1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nêu chế độ tài sản của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung ( 8 điểm)

12 238 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 40,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo luật hôn nhân và gia đình thì chế độ tài sản bao gồm các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản của vợ chồng,… và điều này có vai trò và ý nghĩa rất

Trang 1

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

MỞ BÀI 2

NỘI DUNG 3

I) Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng 3

1) Khái niệm, đặc điểm, của chế độ tài sản vợ chồng 3

2) Khái quát về nội dung của chế độ tài sản trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 4

2.1) Chế độ tài sản chung 4

2.2) Chế độ tài sản riêng 6

II) Những vấn đề về sửa đổi bổ sung về chế độ tài sản trong Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2000 6

1) Về tài sản chung của vợ chồng 7

2) Đối với tài sản riêng của vợ chồng 10

KẾT BÀI 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 2

MỞ BÀI

Để phù hợp với sự phát triển về kinh tế- xã hội, theo thời gian, hệ thống pháp luật nước ta từ năm 1945 đến nay đã quy định về chế độ tài sản của vợ chồng với những nội dung và hình thức khác nhau Theo luật hôn nhân và gia đình thì chế độ tài sản bao gồm các quy định về vấn đề sở hữu tài sản của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản của vợ chồng,… và điều này có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản trong suốt thời kỳ hôn nhân Hiện nay, đã có rất nhiều vụ tranh chấp tài sản khi chia tài sản, vậy nên, để tìm hiểu rõ hơn về chế độ tài sản em xin nghiên cứu đề tài : “ Nêu chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 và những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung” làm đề tài cho bài tập lớn học kỳ của mình Do nhận thức về vấn đề này còn hạn chế nên bài viết còn nhiều sai sót, rất mong thầy cô bỏ qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

NỘI DUNG

I) Những vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng.

1) Khái niệm, đặc điểm, của chế độ tài sản vợ chồng.

1.1) Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng

Chế độ tài sản của vợ chồng được nhà làm luật dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan, không phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế- xã hội, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa

để nhà nước quy định trong pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng

Định nghĩa: Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng , bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chồng Hiện nay, chưa có khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng quy định trong văn bản cụ thể cho nên, những định nghĩa chỉ mang tính khách quan

1.2) Đặc điểm về chế độ tài sản

+ Về chủ thể quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này, các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau( không những phải có năng lực chủ thể trong pháp luật dân sự quy định mà còn phải thực hiện các điều kiện kết hôn được quy định trong luật hôn nhân và gia đình)

+ Hình thức sở hữu là sở hữu chung hợp nhất ( dù vợ chồng có lựa chọn loại chế

độ tài sản nào thì cũng phải có nhiệm vụ đóng góp tài sản nhằm đảm bảo đời sống chung của con cái

+ Chế độ tài sản này chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân ( chấm dứt khi 1 bên vợ hoặc chồng chết; hoặc ly hôn)

+ Mang tính đặc thù riêng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Ngoài ra thì chế độ tài sản còn có những vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong quan

hệ hôn nhân , chế độ này giúp vợ chồng có cách xử sự đúng theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội; góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại

Trang 4

2) Khái quát về nội dung của chế độ tài sản trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

2.1) Chế độ tài sản chung

 Về việc xác định tài sản chung của vợ, chồng.Theo điều 27 Luật HN&GĐ năm

2000 quy định về tài sản chung của vợ, chồng bao gồm: “1 Tài sản chung của

vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung

và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa

kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.

2 Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng

3 Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.”

Theo quy định này, ngoài việc dự liệu căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nhà làm luật đã sử dụng các nguyên tắc suy đoán để xác định những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưng không đủ

cơ sở xác định là tài sản riêng của vợ chồng thì duo coi là tài sản chung của vợ, chồng Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng là khi họ đã kết hôn với nhau

Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân và có thể là tiền thưởng, tiền trợ cấp, tiền trúng xổ số mà vợ chồng có duo hoặc những tài sản mà vợ, chồng có đươc quy định trong BLDS về quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định duo ai là chủ sở hữu ( Điều 247); đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm được tìm thấy( Điều 248);…

Trường hợp vợ chồng cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản duo thừa kế “ theo hàng thừa kế”

Trang 5

đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận là tài sản chung của vợ, chồng

Tài sản chung của vợ, chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau kết hôn Theo Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì: Quyền sử dụng đất mà cả

vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng được nhà nước giao, kể cả giao khoán thì cũng thuộc tài sản chung của vợ, chồng; sau khi kết hôn thì quyền sử dụng đất của

cả vợ và chồng hay chỉ một bên vợ hoặc chồng được nhà nước cho thuê là tài sản chung của vợ chồng; quyền sử dụng đất của cả vợ và chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung của vợ, chồng khi có thỏa thuận

Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung của mình đó là: vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản chung;

 Về việc chia tài sản chung của vợ chồng

+ Chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định trong điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 , quy định này xuất phát từ thực tiễn đời sống

xã hội, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của mỗi bên vợ, chồng, cũng như quyền lợi của những người khác liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng

+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, trên nguyên tắc đảm bảo quyền

tự định đoạt của vợ, chồng, Khoản 1 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định : “ Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận duo thì yêu cầu tòa án giải quyết” Việc vợ, chồng tự thỏa thuận với nhau khi chia tài sản khi ly hôn sẽ phù hợp với nguyện vọng của mỗi bên,tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành án sau này, trường hợp Tòa án giải quyết, để đảm bảo quyền lợi chính đáng của 2 bên thì trước khi quyết định phải xác định tài sản của vợ chồng, đâu là tài sản riêng, đâu là tài sản chung, để quyết định cho thỏa đáng

+ Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước hoặc bị tòa

án tuyên là đã chết, khi đó thì quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt , tài sản chung của

vợ chồng sẽ duo chia theo yêu cầu của người vợ, chồng còn sống hoặc của những người thừa kế của người vợ, chồng chết

Việc xác định tài sản này phải dựa vào nguồn gốc phát sinh tài sản, pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với khối tài sản chung và mục đích của việc sử dụng tài sản chung là nhằm đáp ứng nhu cầu gia đình, đảm bảo cho vợ chồng cùng nhau xây dựng gia đình và lao động tạo ra tài sản vì lợi ích chung của gia đình; những lợi ích đó còn là cơ sở trong việc chia tài sản chung của vợ, chồng

Trang 6

2.2) Chế độ tài sản riêng

Theo điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định :

1 Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng.

Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2 Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.

Theo khoản 2 điều này thì vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung; do vậy, việc quy định vợ, chồng có tài sản riêng không làm ảnh hưởng đến tính chất của quan hệ hôn nhân và cũng không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình Việc vợ chồng nhập tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng vào khối tài sản chung của vợ, chồng phải được lập thành văn bản có chữ ký của cả vợ,chồng và văn bản đó phải có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, theo điều 33 Luật HN&GĐ thì tài sản riêng của vợ, chồng thì vợ hoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt độc lập không phụ thuộc vào ý chí của người kia Người có tài sản riêng phải chứng minh được đó là tài sản riêng của mình bằng các giấy tờ đã được công chứng, chứng thực hoặc có sự công nhận của bên kia, ; nếu không chứng minh được thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung

Như vậy , Luật HN&GĐ hiện hành đã xác định rõ chế độ tài sản của vợ chồng gồm sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung nhất và sở hữu của

vợ chồng đôí với tài sản riêng Đây là chế độ tài sản mà pháp luật đã quy định Vợ, chồng không thể tự thoả thuận để làm thay đổi chế độ tài sản của họ mà phải tuân theo pháp luật

II) Những vấn đề về sửa đổi bổ sung về chế độ tài sản trong Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2000.

Chế độ tài sản của vợ chồng rất quan trọng đối với quan hệ hôn nhân trong thực

tế, nhưng việc áp dụng lại gặp nhiều khó khăn, và sau đây em xin trình bày một số vấn đề cần sửa đổi và bổ sung về chế độ tài sản trong Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000

Trang 7

1) Về tài sản chung của vợ chồng.

Thứ nhất , về căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp vợ

chồng đã chia tài chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng sau đó lại khôi phục chế độ tài sản chung Trong điều 9, điều 10, NĐ số 70/2001/NĐ-CP có quy định về vấn đề này; tuy nhiên, nhiều vấn đề về hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa được pháp luật hôn nhân và gia đình quy định cụ thể

Cần sửa đổi và bổ sung 1 số vấn đề sau:

+ Pháp luật cần quy định những lý do chính đáng để vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

+ Việc chia tài sản chung phải do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau nhưng dứt khoát phải được Tòa án công nhận hoặc phải được công chứng,chứng thực theo quy định của pháp luật, nhằm hạn chế tối đa hành vi của vợ, chồng lợi dụng việc chia tài sản chung để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác Quy định này nhằm kiểm soát chặt chẽ các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

+ Sau khi chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân( dù là 1 phần hay toàn bộ tài sản chung của vợ chồng) thì chế độ tài sản chung của vợ chồng phải được coi là chấm dứt; phần tài sản mà vợ,chồng đã được chia, kể

cả các hoa lợi do kinh doanh hoặc những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên trong thời ký hôn nhân phải được coi là tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng + Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, Có trường hợp thì vợ chồng tự thoả thuận

và yếu cầu Toà án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung Có trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn sống chung hoặc không sống chung thì Luật cần dự liệu về nghĩa vụ của

vợ chồng đối với nhau, đối với con chung và nghĩa vụ đóng góp tài sản chung nhằm đảm bảo đời sống chung của gia đình.(1)

Thứ hai , về nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng : tại các điều 29,

điều 30, điều 31, điều 96 của Luật Hôn Nhân và Gia Đình năm 2000 chỉ quy định nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà Luật không dự liệu nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc một bên vợ,chồng chết trước Và nguyên tắc chia đôi này có dựa vào công sức đóng góp của mỗi bên; tuy nhiên, trên thực tế để xác định được chính xác công sức đóng góp của mỗi bên trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung trong nhiều trường hợp không hề đơn giản vì tài sản chung của vợ chồng duo tạo dựng không phụ thuộc bởi công sức, mức thu

1() Trang 181 , Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt

Nam”, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.

Trang 8

nhập… giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi thực hiện quyền

sở hữu đối với tài sản chung luôn tính bằng nhau ; vậy nên cũng khó xác định

và khó bảo vệ đúng đắn quyền lợi của một bên

Luật năm 2000 cần dự liệu cụ thể nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng trong cả ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định Vì nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm của sở hữu chung hợp nhất, tài sản chung của vợ chồng duo tạo dựng không phụ thuộc bởi công sức, mức thu nhập cao,thấp,nhiều,ít khác nhau giữa vợ chồng và nguyên tắc vợ chồng bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản chung và tỉ lệ phần quyền sở hữu là như nhau

Thứ ba, Nghĩa vụ chung về tài sản vợ chồng

Căn cứ vào các quy định tại điều 25, khoản 2 Điều 28 và khoản 3 Điều 95 của Luật HN&GĐ năm 2000, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng chưa được luật định cụ thể

- Ở điều 25 thì trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong 2 người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Vậy nên, Luật cần quy định “ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” bao gồm các nhu cầu về ăn ở, mặc, học hành, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của các thành viên trong gia đình

- Ở Khoản 2 điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000 về tài sản chung của vợ chồng được đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng thì Luật cần quy định

cụ thể bao gồm: các khoản nợ phát sinh nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình ; các khoản nợ liên quan đến việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng hay các khoản nợ liên quan đến công việc mà

cả 2 vợ chồng cùng thực hiện…(2)

Thứ tư, Bên cạnh đó, theo điều 27 Luật hôn nhân và Gia Đình thì tài sản

chung của vợ chồng là tài sản vợ chồng hiện có, tài sản đang thuộc quyền sở hữu của vợ chồng mà không quy định cụ thể các tài sản mà vợ chồng nợ hay cho vay của người thứ 3 có thuộc tài sản chung của vợ chồng hay không? Do

đó việc giải quyết trong thực tế gặp rất nhiều khó khăn .(3) Cho nên, Luật

cũng cần quy định về những khoản nợ,vay vào trường hợp nào thuộc tài sản chung, trường hợp nào không thuộc tài sản chung Ví dụ như nếu vợ hoặc chồng có cho người khác nợ trước khi kết hôn thì khi trả lại thì sẽ lấy thuộc tài sản chung vì khi kết hôn thì vợ , chồng đã đóng góp công sức vào tài sản

2() Trang 188 , , Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án

tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005

3() Trang 42,Nguyễn Thị Thìn, “Một số vấn đề về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay”, Khoá

luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2010.

Trang 9

chung của mình và quyền bình đẳng đối với tài sản đó của 2 người là như nhau nên họ sẽ được sử dụng tài sản đó như nhau

Thứ năm , Trong trường hợp xác định tài sản chung của vợ chồng khi vợ

chồng tuyên bố đã chết mà sau đó lại trở về Trường hợp này pháp luật chỉ mới dự liệu quan hệ hôn nhân được khôi phục( nếu người chồng, người vợ kia chưa kết hôn với người khác), còn vấn đề tài sản chung của vợ chồng chưa được dự liệu cụ thể, khi quan hệ hôn nhân được khôi phục thì chế độ tài sản chung của vợ chồng có đương nhiên được khôi phục hay không? Tính từ thời điểm nào? Đối với những thu nhập của người chồng, cợ kia có duo coi là tài sản chung hay không? Đây là những vấn đề thực tiễn chưa có sự thống nhất khi giải quyết

Giải pháp sửa đổi, bổ sung: Điều 26 Luật HN&GĐ năm 2000 và Điều 83 BLDS cần quy định cụ thể theo hướng : khi phán quyết của Tòa án tuyên bố

vợ, chồng chết có hiệu lực pháp luật,quan hệ hôn nhân chấm dứt, kể cả trường hợp sau này người vợ,chồng đã bị tuyên bố chết trở về cũng không thể đương nhiên hồi phục quan hệ hôn nhân ngay được kể cả trong trường hợp người vợ,chồng còn lại chưa kết hôn Nếu vợ, chồng muốn tái hôn lại với nhau cần đăng kí kết hôn theo thủ tục chung; từ đó sẽ phát sinh quan hệ hôn nhân mới

và chế độ tài sản mới phát sinh sẽ được áp dụng trong thời kỳ hôn nhân này

Thứ sáu , khi vợ chồng đã ly hôn mà lại muốn kết hôn lại với nhau thì chế độ tài

sản sẽ được quy định như thế nào?

Giải pháp trong trường hợp này sẽ là: Vì Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có quy định cụ thể về chế độ tài sản trong trường hợp này nên trong thực tế gặp rất nhiều vướng mắc Do đó cần phải có quy định bổ sung theo hướng những tài sản của vợ chồng được chia từ khối tài sản chung khi ly hôn thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ ,chồng Chế độ tài sản chung của vợ chồng được xác lập

từ khi kết hôn lại với nhau Khối tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản được quy định tại khoản 1 điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, cũng có thể gồm những tài sản được chia riêng trước khi ly hôn được vợ chồng thỏa thuận nhập vào khối tài sản chung của vợ, chồng

Thứ bảy , Theo nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết

thi hành Luật HN&GĐ 2000 thì tài sản thuộc sở hữu chung của vợ, chồng khi đăng ký phải ghi tên của cả vợ và chồng bao gồm : “nhà ở, quyền sở hữu đất và những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu” (khoản 1 điều 5) Thực hiện quy định này, hiện nay các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và giấy đăng ký ô tô, xe máy đã tiến hành ghi tên vợ và chồng, những người đã được cấp giấy chứng nhận có thể yêu cầu cấp lại giấy tờ

ghi tên cả vợ và chồng.Tuy nhiên, ngoài những tài sản nói trên thì “ những tài

Trang 10

sản khác” là tài sản nào vẫn chưa quy định rõ (4 )

Vì thế,các nhà làm Luật cần quy định rõ ràng hơn về các “ tài sản khác” này Ngoài ra,Theo Luật HN&GĐ năm 2000 và pháp luật tố tụng dân sự, các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo quản tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng có yêu cầu ly hôn, chưa được quy định rõ ràng Trên thực tế, đã có rất nhiều trường hợp lợi dụng điều này để thực hiện các hành vi tẩu tán, giấu giếm tài sản chung, mưu cầu lợi ích cá nhân không chính đáng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người còn lại và các con Vì thế , Luật HN&GĐ phải dự liệu về vấn đề quản lý tài sản chung khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn Đồng thời, Luật còn phải quy định cụ thể đối với vấn đề đối với các giao dịch do vợ, chồng thực hiện liên quan đến tài sản chung của vợ, chồng trong thời gian họ có ly hôn thì trường hợp nào vợ, chồng được thực hiện hoặc không thực hiện những giao dịch.(5)

2) Đối với tài sản riêng của vợ chồng.

Mặc dù Luật năm 2000 đã có các quy định cụ thể, rõ ràng hơn so với Luật HN&GĐ năm 1986 Tuy nhiên, quá trình thực hiện Luật, từ những vướng mắc trong thực tế giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng và để đảm bảo khi áp dụng thì Luật năm 2000 cần có những bổ khuyết như sau:

+ Đối với tài sản mà vợ chồng được hưởng do cùng hàng thừa kế theo pháp luật,

về nguyên tắc thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng

có thỏa thuận rõ ràng

+ Luật cần quy định cụ thể nguồn gốc tài sản là đồ dùng, tư trang cá nhân bao gồm những gì thuộc tài sản riêng của vợ, chồng Và khi có tranh chấp về tài sản này, theo từng trường hợp cụ thể mà xét xem đồ dùng tư trang các nhân có nguồn gốc

và giá trị như thế nào so với khối tài sản chung của vợ,chồng và mức thu nhập thực

tế của vợ, chồng để xác định chính xác và hợp lý tài sản riêng của vợ, chồng Vì thế , đối với những đồ nữ trang hay của hồi môn mà cha mẹ cho con trong ngày cưới thì phải quy định nếu cha mẹ cho làm của riêng thì thuộc tài ản riêng của vợ chồng, nếu cha mẹ cho chung thì sẽ thuộc tài sản chung ; nếu cợ chồng có tranh chấp thì chia cho người đang sử dụng những đồ nữ trang đó

+ Đối với những hoa lợi , lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân thì: Luật và những văn bản hướng dẫn cần quy định cụ thể về hậu quả pháp lý khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; cần khẳng định việc chia tài sản chung của vợ chồng không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật

4() Trang 188,189,Đinh Thị Mai Phượng, “ Bình luận khoa học Luật Hôn Nhân và Gia Đình Việt Nam năm 2000”,

Nxb Chính Trị Quốc Gia.

5() Trang 193, , Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án

tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005.

Ngày đăng: 27/03/2019, 12:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w