1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá đất đai và đề xuất sử dụng hợp lý đất nông nghiệp huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

119 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 4,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá đất đai nhằm cung cấp những thông tin thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng từng đơn vị đất đai, làm căn cứ cho các nhà quản lý đưa ra quyết định sử dụng và quản lý đất đai hợp lý, hiệu quả và bền vững. Hiện nay, công tác đánh giá đất đã trở thành một khâu quan trọng trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất và quy hoạch sử dụng đất đai.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HCM

*************************

HOÀNG VĂN HỮU

ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN TÂN THÀNH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

*************************

HOÀNG VĂN HỮU

ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN TÂN THÀNH

Trang 3

ĐÁNH GIÁ ĐẤT ĐAI VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN TÂN THÀNH

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

HOÀNG VĂN HỮU

Hội đồng chấm luận văn

Trang 4

Cơ quan công tác: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương Thời gian công tác: từ năm 2015 đến nay

Tháng 10 năm 2015 theo học Cao học ngành Quản lý đất đai tại Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ liên lạc: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương

Điện thoại: 0168.8538.778

Email: hoangvanhuunls@gmail.com

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Hoàng Văn Hữu

Trang 6

MỤC LỤC

TRANG

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Đất, đất đai và phân loại sử dụng đất 4

1.1.1 Đất và đất đai 4

1.1.2 Phân loại sử dụng đất 5

1.2 Thích nghi đất đai và đánh giá đất đai 6

1.2.1 Thích nghi đất đai 6

1.2.2 Đánh giá thích nghi đất đai 7

1.3 Những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và Việt Nam 9

1.3.1 Trên thế giới 9

1.3.2 Tại Việt Nam 12

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Nội dung nghiên cứu 18

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 18

Trang 7

2.1.3 Đánh giá thích nghi đất đai huyện Tân Thành 18

2.1.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Thành 19

2.2 Phương pháp nghiên cứu 19

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 19

2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 21

2.2.3 Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp 21

2.2.4 Phương pháp đánh giá đất theo FAO 22

2.2.5 Phương pháp sử dụng bản đồ và công nghệ GIS 22

2.2.6 Phương pháp chuyên gia 23

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 24

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 24

3.1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 24

3.1.1.2 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên 31

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

3.1.3 Đánh giá chung 41

3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 45

3.2.1 Tình hình quản lý nhà nước về đất đai 45

3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai huyện Tân Thành 50

3.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất 50

3.2.2.2 Biến động sử dụng đất huyện Tân Thành giai đoạn 2010 - 2015 51

3.2.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành 50

3.3 Đánh giá thích nghi đất đai huyện Tân Thành 56

3.3.1 Xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính của huyện 56

3.3.1.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp 56

3.3.1.2 Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính của huyện 61

3.3.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính 62

Trang 8

3.3.2.2 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất 64

3.3.3 Đánh giá tiềm năng đất đai huyện Tân Thành 69

3.3.3.1 Lựa chọn các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 70

3.3.3.2 Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 71

3.3.3.3 Đánh giá khả năng thích nghi đất đai 71

3.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Thành 78

3.4.1 Các quan điểm cơ sở đề xuất 78

3.4.2 Căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành 79

3.4.3 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2025 80

3.4.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 84

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

PHỤ LỤC 92

Trang 9

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ đầy đủ

CNLN Công nghiệp lâu năm

CPTG Chi phí trung gian

DTTN Diện tích tự nhiên

GTGT Giá trị gia tăng

GTSX Giá trị sản xuất

HQĐV Hiệu quả đồng vốn

HQKT Hiệu quả kinh tế

HQMT Hiệu quả môi trường

HQXH Hiệu quả xã hội

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu khí hậu đặc trưng 27

Bảng 3.2 Lượng mưa và phân bố mưa ở các trạm có liên quan 28

Bảng 3.3 Phân loại đất huyện Tân Thành 32

Bảng 3.4 Hiện trạng dân số ở huyện Tân Thành năm 2015 40

Bảng 3.5 Lao động trong độ tuổi ở huyện Tân Thành năm 2015 41

Bảng 3.6 Diện tích tự nhiên toàn huyện năm 2015 46

Bảng 3.7 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 50

Bảng 3.8 Biến động sử dụng đất huyện Tân Thành giai đoạn 2010 - 2015 51

Bảng 3.9 Diện tích – Năng suất – Sản lượng một số loại cây trồng chính năm 2017 56

Bảng 3.10 Hiệu quả kinh tế các cây trồng chính huyện Tân Thành 63

Bảng 3.11 Hiệu quả kinh tế trên 1 ha của công thức luân canh huyện Tân Thành 66

Bảng 3.12 Các tính chất đất đai được lựa chọn để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai 70

Bảng 3.13 Yêu cầu sử dụng đất của từng loại hình sử dụng đất 71

Bảng 3.14 Đánh giá khả năng thích nghi của các loại hình sử dụng đất 75

Bảng 3.15 Diện tích đất theo mức độ thích nghi của từng loại hình sử dụng đất 77

Bảng 3.16 Định hướng sử dụng đất huyện Tân Thành đến năm 2025 83

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tân Thành trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 24 Hình 3.2 Sơ đồ các đơn vị hành chính trên địa bàn huyện Tân Thành 25 Hình 3.3 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Tân Thành 42

Trang 12

sự cạnh tranh, xung đột về đất đai, các mâu thuẫn giữa phát triển và môi trường ngày càng trở nên gay gắt trong khi khả năng khai hoang đất mới lại hạn chế

Trước thực tế ấy, nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai để tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đánh giá tiềm năng đất đai không chỉ dừng lại ở việc đánh giá các yếu tố tự nhiên của đất mà phải đánh giá đầy đủ các đặc tính tự nhiên gắn với điều kiện kinh tế - xã hội, các nhu cầu và mục tiêu của người sử dụng đất Đánh giá tiềm năng đất đai cung cấp thông tin đầy đủ về đất, mục đích và loại hình sử dụng đất được coi là cơ sở, tiền đề quan trọng để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Việt Nam là một nước đất chật, người đông, tài nguyên có hạn, với diện tích tự nhiên là 33,1 triệu ha, dân số khoảng hơn 86 triệu người Những phương

Trang 13

động của các yếu tố tự nhiên đã làm cho đất Việt Nam đang trong quá trình thoái hoá, tiềm năng đất đai đang giảm sút Muốn sử dụng đất một cách hợp lý, bảo vệ và bồi dưỡng đất con đường tất yếu phải đi là đầu tư theo chiều sâu, mà trước hết cần phải xác định đúng tiềm năng đất đai từ đó là căn cứ cho việc xây dựng định hướng cũng như đưa ra các giải pháp nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên đất cho các mục đích sử dụng

Huyện Tận Thành thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu là huyện nằm trong khu vực tam giác kinh tế trọng điểm phía Nam, bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai

và Bà Rịa - Vũng Tàu, có vị trí địa lý hết sức thuận lợi cho phát triển KT - XH; có khả năng phát triển công nghiệp - dịch vụ - thương mại và nông - lâm nghiệp Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa tất yếu diện tích đất nông nghiệp của huyện

sẽ bị chuyển dần sang đất phi nông nghiệp, sự chuyển dịch này là phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội; ngoài ra sự chuyển dịch đó còn phải phù hợp với điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép Vì vậy, nhất thiết phải tiến hành điều tra xác định được chất lượng đất đai cũng như tiềm năng của đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất từ việc sử dụng đất

Đánh giá đất đai nhằm cung cấp những thông tin thuận lợi và khó khăn cho việc sử dụng từng đơn vị đất đai, làm căn cứ cho các nhà quản lý đưa ra quyết định

sử dụng và quản lý đất đai hợp lý, hiệu quả và bền vững Hiện nay, công tác đánh giá đất đã trở thành một khâu quan trọng trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất

và quy hoạch sử dụng đất đai

Từ thực tiễn nói trên, việc chọn địa bàn huyện Tân Thành để thực hiện đề tài: “Đánh giá đất đai và đề xuất sử dụng hợp lý đất nông nghiệp huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Tân Thành

Mục tiêu cụ thể

Trang 14

- Nắm vững số lượng, chất lượng đất đai, xác định tiềm năng sử dụng đất nông nghiệp;

- Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững cho huyện Tân Thành

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

- Đánh giá tài nguyên đất đai nhằm xác định mức độ thích nghi đất đai, đặc tính phù hợp của đất đai với các loại hình sử dụng đất cho hiện tại và tương lai

- Các loại đất chính (Major soil units) trên địa bàn huyện, trong đó nghiên cứu đặc tính của từng đơn vị đất đai và khả năng thích nghi của chúng đối với yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất được chọn để đánh giá

- Các loại hình sử dụng đất (Land-use types) và các hệ thống sử dụng đất (Land use Systems) trong nông nghiệp trên địa bàn

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong toàn phạm vi địa giới hành chính

của huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Phạm vi thời gian: Các vấn đề liên quan đến đối tượng và địa bàn nghiên

cứu trong khoảng thời gian 07 năm từ năm 2010 đến năm 2017

4 Ý nghĩa của đề tài

Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở dữ liệu khoa học về đánh giá đặc điểm và hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp Từ đó, đề xuất hướng sử dụng đất phục vụ phát triển ngành nông nghiệp của huyện trong tương lai

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện các cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả đối với huyện Tân Thành và những địa phương có điều kiện tương tự ở tỉnh bà Rịa – Vũng Tàu Đồng thời, cũng là cơ

sở để UBND huyện Tân Thành thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về đất đai, phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, tăng hiệu quả sử dụng đất, góp

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Đất, đất đai và phân loại sử dụng đất

1.1.1 Đất và đất đai

Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên liên quan đến khái niệm, định nghĩa

về đất, khái niệm đầu tiên được ra đời vào năm 1983 do học giả người nước Nga ông Docuchaev Ông đã đưa ra một định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về đất “Đất là lớp vỏ phong hóa trên cùng của trái đất, được hình thành do tác động tổng hợp của năm yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình và thời gian” Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh,

do đó sau này một số học giả khác bổ sung các yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm nêu trên

Tác giả người Anh, Wiliam đưa thêm khái niệm về đất như sau: “Đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa có khả năng sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng” Như vậy theo quan điểm này, đặc tính cơ bản nhất của đất là độ phì nhiêu, là khả năng cho sản phẩm (Nguyễn Mười và cs, 2000)

Tác giả E.Mitschrlich (1923) cho rằng “Đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp dinh dưỡng” và “Đất là cái khối hỗn hợp gồm các phần tử nhỏ, cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật” Theo Các Mác cho rằng: “Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau”

Theo Brinkman và Smyth (1976): “Đất đai về mặt địa lý mà nói là vùng đất chuyên biệt trên bề mặt trái đất, có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ

dự đoán được trong khu vực sinh quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong

đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật, động vật và kết

Trang 16

quả của những hoạt động con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại

và tương lai”

Theo quan điểm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng “Đất đai là diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại”

Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất

bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và

ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người

1.1.2 Phân loại sử dụng đất

Sử dụng đất (land uses): Đó là hoạt động tác động của con người vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn trong quá trình sử dụng Trên thực tế có nhiều loại hình sử dụng đất chủ yếu như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cỏ, đất trồng rừng, đất cảnh quan du lịch, v.v…, ngoài ra còn có đất sử dụng

đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là trong hiện tại nhưng cũng có thể là trong tương lai, nhất

là khi các điều kiện kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất thường gắn với những đối tượng cây trồng hay vật nuôi cụ thể (Phạm Chí Thành và Đào Châu Thu, 1998)

Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp thì mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là

Trang 17

Phân loại sử dụng đất nông nghiệp: Căn cứ vào mục đích sử dụng nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau:

- Đất trồng cây hàng năm là đất trồng những loại cây ngắn ngày gồm đất trồng lúa, đất trồng cỏ dùng váo chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác

- Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới cho thu hoạch, trồng trọt một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm như bưởi, cam, cà phê,

- Đánh giá đất đai: Theo định nghĩa của FAO: "Đánh giá đất đai là quá trình

so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu cần phải có" (FAO, 1976)

- Đánh giá tiềm năng đất đai là một quá trình xác định số lượng, chất lượng đất liên quan đến mục đích của đất được sử dụng Đó là việc phân chia hay phân hạng đất đai thành các nhóm dựa trên các yếu tố thuận lợi hay hạn chế trong sử dụng như: độ dốc, độ dày tầng đất, đá lẫn, tình trạng xói mòn, khô hạn, mặn hoá,… trên cơ sở đó có thể lựa chọn những loại sử dụng phù hợp

Thực chất đánh giá tiềm năng đất đai chính là sự kế thừa của quá trình đánh giá đất Tuy nhiên, đánh giá đất thì chỉ đi sâu vào đánh giá cho từng khoanh đất, vạt đất cụ thể để lựa chọn những loại hình sử dụng đất phù hợp còn đánh giá tiềm năng

Trang 18

đất là xác định được diện tích đất thích hợp với từng mục đích sử dụng trên cơ sở các đặc điểm, điều kiện tự nhiên của đất và các mối quan hệ trong phát triển kinh tế

- xã hội

- Đánh giá mức độ thích hợp đất đai: Là quá trình xác định mức độ thích hợp cao hay thấp của các kiểu sử dụng đất cho một đơn vị đất đai và tổng hợp cho toàn khu vực dựa trên so sánh yêu cầu kiểu sử dụng đất với đặc điểm các đơn vị đất đai

1.2.2 Đánh giá thích nghi đất đai

1.2.2.1 Các phương pháp đánh giá thích nghi đất đai trước FAO (1976)

Khoảng giữa thế kỷ 20, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem như là bước nghiên cứu kế tiếp của công tác nghiên cứu đặc điểm đất (soil) Những nghiên cứu và các hệ thống đánh giá đất đai sau đây khá phổ biến:

Phân loại khả năng đất có tưới (Irrigation land suitability classification) của Cục cải tạo đất đai – Bộ Nội vụ Mỹ (USBR) biên soạn năm 1951 Trong phân loại này, ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu kinh tế cũng được xem xét nhưng giới hạn trong phạm vi thủy lợi (Lê Cảnh Định, 2011)

Phân hạng khả năng đất đai (The land capability classification) do Cơ quan bảo vệ đất – Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) soạn, 1961 Mặc dù hệ thống này được xây dựng nhằm áp dụng trong nước Mỹ nhưng các nguyên lý của nó được áp dụng

ở nhiều nước Trong đó, phân hạng đất đai chủ yếu dựa vào những hạn chế của đất đai gây trở ngại đến sử dụng đất, những hạn chế khó khắc phục cần phải đầu tư về vốn, lao động, kỹ thuật,… mới có thể khắc phục được Hạn chế được chia thành 2 mức: hạn chế tức thời và hạn chế lâu dài Đất đai được xếp hạng chủ yếu dựa vào hạn chế lâu dài (vĩnh viễn) Hệ thống đánh giá đất đai chia ra làm 3 cấp: lớp (class), lớp phụ (sub-class) và đơn vị (unit) Đất đai được chia làm 8 lớp và những hạn chế tăng dần từ lớp I đến lớp VIII, từ lớp I đến lớp IV có khả năng sử dụng cho nông- lâm nghiệp, lớp V đến lớp VII chỉ có thể sử dụng cho lâm nghiệp, lớp VIII chỉ sử dụng cho các mục đích khác (Davidson, 1992)

Kết luận: Đây là một trong những cách tiếp cận trong đánh giá đất đai, có

Trang 19

đến vấn đề kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất, cũng như không thể xem xét mối tương quan về không gian giữa các loại hình sử dụng đất và các tính chất đất đai, do vậy không phù hợp trong nghiên cứu này

1.2.2.2 Đánh giá thích nghi đất đai theo phương pháp FAO (1976)

Năm 1970 nhiều nước đã phát triển hệ thống đánh giá đất đai cho riêng mình Điều này làm cho việc trao đổi kết quả đánh giá đất trên thế giới gặp nhiều khó khăn Cuối cùng các nhà nghiên cứu thấy rằng cần phải có phương pháp đánh giá đất đai chung cho toàn cầu nhằm giúp cho việc tổng hợp các kết quả đánh giá đất đai một cách thống nhất Công tác chuẩn bị được thực hiện bởi hai ủy ban: Hà Lan và FAO, kết quả là FAO (1972) ra đời Trên cơ sở FAO (1972) được đem ra thảo luận tại hội thảo quốc tế Wagenien (Hà lan) vào tháng 10/1973 Bảng tóm tắt của các cuộc thảo luận và kiến nghị đã được soạn thảo, in ấn lại bởi Brinkman và Smyth FAO, 1973

Giai đoạn tiếp theo là 01/1975 hội nghị chuyên đề đánh giá đất đai tổ chức tại Rome (Italy), tại hội nghị những ý kiến đóng góp cho hội thảo 1973 được đưa ra thảo luận Các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai FAO và nhiều quốc gia khác

đã cùng nhau biên soạn lại toàn bộ nội dung có liên quan phương pháp đánh giá đất đai Kết quả cuối cùng là tài liệu “A frame for and evalutation” FAO được công bố vào năm 1976 và được chỉnh sửa bổ sung vào năm 1983 Tiếp theo tài liệu này, hàng loạt các tài liệu đánh giá đất đai cho các đối tượng cụ thể được ban hành như:

Đánh giá đất đai cho nông nghiệp nhờ mưa (Land evaluation for agriculute, 1983); cho nông nghiệp có tưới (Land evaluation for agricutute, 1985); đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive gazing, 1989); cho sự phát triển (Land evaluation for development, 1990); đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác phục vụ quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and framing system analysis for land-use planning, 1992) và hướng dẫn đánh giá đất đai phục vụ cho quản lý bền vững (An international Framework for evaluating sustaiable management, 1993) Đến năm 2007, FAO một lần nữa khẳng định vai trò đánh giá thích nghi đất đai bền vững trong quản lý đất đai (Land evalution towards a revised framework, 2007)

Trang 20

Thực chất, đây là tập hợp các hướng dẫn về phương pháp luận, có thể ứng dụng trong bất kỳ dự án nào, ở bất kỳ tỷ lệ nào trên toàn thế giới Bên cạnh việc đánh giá tiềm năng đất đai còn đề cập đến các thông tin về kinh tế, xã hội và kỹ thuật canh tác của từng loại hình sử dụng đất cụ thể, cung cấp thông tin cho nhà quy hoạch lựa chọn các phương án sử dụng đất hợp lý Hiện nay công tác đánh giá đất đai được thực hiện ở nhiều quốc gia và trở thành một khâu quan trọng trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất vùng lãnh thổ

1.2.2.3 Các nguyên tắc đánh giá đất của FAO

1) Khả năng thích nghi được đánh giá và phân cấp cho một LUTs cụ thể; 2) Trong đánh giá đất đai cần có sự so sánh giữa đầu tư (inputs) và thu nhập (outputs) ở các loại đất khác nhau;

3) Phải có sự kết hợp đa ngành trong đánh giá đất đai;

4) Trong đánh giá đất đai cần phải xem xét tổng hợp các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội;

5) Đánh giá khả năng thích nghi đất đai phải dựa trên cơ sở bền vững;

6) Đánh giá đất đai bao hàm cả việc so sánh hai hoặc nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau

Theo những nguyên tắc trên thì đánh giá đất đai là xác định các mức thích nghi của một vùng đất cho các mục tiêu xác định, không chỉ đánh giá đơn thuần về

tự nhiên mà phải phân tích cả về kinh tế- xã hội và tác động môi trường

Vì vậy, những thông tin từ đánh giá đất đai sẽ là cơ sở rất quan trọng trong định hướng sử dụng tài nguyên đất đai

1.3 Những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông - lâm nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất

Trang 21

lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để có thêm đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất Kết quả là, hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới Đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…Ước tính

có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu bị thoái hoá do nhân tác Theo P.Buringh, diện tích đất có khả năng nông nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền), trong đó, đất đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác

Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới

là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại

Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm

Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 cho

ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN

Trang 22

* Tình hình nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa

Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: Đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức

sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn

Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định, chế độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Ở Thái Lan, nông nghiệp không chỉ đơn thuần làm tăng trưởng kinh tế, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người dân mà còn bảo vệ môi trường sinh thái hiệu quả Quốc gia này cũng đã và đang triển khai thực hiện tốt về chiến lược quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững nông nghiệp Đồng thời Thái Lan cũng đã áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và thu được những kết quả khả quan như năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, giải quyết được việc làm và tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường hiệu quả Đánh giá về thành công của nông nghiệp Thái Lan, nhà nghiên cứu nông nghiệp Sachika Hirokawa (2010) cho rằng, thành công của nông nghiệp Thái Lan đó là

Trang 23

nông nghiệp theo hướng hữu cơ Nghĩa là cây trồng được chăm sóc bằng phân bón hữu cơ là chủ yếu, giảm phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Nông dân ở các vùng đã thành lập nhóm sản xuất phân hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm phân bón chất lượng cao, có hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, tăng thu nhập và bảo vệ môi trường

Ở Indonesia, phần lớn hoạt động sản xuất nông nghiệp được thực hiện theo

mô hình trang trại, trong đó, cây trồng vật nuôi được phát triển theo công nghệ sản xuất kết hợp giữa phương pháp tăng vụ truyền thống và phương pháp thâm canh theo chiều sâu Theo đó, Indonesia đã thực hiện chế độ trợ cấp chuyển giao công nghệ phù hợp, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, tăng vốn đầu tư và nâng cao kiến thức chuyên môn và thông tin thị trường cho nông dân Trong đó, việc áp dụng sử dụng máy móc trong sản xuất nông nghiệp vừa đạt được năng suất cao vừa hạn chế thất thoát tình trạng lãng phí, làm giảm nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước Để thực hiện được mô hình này, Indonesia đã tăng cường hệ thống

cơ sở hạ tầng nông thôn như hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thông tin và các dịch vụ xã hội khác để tăng cường đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn Bên cạnh việc thực hiện tốt về mặt kinh tế xã hội, Indonesia cũng đã quan tâm đến biện pháp chống suy thoái đất có hiệu quả và bền vững tài nguyên sinh vật trên cơ sở áp dụng các mô hình canh tác hợp lý trên từng loại hình sử dụng đất Đánh giá về mô hình này, nhà nghiên cứu Sachika Hirokawa (2010) đã cho rằng đó là mô hình phát triển gắn sản xuất với tăng cường hệ thống chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ nông lâm thủy sản; đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu kinh tế nông thôn; chú trọng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường

1.3.2 Tại Việt Nam

1.3.2.1 Phạm vi cả nước

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2015, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên

là 33.096.731 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 10.231.717 ha, dân số là 91.876 ngìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.113,64 m2/

Trang 24

người Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng

cây hàng năm ở Việt Nam

Dân số (1000 người)

Bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp m2/người

6.437,3 6.409,5

86.928 91.876

1.163 1.113

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015

Qua bảng số liệu cho thấy, đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% diện tích tự nhiên và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất

Trang 25

thấp Do vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có hiệu quả

* Tình hình nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Đã có nhiều nghiên cứu về đất đai nói chung và đất nông nghiệp được thực hiện, nhiều công trình đã được công bố Các công trình này hầu hết chú trọng đến việc lai tạo, chọn lọc các giống cây trồng, vật nuôi cho năng suất cao, góp phần vào tăng hiệu quả sử dụng đất như Đề xuất lúa xuân ngắn ngày của Bùi Huy Đáp (1960); Luân canh bố trí hệ thống cây trồng của Ngô Thế Dân (1982); Vấn đề tăng canh, xen canh, gối vụ của Vũ Tuyên Hoàng (1987); Hệ thống nông nghiệp Việt Nam của Phạm Văn Hiền (2009)

Trong giai đoạn 1990, nhiều chương trình tổng thể được tiến hành nhằm nghiên cứu và đề xuất phát triển đa dạng hóa nông nghiệp Một số công trình nghiên cứu về phân vùng sinh thái và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng Sông Hồng của Đào Châu Thu (1991) và Đào Thế Tuấn (1992) hoặc phân vùng sinh thái

và hệ thống cây trồng đồng bằng sông Cửu Long của Nguyễn Văn Luật (1997) đã kết luận về phân vùng sinh thái và biện pháp áp dụng giống cây trồng trên những vùng sinh thái khác nhau nhằm khai thác sử dụng đất để mang lại hiệu quả kinh tế cao Công trình nghiên cứu về hệ thống cây trồng trên đất dốc của Lê Duy Thước (1993), Lê Đình Sơn (1993), Lê Thanh Hà (1993),v.v…đã đề xuất các mô hình hình sử dụng đất hiệu quả và được phổ biến áp dụng

Một số công trình nghiên cứu về phân vùng sinh thái và hệ thống cây trồng vùng đồng bằng Sông Hồng của tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần Thị Tú Ngà (1990); Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác giả Quyền Đình Hà (1993); Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá cây trồng vùng ĐBSH của tác giả Vũ Năng Dũng (1997), Quy hoạch sử dụng đất vùng ĐBSH của tác giả Phùng Văn Phúc (1996), phân bón cho lúa ngắn ngày trên đất phù sa sông Hồng của tác giả Nguyễn Như Hà (2000), Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu

Trang 26

quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Phạm Văn Dư (2009),v.v đã đề xuất các mô hình hình sử dụng đất hiệu quả và được phổ biến

áp dụng

Gần đây, một số nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu chuyên sâu về khoa học đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp như đề tài Đánh giá và đề xuất phân vùng thích nghi đất đai phục vụ cho định hướng quy hoạch sản xuất nông – lâm - ngư của nhóm tác giả Võ Thị Gương, Võ Quang Minh, Lê Quang Tự (2003); Nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai của Nguyễn Ích Tân (2004); Đánh giá khả năng thích nghi đất đai vùng ven biển Bạc Liêu bằng công nghệ GIS của Trần Văn Hùng, Lê Quang Trí; Đánh giá thích hợp đất đai nhằm sử dụng đất nông nghiệp bề vững huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định của Phạm Thị Phin, Nguyễn Hữu Thành (2012)

Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các đề xuất hướng sử dụng và bảo

vệ đất

1.3.2.2 Phạm vi vùng Đông Nam Bộ

Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) là nơi tập trung những cao nguyên bazan rộng lớn, ngay từ những năm 1930 các chuyên gia thổ nhưỡng người Pháp đã có những công trình nghiên cứu về đất và sử dụng đất, nhằm mục đích cho việc xây dựng các đồn điền cao su Đáng chú ý là công trình nghiên cứu lập bản đồ đất của Moorman (1958, 1959, 1961); Moorman, Goden (1960); Thái Công Tụng, Moorman (1958); Thái Công Tụng (1972, 1973) Trong đó, bản đồ đất tổng quát miền Nam Việt Nam

tỷ lệ 1/1.000.000, Moorman (1961) đã xây dựng chú dẫn tổng quát có 25 đơn vị bản

đồ, và 11 đơn vị chú giải Hạn chế của bản đồ này là bỏ sót nhóm đất phèn (Phan Liêu, 1992)

Năm 1971, Thái Công Tụng đã biên soạn tài liệu nghiên cứu về đất đai miền cao nguyên Trung phần và miền Đông Nam phần Tác giả đã mô tả 5 nhóm đất

Trang 27

năng sử dụng Bao gồm: đất Podzolic xám, có nguồn gốc từ phù sa cổ sinh; đất Latosols nâu đỏ được hình thành do sự hủy hoại của đá bazan; đất có ít chất hữu cơ

và có đốm rỉ, có nguồn gốc từ phù sa cổ; đất Latosols nâu và cạn trên đá bazan, có nguồn gốc từ đá bọt bazan trong điều kiện úng thủy; đất phù sa tương ứng

Những năm đầu sau giải phóng miền Nam, do yêu cầu cấp bách tổ chức lại sản xuất, đã xây dựng bản đồ đất tỷ lệ 1/100.000 cho các tỉnh Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai, Côn Đảo (Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, 1977)

Bản đồ đất ĐNB tỷ lệ 1/250.000 (Phan Liêu và ctv, 1988) xây dựng trong khuôn khổ chương trình quốc gia điều tra tổng hợp ĐNB (chương trình 60-G), đã phát hiện 8 nhóm đất với 44 đơn vị đất Trong những năm 1991 - 1994, bản đồ đất 1/100.000 các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Sông Bé, Tây Ninh, Đồng Nai được điều tra

bổ sung chỉnh lý (Phan Liêu và ctv, 1991; Phạm Quang Khánh và ctv, 1994)

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân loại đất theo quan điểm phát sinh và chia đất vùng ĐNB ra 9 nhóm đất chính (đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù

sa, đất đen, đất xám, đất đỏ vàng, đất dốc tụ và đất trơ sỏi đá) với các đơn vị bản đồ đất được phân chia kỹ tới chủng và biến chủng, coi trọng chỉ tiêu kết von, thành phần cơ giới, đá mẹ, độ dốc, tầng dày đất Các tài liệu này đã phát hiện tương đối đầy đủ các nhóm đất chính nhưng các contour đất rất đơn điệu; nhóm đất phèn có phát hiện nhưng không thấy rõ bản chất mà chỉ dựa vào hàm lượng SO42- và pH tầng đất mặt để chia ra đất phèn ít và phèn trung bình (Phan Liêu, 1992)

1.3.2.3 Phạm vi tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Công trình nghiên cứu của Moorman, năm 1961 đã xây dựng bản đồ đất tổng quát Nam Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 (General soil map of south VN); trên cơ sở sử dụng các tổ hợp và các nhóm đất có cùng nguồn gốc phát sinh, đã xây dựng chú dẫn tổng quát gồm 25 đơn vị đất Trong đó, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 9 đơn vị đất: Đất phù sa không phân biệt, đất phù sa mặn, đất cát trắng và đụn cát vàng, đất Latosol

và Regur nông cạn trên nham huyền vũ, đất Podzolic cát trên nham thạch acid địa hình từ phẳng đến uốn, đất Podzolic xám trên phù sa cổ, tổ hợp đất núi, đất Latosols

Trang 28

nâu đỏ trên nham huyền vũ địa hình từ phẳng đến uốn (trích dẫn theo Phạm Quang Khánh và ctv, 2004)

Kết quả điều tra lập bản đồ đất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ở tỷ lệ 1/50.000 của Phân viện quy hoạch và TKNN, 2005 Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tuy có diện tích không lớn, nhưng có quỹ đất đa dạng vào bậc nhất vùng ĐNB và cả nước, tạo cho tỉnh các loại hình sử dụng đất phong phú Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có 09 trong tổng

1 nhóm đất của toàn quốc, ngoại trừ các nhóm đất trên núi cao và có tất cả các nhóm đất hiện diện ở vùng ĐNB Trong đó có cả những nhóm đất được xếp vào loại tốt nhất trong các đất đồi núi ở nước ta, là đất trên đá bazan, và các đất tốt nhất

ở vùng đồng bằng là đất phù sa Đồng thời tỉnh cũng có những đất có vấn đề đó là, các đất phèn, đất mặn, đất cát, đất xám Toàn tỉnh có 24 đơn vị chú dẩn bản đồ thuộc 9 nhóm đất

Bà Rịa – Vũng Tàu được xem là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước, nghiên cứu đánh giá xây dựng bản đồ đất hoàn toàn theo phương pháp quốc

tế FAO/UNESCO

Trang 29

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nội dung nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

- Đánh giá điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên

- Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao động, trình độ dân trí, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, dịch vụ và cơ sở hạ tầng

- Từ đó rút ra những thuận lợi và khó khăn trong phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện

2.1.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tình hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Tân Thành

- Tình hình quản lý nhà nước về đất đai

- Hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai giai đoạn 2010-2015

- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

2.1.3 Đánh giá thích nghi đất đai huyện Tân Thành

- Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp phổ biến của huyện và đánh giá hiệu quả sử dụng đất Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp theo các chỉ tiêu lựa chọn: Giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, tiền công lao động, thu nhập thuần, hiệu quả đồng vốn

- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai và đánh giá thích nghi các loại hình sử dụng đất phổ biến cho từng đơn vị đất đai

Trang 30

2.1.4 Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Tân Thành

- Các quan điểm cơ sở đề xuất

- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin

- Thông tin thứ cấp:

Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội được thu thập từ các cơ quan Nhà nước như Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục Thống kê, Các phòng ban Các tài liệu bao gồm:

Niên giám thống kê 2015

Bản đồ đất huyện Tân Thành

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Thành năm 2010, 2015 tỷ lệ 1/25.000

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện

Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020

Văn kiện đại hội Đảng bộ huyện Tân Thành nhiệm kỳ 2015-2020

Các tài liệu khác có liên quan

- Thông tin sơ cấp:

Điều tra chính thức các nông hộ bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA – Rual Rapid Appraisal); phỏng vấn nông hộ bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, xin ý kiến chuyên gia và bổ sung từ thực địa Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu, đề tài tiến hành lựa chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Chọn xã điều tra với tiêu chí mỗi xã có diện tích trồng các loại cây trồng phổ biến của địa bàn lớn Chọn hộ điều tra với tiêu chí các nông hộ có trồng với diện tích khá

lớn một trong các loại cây trồng phổ biến của huyện

Trang 31

Theo số liệu thống kê năm 2015, tổng số hộ dân làm nông - lâm nghiệp trong vùng nghiên cứu là 35.880 hộ (lớn hơn 200) nên trong trường hợp này dung lượng mẫu được áp dụng theo công thức sau của Yamane (1967 – 1986):

- Trong đó: + n: là mẫu cần xác định cho nghiên cứu điều tra

+ N: là tổng số nông hộ ở vùng nghiên cứu + e: là mức độ chính xác mong muốn

- Áp dụng công thức: ta có N = 35.880 hộ, với sai số cho trước là 10% (sai số cho phép 5-10%) và độ tin cậy là 90%, ta sẽ tính được số phiếu tối thiểu phỏng vấn là: 100 (phiếu)

Thông qua số liệu thứ cấp đã thu thập đề tài xác định hệ thống cây trồng huyện Tân Thành gồm 5 loại hình sử dụng đất chính như sau:

Loại hình sử dụng chuyên lúa: đề tài chọn các xã có điều kiện thuận lợi là Châu Pha, Phước Hòa, mỗi xã 15 phiếu điều tra Tổng cộng là 30 phiếu điều tra

Loại hình sử dụng đất lúa luân canh màu: loại hình sử dụng đất lúa luân canh màu được nông dân huyện Tân Thành áp dụng rộng rãi Giá trị kinh tế của loại hình

sử dụng đất này đạt mức khá cao Bên cạnh cây lúa được canh tác vào các tháng mùa mưa, các cây màu hiện nay được áp dụng phổ biến như đậu đũa, bắp, khổ qua, bầu, bí, mè, cà chua, mướp Mô hình này được nhân rộng tại các xã Châu Pha, Sông Xoài, Tân Hải, Hắc Dịch, … Đề tài chọn 2 xã Châu Pha, Sông Xoài để nghiên cứu, trung bình mỗi xã 15 phiếu điều tra Tổng cộng là 30 phiếu điều tra

Loại hình sử dụng đất cây hàng năm: phân bố rải rác ở các xã với các loại cây trồng như: bắp, mì, mía, đậu các loại, rau, khoai lang Đề tài chọn 2 xã Tóc Tiên, Hắc Dịch để nghiên cứu, trung bình mỗi xã 15 phiếu điều tra Tổng cộng là 30 phiếu điều tra

Loại hình sử dụng đất cây CN lâu năm: Đây là một trong những loại hình sử dụng đất mang tính chủ lực của huyện Tân Thành với các loại cây như cà phê, cao

2

) (

N n

Trang 32

su, điều, tiêu, ca cao… Đề tài chọn 2 xã Sông Xoài, Hắc Dịch để nghiên cứu, trung bình mỗi xã 15 phiếu điều tra Tổng cộng là 30 phiếu điều tra

Loại hình sử dụng đất cây ăn quả: Cây ăn quả trên địa bàn huyện Tân Thành khá đa dạng với nhiều loại cây trồng, chiếm ưu thế về diện tích và sản lượng là các loại cây có múi và các loại cây mùa vụ khác như mãng cầu, xoài, nhãn, mít, chôm chôm… Đề tài chọn 2 xã Châu Pha, Hắc Dịch để nghiên cứu, trung bình mỗi xã 15 phiếu điều tra Tổng cộng là 30 phiếu điều tra

Tổng số phiếu điều tra cần thực hiện là 150 phiếu Mẫu được chọn là các hộ sản xuất nông nghiệp có diện tích khá lớn một trong các loại cây trồng phổ biến của huyện

2.2.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Các số liệu sơ cấp sau khi thu thập, điều tra được tính toán, phân tích, đánh giá và tổng hợp thông qua phần mềm Microsoft Excel Kết quả nghiên cứu được trình bày bằng hệ thống các bảng số liệu, biểu đồ

2.2.3 Phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp

Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được đánh giá dựa trên cơ sở các chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong đánh giá đất Hiệu quả sử dụng đất trên 1ha đất của các loại hình sử dụng đất (LUT) sản xuất nông nghiệp gồm:

Hiệu quả kinh tế:

Giá trị sản xuất (GTSX) là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định thường là một vụ (hoặc một năm) Với hệ thống cây trồng, GTSX là giá trị của sản lượng trên một đơn vị diện tích

GTSX = Sản lượng x đơn giá

Chi phí trung gian (CPTG) là toàn bộ chi phí vật chất được tính bằng tiền tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó

Giá trị gia tăng (GTGT) là hiệu số giữa GTSX và CPTG, đó chính là sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT = GTSX - CPTG

Trang 33

Thu nhập thuần (TNT) là giá trị thu được sau khi đã trừ đi CPTG và tiền công lao động (TCLĐ)

TNT = GTSX - (CPTG + TCLĐ)

Tỷ suất lợi nhuận = TNT*100/GTSX

2.2.4 Phương pháp đánh giá đất theo FAO

Đánh giá và phân hạng thích nghi các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên giữa các loại hình sử dụng đất và đặc tính đất đai, cùng với những phân tích về kinh tế -

xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất làm cơ sở đề xuất hướng sử dụng đất

2.2.5 Phương pháp sử dụng bản đồ và công nghệ GIS

Phương pháp bản đồ được áp dụng để thể hiện thông tin về vị trí địa lý vùng nghiên cứu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm nghiên cứu và kết quả việc định hướng sử dụng đất Hệ thống bản đồ được xây dựng trên hệ quy chiếu VN

2000 qua việc sử dụng kỹ thuật GIS với các phần mềm chuyên dụng như ArcGIS, Mapinfo, Microsoft Office bao gồm:

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất: kế thừa bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Tân Thành năm 2015 ở tỷ lệ 1/25.000

Bản đồ đơn vị đất đai:

Từ các bản đồ đơn tính: thổ nhưỡng (soil), độ dốc, tầng dày, khả năng tưới, kết von, yếu tố gley, dưới sự hỗ trợ của công cụ Arcgis Tiến hành chồng xếp các bản đồ đơn tính thông qua công cụ Overlay Intersect của phần mềm ArcGIS để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai huyện Tân Thành

Bản đồ thích nghi đất đai:

Xác định các loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện

Sử dụng phần mềm Excel để xác định yêu cầu sử dụng đất đối với các LUT theo các mức độ: Rất thích nghi (S1), Thích nghi (S2), Ít thích nghi (S3) và Không thích nghi (N)

Tiến hành xây dựng vùng thích nghi trên cơ sở chồng xếp giữa bản đồ đơn vị đất đai và yêu cầu sử dụng đất của các LUT

Trang 34

Bản đồ đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp: được xây dựng trên cơ sở bản đồ thích nghi đất đai và định hướng phát triển nông nghiệp của huyện

2.2.6 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo Phòng Nông nghiệp

và phát triển nông thôn, cán bộ khuyến nông của huyện về vấn đề sử dụng đất nông nghiệp:

Đối với cán bộ quản lý huyện: Mục tiêu tham vấn là cán bộ quản lý thuộc các phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Phỏng vấn trực tiếp, tập trung vào cán bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực quản lý đất đai, quản lý môi trường và quản lý sản lượng nông sản Nội dung các câu hỏi dùng để phỏng vấn như hiện trạng sử dụng đất nông nghiêp, đối tượng trồng trọt được lựa chọn cho từng mô hình, thuận lợi và khó khăn của các nông hộ, hợp tác

xã, tổ hợp tác trong việc sử dụng đất nông nghiệp,…

Đối với cán bộ quản lý cấp xã, thị trấn: Mục tiêu hướng đến là cán bộ địa chính và cán bộ nông nghiệp của các xã, thị trấn điều tra Điều tra và phỏng vấn trực tiếp, nội dung điều tra là thuận lợi và khó khăn của nông hộ trong việc sử dụng đất nông nghiệp

Đối với các nhà khoa học: Tiếp thu ý kiến của các chuyên gia là các nhà khoa học, đặc biệt các chuyên gia có công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nếu có thể hoặc qua các tài liệu, sách, báo, tạp chí,…

Trang 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên

3.1.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Tân Thành có vị trí khá quan trọng là cửa ngõ phía Tây bắc của Tỉnh và nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía nam; có hệ thống giao thông khá thuận lợi trong việc giao lưu hàng hóa với các huyện thị khác trong tỉnh nói riêng và vùng Đông Nam Bộ nói chung Ranh giới hành chính được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Long Thành - tỉnh Đồng Nai

- Phía Nam giáp thành phố Bà Rịa

- Phía Đông giáp huyện Châu Đức và thành phố Bà Rịa

- Phía Tây giáp huyện Cần Giờ - TP Hồ Chí Minh

Hình 3.1 Sơ đồ vị trí huyện Tân Thành trong tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 36

Nhìn chung, huyện Tân Thành có lợi thế rất lớn về vị trí địa lý (giao thông

bộ và giao thông thủy), vì vậy ta có thể khai thác lợi thế này phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Toàn huyện có 01 thị trấn và 09 xã với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Tân Thành là 33.383,58 ha (theo kết quả kiểm kê đất đai ngày 31/12/2014 của huyện Tân Thành); dân số toàn huyện trung bình năm 2015 là 143.523 người, mật độ dân số trung bình 430 người/km2

Hình 3.2 Sơ đồ các đơn vị hành chính trên địa bàn huyện Tân Thành

Trang 37

b Địa hình

Huyện Tân Thành có địa hình tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho bố trí

sử dụng đất Trong đó: độ dốc <30 chiếm 63,38% diện tích tự nhiên, độ dốc 3-80

chiếm 12,56%, độ dốc 8-150 chiếm 3,83% là các dạng địa hình rất thuận lợi cho bố trí sử dụng đất, chỉ có 0,17% có độ dốc 15-250, đồng thời có 10,36% có độ dốc rất lớn >250

Có 3 dạng địa hình chính sau:

- Địa hình đồi núi thấp: Là các ngọn đồi, núi thuộc hệ thống các dãy núi

Dinh, Thị Vải, Tóc Tiên, Ông Trịnh… thuộc địa bàn các xã Tóc Tiên, Châu Pha, Phước Hòa, TT Phú Mỹ, … với độ cao khoảng 300-500m Núi Dinh có độ cao lớn nhất: 518,7m, sau đến các núi Sương Mù, Thị Vải, Tóc Tiên Các núi thấp như núi Con Gà, núi Ông Trịnh… Những núi này có độ dốc cao, cấu tạo bởi đá macma axit

có hạt rất thô, cùng với điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, mưa lớn và tập trung, thảm thực vật cạn kiệt nên quá trình sói mòn rửa trôi rất mạnh mẽ, làm cho tầng đất rất mỏng

- Địa hình đồi lượn sóng: có độ cao từ 30-120m, bao gồm những đồi đất

bazan Trái ngược với những núi thấp, địa hình này bằng, thoải, độ dốc chỉ khoảng 0-80 Loại địa hình này chiếm một diện tích lớn nhất so với các dạng địa hình khác, bao trùm gần hết là khối đất bazan, một ít là phù sa cổ và các cồn cát

- Địa hình đồng bằng: Có thể chia địa hình đồng bằng thành hai dạng sau:

+ Bậc thềm sông có độ cao từ 5-10m, có nơi cao 2-5m, dọc theo các sông

và tạo thành từng giải hẹp có chiều rộng rất thay đổi từ 4-5m đến 10-15m Đất ở đây được cấu tạo từ các sản phẩm bồi đắp aluvi hiện đại, đất thường có chất lượng khá tốt, vì vậy hầu hết đã được khai thác đưa vào sử dụng

+ Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển và đầm mặn: là địa hình thấp nhất toàn huyện, với cao trình từ 0,3-2m Thường xuyên ngập triều, mạng lưới sông rạch rất chằng chịt, có rừng ngập mặn che phủ Địa hình này cấu tạo từ những vật liệu không thuần thục, bở rời, có nhiều sét và vật liệu hữu cơ

Trang 38

c Khí hậu

Tân Thành thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao đều quanh năm, ít gió bão, không có mùa đông lạnh, không có những cực đoan lớn về khí hậu, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nói riêng và bố trí sử dụng đất nói chung

Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu khí hậu đặc trưng

Vũng Tàu

Trạm Xuân Lộc

đa dạng về thời tiết mùa, (ii) khí hậu có tính biến động rất cao do hệ quả của phức

hệ gió mùa và quan hệ tương tác với cảnh quan địa hình (iii) diễn thế khí hậu quan

hệ với động lực gió mùa

Có bức xạ mặt trời cao so với cả nước: trên 130 kcalo/cm2/năm Thời kỳ có cường độ bức xạ cao nhất vào tháng 3 và tháng 4, đạt 300-400 calo/cm2/ngày Trên nền đó cán cân bức xạ có trị số lớn 70-75 kcalo/ cm2/năm Từ nguồn năng lượng đó chế độ nhiệt cao và khá ổn định: nhiệt độ cao đều trong năm 23.6-27.3oC (Trạm Xuân Lộc) và 24.7-28oC (Trạm Vũng Tàu) Nhiệt độ trung bình tối cao không quá

30oC và nhiệt độ trung bình tối thấp không dưới 20oC Tổng tích ôn cao

Trang 39

8.500-Tân Thành có lượng mưa không cao: 1352 mm/năm tại Vũng Tàu; và 1.163mm/năm tại Bà Rịa, phân bố không đều, hình thành hai mùa trái ngược nhau: mùa mưa và mùa khô

Bảng 3.2 Lượng mưa và phân bố mưa ở các trạm có liên quan

Bà Rịa

Trạm Bình Ba

Trạm Long Thành

1 Ngày kết thúc mùa khô thực sự 05/V 30/IV 20/IV

3 Ngày Kết thúc mùa mưa thực sự 13/X 28/X 26/X

4 Ngày bắt đầu mùa khô thực sự 05/XI 21/XI 29/XI

5 Số ngày chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa

6 Số ngày trong mùa mưa thực sự (ngày) 142 165 162

7 Số ngày chuyển tiếp từ mùa mưa sang mùa

8 Số ngày trong mùa khô thực sự (ngày) 181 160 142

9 Tổng lượng mưa trong mùa mưa thực sự

Mùa mưa kéo dài trong 06 tháng từ tháng 5 đến tháng 10, mưa rất tập trung, lượng mưa trong 06 tháng mùa mưa chiến 87-90% tổng lượng mưa cả năm, chỉ riêng 04 tháng mưa lớn nhất, lượng mưa đã chiếm 62-63% lượng mưa cả năm

Trang 40

Ngược lại lượng bốc hơi và nền nhiệt thấp hơn mùa khô và khi đó cán cân ẩm ở Xuân Lộc là +1616 mm Lượng mưa lớn và tập trung đã xảy ra quá trình xói mòn, rửa trôi rất mạnh, lôi cuốn sét mùn từ nơi cao xuống nơi thấp, làm bất đồng hóa phẫu diện và dẫn tới nhiều biến đổi quan trọng trong phân hóa vỏ thổ nhưỡng

Lượng mưa phân hóa theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp Mùa mưa (Vụ Hè thu và vụ Mùa) cây cối phát triển rất tốt và là mùa sản

xuất chính Ngược lại mùa khô cây cối khô cằn phát triển rất kém Vì vậy, trong huyện còn một diện tích không nhỏ là lúa 1 vụ sản xuất được trong mùa mưa

d Hệ thống sông rạch và chế độ thủy văn

Nguồn nước mặt

Trên địa bàn huyện có 2 sông chính và một số sông nhỏ: Đặc điểm nổi bật của các sông này là lòng sông hẹp, nhỏ, dòng chảy ngắn, vì vậy khả năng bồi đắp phù

sa cũng như khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất không nhiều

Hệ thống sông Thị Vải: là một nhánh sông thuộc hệ thống sông Đồng

Nai, bắt nguồn từ dãy núi cao Trường Sơn Nam, với tổng chiều dài 635 km, có diện tích lưu vực khoảng 37400 km2, độ cao nguồn 1700 m, độ cao bình quân lưu vực 470m, độ dốc bình quân lưu vực 4,6% Phần sông Đông Nai nằm trong địa phận Tân Thành hoàn toàn thuộc phần hạ lưu, tiến sát ra biển và được gọi là sông Thị Vải Với chiều dài khoảng 25 km, rộng trung bình 600-800 m, sâu 10-20 m, có những vị trí có thể sử dụng tốt cho xây dựng cảng

- Sông Thị Vải: nằm ở phần hạ lưu sông Đồng Nai thông ra biển, chạy song song với quốc lộ 51 và là đường ranh giới huyện Tân Thành với huyện Cần Giờ Tp

Hồ Chí Minh Đoạn sông này dài khoảng 25 km, rộng trung bình 600-800 m, sâu 10-20 m chịu ảnh hưởng rất nặng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông nên nước sông bị nhiễm mặn gần như quanh năm (tháng có độ mặn cao lên đến >25 g/l, nên ít có ý nghĩa cho sản xuất nông nghiệp mà chỉ có thể tận dụng tính chất nguồn nước này để nuôi trồng thủy sản nước mặn) Song con sông này xét về mặt giao thông thủy lại có vai trò đặc biệt quan trọng, hiện đã và đang xây dựng

Ngày đăng: 27/03/2019, 13:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w