Khái quát vê hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN... ASEAN hiện tại bao gồm 10 nước thành viên và hai nước quan sát viên, ứng cử viên là Papua New Guinia và Đông Timor.. Sự hình
Trang 1Đề bài: 3
Thông qua những nội dung cơ bản của các văn bản pháp lí sau, chứng minh rằng tiến trình hợp tác chính trị – an ninh của ASEAN luôn phù hợp với yêu cầu hợp tác trong từng thời kì và ngày càng được hoàn thiện
- tuyên bố Băng cốc 1967
- Tuyên bố ZOPFAN 1971;
- Tuyên bố Bali và Hiệp ước Bali 1976;
- Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân SEANWFS;
- Tuyên bố Bali II 2003;
- Hiến chương ASEAN 2007;
- Kế hoạch tổng thể xây dựng APSC 2009
Trang 2BÀI LÀM:
MỞ BÀI
Theo tiến trình xây dựng cồng đồng ASEAN thì cộng đồng chính trị an ninh ASEAN giữ vai trò là một trong ba trụ cột hợp tác của cộng đồng ASEAN Các nước ASEAN nhận thức rất rõ việc phải đưa hợp tác chính trị an ninh lên một tầm cao mới, nhằm duy trì hòa bình ổn định trong khu vực, đối phó với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, song hành với nhiệm vụ thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực và mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài Nhìn lại quá trình lịch sử, trong mỗi thời kì, tiến trình hợp tác chính trị an ninh của ASEAN ngày càng có những bước tiến vững chắc Đi cùng mỗi thời kỳ là một văn bản pháp lý cụ thể ( Tuyên bố Băng Cốc 1967, tuyên bố ZopFan 1971, tuyên bố Bali và Hiệp ước Bali 1976, hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân SEANWTZ, tuyên bố Bali II 2003, Hiến chương ASEAN 2007, kế hoạch tổng thể xây dựng APSC 2009) đã chứng minh được hợp tác chính trị an ninh ASEAN luôn phù hợp với yêu cầu hợp tác trong từng thời kỳ và ngày được hoàn thiện
NỘI DUNG
1 Khái quát vê hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN.
Đông Nam Á là một khu vực địa lý-nhân văn tương đối thống nhất với nhiều nét tương đồng về văn hóa và nhiều tiềm năng phát triển kinh tế Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa khu vực đã nhanh chóng hình thành và phát triển, nhiều tổ chức khu vực đã xuất hiện trên thế giới Nhu cầu thành lập một tổ chức khu vực của Đông Nam Á càng được đẩy mạnh hơn vào thập kỷ 60 khi mà cuộc chiến tranh ở Đông Dương đặc biệt là ở Việt Nam đang được phát triển ở đỉnh cao;các cường quốc đang có những kế hoạch mở rộng sự ảnh hưởng tới Đông Nam Á.Chính vì vậy, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là tổ chức liên chính phủ được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng-cốc, Thái Lan trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc với 5 thành viên ban đầu là Thái Lan, Indonexia, Philippin, Xingapo, Malaysia với mục tiêu tăng cường hợp tác
Trang 3chính trị, an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới
- Qua quá trình phát triển, các quốc gia còn lại lần lượt gia nhập ASEAN: Bru-nây(1984), Việt Nam(1995), Lào( 1997), Mi-an-ma(1997) và Cam-pu-chia(1999) ASEAN hiện tại bao gồm 10 nước thành viên và hai nước quan sát viên, ứng cử viên là Papua New Guinia và Đông Timor
Hợp tác ASEAN ngày càng được mở rộng và đi vào chiều sâu, bao gồm nhiều lĩnh vực từ chính trị-an ninh đến kinh tế thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường, khoa học-công nghệ… ASEAN cũng đã thiết lập được quan hệ hợp tác nhiều mặt với các Đối tác trong và ngoài khu vực thông qua các tiến trình như ASEAN+1 (hợp tác ASEAN với từng Đối tác); ASEAN+3 (với 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc); Cấp cao Đông Á (với 3 nước Đông Bắc Á và Ấn Độ, Ôx-trây-lia, Niu Di-lân); Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF)
Sau 4 thập kỷ tồn tại và phát triển, ASEAN đã lớn mạnh thành một trở thành một thực thể chính trị - kinh tế gắn kết, có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và là đối tác không thể thiếu của các nước và các tổ chức lớn trên thế giới Trên nền tảng đó, ASEAN đã nhất trí đẩy mạnh hợp tác và tăng cường liên kết nhằm hướng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN vững mạnh dựa trên ba trụ cột là Chính trị-An ninh, Kinh tế và Văn hóa-Xã hội vào năm
2015
2 Sự hình thành hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN.
a Cơ cở hình thành:
Các nước Đông Nam Á có vị trí địa lí rất đặc biệt là cầu nối giữa hai Đại Dương lớn: Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, hơn nữa đây còn là khu vực án ngữ hai con đường huyết mạch vận chuyển dầu mỏ từ Trung Đông tới các nước Phương Tây Đồng thời láng giềng gần “ thân thiết” của các nước Đông Nam Á là Trung Quốc, cũng đang nâng tầm ảnh hưởng của mình với khu vực này Với vị trí địa lý trọng yếu như vậy là lý do để ở thời điểm đó các ông lớn như Mỹ, Liên Xô tranh
Trang 4giành tầm ảnh hưởng với khu vực Sự tác động này làm cho mối đe dọa về an ninh của các quốc gia Đông Nam Á bị đe dọa nghiêm trọng và yêu cầu đặt ra là phải liên kết về an ninh chính trị để tự cứu lấy mình
Cùng với vị trí địa lý thì việc xét trong bối cảnh sự hình thành hợp tác chính trị
an ninh cũng có vai trò quan trọng không kém Ở thời điểm bắt đầu hình thành hợp tác chính trị an ninh thì các quốc gia thành viên của ASEAN đều là các quốc gia non trẻ mới giành lại được độc lập( trừ Thái Lan) yêu cầu phải liên kết lại để phát triển, liên kết lại để tồn tại là rất cần thiết
b Quá trình hình thành:
Sự phát triển hợp tác chính trị an ninh của ASEAN trong quá trình phát triển
đã qua nhiều nấc thang lịch sử đánh dấu những bước đi quan trọng từ thấp đến cao về hợp tác chính trị- an ninh của khối Xét một cách tổng thể thì ta có thể chia quá trình hình thành này làm 3 giai đoạn Bao gồm
Giai đoạn 1967 đến 1976: Trong giai đoạn này các nước ASEAN hợp tác chính trị-an ninh chỉ dừng lại ở mức độ tao ra nền tảng hợp tác lâu dài bằng một số hoạt động chung, chủ yếu giải quyết các vấn đề chính trị trong và ngoài nước nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, xây dựng lòng tin giữa các quốc gia Đông Nam Á
Sở dĩ, sự hợp tác an ninh – chính trị giữa các quốc gia lỏng lẻo như vậy là do ASEAN mới thành lập, các quốc gia còn nghi kị lẫn nhau, chưa có lòng tin với nhau ( trong lịch sử hình thành, các nước Đông Nam Á thường xảy ra xung đột, tranh giành lãnh thổ) Chính vì vậy, cần xây dựng lòng tin nhằm xóa đi sự nghi kị thì khi đó sự hợp tác về an ninh – chính trị mới thực sự phát huy tác dụng của sức mạnh tập thể
-Giai đoạn 1976 đến 1992: đây là gia đoạn củng cố cơ cấu tổ chức và tiến hành hợp tác toàn diện nội khối và bước đầu hợp phát triển hợp tác ngoại khối Các nước ASEAN đã có sự tin tưởng lẫn nhau, sự hợp tác an ninh – chính trị ngày càng bền chặt hơn, tạo điều kiện thuận lợi giúp ASEAN hợp tác sang lĩnh vực kinh tế
Trang 5-Giai đoạn 2003 đến nay: Năm 2003, thành lập Cộng đồng ASEAN Năm
2007, Hiến chương ASEAN được thông qua Qua đó, Cộng đồng ASEAN nêu rõ mục đích hợp tác về an ninh – chính trị, bao gồm: Duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh và ổn định, tăng cường các giá trị hướng tới hòa bình khu vực; nâng cao khả năng tự cường khu vực thông qua đẩy mạnh hợp tác an ninh – chính trị, kinh tế và văn hóa – xã hội; duy trì Đông Nam Á là khu vực không có vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt khác; đối phó hữu hiệu với tất cả các mối đe dọa, các loại tội phạm xuyên quốc gia và thách thức xuyên biên giới, phù hợp với nguyên tắc an ninh toàn diện; tăng cường hợp tác trong việc xây dựng cho người dân ASEAN môi trường an toàn, an ninh và không có ma túy; duy trì vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như một động lực chủ chốt trong quan hệ và hợp tác với các đối tác bên ngoài trong cấu trúc khu vực mở, minh bạch và thu nạp
3 Chứng minh qua nội dung các văn bản:
3.1 Tuyên bố Băng Cốc 1967:
Ngày 8/8/1967, tại Bangkok, Thái Lan, Bộ trưởng phụ trách các vấn đề chính trị kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Phó Thủ tướng Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines, Bộ trưởng Ngoại giao Singapore và Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan đã ra Tuyên bố ASEAN Đây là Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á với mục tiêu đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa; tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cũng như thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực
Tuyên bố Bangkok đánh dấu sự ra đời của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, xác định những nguyên tắc nền tảng cho quan hệ hợp tác bền vững của ASEAN Mặc dù không có điều khoản hoàn toàn độc lập ghi nhận về chiến lược xây dựng và phát triển trụ cột hợp tác chính trị - an ninh, nhưng căn cứ vào nội dung tinh thần của Tuyên bố Bangkok thì mục đích hàng đầu vẫn là đưa Đông Nam Á trở thành
cộng đồng của các quốc gia hoà bình và thịnh vượng: “thúc đẩy hoà bình và ổn
Trang 6định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luât pháp trong quan hệ giữa các quốc gia trong vùng và tuân thủ nguyên tắc Hiến chương của Liên hợp quốc” Trong bối cảnh sau chiến tranh lạnh, tình hình thế giới có nhiều biến động,
sự ra đời của ASEAN cùng với Tuyên bố Bangkok đã mở ra thời kỳ hợp tác khu vực Đông Nam Á
3.2 Tuyên bố ZOFPAN 1971:
Hơn 4 năm sau Tuyên bố Bangkok, ngày 27/11/1971, tại Kuala Lumpur (Malaysia), Hội nghị Bộ trưởng ngoại giao 5 nước ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Xingapo, Thái Lan đã ký và công bố “Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á” - Tuyên bố ZOPFAN Tuyên bố quan trọng này đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN là xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dưới bất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài Với tuyên bố ZOFPAN, ASEAN đã bắt đầu có tiếng nói chính trị của mình đối với khu vực và quốc tế, chấm dứt thời kỳ dò dẫm ban đầu
Trong thời kỳ những năm 1967 – 1975 tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến chuyển quan trọng: Anh tuyên bố rút khỏi Đông Nam Á (1968), Mỹ bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam (1969)… Chính sự bất ổn định trong khu vực, cùng với những nguy cơ từ bên ngoài, đặc biệt là khi Anh rút đi có thể tạo nên những
“khoảng trống quyền lực” các nước lớn có thể lợi dụng can thiệp vào khu vực Ra đời trong bối cảnh đó, Tuyên bố ZOFPAN đánh dấu sự thay đổi trong chính sách đối nội và đối ngoại của ASEAN Vấn đề trung lập hoá mà Tuyên bố đưa ra tại thời điểm đó đã đáp ứng được nhiệm vụ giữ nguyên trạng tình hình Đông Nam Á, ngăn chặn sự can thiệp của các cường quốc mới như Trung Quốc, Nhật Bản đối với khu vực, buộc các quốc gia bên ngoài chính thức cam kết không can thiệp vào công việc nội bộ của Đông Nam Á, đồng thời sẽ giữ cho khu vực này không bị rơi vào vòng ảnh hưởng của bất kỳ siêu cường quốc nào Những nội dung cơ bản của vấn đề này
được thể hiện trong tuyên bố ZOPFAN “quyết tâm sử dụng những cố gắng cần thiết
Trang 7bước đầu để đảm bảo việc công nhận và tôn trọng Đông Nam Á là một khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập, không có sự can thiệp dưới bất kỳ hình thức và phương cách nào của các nước ngoài khu vực Các nước Đông Nam Á cần phối hợp nỗ lực nhằm mở rộng các lĩnh vực hợp tác để góp phần tăng cường sức mạnh, tình đoàn kết, mối quan hệ gắn bó hơn nữa” Đây là hành động hợp tác chính trị
tiêu biểu của ASEAN, thể hiện được ý thức tự cường của các quốc gia trong khu vực, nhằm hạn chế sự can thiệp của các cường quốc từ bên ngoài Đồng thời thể hiện lập trường trung lập hóa và mong muốn thoát khỏi sự rằng buộc vào các khối liên minh quân sự của các nước thành viên ASEAN trong bối cảnh Chiến tranh lạnh Trung lập hoá là nguyên tắc mà ASEAN luôn khẳng định và theo đuổi trong suốt quá trình phát triển của ASEAN từ khi thành lập cho đến nay Tư tưởng ZOPFAN đã thể hiện đặc trưng của ASEAN là muốn giải quyết các vấn đề khu vực bằng lực lượng bên trong của mình chứ không phụ thuộc vào bên ngoài Trong hoàn cảnh chiến tranh lạnh tranh giành quyền lực rất phức tạp, Tuyên bố ZOPFAN là biểu hiện nhạy cảm sáng suốt về chính trị của các nước ASEAN
3.3 Tuyên bố Bali và Hiệp ước Bali 1976:
a, Tuyên bố Bali:
Xuất phát từ mục đích và yêu cầu của các quốc gia ASEAN trong việc xây dựng khối đoàn kết và phát triển trong khu vực Đông Nam Á.Một nội dung quan trọng được các nhà lãnh đạo ASEAN thống nhất tại Hội nghị cấp cao ASEAN 19 là Tuyên bố chung Bali về cộng đồng ASEAN trong cộng đồng các quốc gia toàn cầu.Tại hội nghị, các lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Bali (hay còn gọi là Thỏa thuận Bali III) vạch ra quan hệ tương tác giữa cộng đồng ASEAN và các cộng đồng toàn cầu
Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN : Nêu rõ những mục tiêu và nguyên tắc bảo đảm sự ổn định chính trị ở khu vực như đẩy mạnh hợp tác trên các lính vực phát triển kinh tế và văn hoá, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp thiên tai, hợp tác trong các
Trang 8chương trình phát triển khu vực, phát triển hoà bình các cuộc tranh chấp ở khu vực, đồng thời xác định rõ những lĩnh vực hợp tác cụ thể về kinh tế
Tuyên bố Bali kêu gọi ASEAN củng cố kinh tế khu vực, thông qua các quy chuẩn sản xuất và phân phối hàng hóa, tiếp cận các tiến bộ và ứng dụng công nghệ, tăng cường đầu tư nông nghiệp và đa dạng hóa nguồn năng lượng
Các lãnh đạo ASEAN đã chứng kiến lễ ký kết thỏa thuận thành lập Trung tâm Điều phối cứu trợ nhân đạo và quản lý thảm họa ASEAN, tuyên bố Đoàn kết ASEAN về đa dạng hóa văn hóa và nghị định thư về sửa đổi thỏa thuận kinh doanh hàng hóa theo khung thỏa thuận hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN-Hàn Quốc
Các nhà lãnh đạo nhất trí ASEAN cần tăng cường phối hợp và nâng cao vai trò và đóng góp của ASEAN vào các công việc chung của cộng đồng quốc tế.Đây là một trong 3 ưu tiên mà nước chủ nhà Indonesia đặt ra trong năm Indonesia là Chủ tịch ASEAN 2011, xác lập tầm nhìn của ASEAN sau thời điểm ra đời cộng đồng ASEAN vào năm 2015
Tuyên bố chung Bali về cộng đồng ASEAN trong cộng đồng các quốc gia toàn cầu đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường hợp tác và phối hợp trong ASEAN đối với những vấn đề toàn cầu, trên các diễn đàn đa phương, thể hiện tầm nhìn chung cũng như duy trì và nâng cao vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình
b, Hiệp ước Bali 1976:
Trong bối cảnh ra đời của tổ chức ASEAN với mục tiêu đẩy mạnh hoạt động hợp tác kinh tế, văn hóa nhằm xây dựng một Đông Nam Á thành khu vực hòa bình, ổn định và phát triển
Tháng 2/ 1976 Hội nghi cấp cao họp tại Ba li (Indonesia) ký Hiệp ước thân thiện
và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali).Hiệp ước bali (2/1976) là hiệp ước xác
định những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ của các nước Đông Nam Á nhằm tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước thành viên,hợp
Trang 9tác cùng phát triển Chính sau hiệp ươc này thì mối quan hệ giữa các nước trong hiệp hội đã không ngừng phát triển, ngày càng gắn bó hơn nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp Vì vậy mà vị thế của ASEAN ngày càng lớn mạnh
Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, còn gọi là Hiệp ước Bali, đặt khuôn khổ cho nền hoà bình lâu dài ở khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết hoà bình các tranh chấp trong khu vực và kêu gọi hợp tác có hiệu quả trên các lĩnh vực nông
- công nghiệp, thương mại và cải thiện cơ sở hạ tầng kinh tế vì lợi ích chung của các nước trong khu vực
Từ những nguyên tắc cơ bản đã xác định thì hiệp ước Bali 1976 đã định hướng những bước đi trong tiến trình phát triển của các quốc gia ASEAN.Từ đây có thể khẳng định rằng ASEAN với tính chất là một tổ chức quốc tế khu vực càng trở nên quan trong, góp phần ổn định hòa bình, an ninh khu vực nâng cao vị thế của tổ chức, từ đó góp phần rất lớn vào quá trình hội nhập, giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới
3.4 Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân SEANWFZ:
Bước vào thế kỷ 21, những mối lo về vũ khí chiến tranh, đặc biệt là vũ khí có khả năng hủy diệt cao như vũ khí hạt nhân là một trong những vấn đề ngày càng được các nước trên thế giới quan tâm bởi sự nguy hiểm mà chúng đem lại là không thể lường trước, đồng thời cũng một phần do sức hủy diệt, tàn phá mà chúng tạo ra
vô cùng lớn Trong điều kiện đó, tháng 2/1995 các nước ASEAN đã ký kết Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân ASEAN (SEANWFZ) cam kết giải trừ và không phổ biến vũ khí hạt nhân, cam kết này tiếp tục được khẳng định tính đúng đắn của nó với việc Hiến chương ASEAN đi vào hiệu lực, trong đó có mục tiêu thiết lập và duy trì Đông Nam Á là một khu vực phi vũ khí hạt nhân và hủy diệt hàng loạt Việc thực hiện hiệu quả Hiệp ước SEANWFZ và hệ thống các biện pháp bảo vệ của IAEA sẽ bổ sung và tăng cường cho chế độ không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu, bởi Hiệp ước SEANWFZ là hiệp ước khu vực quan trọng nhất về không phổ
Trang 10biến vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á – một công cụ chiến lược vì hòa bình và an ninh khu vực, và là sự đóng góp quan trọng cho chế độ giải trừ không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu Ngoài ra hiệp ước này còn cung cấp một cơ sở pháp lý cho sự hợp tác với IAEA cả ở cấp quốc gia và khu vực
3.5 Tuyên bố Bali II 2003:
Tại Hội nghị cấp cao ASEAN-9 vào tháng 10/2003, Lãnh đạo các nước ASEAN
đã ký Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II (hay còn gọi là Tuyên bố Ba-li II), nhất trí đề
ra mục tiêu hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2020 với ba trụ cột chính: Cộng đồng An ninh (ASC), Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội (ASCC); đồng thời khẳng định ASEAN sẽ tiếp tục đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, vì mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và hợp tác cùng có lợi ở khu vực
Hội nghị cấp cao ASEAVN đã thông qua hiệp định lịch sử về việc thành lập một khối thương mại tự do, nhằm biến ASEAN thành một thị trường chung mang tính thống nhất hơn vào năm 2020 Hiệp định trên có tên gọi là "Tuyên bố Hòa hợp Bali II”
Hiệp định này sẽ đặt nền móng cho việc thiết lập một cộng đồng khu vực được hình thành trên nền tảng của trụ cột chính là Cộng đồng An ninh ASEAN, Cộng đồng Kinh tế ASSEAN (AEC) và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội ASEAN, nhằm tạo nên một nền hòa bình bền vững, ổn định và phát triển phồn vinh
Hiệp định đề nghị các nước thành viên tiêu chuẩn hóa quy chế về thủ tục và chi phí hải quan, hài hòa hóa các quy định về kỹ thuật trong khu vực vào năm 2004; bắt đầu lộ trình dỡ bỏ dần các rào cản phi thuế quan vào năm 2005, áp dụng các biện pháp làm cho ngành công nghiệp chế tạo hoạt động hiệu quả và có sức cạnh tranh hơn; bãi bỏ việc kiểm soát luồng vốn; sửa đổi và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế hiện hành
Trong cuộc họp thượng đỉnh kéo dài 2 ngày này, các nhà lãnh đạo ASEAN cũng
sẽ tiến gần hơn tới việc ký một hiệp định thương mại tự do với Trung Quốc, nhằm