) tại một xã hầu như 99% là người Công giáo vào tháng 3/2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy đa số giáo dân Công giáo có xu hướng vượt ra khỏi chuẩn mực của giáo hội Công giáo về quy định sử dụng BPTT tự nhiên trong kiểm soát sinh sản, điều này thể hiện qua kết quả điều tra cho thấy có 86% phụ nữ đã sử dụng BPTT nhân tạo [55]

Trang 28

Theo Lê Văn Thi (2007), hiện nay, các cặp vợ chồng Công giáo có thể điều chỉnh hành vi sinh sản bằng sử dụng BPTT nhân tạo để đáp ứng những hệ quả tức thì, thay vì phải tuân thủ theo chuẩn mực của Giáo hội (thường quan tâm đến những tội lỗi và vi phạm giá trị đạo đức) Hôn nhân không còn đề cao tính thiêng liêng trong hành vi tính dục và sinh sản mà đề cao đến nhu cầu tình dục Sự hội nhập văn hóa thế giới giúp họ dễ dàng gặp gỡ và khám phá những ý thức hệ thông thoáng và cởi mở hơn nên đã thúc đẩy họ thực hiện những hành vi trái với chuẩn mực Một ví

dụ thực tế có thể chứng minh cho những lập luận trên đây: “Hơn 90% phụ nữ Công

Giáo Việt Nam trong thời gian có thể sinh nở đã dùng những BPTT hiện đại đang được quảng cáo trên thị trường tiêu thụ” [63]

Trong nghiên cứu Nghiên cứu “Hôn nhân và sự sống” của Nguyễn Trí Lộc

(2008) thuộc phân ban thần học với phương pháp nghiên cứu tư liệu sẵn có đã trình bày quan điểm tình yêu, hôn nhân Công giáo qua các văn kiện của hội thánh, nâng cao việc giao hợp gắn với truyền sinh, tác hại của BPTT nhân tạo, ủng hộ BPTT tự nhiên Kêu gọi giáo dân sử dụng BPTT tự nhiên như là phương pháp kiểm soát số con phù hợp với giá trị tự nhiên, luân lý và nâng cao giá trị con người [27]

Nghiên cứu về “Điều hòa sinh sản của Ki-Tô giáo” của Nguyễn Ngọc

Ngoạn (2008) thuộc phân ban thần học với phương pháp nghiên cứu tư liệu sẵn có

đã trình bày và phân tích dữ liệu giáo huấn của Giáo hội về điều hòa sinh sản qua hiến chế Gaudium et Spes (1965) của Công đồng Vatican II, thông điệp Humanae Viate (1968) của Giáo hoàng Phaolo VI và Tông huấn Familiaris Consortio (1981) của Giáo hoàng Gioan - Phaolo II, nhằm đề cao giá trị hôn nhân Ki-Tô giáo và công nhận công tác điều hòa sinh sản trong mục vụ gia đình là vấn đề quan trọng cần được giáo huấn đúng chuẩn mực Công giáo thông qua việc chứng minh tính ưu việt của luân lý, định hướng quy trở về căn nguyên tự nhiên Lên án ngừa thai bằng BPTT nhân tạo và khuyến khích sử dụng BPTT tự nhiên như: Phương pháp tính vòng kinh, đo thân nhiệt, quan sát chất nhờn và bộ kit “test rụng trứng” [45]

Theo Hoàng Nga (2010), vùng đồng bào dân tộc và Công giáo tỉnh Vĩnh Phú

có khoảng 12.000 hộ, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ sinh con thứ 3 còn cao, dẫn đến tỷ

lệ đói nghèo ở khu vực này còn cao (gần 25%) Nhờ sự phối hợp giữa các ban ngành liên quan và chức sắc nhà thờ địa phương trong việc tổ chức tuyên truyền vận

Trang 29

đã sử dụng BPTT, đẻ ít, đẻ thưa để có điều kiện phát triển kinh tế Đến năm 2010, 891/1.625 hộ dân cư vùng dân tộc, Công giáo không có người sinh con thứ 3 [34]

Theo Cẩm Hà (2011), Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh) là một huyện có đông đồng bào

Công giáo sinh sống với 7 giáo xứ, 24 giáo họ, 13.608 giáo dân (chiếm 8,35% dân

số toàn huyện) phân bố tại 15 xã, phường, thị trấn So với mặt bằng chung thì đời sống vật chất tinh thần của đồng bào Công giáo còn thấp, sinh đẻ nhiều (đặc biệt là các vùng nông thôn) dẫn đến tỷ lệ hộ đói nghèo, thất học còn cao tại một số giáo xứ, giáo họ trên địa bàn huyện Được sự quan tâm của chính quyền và đoàn thể các cấp,

sự vận động của các chị em trong hội phụ nữ các xã, thôn, xóm các gia đình giáo dân tại đây đã ý thức được việc sinh đẻ có trách nhiệm, góp phần giảm tỷ lệ gia tăng dân số của huyện Cẩm Xuyên một cách rõ rệt Năm 2007 là 26,8% đến năm 2008 còn 25,2%, năm 2009 còn 22,6% Riêng năm 2009, số phụ nữ tham gia đặt vòng đạt hơn 99%; số dùng bao cao su và thuốc uống đạt 107%, thuốc tiêm đạt 16,6% [15]

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng biện pháp tránh thai của các cặp vợ chồng Công giáo trong tuổi sinh sản

1.3.1 Nghiên cứu ngoài nước

Công trình nghiên cứu của các tác giả Raymond H Potvin, Charles F

Westoff, and Norman B Ryder (1968) với đề tài “Những yếu tố tác động đến sự

tuân thủ của những người vợ Công giáo với chức vụ giáo lý viên về kiểm soát sinh sản” dựa trên dữ liệu nghiên cứu sinh sản quốc gia Kết quả nghiên cứu cho thấy:

Tỷ lệ phụ nữ Công giáo có gia đình sử dụng các BPTT khác ngoài biện pháp tính vòng kinh đã gia tăng từ năm 1955 và chiếm đa số vào năm 1965 Hành vi không tuân thủ tôn giáo này có quan hệ thống kê nghịch và mạnh với sự ngoan đạo (đo lường bằng tần suất nhận được việc ban thánh thể/nhóm đạo) và quan hệ yếu với các đặc điểm kinh tế-xã hội và chủng tộc So sánh dữ liệu theo nhóm đồng hệ đồng sinh

và tuổi của các nghiên cứu trong những năm 1955, 1960, 1965 cho thấy kiểm soát sinh sản của những phụ nữ Công giáo là giáo lý viên có sự suy giảm và tăng lên dần

từ các nhóm tuổi trẻ hơn Xu hướng này nổi trội đối với tất cả các nhóm kinh tế-xã hội và mức độ ngoan đạo Giữa năm 1955 và 1960, những người học vấn thấp thường sử dụng các BPTT khác ngoài biện pháp tính vòng kinh; Giữa năm 1960 và

1965, những người học vấn cao thường sử dụng các BPTT khác ngoài biện pháp

Trang 30

tính vòng kinh nhiều hơn Sự đảo ngược này có thể liên quan đến tiến bộ của thuốc tránh thai và sự công khai các tranh luận thần học trong nhà thờ Công giáo [138]

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của cơ cấu gia đình, giáo dục và tôn giáo đối với

quyết định sử dụng BPTT ở phụ nữ trong tuổi đôi mươi” của Howard, B K và

Powell, M A (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng cấu trúc gia đình, giáo dục và tôn giáo đối với tránh thai, dựa trên kết quả điều tra quốc gia về tăng trưởng gia đình ở

Mỹ của 577 trường hợp phụ nữ chưa kết hôn ở độ tuổi 20-24 Điểm nổi bật của nghiên cứu này là dựa trên quan điểm của Kristin Luker (1975) cho rằng phụ nữ đóng vai trò quan trọng về ngừa thai, vì vậy họ cần có thông tin về BPTT và quyền quyết định về vấn đề này Kết quả nghiên cứu này cho thấy phụ nữ Mỹ có nguồn gốc Tây Ban Nha thường sử dụng các BPTT ít hiệu quả trong sinh hoạt tình dục Ngược lại, cấu trúc gia đình ảnh hưởng đến quyết định ngừa thai, các em gái 14 tuổi

có đủ cha mẹ có khả năng sử dụng các BPTT hiệu quả hơn Ngoài ra, trong trường hợp cấu trúc gia đình không thay đổi, giáo dục của người mẹ ít ảnh hưởng đến việc

sử dụng BPTT đối với con gái của họ, tôn giáo ảnh hưởng đến hành vi tình dục trước khi ảnh hưởng đến việc ngừa thai [116]

Abdul Razak Kamaruddin (2009) trong bài viết “Vai trò của tôn giáo đối với

kế hoạch hoá gia đình ở Malaysia: Liên quan đến vấn đề tiếp thị xã hội” cho thấy

tôn giáo có ảnh hưởng đến việc chấp nhận KHHGĐ của người dân Malaysia [86]

Trong nghiên cứu “Mối quan hệ giữa tôn giáo và kế hoạch hóa gia đình ở

vùng nông thôn Malawi” của Sara E Yeatman, Jenny Trinitapoli (2008) đã tìm thấy

bằng chứng của lãnh đạo tích cực, thái độ của giáo đoàn đối với việc thực hiện KHHGĐ và thảo luận về đạo đức tình dục về sử dụng BPTT của phụ nữ không thuộc các giáo phái Ngoài ra, nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ giữa xã hội tôn giáo và hành vi ngừa thai [141]

Nghiên cứu của Hirsch JS (2008) về“Giáo dân Công giáo sử dụng các biện

pháp ngừa thai: Tôn giáo, kế hoạch hóa gia đình và tác nhân diễn giải tại khu vực nông thôn của Mexico” đã phân tích tác động của tôn giáo đến hành vi sử dụng

BPTT và sinh sản của cá nhân cũng như tôn giáo đã không chú ý đầy đủ đến việc các tín đồ hiểu như thế nào về các giáo huấn Với phương pháp nghiên cứu thực địa của dân tộc học, tác giả đã mô tả trong bối cảnh xã hội và thế hệ khác nhau, người

Trang 31

sinh sản mà không hủy hoại đến sự mộ đạo của mình Nghiên cứu đã khám phá phương cách mà tôn giáo và rộng hơn là văn hóa ảnh hưởng đến sinh sản và sử dụng BPTT, từ đó bài học được rút ra là phải chú ý nhiều hơn đến tính tương hỗ năng động giữa niềm tin văn hóa với thể chế, bối cảnh xã hội và tác nhân tham vấn [115]

Nghiên cứu về “Ảnh hưởng của tôn giáo và văn hóa đến tránh thai” của tác

giả Amirrtha Srikanthan and Robert L Reid (2008) với mục tiêu làm sáng tỏ các ảnh hưởng của tôn giáo và văn hoá đến việc chấp nhận và sử dụng các BPTT khác nhau, bao gồm biện pháp ngừa thai khẩn cấp Nghiên cứu đã làm rõ các giáo lý tôn giáo liên quan đến gia đình, quan hệ tình dục và KHHGĐ trong Kitô giáo (trong đó

có Công giáo), Do Thái giáo, Hồi giáo, Hindu giáo, Phật giáo Đồng thời, tác giả cũng phỏng vấn các học giả của các tôn giáo lớn để biết thêm thông tin về cách giải thích và áp dụng các giáo lý trong những hoàn cảnh cụ thể của các nhóm khác nhau trong cùng tôn giáo Phát hiện nghiên cứu cho thấy, yếu tố tôn giáo và văn hoá có ảnh hưởng tiềm năng đến việc chấp nhận và sử dụng BPTT của các cặp vợ chồng thuộc các tôn giáo khác nhau theo những phương cách khác nhau Trong các tôn giáo, các giáo phái khác nhau có thể giải thích các giáo lý tôn giáo về chủ đề này theo những cách khác nhau và người phụ nữ và bạn đời của họ có thể bỏ qua các giáo lý tôn giáo Các yếu tố văn hoá cũng ảnh hưởng quan trọng không kém đến quyết định của cặp vợ chồng về quy mô gia đình và BPTT sử dụng Theo nghiên cứu này, những người nhập cư mới thường đối mặt với những thách thức khi thích nghi với một xã hội mới và một lối sống mới, từ đó họ có thể gắn chặt với những mong đợi của tôn giáo và văn hoá truyền thống với các vấn đề gia đình, tình dục và sinh sản Mặc dù các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ phải thận trọng không nên gắn các khuôn mẫu về đặc điểm tôn giáo, xã hội và văn hoá cho những phụ nữ tìm kiếm sự tham vấn về ngừa thai, nhưng họ cần phải thừa nhận rằng các hệ thống giá trị khác nhau có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định trong các cặp

vợ chồng có tôn giáo khác nhau Các giá trị mà mỗi cá nhân phụ nữ nắm giữ có thể không phù hợp với những lời dạy chính thức của tôn giáo của cô ấy hoặc với các tiêu chuẩn văn hoá được đưa ra bởi các thành viên có cùng một nền văn hoá [92]

Nghiên cứu “Dung hòa sự nhận dạng tôn giáo với các thực hành sinh sản:

Nhà thờ và biện pháp ngừa thai tại Ba Lan” của Mishtal J, Dannefer R (2010) cho

thấy: Bất chấp các hạn chế của dịch vụ KHHGĐ, sử dụng BPTT hiện đại trong mẫu

Trang 32

nghiên cứu đã là 56%, tăng 19% so với năm 1991 Công giáo đóng vai trò tương đối nhỏ với sử dụng BPTT, mặc dù 94,2% dân số nghiên cứu là người Công giáo nhưng

có đến 79% cho rằng nhà thờ ít hay không ảnh hưởng đến các quyết định sinh sản của họ Ngoài ra, nghiên cứu còn giải thích cách mà phụ nữ đã dung hòa các thực hành sinh sản với đạo Công giáo, bao gồm: sử dụng các yếu tố tôn giáo để ủng hộ việc sử dụng BPTT, ưu tiên trách nhiệm đối với gia đình và những quan tâm tài chính quan trọng hơn các ngăn cấm của nhà thờ Phát hiện nghiên cứu nhấn mạnh bất chấp các cản trở về tôn giáo, chính trị và kinh tế, việc sử dụng BPTT đã tăng đáng kể, từ đó chỉ ra rằng KHHGĐ là ưu tiên cao đối với phụ nữ [126]

1.3.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu xã hội học của Phạm Văn Quyết (2001) về “Ảnh hưởng của yếu

tố tôn giáo đến mức sinh trong cộng đồng Thiên Chúa Giáo - Nghiên cứu trường hợp xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định”cho thấy về việc sử dụng

BPTT của giáo dân Xuân Ngọc cụ thể như sau: Giáo dân sử dụng BPTT là khá cao (84,2%), trong đó có 50,7% giáo dân sử dụng BPTT hiện đại và 43,7% sử dụng BPTT truyền thống Mức độ sử dụng BPTT hiện đại tỷ lệ nghịch với việc đi lễ nhà thờ, nghĩa là niềm tin tôn giáo càng ít thì càng sử dụng BPTT hiện đại nhiều (Nhóm giáo dân đi lễ nhà thờ hàng ngày chấp nhận sử dụng vòng tránh thai có tỷ lệ là 42,7%; Nhóm giáo dân chỉ đi lễ ngày chủ nhật chấp nhận sử dụng vòng tránh thai có

tỷ lệ là 55,5%; Nhóm giáo dân ít khi đi nhà thờ chấp nhận sử dụng vòng tránh thai

có tỷ lệ là 57,1%) Như vậy, qua những kết quả nghiên cứu này giúp luận án có thêm nhiều thông tin khi cân nhắc để đưa ra những biến số thích hợp trong thu thập thông tin và phân tích mối liên hệ giữa yếu tố niềm tin tôn giáo với việc lựa chọn sử

dụng BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo [59]

Ngoài ra, nghiên cứu này còn cho thấy mức sinh của cộng đồng giáo dân phù thuộc vào mức độ thế tục hóa Những hạn chế trong nghiên cứu này cho thấy: (1) Nghiên cứu thực hiện tại địa bàn nông thôn nơi đô thị hóa chưa phát triển và diễn ra trong thời kỳ Việt Nam bước vào thời đại CNH-HĐH nên quá trình thế tục hóa tôn giáo cũng diễn ra chưa mạnh mẽ, (2) thông tin nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc mô tả những yếu tố về hành vi sử dụng biện pháp tránh thai của người Công giáo, tác giả

Trang 33

Công giáo về sinh sản trong việc phân tích nhận thức - thái độ - hành vi sử dụng BPTT của giáo dân Công giáo Vì vậy, nghiên cứu này chưa phản ánh hết thực trạng

và những yếu tố ảnh hưởng đến KHHGĐ của giáo dân Công giáo Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH Đồng thời, nghiên cứu này chưa đề cập đến thực trạng về biến đổi nhận thức sinh sản của giáo dân Công giáo ảnh hưởng như thế nào đến KHHGĐ của họ

Tóm lại,

Tổng quan các tư liệu nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam trên đây cho thấy một bức tranh tổng quát: CNH-HĐH tạo ra sự biến đổi đời sống kinh tế-văn hóa-xã hội cũng như tôn giáo do đó quan niệm về sinh sản của các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng có sự thay đổi phù hợp với bối cảnh kinh tế - văn hóa-

xã hội đang diễn ra, mức sinh và số con mong đợi của người Công giáo dần giảm Đối với việc thực hiện KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo, từ những số liệu điều tra ban đầu về sử dụng BPTT của giáo dân Công giáo trong những nghiên cứu cho thấy giáo dân Công giáo sử dụng BPTT nhân tạo ngày càng tăng và họ có xu hướng lựa chọn các BPTT theo hoàn cảnh cá nhân hơn là tuân thủ nghiêm ngặt giáo huấn của Giáo hội Những phát hiện nghiên cứu chính được tập hợp từ các công trình nghiên cứu cụ thể như sau:

 Nội dung nghiên cứu:

(1) Những người theo một tôn giáo nhất định thì hành vi của họ bị chi phối

theo khuôn mẫu của giới luật mà tôn giáo đó đề ra Công giáo tác động đến mức sinh cao qua các yếu tố như: Đề cao giá trị trẻ em; Cung cấp ủng hộ xã hội cho chăm sóc con cái; Đề cao chuẩn mực gia đình có quy mô lớn; Nâng cao vị trí người phụ nữ có khả năng sinh sản

(2) Những yếu tố ảnh hưởng của Công giáo đến sử dụng BPTT của phụ nữ là tương đối Bất chấp các chuẩn mực truyền thống, sử dụng các BPTT hiện đại trong giáo dân ngày càng gia tăng theo thời gian Đây cũng là biểu hiện của thế tục hóa

(3) Người phụ nữ Công giáo chia sẻ trách nhiệm đối với gia đình và những quan tâm tài chánh quan trọng hơn các ngăn cấm của nhà thờ KHHGĐ được xem là

ưu tiên của họ, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận lớn chưa tiếp cận được dịch vụ này

và đây được xem là nhu cầu chưa được đáp ứng (Unmet need)

Trang 34

(4) Người phụ nữ Công giáo cố gắng hòa hợp giữa các giáo huấn tôn giáo với việc sử dụng các BPTT nhân tạo Họ đề ra phương thức hiểu và sử dụng các quan điểm tôn giáo như thế nào để đạt được ước muốn sinh sản và ủng hộ việc sử dụng BPTT mà không hủy hoại đến uy tín mộ đạo của mình

(5) Ngoài ra, những giải pháp mà các nghiên cứu trên đưa ra cũng có thể tham khảo cho những trường hợp nghiên cứu có nội dung liên quan

 Phương pháp nghiên cứu:

(1) Đối với nghiên cứu những vấn đề xã hội liên quan đến tôn giáo thì hướng

tiếp cận văn hóa được các nhà nghiên cứu quan tâm Một số nghiên cứu cho thấy

tiếp cận ở góc độ văn hóa, cụ thể là tiếp cận nghiên cứu về niềm tin tôn giáo trong nghiên cứu về vấn đề sinh sản và KHHGĐ của các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng trở thành điểm mấu chốt để tìm ra được những yếu tố nào là ảnh hưởng chính đến việc sinh sản và kiểm soát sinh trong thời đại CNH-HĐH Chẳng hạn như với cách tiếp cận nghiên cứu về niềm tin không chỉ cho thấy hiện tượng tôn giáo cá nhân ảnh hưởng đến hành vi sinh sản mà còn cho thấy rõ cộng đồng mộ đạo có thể làm thay đổi vai trò của phụ nữ

(2) Sự phối hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính không những có khả năng đo được các biến số một cách chính xác và còn thu thập thêm những thông tin ẩn không thể triển khai trong cấu trúc bảng hỏi

(3) Phương pháp tiếp cận theo quan điểm giới là cần thiết trong nghiên cứu

về KHHGĐ và tôn giáo vì trong tôn giáo yếu tố về vai trò giới được quy định rất rõ

(4) Ngoài ra, trong quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu, luận án đã tìm thấy một số hướng tiếp cận nghiên cứu tôn giáo và sinh sản có thể lưu ý và tham khảo trong quá trình nghiên cứu luận án Cụ thể:

Kertzer (2006) lưu ý rằng khi nghiên cứu tôn giáo, phải xem xét nguồn gốc của nó Vấn đề đặt ra không chỉ là tên gọi của tôn giáo đó mà còn là sự biến đổi của

nó theo thời gian và không gian “Hãy nghiêm túc khi phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo và sinh sản, nghĩa là phải giải quyết các phức hợp này Trong đó bao gồm giải quyết các mối quan hệ xã hội, văn hóa và sự thay đổi chính trị‟‟ Đó là thực chất của các nghiên cứu hiện đại về tôn giáo và sinh sản (Goldscheider, 1971) [120]

Trang 35

McQuillan (2004) tập trung vào câu hỏi: Khi nào tôn giáo ảnh hưởng đến sinh sản? Ông đã thảo luận rộng rãi về câu hỏi này do nhiều nghiên cứu đã chứng minh ý nghĩa khác nhau trong hành vi nhân khẩu giữa các nhóm tôn giáo, tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng sự khác nhau này vẫn chưa được giải thích đầy đủ McQuillan dựa vào nghiên cứu của Goldscheider để tranh luận về định nghĩa rộng hơn về ảnh hưởng tư tưởng của tôn giáo, bao gồm „„Toàn bộ nội dung của một tổ chức xã hội‟‟

và „„Các chuẩn mực kiểm soát gia đình và các quan hệ về giới‟‟ tức là các giá trị đề cập đến giới, tình dục và cuộc sống gia đình cùng với kiểm soát sinh sản [122] Hơn nữa, Goldscheider nhấn mạnh tầm quan trọng của các nhóm tôn giáo bên trong trật

tự kinh tế-xã hội của một xã hội, đặc biệt tình trạng nhóm thiểu số (Goldscheider

1971, 1991, 1999) [108, 109,110]

McQuillan mở rộng cách tiếp cận này bằng việc hướng sự quan tâm đến ba thành phần: bản chất của các giá trị và chuẩn mực tôn giáo, các định chế tôn giáo và vấn đề nhận dạng tôn giáo Đầu tiên, tôn giáo đề cập các chuẩn mực hành vi, trong

đó có hành vi sinh sản Đây có thể là những chuẩn mực hay luật lệ điều khiển hành

vi liên quan trực tiếp đến các yếu tố quyết định đến sinh sản, như BPTT, triệt sản, và phá thai Tuy nhiên, nó cũng có thể là các hướng dẫn cho việc thực hiện hợp nhất về tính dục, tăng cường gia đình quy mô lớn và ngay cả niềm tin liên quan đến nghĩa

vụ đối với tổ tiên Các vấn đề lớn hơn của tổ chức xã hội như vai trò thích hợp của nam và nữ, có thể tác động cuối cùng đến sinh sản Thứ hai, tôn giáo phải có phương tiện để truyền thông những giá trị và chuẩn mực này, tăng cường hành vi trung thành và trừng phạt các hành vi không tuân thủ Ảnh hưởng định chế của tôn giáo có thể phân làm ba mức độ: xã hội, cộng đồng và cá nhân Thứ ba, tôn giáo hình thành thành phần trung tâm của nhận dạng xã hội của những người theo tôn giáo đó Sự đồng nhất tự nguyện với niềm tin về tôn giáo có thể hỗ trợ hành vi đúng đắn, đặc biệt khi tôn giáo và chủ nghĩa dân tộc pha trộn với nhau [124]

Goldscheider (2006) mở rộng và điều chỉnh lại lý thuyết của mình: (a) Chứng minh tầm quan trọng của các mối liên kết gia đình trong bối cảnh của vai trò của người phụ nữ (và nam giới) và liên kết của gia đình với cộng đồng; (b) Chỉ ra vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc thay đổi các mô hình sinh sản; và (c) Tóm tắt bài học tổng quát, đó là sự thay đổi trong sinh sản được liên hệ với các vấn đề khác

Trang 36

về tầm quan trọng của nhân khẩu Đặc biệt, hiện tượng di dân có thể phá vỡ các liên kết giữa cá nhân, gia đình và cộng đồng tại nơi đi mà có mức sinh cao [111]

Kertzer (2006) cũng thảo luận về khía cạnh chính trị và ảnh hưởng lẫn nhau của các định chế tôn giáo và Nhà nước Thí dụ, các nhà thờ Công giáo khác nhau đã vận động hành lang về ban hành các luật lệ cấm đoán phá thai hay không cho phép bán bao cao su Các quan điểm của các nhà thần học trong đánh giá mối quan hệ tôn giáo và sinh sản tại Châu Âu và Mỹ cũng khác nhau Một số quan tâm đến nghiên cứu thực nghiệm, một số khác phụ thuộc nhiều vào việc phân tích liên quan đến các trang bị của nhà thờ cho sự tin tưởng của giáo dân và giáo điều của nhà thờ [120]

********

TIỂU KẾT CHƯƠNG MỘT

Những nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam về các nội dung: (1) Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân Công giáo, (2) Thực hiện KHHGĐ (sử dụng BPTT)của các cặp vợ chồng Công giáo trong độ tuổi sinh sản và (3) Các yếu tố ảnh hưởng

đến thực hiện KHHGĐ (sử dụng BPTT) của các cặp vợ chồng Công giáo trong độ tuổi sinh sản có trong các công trình nghiên cứu thuộc các chủ đề: Tôn giáo và vấn

đề sinh sản, Công giáo với biến đổi mức sinh và quy mô gia đình, KHHGĐ và các yếu tố ảnh hưởng KHHGĐ của các cặp vợ chồng Công giáo Các chủ đề nghiên cứu này được triển khai với những vấn đề nghiên cứu cụ thể như: Mối quan hệ giữa tôn giáo và quyền quyết định sinh sản trong gia đình; Mức độ tuân thủ những luật lệ của tôn giáo và niềm tin tôn giáo ảnh hưởng đến hành vi sử dụng BPTT; Tỷ lệ sinh sản của các gia đình chịu ảnh hưởng của giáo dục tôn giáo, đặc biệt là những gia đình có nguồn gốc đạo Công giáo… Kết quả của các nghiên cứu này đã phác họa một bức tranh bao quát về sự biến đổi quan niệm truyền sinh và việc thực hiện KHHGĐ trong Công giáo trong bối cảnh CNH-HĐH và toàn cầu hóa, thể hiện qua mức sinh trong Công giáo ngày càng giảm, giáo dân Công giáo sử dụng BPTT nhân tạo ngày càng tăng và ngày càng thế tục hóa trong việc thực hành những chuẩn mực liên

Trang 37

quan đến sinh sản của Giáo hội (như Giáo dân có xu hướng lựa chọn các BPTT theo hoàn cảnh cá nhân hơn là tuân thủ nghiêm ngặt giáo huấn của Giáo hội )

Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án chưa được các nghiên cứu trước đây đề cập hay đề cập chưa được đầy đủ và hệ thống như: Biến đổi nhận thức về truyền sinh của giáo dân Công giáo trong thời kỳ CNH-HĐH; Tuân thủ giáo lý hôn nhân Công giáo về quy định tránh thai cụ thể của các cặp vợ chồng Công giáo; Nhận thức, niềm tin và hành vi sử dụng BPTT tự nhiên và nhân tạo của các cặp vợ chồng Công giáo; Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, niềm tin và hành vi lựa chọn sử dụng loại hình BPTT của các cặp vợ chồng Công giáo Do đó, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề còn bỏ ngõ này

Liên quan đến tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, các tư liệu nghiên cứu trước đây đã hỗ trợ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm: cách tiếp cận nghiên cứu về tôn giáo và sinh sản, cách tiếp cận văn hóa cụ thể là tiếp cận niềm tin và sự kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính…

Trang 38

CHƯƠNG HAI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Những khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án

Nội dung sau đây là phần thao tác hóa các khái niệm cơ bản sử dụng trong luận án, bao gồm: Vợ chồng Công giáo, Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo, Nhận thức (Nhận thức về truyền sinh nhìn từ góc độ xã hội, Nhận thức

về truyền sinh nhìn từ góc độ giáo lý hôn nhân Công giáo), Thái độ, Hành vi, Mộ đạo, Kế hoạch hoá của các cặp vợ chồng Công giáo và Biện pháp tránh thai

2.1.1 Vợ chồng Công giáo

Trong Công giáo, việc công nhận người nam và người nữ là vợ chồng được căn cứ theo 2 điều kiện: (1) Tuân thủ luật hôn nhân và gia đình và (2) Tuân thủ các yêu cầu của giáo hội Công giáo, bao gồm: Người nam và người nữ phải được rửa tội theo nghi thức Công giáo (đồng đạo), Chưa từng kết hôn, Học qua lớp giáo lý hôn nhân của Giáo hội Công giáo (học kiến thức cần thiết về đức tin, kỹ năng sống gia đình, sinh sản, giáo dục con cái)

2.1.2 Quan niệm truyền sinh trong hôn nhân của Công giáo

Giáo hội Công giáo quan niệm “Truyền sinh (Procreation) là một ân huệ, một mục tiêu của hôn nhân, vì tình yêu vợ chồng tự nhiên hướng về việc sinh sản con cái Con cái là hoa quả và thành tựu của tình yêu vợ chồng, hiện diện ngay trong việc vợ chồng hiến thân cho nhau, chứ không phải một cái gì từ bên ngoài được ghép vào Vì thế giáo hội Công giáo dạy rằng “mọi hành vi ân ái phải tự nó mở ngỏ cho việc truyền sinh” “Giáo lý này đã được Huấn Quyền trình bày nhiều lần, nền tảng của giáo lý này là sự liên kết bất khả phân ly giữa hai ý nghĩa của hành vi ân ái: kết hợp và truyền sinh Đây là điều chính Thiên Chúa đã muốn và con người không được tách rời” [68] Hiến Chế mục vụ về Hội thánh (1965) đã nêu “Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái Bổn phận truyền sinh và giáo dục con cái phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ

Trang 39

sinh sản diễn ra trong hôn nhân giữa nam và nữ, sau khi kết hôn họ phải có nhiệm

vụ sinh sản và không được phép tác động ngăn chặn tiến trình sinh sản”

Quan niệm truyền sinh của giáo hội Công giáo đã trở thành niềm tin, thành chuẩn mực và đặt ra các hành vi mong đợi cho các thành viên như: Hôn nhân và cuộc sống tình yêu đã được tự nhiên sắp đặt để truyền sinh và giáo dục con cái Sự sinh sản con cái là mục đích nền tảng của hành động phối ngẫu, bắt nguồn từ chính bản chất của tự nhiên [68]

2.1.3 Nhận thức

Theo Ronald H Forgus và Lawrence E Melamed (1976)“Nhận thức là tiến trình xác định cách con người diễn giải thế giới xung quanh họ như thế nào” Hay nhận thức là cách cá nhân nghĩ về một cá nhân khác hay một sự kiện nào đó [139]

2.1.3.1 Nhận thức về truyền sinh nhìn từ góc độ xã hội

Trong xã hội loài người, sinh sản hướng đến những giá trị, chuẩn mực mà xã hội mong đợi như: duy trì và thay thế các thế hệ, bền vững hôn nhân, mong muốn con cái Đối với Công giáo, Hiến Chế mục vụ về Hội thánh (1965) đã nêu “Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái Bổn phận truyền sinh và giáo dục phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ

chồng” (Gaudium et spes, câu 50) Như vậy, theo quan điểm xã hội của Công giáo,

để truyền sinh trở thành hành vi mong đợi thì nhất thiết phải gắn liền 3 yếu tố là: (1) Hôn nhân, (2) Tình dục và sinh sản và (3) Con cái Trong luận án, 3 yếu tố này là các biến số được sử dụng để tìm hiểu nhận thức cá nhân về truyền sinh nhìn từ góc

độ xã hội

2.1.3.2 Nhận thức về truyền sinh nhìn từ góc độ giáo lý hôn nhân Công giáo

Sinh sản là một trong những chủ đề mà giáo lý hôn nhân chú trọng, Giáo hội Công giáo có những quy tắc riêng liên quan đến sinh sản qua việc xác lập những giáo điều cho giáo dân thực hiện như: “Sinh sản có trách nhiệm” và “Bắt buộc sử dụng BPTT tự nhiên” Vì vậy, trong khuôn khổ luận án, nhận thức các cặp vợ chồng

về truyền sinh nhìn từ góc độ giáo lý hôn nhân chính là nhận thức của họ về các

giáo điều này

Trang 40

2.1.4 Thái độ

Theo Bem (1970), định nghĩa thái độ là những gì cá nhân thích và không thích.[96] Tương tự, Alice Hendrickson Eagly và Shelly Chaiken (1993) định nghĩa thái độ là “Một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một thực thể cụ thể với một mức độ ủng hộ hoặc phản đối” [91]

là “Mộ đạo” Ngoài ra, một số học giả phân biệt hai loại mộ đạo:

Mộ đạo mang tính tổ chức (Organizational religiosity) (hay mộ đạo công cộng hoặc ngoại tính) đề cập đến sự tham gia hoặc liên quan của cá nhân đến các tổ chức tôn giáo Mộ đạo này được đo lường bằng tần suất tham dự các hoạt động ở nhà thờ bao gồm tham dự thánh lễ, hoạt động thanh niên hay buổi học kinh thánh

Mộ đạo mang tính phi tổ chức (Non-organizational religiosity) (hay mộ đạo riêng tư, cá nhân hoặc nội bộ) đề cập đến các thực hành cá nhân hoặc thực hành các niềm tin tôn giáo Ví dụ về mộ đạo phi tổ chức thường được đo lường bằng tầm quan trọng của Thiên Chúa trong cuộc sống hàng ngày của một người hoặc tần suất cầu nguyện của họ [134]

Trong nghiên cứu này, khái niệm mộ đạo đề cập đến mộ đạo mang tính tổ chức, cụ thể là sự tham gia các hoạt động ở nhà thờ của cá nhân, bao gồm: (1) Số lần tham gia thánh lễ trong tháng, (2) Mức độ tham gia các sinh hoạt, các tổ chức đoàn thể của giáo xứ trong tháng và (3) Mức độ tham gia các hoạt động từ thiện của

Ngày đăng: 27/03/2019, 14:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w