1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghi ngờ vợ có con với người tình, h đã giết chết đứa con mà người vợ mới sinh được 3 ngày h bị tòa án xử phạt 12 năm tù về tội giết người theo quy đ

16 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 313,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không dừng lại ở đó, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, trong khoản 3 Điều 8 BLHS đã nêu rõ dấu hiệu cần thiết để phân loại tội phạm, cụ thể là: “ Tội phạm ít nghiêm trọng là tộ

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, hiện tượng tội phạm ngày càng gia tăng trên toàn thế giới nói chung và ở Việt Namnois riêng Trong đó có nhiều loại tội như: trộm cắp tài sản, xâm hại nề độc lập quốc gia… và tội giết người – cũng là một trong những tội thường xuyên xảy ra trong đời sống xã hội

và ngày càng linh hoạt,dã man Để làm rõ tội phạm này cũng như hiểu được Luật HSVN quy định nó ra sao chúng ta cùng nhau tìm hiểu tình huống sau:

Đề số 4:

Nghi ngờ vợ có con với người tình, H đã giết chết đứa con mà người vợ mới sinh được 3 ngày H bị tòa án xử phạt 12 năm tù về tội giết người theo quy định tại điều 93 BLHS

HỎI:

1 Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại đối với tội giết người

theo quy định tại Điều 93 BLHS (2 điểm)

2 Có thể dựa vào hình phạt 12 năm tù Tòa án đã tuyên bố đối với H để xác

định loại tội phạm mà H đã thực hiện không? Tại sao? (1 điểm)

3 Giả sử H là người Hàn Quốc sang Việt Nam lấy vợ thì H có phải chịu

trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam hay không? Tại sao?(2 điểm)

4 Xác định khách thể, đối tượng tác động của tội phạm mà H đã thực hiện?

(1điểm) _

Trang 2

B.GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS, hãy phân loại đối với tội giết người theo quy định tại Điều 93 BLHS (2 điểm)

Trả lời:

Tội phạm, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như trên nhưng nó là một hiện tượng có tính đa dạng thể hiện không chỉ ở các loại tội phạm khác nhau mà còn ở chỗ tội phạm được thực hiện bởi những con người cụ thể khác nhau với các tình tiết, diễn biến không giống nhau Điều này dẫn đến tính chất và mức độ nguy hiểm của mỗi loại tội phạm và mỗi người phạm tội có sự cao thấp khác nhau Do vậy, để có căn cứ xác định mức độ nguy hiểm của một tội phạm một cách chính xác và triệt để, đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt, từ

đó hoạt động áp dụng pháp luật có hiệu quả Do vậy tại khoản 2 Điều 8 BLHS, tội phạm đã được phân thành bốn nhóm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Không dừng lại ở đó, để việc áp dụng pháp luật được thống nhất, trong khoản 3 Điều 8 BLHS đã nêu rõ dấu hiệu cần thiết để phân loại tội phạm, cụ thể là:

“ Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội

mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Như vậy theo nội dung khoản 3 Điều 8, các nhóm tội phạm đã được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội (tính nguy hiểm

Trang 3

cho xã hội) và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí (tính phải chịu hình phạt) Xét về mặt nội dung chính trị - xã hội là xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nguy hiểm cho xã hội là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ tính nguy hiểm cho xã hội có tính khách quan,không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Các loại tội phạm khác nhau có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau

Xét về mặt hậu quả pháp lí: Bất kì hành vi nào gậy nguy hiểm cho xã hội,có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện xâm phạm đến các quan

hệ xã hội được quy phạm luật hình sự điều chỉnh thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lí được quy định rõ trong BLHS và mỗi loại tội phạm được BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là khác nhau phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội đó cho xã hội

Tóm lại, để nhận biết tội phạm đó thuộc loại tội phạm gì, ta phải dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội đó để phân loại cho từng loại tội, tránh dựa vào mức án do Tòa án tuyên

Trên cơ sở đó, phân loại đối với tội phạm giết người quy định tại điều 93 BLHS:

Khoản 1 Điều 93 BLHS quy định “ Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:…” Mức cao nhất của khung hình phạt đối với đối với

tội giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS là hai mươi năm,chung thân hoặc tử hình, thuộc vào khung hình phạt trên mười năm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS và hành vi phạm tội thuộc khoản này có

tính nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội Như vậy, những hành vi cấu thành tội giết người theo khoản 1 Điều 93 BLHS thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Khoản 2 Điều 93 quy định: “Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.” Mức cao

nhất của khung hình phạt đối với tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS là

Trang 4

15 năm tù giam thuộc khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm quy định tại khoản

3 Điều 8 BLHS và hành vi thuộc khoản này có tính nguy hại rất lớn cho xã hội

Như vậy, những hành vi cấu thành tội giết người theo khoản 2 Điều 93 BLHS thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Khoản 3 Điều 93 BLHS quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm lưu trú từ một năm đến năm năm.” Khoản

này quy định về hình phạt bổ sung

2.

Có thể dựa vào hình phạt 12 năm tù Tòa án đã tuyên đối với H để xác định loại tội phạm mà H đã thực hiện không? Tại sao? (1 điểm)

Trả lời:

Định tội là việc hành vi cụ thể đã thực hiện phạm vào tội gì trong số những tội phạm đã được quy định trong BLHS Hay nói cách khác, định tội là xác định tội danh cho hành vi thực hiện Định tội là cơ sở cần thiết đầu tiên để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội Chỉ trên cơ sở đã xác định tội danh quy định ở BLHS thì mới có thể xác định được biện pháp trách nhiệm hình sự Khoản 3 Điều 8 chính là căn cứ pháp lí duy nhất để phân loại tội phạm và xác định người đó phạm vào tội gì Theo đó, tội phạm được phân loại dựa vào “mức cao nhất của khung hình phạt” đối với tội ấy do đó không thể dựa vào hình phạt

mà tòa án đã tuyên để xác định tội danh được

Mặt khác bản án của Tòa án về một tội thì có nhiều mức án khác nhau hoặc

có rất nhiều tội có mức án như nhau Do đó không thể xác định được loại tội phạm dựa vào bản án Ngược lại, quy định về phân loại tội phạm để xác định tội danh tại khoản 3 Điều 8 là rõ ràng, có điểm đầu, điểm cuối do đó sẽ dễ xác định hơn Và điều quan trọng nhất là Luật mang tính tối cao, Tòa án phải áp dụng luật

để xét xử và quyết định hình phạt đối với tội phạm chứ không phải dựa vào mức hình phạt mà tòa án đã quyết định

Như vậy, không thể dựa vào hình phạt 12 năm tù Tòa án đã tuyên đối với H để xác định loại tội mà H đã thực hiện.

Trang 5

Giả sử H là người Hàn Quốc sang Việt Nam lấy vợ thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam không? Tại sao? (2 điểm)

Trả lời:

Tình huống được đặt ra là H là người Hàn Quốc sang Việt Nam lấy vợ và đã

có hành vi giết đứa con mà vợ vừa sinh Trong tình huống này, ta chưa thể kết luận được H có phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt Nam hay không do còn thiếu dữ kiện về không gian mà hành vi phạm tội đã xảy ra

Hiệu lực về không gian của BLHS Việt Nam được xác định theo hai nguyên tắc chủ yếu là nguyên tắc lãnh thổ và nguyên tắc quốc tịch Ngoài ra, nguyên tắc phổ cập cũng được sử dụng để xác định hiệu lực về không gian của BLHS đối với tội phạm do người nước ngoài thực hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam trong những trường hợp ngoại lệ

Trong tình huống đặt ra, H là người Hàn Quốc sang Việt Nam lấy vợ mà không nói chi tiết H có thuộc đối tượng được miễn trừ ngoại giao hay bị mất năng lực trách nhiệm hình sự; H sang Việt Nam lấy vợ nên ta có thể hiểu H đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS theo quy định của LHS Việt Nam Nhận thấy, tội phạm trên chưa rõ ràng về không gian và từ cơ sở lý luận vừa nêu, ta có thể xét tới hai trường hợp có thể xảy ra đối với hành vi giết người mà

H thực hiện :

+ Trường hợp 1 : H thực hiện hành vi giết người trên lãnh thổ Việt Nam

Ở trường hợp này, H là người Hàn Quốc và sang Việt Nam lấy vợ, sau đó sống tại Việt Nam Trong thời gian sống tại Việt Nam, H đã thực hiện hành vi giết con của người vợ mới sinh được 3 ngày

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 BLHS về Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

: “Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì hành vi giết người và

cụ thể là giết đứa trẻ mới sinh của H được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam thì

Trang 6

H phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam dựa trên nguyên tắc lãnh thổ

Ngoài ra, H là công dân Hàn Quốc thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H cũng có thể do cơ quan xét xử của nước Hàn Quốc thực hiện nếu việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh H do cơ quan có thẩm quyền của 2 nước Hàn Quốc và Việt Nam giải quyết bằng con đường ngoại giao Ví dụ như các cơ quan có thẩm quyền của 2 nước sẽ đàm phán với nhau xem nên áp dụng Luật Hình sự của nước nào thì phù hợp, có nên dẫn độ không? Hoàn toàn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự của Việt Nam nếu thỏa thuận giữa hai nước là chấp nhận việc H phải ở lại Việt Nam để xử lý theo pháp luật Việt Nam

Khoản 2 Điều 5 BLHS có quy định như sau : “Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.” Theo dự kiện đề bài nêu ra thì H không thuộc đối tượng được miễn

trừ ngoại giao hoặc hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự nào theo pháp luật Việt Nam nên H vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự Việt Nam

+ Trường hợp 2 : H thực hiện hành vi giết người trên lãnh thổ Hàn Quốc

Trong trường hợp này thì H hoàn toàn phải chịu sự truy cứu trách nhiệm hình sự theo Luật Hình sự của nước Hàn Quốc do H là một công dân Hàn Quốc

và thực hiện tội phạm trên lãnh thổ Hàn Quốc Luật Hình Sự Việt Nam không điều chỉnh hành vi giết người này vì đã vượt ngoài hiệu lực theo không gian và hiệu lực theo thời gian của luật HS Việt Nam

Vậy, H không phải chịu trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam

4.

Xác định khách thể, đối tượng tác động của tội phạm mà H đã thực

Trang 7

hiện? (1 điểm)

Trả lời:

Khách thể của tội phạm

Cũng giống như các hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý thức và độc lập với ý thức của chủ thể nhưng không phải là cải biến khách thể mà là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho chính những khách thể đó

Khách thể của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ

và bị tội phạm xâm hại

Khoa học Luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm là khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Cả ba khách thể đều là mức độ khác nhau Trong đó, khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội

cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng pháp luật cũng như trong thực tiễn xét xử Khách thể trực tiếp của tội phạm trước hết phải là những quan hệ xã hội bị tội phạm trực tiếp gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Chính qua sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại này mà tội phạm xâm hại đến khách thể loại và khách thể chung

Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tạo khoản 1 Điều 8 BLHS bao gồm: độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế

độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân…

Quay trở lại với tình huống, khách thể của tội phạm trong trường hợp phạm tội của H là quan hệ xã hội phải được luật hình sự bảo vệ và phải bị hành vi thực

tế của H xâm hại tới

Điều 71 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm.” Như vậy, quyền bảo hộ về sức khỏe của con người, quyền nhân

Trang 8

thân là một trong những quyền cơ bản, không thể thiếu của công dân Đối chiếu với Điều 1, khoản 1 Điều 8 BLHS thì ta khẳng định quyền nhân thân là quan hệ

xã hội được luật hình sự bảo vệ

Tội giết người mà H đã thực hiện trực tiếp xâm hại đến quyền sống của con người Trong số các quyền nhân thân, quyền sống của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được Nếu quyền sống của con người bị xâm hại thì các quan hệ xã hội khác sẽ bị phá

vỡ Quyền sống được đảm bảo bằng sự an toàn trong cuộc sống của mỗi người Cuộc sống được tính bằng thời điểm lọt lòng mẹ,có khả năng độc lập tiếp nhận những yếu tố vật chất (oxi, thức ăn…) cho đến khi chết (ngừng thở, tim ngừng đập…) theo quy luật của tự nhiên Tội giết người xâm phạm quyền sống của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của con người đang sống

Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thì khách thể của tội phạm mà H đã thực hiện là quan hệ nhân thân mà nội dung của nó

là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng con người.

Đối tượng tác động của tội phạm

Đối tượng tác động là bộ phận khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Đối tượng tác động của tội phạm là yếu tố quan trọng phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, là căn cứ xác định trách nhiệm hình sự của tội phạm Đối tượng tác động của tội phạm có thể là:

- Chủ thể cuả quan hệ xã hội: con người

- Nội dung của quan hệ xã hội: Là hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội

- Khách thể của quan hệ xã hội: đối tượng vật chất mà qua đó các quan hệ

xã hội phát sinh và tồn tại

Như đã phân tích ở trên, khách thể của tội phạm trong trường hợp phạm tội của H là quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của con

Trang 9

người do vậy chủ thể của quan hệ xã hội này chỉ có thể là con người và muốn xâm hại đến khách thể này thì chỉ có thể gây thiệt hại cho chủ thể của nó

H vì nghi ngờ vợ có con với người tình nên đã giết chết đứa con mà vợ vừa sinh ra được 3 ngày, H đã tác động trực tiếp vào chủ thể của khách thể là con người (cụ thể là con của vợ chồng H) gây thiệt hại cho khách thể qua việc làm chủ thể của nó bị tước đoạt quyền sống, biến đổi tình trạng bình thường

Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm trong tình huống này là con người cụ thể là đứa con của vợ chồng H, hành vi phạm tội của H trực tiếp tác động vào đứa con làm cho đứa trẻ bị chết, qua đó gây thiệt hại đến khách thể của tội phạm – quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người

Trang 10

C.KẾT LUẬN

Hiện nay, tình hình tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người đã và đang diễn biến phức tạp, tăng giảm thất thường Đấu tranh, phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là vấn đề luôn được đặt lên hàng đầu của Đảng và nhà nước ta Do đây là một vấn đề khá phức tạp và cần sự am hiểu sâu rộng trong mọi lĩnh vực đồng thời kinh nghiệm của các thành viên trong nhóm vẫn còn non yếu nên nhóm e chỉ có thể nêu ra quan điểm và lập trường của nhóm mình Vì vậy, trong bài tập không thể tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm Mong các thầy cô bộ môn đóng góp để kiến thức cũng như bài tập của nhóm em hoàn thiện hơn

Ngày đăng: 27/03/2019, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w