1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài tập học kỳ dân sự giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về mặt hình thức

20 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 137,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Định nghĩa: Giao dịch dân sự vô hiệu là loại GDDS mà khi xác lập các bên hoặc chủ thể có hành vi pháp lý đơn phương đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ(*)

Mục đích của pháp luật khởi nguồn từ chính những nhu cầu thường ngày của mỗi con người, là công cụ phục vụ, bảo vệ lợi ích mọi thành viên trong xã hội Để có thể tồn tại được, mỗi người đều phải tham gia vào các mối quan hệ khác nhau, tạo nên mối dây liên kết với thế giới xung quanh nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của bản thân Một trong những hoạt động tích cực và hiệu quả nhất của con người nhằm hướng tới mục đích đó là việc tham gia vào các loại giao dịch khác nhau, trong đó có giao dịch dân

sự (GDDS) Tuy nhiên, trong thực tế đời sống pháp luật, có nhiều GDDS được xác lập nhưng có thể sẽ bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu do nhiều lý do trong đó phổ biến là

vì không tuân thủ các quy định về mặt hình thức Đứng trước thực tế đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện vấn đề “ Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ các quy định về mặt hình thức” Giải quyết tốt vấn đề này sẽ tạo điều kiện cho các chủ thể tham gia GDDS hợp pháp, hiệu quả

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Các khái niệm liên quan:

1 Định nghĩa về GDDS:

Giao dịch dân sự là một loại hình hoạt động của con người (cá nhân, tổ chức ) thông qua đó các chủ thể thể hiện được ý chí, sự tự nguyện, tự do, thỏa thuận trong khuôn khổ quy định pháp luật về các quyền, nghĩa vụ dân sự được phát sinh, được thay đổi hoặc chấp dứt góp phần làm cho giao lưu dân sự phát triển phong phú, đa dạng phù hợp với tiến độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Điều 121 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về GDDS như sau: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”

Trang 2

2 Khái niệm về GDDS vô hiệu:

a Định nghĩa:

Giao dịch dân sự vô hiệu là loại GDDS mà khi xác lập các bên (hoặc chủ thể có hành vi pháp lý đơn phương) đã có vi phạm ít nhất một trong các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn tới hậu quả pháp lý là không làm phát sinh bất kỳ một quyền hay nghĩa vụ dân sự nào

Điều 127 BLDS quy định về GDDS vô hiệu như sau: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 122 của Bộ luật này thì vô hiệu.”

b Đặc điểm:

Các GDDS vô hiệu thường có các đặc điểm chung sau:

 Không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp luật Có thể là một trong những trường hợp sau:

+ Không đáp ứng điều kiện về năng lực hành vi dân sự của người tham gia giao dịch

+ Mục đích và nội dung của giao dịch không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của pháp luật hoặc trái với đạo đức xã hội

+ Chủ thể tham gia giao dịch không tự nguyện

+ Hình thức giao dịch không đúng với quy định của pháp luật Việt Nam

 Các bên tham gia giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định

c Phân loại:

+ GDDS vô hiệu tuyệt đối trong các trường hợp:

- Khi vi phạm vào các điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức xã hội (Điều 128 BLDS)

- Khi giao dịch được xác lập một cách giả tạo để che giấu một giao dịch khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (Điều 129 BLDS)

- Khi hình thức của giao dịch không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật (Điều 134 BLDS)

+ GDDS vô hiệu tương đối trong các trường hợp:

Trang 3

- Khi giao dịch được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 130 BLDS)

- Khi giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn (Điều 131 BLDS)

- Khi người xác lập giao dịch đủ năng lực hành vi dân sự nhưng đã xác lập giao dịch tại thời điểm không nhận thức được hành vi của mình (Điều 133 BLDS)

Như vậy, khi hình thức của giao dịch không tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật là một trường hợp của GDDS vô hiệu

II. GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức:

1 Các quy định về điều kiện hình thức trong GDDS

Một GDDS muốn được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ quyền, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó thì hành vi của người tham gia giao dịch phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép Theo pháp luật Việt Nam thì một giao dịch muốn được pháp luật công nhận

và bảo vệ hải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 122 BLDS, đó là:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2 Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”.

Như vậy, hình thức của GDDS là một điều kiện bắt buộc trong GDDS nếu pháp luật

có quy định

Đặc điểm chung của GDDS là sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch Sự thống nhất ý chí này phải được thể hiện dưới một hình thức nhất định phù hợp với ý chí đích thực của các bên như: bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi được ghi nhận dưới những dạng nhất định để biểu lộ sự tồn tại của GDDS Thông qua các

Trang 4

hình thức đó, mọi người thấy các bên tham gia giao dịch đã cam kết, thỏa thuận những gì Trong một số trường hợp, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể kiểm tra, kiểm soát được tính hợp pháp hay không hợp pháp của giao dịch đó và đồng thời là chứng cứ quan trọng trong tố tụng dân sự vì trong trường hợp cần thiết nó là bằng chứng cụ thể mô tả các nội dung và ý chí mà các chủ thể tham gia giao dịch đã xác lập, thực hiện Như vậy, có thể hiểu hình thức của GDDS là cách thức biểu hiện ra bên ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong GDDS

BLDS quy định hình thức của GDDS gồm:

+ Hình thức lời nói: tuyên bố ý chí bằng lời nói hoặc thỏa thuận hợp đồng bằng miệng qua lời nói (hình thức miệng)

+ Hình thức bằng hành vi cụ thể: tuyên bố ý chí hoặc thỏa thuận hợp đồng bằng hành vi cụ thể

+ Hình thức văn bản: ký kết bằng văn bản về một giao dịch nào đó

+ Hình thức văn bản có chứng nhận chủa Công chứng nhà nước hoặc chứng nhận UBND cấp có thẩm quyền

Điều kiện về hình thức trong GDDS đòi hỏi các bên phải tuân theo đúng hình thức

mà pháp luật quy định cho loại giao dịch đó Trong trường hợp pháp luật không quy định

cụ thể thì các bên có thể tùy nghi lựa chọn Tuy nhiên, không phải tất cả các loại GDDS pháp luật đều quy định các bên tham gia có thể lựa chọn bất cứ một hình thức thể hiện nào Bởi lẽ, khách thể của GDDS rất phong phú và đa dạng, mỗi khách thể có đặc trưng và công dụng khác nhau Để bảo đảm sự an toàn pháp lý trong các giao dịch cũng như bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích công cộng có những giao dịch phải tuân theo một hình thức nhất định được BLDS quy định như: bằng văn bản, phải có công chứng nhà nước, chứng thực, đăng

ký hoặc cho phép Trong BLDS nước ta, thì hình thức được xem là điều kiện bắt buộc đối với các bên tham gia giao dịch “hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật”

và theo quy định của pháp luật dân sự, một số loại giao dịch phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về hình thức

Trang 5

Ví dụ như: hợp đồng mua bán nhà ở phải lập thành văn bản, có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền hay hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền…., nếu các bên tham gia giao dịch không tuân thủ các quy định về hình thức thì sẽ bị xử lý hậu quả giao dịch vô hiệu theo Điều 137 BLDS

Tuy nhiên BLDS còn có quy định điều khoản tạo điều kiện cho phép các bên khắc

phục sự sai sót này Điều 134 BLDS có quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu.”

2 Khi nào GDDS vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức?

Một trong những nguyên tắc quan trọng và đặc trưng trong GDDS là tự do thỏa thuận Điều này có nghĩa các bên có quyền lựa chọn tham gia vào các quan hệ GDDS theo nội dung và hình thức phù hợp với ý chí của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định để đảm bảo an toàn pháp lý trong các GDDS giữa các bên cũng như để bảo vệ trât tự pháp luật và lợi ích công cộng lợi ích quốc gia, có những giao dịch phải tuân theo những hình thức do pháp luật quy định

Hình thức giao dịch không chỉ được hiểu là hình thức thể hiện nội dung của giao dịch như bằng lời nói, bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể… mà còn cần được hiểu là cả những thủ tục về hình thức như; phải có xác nhận của công chứng, chứng nhận, chứng thực, đăng ký hoặc xin phép

Những GDDS không tuân thủ về hình thức do pháp luật quy định sẽ bị vô hiệu Điều

134 BLDS quy định về GDDS vô hiệu do hình thức như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong

Trang 6

một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.

3 Hậu quả pháp lý xảy ra khi GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức:

Điều 134 quy định về hậu quả pháp lý xảy ra khi GDDS vô hiệu do không tuân thủ

các quy định về hình thức như sau: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó

mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu” Như vậy, nếu sau khoảng thời gian mà pháp

luật cho phép các bên tham gia giao dịch khắc phục hậu quả của GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định của hình thức gây ra mà các bên không thực hiện thì hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức sẽ như hậu quả pháp lý của các GDDS vô hiệu khác Cụ thể:

Theo Điều 137 BLDS quy định:

“1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.”

Ngoài ra, còn có một vài quy định được đề cập đến ở các điều luật khác như Điều

130 BLDS, 131 BLDS, 132 BLDS,……

a Chấm dứt thực hiện GDDS:

Khi một giao dịch vô hiệu, không có giá trị pháp lý tại thời điểm ký kết, do vậy, không có giá trị bắt buộc đối với các bên tham gia giao dịch, nghĩa là các bên không còn ràng buộc bởi quyền và nghĩa vụ với nhau Nói cách khác, khi GDDS vô hiệu quyền và nghĩa vụ mỗi bên không được pháp luật công nhận và bảo vệ Nếu giao dịch mới xác lập

Trang 7

chưa thực hiện thì các bên không được thực hiện, còn trong trường hợp đang thực hiện cũng không được thực hiện nữa

b Xử lý hậu quả GDDS vô hiệu:

Khi GDDS vô hiệu không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên từ thời điểm giao kết, về nguyên tắc các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu Đối với trường hợp giải quyết tài sản trong GDDS mà các bên tham gia GDDS mới xác lập chưa thực hiện thì các bên chấm dứt thực hiện giao dịch vô hiệu đó Tuy nhiên, thực tế đa số GDDS khi đã tuyên bố vô hiệu thì các bên đã thực hiện một phần, thậm chí toàn bộ giao dịch Do vậy, khi tuyên bố GDDS vô hiệu quay lại tình trạng ban đầu là một vấn đề hết sức phức tạp, nhất là vấn đề xác định thiệt hại, xác định lỗi và xác định trách nhiệm của mỗi bên trong giao dịch bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu

- Vấn đề hoàn trả về tài sản Hoàn trả tài sản là một trong những biện pháp

phổ biến để giải quyết hậu quả của GDDS vô hiệu nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu Trong GDDS khôi phục lại tình trạng ban đầu được hiểu là các bên đưa tài sản quay lại thời điểm mà các bên tham gia ký kết Tuy nhiên, trong thực tế tài sản được hoàn trả không phải lúc nào cũng còn nguyên giá trị của nó tại thời điểm giao kết, thông thường

nó bị biến đổi do tác động của các yếu tố tự nhiên và xã hội không còn nguyên giá trị ban đầu Do đó, vấn đề trả lại cho nhau bằng chính tài sản là đối tượng của giao dịch rất khó, phức tạp nên pháp luật không quy định cụ thể Thông thường các thẩm phán được quyền lựa chọn từng giải pháp thích hợp trong từng vụ án cụ thể và dựa trên các tiêu chí: quy định của pháp luật, đặc trưng của các loại tài sản, điều kiện kinh tế của các bên đương sự, điều kiện cuộc sống, nghề nghiệp, giới tính của các bên và diễn biến của từng vụ án để quyết định

- Vấn đề xác định thiệt hại xảy ra Đa số các nhà khoa học pháp lý đều xác

định những hao mòn, hư hỏng do con người tác động làm giảm giá trị của tài sản là thiệt hại buộc bên có lỗi phải bồi thường Tuy nhiên, vấn đề phức tạp nhất đặt ra là sự trượt giá của tài sản (là đối tượng của giao dịch) và trượt giá của đồng tiền có được coi là thiệt hại xảy ra? Do

đó, trên thực tiễn áp dụng pháp luật còn có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm không

Trang 8

coi vấn đề trượt giá là thiệt hại và cho rằng sự biến động này hoàn toàn là do quy luật kinh tế khách quan, không liên quan gì đến xác lập giao dịch của các bên Có quan điểm cho rằng, trượt giá gây thiệt hại cho bất cứ bên nào đều phát sinh trách nhiệm bồi thường Khi xác định trách nhiệm phải căn cứ theo lỗi để buộc bên gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật Quan điểm này hiện nay được sự đồng tình của phần lớn các nhà khoa học

và các nhà thực thi pháp luật

c Hậu quả pháp lý theo thỏa thuận của các chủ thể được Tòa án công nhận:

Trong pháp luật dân sự nguyên tắc tự do cam kết, tự do thỏa thuận là nguyên tắc đặc trưng, xuất phát từ tính độc lập về sở hữu, tính tự chủ, và độc lập về tài sản, tự chịu trách nhiệm về tài sản của các chủ thể Do vậy, nguyên tắc thỏa thuận trở thành nguyên tắc cơ bản

và bao trùm toàn bộ ngành luật dân sự, đwọc quy định cụ thể, chi tiết tại Điều 4 BLDS Chính

vì lẽ đó, nguyên tắc này chi phối các ngành luật có nguồn gốc bắt nguồn từ Luật Dân sự như Luật Kinh tế, Luật Thương mại,… Khi đặt vấn đề cụ thể về việc giải quyết hậu quả pháp lý của GDDS vô hiệu theo sự thỏa thuận của các chủ thể, thì mỗi quốc gia có quy định khác nhau, nhưng nhìn chung sự thỏa thuận đều phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:

+ Các chủ thể này phải có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, nếu trong trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không có năng lực hành vi dân

sự, thì phải có người đại diện hoặc người giám hộ;

+ Các chủ thể tham gia GDDS vô hiệu có quyền tự quyết định việc tự thỏa thuận với nhau về giải quyết hậu quả mà không bị ép buộc bởi bất kỳ yếu tố nào;

+ Đối với giao dịch vô hiệu có mục đích và nội dung trái pháp luật, về nguyên tắc các bên không được thỏa thuận, xác lập giao dịch mới có nội dung và hình thức như giao dịch đã bị vô hiệu, mà chỉ có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết hậu quả giao dịch

vô hiệu

+ Đối với tài sản được tự do đưa vào giao lưu dân sự, khi giải quyết GDDS vô hiệu, các bên có thể thỏa thuận với nhau xác lập giao dịch mới trên cơ sở của GDDS đã vô hiệu hoặc có điều chỉnh về quyền, nghĩa vụ của mỗi bên Còn đối với trường hợp hủy GDDS vô

Trang 9

hiệu không thiết lập giao dịch mới, thì các bên tự nguyện phân định với nhau về tài sản, việc phân định về tài sản không nhất thiết phải cân bằng với nhau về quyền lợi;

+ Trình tự của việc thỏa thuận phải theo quy định của pháp luật hoặc được pháp luật thừa nhận

4 Vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình khi GDDS bị tuyên bố là vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức:

a Nhận thức chung về người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức:

Theo từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “người thứ ba ngay tình khi tham gia GDDS vô hiệu” được hiểu là " người được chuyển giao tài sản thông qua GDDS mà họ không biết, không buộc phải biết là tài sản đó do người chuyển giao cho họ thu được từ một giao dịch vô hiệu" Vậy người thứ ba tham gia GDDS ngay tình là khi tham gia giao dịch trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và tuân theo các quy định của pháp luật mà không biết đối tượng giao dịch là tài sản bất minh, do chủ sở hữu được xác lập trước đó bởi một giao dịch vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức Đây có thể nói là yếu tố quan trọng nhất để xác định người tham gia giao dịch hoàn toàn ngay tình

b Điều kiện để xác định người thứ ba ngay tình khi GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức:

Để xác định người thứ ba ngay tình thông thường được căn cứ vào những điểm sau đây:

- Trước khi người thứ ba tham gia giao dịch, đối tượng của giao dịch này được xác lập bởi một giao dịch vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức;

- Khi xem xét người tham gia giao dịch có ngay tình hay không, trước hết chúng ta phải xem xét ý chí của họ và ý chí này thể hiện ra bên ngoài khách quan bằng một hành vi cụ thể Nếu ở một điều kiện thông thường, thì họ có thể biết được tài sản đưa vào giao dịch được xác lập bởi một GDDS vô hiệu do không tuân thủ các quy định về hình thức trước đó hay không? Trong trường hợp họ biết hoặc pháp luật quy định là họ buộc phải biết, thì họ

Trang 10

không phải là người thứ ba ngay tình Nếu họ không biết và pháp luật không quy định họ buộc phải biết và khi tham gia giao dịch họ chiếm giữ tài sản không có biểu hiện của người tiêu thụ tài sản bất minh, thì họ mới là người thứ ba ngay tình

- Người thứ ba tham gia GDDS phải là người có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi Nếu trong trường hợp mà họ không có đầy đủ năng lực hành vi, thì họ phải có người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp;

- Họ đã thực hiện nghĩa vụ và hưởng những quyền dân sự trong giao dịch do họ xác lập, có nghĩa là họ đã nhận được tài sản từ giao dịch và mục đích của giao dịch đã đạt được Đây có thể nói là điều kiện không thể thiếu đối với loại giao dịch này;

- Mục đích và nội dung của giao dịch không trái quy định của pháp luật và đạo đức

xã hội;

- Đối tượng của giao dịch là những tài sản không thuộc loại tài sản mà pháp luật cấm giao dịch;

- Trình tự xác lập giao dịch tuân thủ theo trình tự pháp luật cho phép;

- Khi có tranh chấp xảy ra thì người thứ ba ngay tình phải có yêu cầu độc lập được hưởng tài sản hay yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu tài sản đã bị trả cho chủ sở hữu hoặc tịch thu sung công quỹ

c Giải quyết hậu quả pháp lý giao dịch vô hiệu, khi có người thứ ba ngay tình cần được bảo vệ:

Trong khoa học pháp lý khi giải quyết hậu quả đối với loại giao dịch này phải căn

cứ vào đặc điểm, tính chất của tài sản và quy định của Nhà nước về tài sản Tác giả phân ra các trường hợp sau:

Thứ nhất, đối với các tài sản không phải mang tính chất thiết yếu đối với chủ sở hữu

hoặc các tài sản không để được lâu, không thể lấy lại được khi tuyên bố giao dịch vụ hiệu chỉ cần buộc các bên hoàn lại cho nhau theo giá trị, theo nguyên tắc bù trừ nghĩa vụ

Thứ hai, đối với các tài sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhưng không thuộc

diện Nhà nước cấm, khi tuyên bố giao dịch vụ hiệu, Tòa án có thể căn cứ vào pháp luật quy định đối với từng loại tài sản để buộc người thứ ba tham gia giao dịch phải trả lại cho Nhà

Ngày đăng: 27/03/2019, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w